Slide tập huấn kỹ năng tuyên truyền miệng dành cho báo cáo viên
CHUYÊN ĐỀ 12
VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG VÀ KỸ NĂNG TỔ CHỨC MỘT BUỔI TUYÊN TRUYỀN MIỆNG
I. VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG
1. Khái niệm
Theo Lê nin, công tác tư tưởng có ba hình thái (ba bộ phận cấu thành), đó là: Công tác lý luận; Công tác tuyên truyền; Công tác cổ động. Như vậy, tuyên truyền là một trong ba bộ phận của công tác tư tưởng. Trong ba bộ phận ấy, công tác tuyên truyền có vai trò rất quan trọng.
Công tác tuyên truyền là hoạt động có mục đích rõ ràng, được tiến hành dưới nhiều hình thức, phương tiện, trong đó có tuyên truyền miệng.
Tuyên truyền miệng được hiểu là một loại hình tuyên truyền được tiến hành bằng lời nói trực tiếp nhằm mục đích nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và cổ vũ tích cực hành động của đối tượng.
2. Đặc điểm của tuyên truyền miệng
Tuyên truyền miệng có đặc điểm sau:
- Tuyên truyền miệng được thực hiện trong bối cảnh giao tiếp trực tiếp giữa người tuyên truyền và đối tượng được tuyên truyền. Đây là điểm khác biệt căn bản của tuyên truyền miệng so với các hình thức tuyên truyền khác qua các phương tiện truyền thông đại chúng (như phát thanh, truyền hình, báo in, tranh cổ động, internet, mạng xã hội…).
- Tuyên truyền miệng chủ yếu được tiến hành bằng lời nói trực diện của báo cáo viên. Ngày nay, tuyên truyền miệng có thể có thêm sự hỗ trợ của máy tính, màn hình, các chương trình trình chiếu, mạng internet… nhưng phương tiện chủ yếu vẫn là lời nói của báo cáo viên trực tiếp tác động vào trực quan của đông đảo người nghe một cách sinh động, cụ thể với cảm xúc thực tế sâu sắc.
3. Vị trí của tuyên truyền miệng
Để tiến hành công tác tư tưởng, Đảng ta sử dụng nhiều kênh, nhiều công cụ hoạt động và phương tiện tuyên truyền, như:
- Hệ thống trường học, lớp học.
- Các phương tiện thông tin đại chúng.
- Các thiết chế văn hóa.
- Sinh hoạt hội họp của các tổ chức chính trị - xã hội.
- Hoạt động của các báo cáo viên, tuyên truyền viên.
Trong số các kênh trên, tuyên truyền miệng thông qua hoạt động của các báo cáo viên, tuyên truyền viên được Đảng ta xác định là công cụ quan trọng hàng đầu nhằm tuyên truyền giáo dục về đường lối, truyền bá chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đưa tiếng nói của Đảng đến với quần chúng Nhân dân và xã hội, trong đó có một số văn bản quan trọng như sau:
+ Thông báo số 71-TB/TW, ngày 07/6/1997 của Thường vụ Bộ Chính trị (khóa VIII) khẳng định: “mọi đảng viên đều có thể tiến hành truyên truyền miệng ở mọi nơi, mọi lúc, mọi đối tượng” và “đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên là lực lượng quan trọng trong công tác tuyên truyền ở cơ sở”.
+ Chỉ thị số 17-CT/TW, ngày 15/10/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) về việc đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền trong tình hình mới nhấn mạnh: “Tuyên truyền viên và đội ngũ báo cáo viên là một mắt khâu quan trọng, trực tiếp nối liền Đảng, Nhà nước với Nhân dân, Trung ương với địa phương và cơ sở để vừa đưa chủ trương, đường lối của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước đến với Nhân dân, vừa nắm bắt phản ánh trung thực, kịp thời tư tưởng, tâm tư, nhu cầu, lợi ích, nguyên vọng của Nhân dân đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước”.
Gần đây nhất, ngày 05/02/2024 Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới, trong đó có nhiều nội dung quy định về vai trò của đội ngũ báo cáo viên, việc đổi mới công tác tuyên truyền miệng, đa dạng hóa, nâng cao hiệu quả các loại tuyên truyền miệng. Trong đó khẳng định rõ vai trò của người đứng đầu đối với công tác tuyên truyền miệng. Đối với chủ trương, chính sách quan trọng, người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có trách nhiệm định hướng, phổ biến, quán triệt bảo đảm sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội.
