Kỷ Niệm Thời Thơ Ấu
Tôi được sinh ra và lớn lên ở Cù Lao Phố của quê hương xứ Bưởi, nơi có dòng sông Đồng Nai bao bọc xung quanh với ruộng lúa xanh tươi và cây ngọt trái lành. Đối với tôi, thời thơ dại là phần đời đẹp nhất trong nửa quãng đời sống ở quê nhà và lại càng có ý nghĩa hơn khi nửa quãng đời còn lại làm thân lưu lạc nơi xứ người.
Không biết Tổ Tiên tôi đã định cư ở đất Cù Lao từ lúc nào? Tôi chỉ biết rằng mảnh đất nầy đã ôm ấp hình hài của Ông Bà Cố, Ông Bà Nội và cả Cha Mẹ tôi nữa. Đó là lý do dù có sống nơi đất khách bao lâu chăng nữa thì con tim của tôi vẫn còn niềm thương nhớ khôn nguôi chốn quê nhà như một điều gì thiêng liêng không thể chối bỏ.
Thuở Ba tôi lớn lên, sau khi học xong trung học thì lại có việc làm ở Saigon nên phải chuyển về đó sinh sống. Hàng tuần vẫn về Biên Hòa thăm Cha Mẹ. Rồi Ba tôi lập gia đình và vẫn sống ở Saigon cho đến khi năm đứa con lần lượt ra đời ở quê Nội. Ông Nội tôi mất khi anh Hai tôi mới vài tháng tuổi nên trong tôi hình ảnh của ông Nội rất mơ hồ. Tôi chỉ biết ông Nội là người có tấm hình mà gia đình đang thờ phượng, thế thôi!
Còn hình ảnh bà Nội tôi luôn khắc sâu trong trí nhớ vì Bà đã thay Cha Mẹ tôi chăm sóc cả một đàn cháu nhỏ từ lúc sinh ra cho đến khi học xong trung học. Bên cạnh bà Nội là cô Hai - chị cả của Ba tôi - mà chúng tôi gọi là má Hai để phân biệt với má ruột của tôi là má Sáu. Hai người đàn bà thân thương và kính mến đã đi sâu vào tâm hồn tôi qua những kỷ niệm của thời thơ ấu. Còn má ruột của tôi cũng là người tôi yêu kính lại gắn liền với phần đời của tôi lúc trưởng thành.
Khi tôi được 6 tuổi, vào học lớp năm của ngôi trường làng Hiệp Hòa thì má Hai là người đưa tôi đến trường trong buổi học đầu tiên. Tôi cũng mang tâm trạng bỡ ngỡ trong ngày khai trường như tác giả Thanh Tịnh đã