Đổi mới nội dung gắn với tăng cường tính định hướng, thuyết phục của công tác tuyên truyền miệng. Đa dạng hóa phương thức, nâng cao hiệu quả các loại hình tuyên truyền miệng; kết hợp tuyên truyền trực tiếp với trực tuyến; tăng cường hình thức trực tiếp đối với lĩnh vực, địa bàn, vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng dư luận. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa tuyên truyền miệng với tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, phát huy vai trò của các phương tiện thông tin truyền thông, mạng xã hội để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền miệng.
4. Vai trò của tuyên truyền miệng
* Công tác tuyên truyền miệng có vai trò cụ thể như sau:
- Tuyên truyền miệng (cùng với các công cụ, phương tiện công tác tư tưởng khác) truyền bá sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân về Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó làm cho hệ tư tưởng của Đảng đóng vai trò chủ đạo vững chắc trong đời sống tinh thần của xã hội.
- Tuyên truyền miệng là kênh thông tin chủ yếu và chính thống nhằm giáo dục, phổ biến, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, thông báo kịp thời có định hướng về các vấn đề thời sự trong nước và quốc tế, tạo ra sự thống nhất về nhận thức, tư tưởng trong Đảng, đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin, cổ vũ các phong trào - hành động cách mạng, thược hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của Nhà nước.
- Tuyên truyền miệng là sợi dây nối liền Đảng với quần chúng, Nhà nước với Nhân dân, Trung ương, địa phương với cơ sở. Tuyên truyền miệng là kênh thông tin nắm bắt được nhận thức, tư tưởng, thái độ của đối tượng đối với chủ trương, đường lối, chính sách, nắm bắt được tâm tư nguyên vọng, nhu cầu, lợi ích của Nhân dân.
- Tuyên truyền miệng góp phần to lớn vào việc tạo lập và thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến, đấu tranh phê phán các hiện tượng tiêu cực, bài trừ tệ nạn xã hội.
- Tuyên truyền miệng là phương tiện hiệu quả để đấu tranh chống âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, lệch lạc nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN, sự nghiệp đổi mới, nền văn hóa, bảo vệ Nhân dân; giữ vững ổn định chính trị trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.
- Tuyên truyền miệng có khả năng đưa những thông tin nội bộ, những thông tin mà vì lý do nào đó không thể hoặc không nên đưa trên các phương tiện thông tin đại chúng đến đối tượng tuyên truyền.
- Trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin, tuyên truyền miệng góp phần định hướng thông tin, giải thích, phân tích cho Nhân dân hiểu rõ đâu là thông tin chính thức, chính thống, có tác dụng định hướng dư luận xã hội, góp phần tạo ra sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội.
5. Những ưu thế và hạn chế của tuyên truyền miệng
5.1. Ưu thế
- Tuyên truyền miệng có ưu thế của ngôn ngữ nói
Ngôn ngữ nói mang tính phổ biến trong giao tiếp xã hội. Hằng ngày, có khoảng 2/3 lượng thông tin con người thu nhận qua giao tiếp bằng lời nói trực tiếp. Với ngôn ngữ nói, cán bộ tuyên truyền có thể trình bày vấn đề một cách hệ thống, giải thích cặn kẽ, nhắc đi nhắc lại để ghi nhớ các khái niệm, phạm trù, quy luật, quan điểm, tư tưởng với từng đối tượng, kể cả đối tượng không biết chữ. Lời nói có sức truyền cảm, thông tin linh hoạt, có khả năng khơi dậy tính tích cực của con người, hình thành niềm tin và cổ vũ hành động. Lời nói có thể sử dụng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, cho nên tuyên truyền miệng ít tốn kém kinh phí, không cần nhiều đến kỹ thuật phức tạp.
- Tuyên truyền miệng có ưu thế trong việc sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ
Yếu tố phi ngôn ngữ là trang phục, tư thế, nét mặt, cử chỉ, động tác tay, điệu bộ, diện mạo, ngữ điệu, nụ cười… có tác dụng biểu đạt thông tin và sắc thái tình cảm sinh động, tác động trực quan đến người nghe. Các yếu tố phi ngôn ngữ tác động vào kênh thị giác của người nghe, tăng cường sự chú ý của họ, do vậy sẽ thúc đẩy việc tiếp thu thông tin một cách tốt nhất. Các yếu tố phi ngôn ngữ hỗ trợ cho lời nói, làm tăng ý nghĩa của lời nói, biểu hiện xúc cảm của người tuyên truyền, nâng cao hiệu quả của tuyên truyền miệng.
- Tuyên truyền miệng có ưu thế của loại hình giao tiếp trực tiếp
+ Bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội, có nhu cầu giao tiếp trực tiếp giữa người và người, không gì thay thế được. Bởi vậy, trong xã hội hiện đại có nhiều kênh thông tin đa dạng như sách báo, truyền hình, phát thanh, mạng xã hội… nhưng hàng triệu con người vẫn đến trường học nghe thầy cô giáo giảng bài, hàng vạn người vẫn đến hội trường, câu lạc bộ nghe cán bộ tuyên truyền nói chuyện;
+ Khác với giao tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng, giao tiếp trực tiếp còn đem lại cho người nghe không chỉ nội dung lời nói mà còn là tình cảm, niềm tin vào những điều cán bộ tuyên truyền muốn thể hiện.
+ Giao tiếp trực tiếp có ưu thế đặc biệt là truyền thông tin phù hợp với đối tượng về trình độ, giới tính, nghề nghiệp, độ tuổi, từ đó tác động đúng đến đối tượng để lời nói, cảm xúc dễ đi vào tâm hồn người nghe, chinh phục, thuyết phục người nghe, tạo dựng niềm tin và thái độ đúng đắn cho con người.
+ Giao tiếp trực tiếp tạo điều kiện cho cán bộ tuyên truyền linh hoạt vận dụng cách nói trong những tình huống khác nhau, có thể điều chỉnh nội dung thông tin, phương pháp tuyên truyền cho phù hợp.
+ Giao tiếp trực tiếp cho phép chuyển từ độc thoại sang đối thoại, trao đổi, giải thích, thuyết phục người nghe những vấn đề còn chưa thống nhất, từ đó làm tăng thêm hiệu quả tuyên truyền (đây là ưu thế của giao tiếp trực tiếp của cán bộ tuyên truyền mà người phát biểu trên truyền hình, đài phát thanh và khán thính giả không thể có được).
5.2. Hạn chế
- Lời nói chỉ đi một chiều không quay trở lại, lỡ lời không thể lấy lại được nữa, dù có cải chính vẫn để lại ấn tượng cho người nghe, cho nên đòi hỏi tuyên truyền viên rất thận trọng.
- Phạm vi ảnh hưởng của âm thanh - lời nói có giới hạn trong một khuôn khổ nhất định, dù có qua mic khuếch đại âm thanh.
- Lời nói dễ chịu ảnh hưởng từ ngoại cảnh do tập trung đông người và ở các địa điểm khác nhau.
- Lời nói phụ thuộc vào thiết bị âm thanh dù là trong hội trường lớn hay ngoài không gian tự nhiên.
- Lời nói của tuyên truyền phải viên vượt qua rào cản âm giọng tiếng địa phương, cần phải tìm đến sự phù hợp về âm giọng phổ thông với cùng một lúc rất nhiều đối tượng khác nhau về trình độ, sức khỏe, cá tính, giới tính, nghề nghiệp, trạng thái tâm lý…
- Lời nói phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức nền tảng sâu rộng, sức khỏe, trạng thái tâm lý, cơ quan phát âm, kỹ năng nói, trình bày của báo cáo viên. Cho nên nếu thiếu tri thức, báo cáo viên rất khó có bài giảng tốt.
II. KỸ NĂNG TỔ CHỨC MỘT BUỔI TUYÊN TRUYỀN MIỆNG
1. Trước khi phát biểu
* Chuẩn bị về nội dung
- Xây dựng chuyên đề trình bày thật công phu, chu đáo, có chủ đề rõ ràng, cấu trúc chặt chẽ, logic, mạch lạc, từ đề cương vắn tắt đến đề cương chi tiết, cụ thể, có đầy đủ tri thức lý luận và thực tiễn, bổ sung cập nhật những thông tin cập nhật có tính thời sự.
- Nắm chắc toàn bộ nội dung bài nói ở khung đề cương khái quát, hiểu, ghi nhớ và nhuần nhuyễn các ý chính và các ý phụ để có được tâm thế tự tin, “nhập vai” khi trình bày.
* Chuẩn bị về thể chất và tinh thần, sức khỏe và tâm lý
- Cố gắng đảm bảo về thể chất, ăn uống nhẹ nhàng, đúng mức, chất lượng, hôm trước cần đảm bảo giấc ngủ tốt, thân thể khỏe khoắn, khoan khoái, đi lại nhanh nhẹn, nói năng dễ dàng (kể cả chuẩn bị giọng nói).
- Gạt bỏ những ý nghĩ, tri thức không liên quan đến bài nói, gạt bỏ các trạng thái cảm xúc tiêu cực (là “rác rưởi” của cảm xúc) như: tâm trạng mệt mỏi, buồn bã, chán chường, bực dọc, tức tối hằn học, cáu giận…. Có thể đi dạo, vãn cảnh thiên nhiên ở xung quanh hội trường để tinh thần thư thái, nhẹ nhàng, thanh thản, tâm trí bình an, nhẹ nhõm.
* Chuẩn bị thời gian, địa điểm
- Về thời gian: tốt nhất nên chọn buổi sáng, buổi chiều và buổi tối. Không chọn buổi trưa.
- Về địa điểm: phòng họp, hội trường phải có thể phù hợp với số lượng người nghe (không nên chật quá hoặc rộng quá). Chú ý yếu tố ánh sáng, âm thanh phải đầy đủ, dễ nghe, không có tiếng ồn từ bên ngoài, không bị tiếng vọng của mic và loa đài trong không gian hội trường. Chú ý đảm bảo nhiệt độ không nóng quá, không lạnh quá, tránh gió lùa mạnh.
Không nên bố trí khách mời trên diễn dàn hai bên diễn giả vì điều này sẽ dễ làm phân tán sự tập trung của người nghe.
* Lưu ý khi trình chiếu slide
- Để việc xây dựng, thiết kế các slide chất lượng, báo cáo viên cần tuân thủ 7 nguyên tắc sau:
(1) Cố gắng thiết kế 7 - 9 dòng/1 slide.
(2) Nên dùng phông chữ không chân.
(3) Yêu cầu cỡ chữ cho tiêu đề là 44, cho nội dung là 28 hoặc 32.
(4) Chỉ dùng “từ khóa”, hạn chế viết câu dài.
(5) Phải đảm bảo độ tương phản giữa chữ, hình ảnh và nền để nhìn được rõ.
(6) Nên thống nhất cách trình bày slide trong suốt thời gian buổi nói chuyện.
(7) Cần minh họa bằng hình ảnh, đồ họa, chèn thêm các đoạn phim, video clip, nhạc cho bài nói thêm sinh động.
- Trong sử dụng Power Point, báo cáo viên cần tránh 9 vấn đề sau:
(1) Chỉ chiếu các đề mục chính mà không có nội dung minh họa.
(2) Chiếu quá nhiều nội dung.
(3) Chiếu liên tục suốt buổi nói chuyện.
(4) Dùng quá nhiều hình ảnh, âm thanh, gây ra sự mất tập trung cho đông đảo người nghe.
(5) Thuyết trình quá nhiều không gắn gì với slide.
(6) Khi xây dựng slide, dùng chữ quá nhỏ, quá nhiều, hoặc quá lớn chỉ có một màu đơn điệu.
(7) Chiếu slide và đọc lại nội dung trên slide một cách máy móc, không phân tích, giảng giải.
(8) Quá phụ thuộc vào Power Point hoặc trình chiếu slide nhanh quá, người nghe không theo dõi kịp.
(9) Che khuất máy khi đứng thuyết trình.
2. Bắt đầu phát biểu
* Chỉnh trang thiết bị giảng dạy
Kiểm tra máy tính, bút chỉ, giáo án (nếu có) trên bục giảng, chọn mic cố định hoặc cầm tay, chỉnh sửa tư thế đứng để báo cáo viên có thể nhìn bao quát toàn bộ hội trường và tất cả mọi người đều nhìn thấy báo cáo viên.
* Làm công việc tổ chức người nghe
Ổn định tổ chức, thu hút sự tập trung của người nghe.
Có thể thu hút sự chú ý bằng cách im lặng 5-10 giây chỉ nhìn công chúng mà chưa nói. Đây là kỹ thuật “phút yên lặng ban đầu”, thu hút sự chú ý bằng cách giao tiếp mắt, chào thầm mọi người bằng ánh mắt đầy thiện cảm, nhìn tất cả hội trường từ hàng đầu tiên đến hàng cuối cùng, từ bên phải, qua bên trái, cảm nhận về thái độ của mọi người mà chọn phương pháp vào đề, phương pháp trình bày vấn đề. Sau đó thực hiện lời mở đầu phù hợp. Có thể bắt đầu nói chậm rãi bình tĩnh theo sự chuẩn bị (Kính thưa các vị đại biểu! Kính thưa các đồng chí! Kính thưa bà con…).
Chú ý xử lý một số tình huống:
* Báo cáo viên hồi hộp
- Nguyên nhân:
+ Chuẩn bị bài chưa kỹ, chưa nắm chắc nội dung bài nói.
+ Thiếu tự tin vào bản thân.
+ Tâm lý lo lắng, không ổn định, tim đập nhanh.
+ Chưa quen nói trước ống kính camera hoặc có yêu cầu ghi âm bất ngờ nảy sinh.
+ Bất ngờ về đối tượng nghe không nằm trong dự kiến xuất hiện trong hội trường.
+ Thiếu kinh nghiệm, chưa từng trải trong thực tiễn tuyên truyền miệng.
- Xử lý:
+ Thở sâu vài lần.
+ Làm dịu thể chất bằng cách tiến hành làm một việc gì đó: sửa sang lọ hoa, dịch chuyển máy tính cho phù hợp, chỉnh sửa mic…
+ Nắm chặt bàn tay rồi thả lỏng một số lần.
+ Đưa mắt tìm những gương mặt thân quen, có thiện cảm với mình và dừng ở đó một lúc và nghĩ rằng đó là những người đang ủng hộ mình.
+ Đôi khi có thể nói thẳng với thính giả là mình bị hồi hộp.
+ Tập trung nói ngay vào điều mình nắm chắc để khơi nguồn dòng mạch cho bài nói, khi mạch nói tuôn trào là hết hồi hộp.
* Người nghe ồn ào, không tập trung chú ý
Xử lý: Nói to hơn một chút và rõ ràng những nội dung mình nắm chắc khi bắt đầu phát biểu (quy luật tâm sinh lý của con người là chỉ tiếp nhận những tác nhân kích thích âm thanh trội hơn, hay hơn).
* Người nghe ồn ào, tỏ thái độ phản đối
Xử lý: sử dụng thủ thuật “nhân nhượng” để buộc người nghe lắng nghe.
Cụ thể là báo cáo viên im lặng mắt nhìn thẳng vào đám đông ồn ào vài giây làm ra vẻ đồng tình với họ. Khi mọi người bớt ồn ào, báo cáo viên trình bày lập luận của mình với chứng cứ rõ ràng và thuyết phục để đám đông nghe rõ và thừa nhận.
3. Trong khi phát biểu
* Kỹ năng tiến hành phát biểu
Trong khi phát biểu, báo cáo viên tác động đến người nghe chủ yếu bằng 2 kênh: kênh ngôn ngữ và kênh phi ngôn ngữ. Người nghe cũng sử dụng 2 kênh này tác động ngược trở lại báo cáo viên.
- Kênh ngôn ngữ: cách sử dụng từ ngữ, tiếng nói, âm giọng, ngữ điệu, cường độ âm lượng, tiết tấu, nhịp điệu và sự ngừng giọng… sẽ tạo ra sự hấp dẫn của bài nói. Cường độ to hay nhỏ được điều tiết linh hoạt cho phù hợp khuôn khổ, kích thước hội trường, số lượng và đặc điểm người nghe, sao cho tất cả mọi người đều nghe được.
+ Nhịp độ lời nói (nhanh hay chậm) do nội dung bài nói, tình huống và không gian giao tiếp, khả năng hoạt động tư duy và sự chú ý của người nghe quy định. Vấn đề là cần phải đồng bộ giữa người nói và người nghe về tốc độ tư duy, tốc độ nói và tốc độ tiếp nhận của người nghe.
+ Ngừng giọng giây lát (2-3 giây) là kỹ năng thu hút của báo cáo viên trong phát biểu miệng (chú ý là không ngừng giọng quá lâu), sau đó lại tiếp tục tuôn chảy mạch ngôn từ lời nói để người nghe theo dõi được liên tục.
- Kênh phi ngôn ngữ: là trang phục, tư thế, nét mặt, cử chỉ, động tác tay, điệu bộ, diện mạo, ngữ điệu, nụ cười… mà báo cáo viên phải chuẩn bị và rèn luyện nhuần nhuyễn. Cụ thể:
+ Tư thế: tự nhiên, linh hoạt, nhanh nhẹn, chắc chắn, vững vàng.
+ Cử chỉ diện mạo: đó là gương mặt, ánh mắt, cách nhìn, những cái gật đầu tán thưởng, khẳng định, tư thế đứng, khẩu hình miệng… của báo cáo viên phải có tính thẩm mỹ, phù hợp với nội dung bài nói, phù hợp với ngữ điệu của lời nói và cảm xúc. Nét mặt, ánh mắt, nụ cười có tác dụng hỗ trợ rất nhiều cho lời nói, nhấn mạnh ý quan trọng, khắc sâu trong tâm trí người nghe
+ Cử chỉ mô phỏng hình ảnh: động tác tay và diện mạo của người nói nhấn mạnh thêm ý tưởng mô tả tác động đến thị giác của người nghe, giúp cho vấn đề được hình dung rõ ràng, sinh động hơn. Nụ cười tự nhiên là một thông điệp rất tốt.
Những sai lầm về ngôn ngữ cơ thể cần phải tránh
- Gương mặt buồn bã, nóng giận, cáu kỉnh, nhăn nhó, hằn học, vô cảm, đi lại chậm chạp, mệt mỏi hoặc vui vẻ quá mức...
- Y phục áo quần, nhàu nát, không sạch, thiếu cúc, không cài đủ cúc hay cài cúc lệch. Vải của y phục có màu sắc phản cảm hoặc quá mỏng, có thể nhìn xuyên thấu khi ngược sáng…
- Kính, túi, cặp… quá cũ kỹ, sờn, rách, giày dép bẩn.
- Đầu tóc không gọn gàng, tay không sạch, tay áo lòe xòe.
- Cho tay vào túi quần, chắp tay sau lưng (là không lịch sự)…
- Khoanh tay trước ngực (là tư thế phòng thủ, không thân thiện).
- Úp bàn tay vỗ vào không khí phía trước mặt cử tọa theo nhịp độ lời nói (đây là hành vi thiếu khiêm tốn, thiếu lịch sự, như “lên mặt dạy dỗ” người khác).
- Chỉ thẳng tay vào mặt người nghe: cử chỉ khiếm nhã.
- Nhìn đồng hồ liên tục (thể hiện sự rối trí, sợ hết giờ, người nghe có cảm giác báo cáo viên nói “cho xong chuyện”).
- Tư thế đứng xấu: đứng lệch chéo thân hình (không đối diện với người nghe), so vai, rụt cổ, vẹo đầu, vị trí đứng thấp hơn người nghe.
- Dáng vẻ quá điệu bộ, ủy mỵ, sướt mướt hoặc “lên gân”, căng thẳng, dữ dội quá mức, biến bục giảng thành sân khấu, sàn diễn thời trang…
* Cách nói thu hút, duy trì sự chú ý và gây ấn tượng đối với người nghe
Để thu hút, duy trì sự chú ý và gây ấn tượng đối với người nghe, cần chú ý:
- Một là, cần tìm cách nói, cách diễn đạt thật dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng bằng cách giải thích những “từ khóa” giản dị, hàng ngày về nội dung, chủ đề của bài nói, “ngôn thiểu, ý túc”, tức là lời ít, ý nhiều. Cần mạnh dạn lược bỏ những từ ngữ cao siêu, sáo rỗng, trừu tượng, xa thực tế, dài dòng, rắc rối…
- Hai là, thỉnh thoảng sử sụng yếu tố bất ngờ, tăng sức hấp dẫn: dùng danh ngôn, lời hay ý đẹp bốn phương, tục ngữ, ca dao, những từ ngữ “đắc địa” để khái quát nội dung trình bày.
- Ba là, nêu dồn dập các sự kiện về nội dung thông tin hay, mới lạ, có tính thời sự, tạo ra nhịp điệu của bài nói, gây ấn tượng cho người nghe.
- Bốn là, nắm vững kỹ năng sử dụng con số, số liệu thực tế minh chứng cho nội dung, luận điểm của bài nói (những số liệu ấn tượng, tiêu biểu nhất có tác dụng minh chứng, thuyết phục), có thể hiển thị bằng biểu đồ bắt mắt, sinh động, dễ theo dõi. Tránh lạm dụng, dùng quá nhiều số liệu phức tạp, lằng nhằng.
- Năm là, phát biểu theo kiểu ngẫu hứng, tự do, “thoát ly đề cương”. Đây là cách mà những báo cáo viên tài năng, lâu năm, thành thạo khoa học và nghệ thuật diễn thuyết hùng biện, giàu kinh nghiệm, nắm vững và rất chắc bài giảng, có phông nền kiến thức lý luận và thực tiễn cập nhật, uyên bác và sâu sắc mới có thể làm được. “Thoát ly đề cương” là cách trình bày theo kiểu bay lượn xung quanh chủ đề bài nói, không phụ thuộc vào câu chữ của đề cương và slide trình chiếu, nhưng không bao giờ lạc đề và có thể đột nhập ngay lập tức vào chủ đề, nội dung cần tuyên truyền, gây ấn tượng sâu sắc với người nghe.
Muốn làm được cách trình bày ngẫu hứng, tự do, “thoát ly đề cương”, báo cáo viên cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Có trí nhớ tốt để nhớ kỹ đề cương bài giảng.
+ Có kiến thức nền vững chắc, phong phú, cập nhật thực tiễn, thoát ly đề cương mà vẫn phát ngôn đúng đắn, chuẩn mực.
+ Có khả năng huy động kiến thức theo trí nhớ theo logic của vấn đề.
+ Vốn ngôn ngữ phong phú, sáng tạo, linh hoạt (hoạt ngôn).
+ Giàu kinh nghiệm, tâm huyết với nội dung bài nói
- Sáu là, trình bày vấn đề cụ thể, mạch lạc, biết hình tượng hóa, cụ thể hóa sự vật, hiện tượng, vấn đề (có thể minh họa bằng những câu chuyện, phim, video, hình ảnh, màu sắc, âm thanh, tiếng động…)
- Bảy là, sử dụng một số biện pháp ngôn ngữ như từ láy, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, ngoa dụ (nói quá), cường điệu hóa, câu ẩn chủ ngữ (vô nhân xưng), câu sóng đôi, câu có bổ ngữ đứng trước, đảo ngữ, điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc tạo ra âm điệu nhịp nhàng, âm vang, sôi nổi, ấn tượng
* Kỹ năng khôi phục và tăng cường sự chú ý
- Thứ nhất, kết hợp ngôn ngữ lời nói và ngôn ngữ cử chỉ hợp lý, truyền cảm hứng mạnh mẽ, dễ ghi nhớ cho người nghe. Báo cáo viên không nên đứng lâu một chỗ, có thể di chuyển linh hoạt và khi cần thiết tiến gần đến người nghe để nói cho gần gũi, thu hút sự chú ý.
- Thứ hai, dùng thủ thuật âm thanh, có thể nói to nhỏ, nhịp độ thay đổi, nhanh chậm, diễn cảm theo nội dung thuyết trình.
- Thứ ba, sử dụng các phương tiện trực quan (sơ đồ, biểu bảng, hình ảnh, video, âm nhạc, tiếng nói của nhân vật…) kết hợp với lời nói và chữ viết trình chiếu trên slide có màu sắc đẹp.
- Thứ tư, thay đổi trạng thái giao tiếp từ độc thoại sang đối thoại, đặt câu hỏi phỏng vấn hoặc cho người nghe làm việc theo nhóm, gợi mở cho người nghe phát biểu, trao đổi về nội dung bài tuyên truyền
- Thứ năm, thỉnh thoảng sử dụng yếu tố hài một cách thông minh, tế nhị.
Yếu tố hài sẽ gia tăng sự hấp dẫn, thú vị cho buổi tuyên truyền miệng, giảm bớt sự căng thẳng (nếu có). Sử dụng yếu tố hài là một kỹ năng phải được rèn luyện công phu (có chút năng khiếu).
Thông thường khi biết khai thác các yếu tố trái với tự nhiên là sẽ gây cười cho người nghe. Tất nhiên tiếng cười phải nhẹ nhàng, thoải mái, không ám chỉ ai, nhất là những cử tọa đang có mặt trong hội trường. Thông thường, báo cáo viên có thể khai thác truyện cười dân gian truyền thống và hiện đại, trong nước và quốc tế một cách hóm hỉnh, sâu sắc và lịch sự.
* Kỹ năng trả lời câu hỏi khi đối thoại
- Đối với những câu hỏi có thể trả lời được
+ Trả lời ngắn gọn, rõ ràng, đúng và trúng yêu cầu câu hỏi.
+ Trả lời bằng lập luận có cơ sở lý luận và thực tiễn, có logic, thuyết phục, lời nói nhã nhặn, khiêm tốn.
+ Có thể đặt câu hỏi gợi ý, gợi mở để người hỏi ngẫm ra và nói câu trả lời câu hỏi của chính họ.
- Đối với những câu hỏi khó và các tình huống bất ngờ
+ Không nên trả lời những câu hỏi mà báo cáo viên chưa nắm vững. Báo cáo viên hãy nói là: vấn đề này rất quan trọng, cần phải thận trọng nghiên cứu thêm để đưa ra câu trả lời đúng đắn, khoa học nhất. Có thể hẹn trả lời vào một thời điểm khác (cuối giờ, cuối buổi, hoặc sang ngày khác).
+ Tình huống người hỏi đưa ra quá nhiều câu hỏi và có những câu hỏi phi lý, báo cáo viên cần phân tích các câu hỏi đó, hạn chế bớt phạm vi vấn đề của các câu hỏi.
+ Tình huống người hỏi có thái độ châm chọc, đặt câu hỏi thiếu tế nhị.
Trong tình huống này, báo cáo viên phải bình tĩnh, nhẹ nhàng, gợi mở những điều tốt mà người hỏi cần phải hướng theo, từ đó họ sẽ thay đổi thái độ, và công tác tuyên truyền sẽ có hiệu quả tốt.
Báo cáo viên có thể đặt câu hỏi ngược lại: Vì sao anh (chị) lại đặt câu hỏi như vậy? Lập tức người đặt câu hỏi sẽ rơi vào bị động, ngại ngần vì thái độ không trong sáng, thiếu tinh thần xây dựng trong câu hỏi của chính họ. Hoặc báo cáo viên có thể gọi một số người nghe trong hội trường cho ý kiến nhận xét về câu hỏi châm chọc, thiếu tế nhị kia, để đông đảo tập thể phê bình người đặt câu hỏi đó. Sau đó, báo cáo viên nên khéo léo gợi mở, chuyển hướng về trọng tâm chính của bài nói, tránh sa đà làm mất thời gian của buổi tuyên truyền.
+ Đối với những câu hỏi liên quan đến các vấn đề lớn của đất nước vượt qua khả năng báo cáo viên.
Trong trường hợp này, nếu không có trách nhiệm trả lời, thì báo cáo viên có thể từ chối, không trả lời hoặc chỉ dẫn người hỏi đến gặp người có trách nhiệm trả lời câu hỏi đó để nhận sự trả lời.
4. Kết thúc bài phát biểu
Báo cáo viên nhắc lại chủ đề của buổi tuyên truyền, khái quát ngắn gọn lại hệ thống các ý lớn đã trình bày, trong đó nhấn mạnh những ý quan trọng. Sau đó, báo cáo viên kết luận bằng cách tổng hợp ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề đã trình bày, đưa ra định hướng tư tưởng, kêu gọi, động viên, cổ vũ mọi người hành động.
Trường hợp người nghe đặt thêm câu hỏi, báo cáo viên có thể trả lời (nếu còn thời gian), hoặc hẹn trả lời riêng sau. Báo cáo viên nên kết thúc sớm hơn thời gian quy định (khoảng 5, 6 phút), không nên kéo dài quá giờ, gây tâm lý ức chế cho người nghe. Trước khi kết thúc, báo cáo viên nên cảm ơn cử tọa vì đã lắng nghe, xin lượng thứ những sơ xuất (nếu có), chúc mọi người vui khỏe, hạnh phúc và thành công. Xin hẹn gặp lại trong những chương trình tuyên truyền miệng tiếp theo.
III. MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG
1. Xác định "Công tác tuyên truyền miệng là nhiệm vụ của toàn Đảng", hoạt động báo cáo viên, tuyên truyền miệng phải được các cấp ủy đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Các cấp ủy đảng phải thường xuyên quán triệt, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới, từ đó huy động cả hệ thống chính trị tham gia công tác tuyên truyền miệng.
2. Phải xây dựng được đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên đồng bộ, thống nhất, được đào tạo bài bản, có kỹ năng, uy tín, trách nhiệm, có trình độ hiểu biết về nhiều lĩnh vực; có kinh nghiệm công tác lãnh đạo, quản lý và hoạt động thực tiễn; nắm vững tình hình cơ sở, thực sự là lực lượng nòng cốt trong công tác tuyên truyền miệng, là chỗ dựa tin cậy cho Nhân dân trong việc nâng cao nhận thức tư tưởng chính trị và các quan điểm, đường lối của Đảng. Kịp thời cung cấp các thông tin, tài liệu phục vụ cho báo cáo viên, nhất là những vấn đề “nóng” được dư luận đặc biệt quan tâm, giúp cho hoạt động tuyên truyền miệng ngày càng nhanh nhạy và hiệu quả.
3. Công tác tuyên truyền miệng phải được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, bám sát thực tiễn cuộc sống, gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, và từng thời điểm nhất định. Tập trung giải quyết những vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau trong cán bộ, đảng viên và trong Nhân dân. Đồng thời tích cực đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền miệng, hoạt động của đội ngũ báo cáo viên theo hướng phối hợp đồng bộ, đa dạng về hình thức, phù hợp với từng giai đoạn, thời điểm, với trình độ, văn hóa, nhận thức, tập quán của từng vùng dân cư. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo vào hoạt động công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên. Nâng cao tính định hướng và sức thuyết phục của hoạt động tuyên truyền miệng. Nội dung thông tin truyền đạt có chọn lọc, phân tích, lý giải, bình luận sâu sắc, không chỉ bao hàm những vấn đề thời sự chính trị, mà còn tập trung cho vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa và các vấn đề bức xúc khác của xã hội; biểu dương, cổ vũ những nhân tố mới trong các phong trào xây dựng đời sống văn hóa,…
4. Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên và cán bộ, đảng viên thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền miệng phải thực sự gương mẫu trong cuộc sống và trong công tác; phải không ngừng tự học, tự rèn luyện nâng cao kỹ năng nghiệp vụ; phải chủ động nắm bắt thông tin từ phía đối tượng tuyên truyền, từ đó lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền cho phù hợp, đảm bảo hiệu quả thiết thực.
5. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ban Tuyên giáo và Dân vận các cấp, Ban Xây dựng Đảng cơ sở trong việc tham mưu cấp ủy tổ chức quản lý hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên. Phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Ban Bí thư (khóa XIII). Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm.
Nguồn: Sổ tay Tuyên giáo và Dân vận tỉnh Ninh Bình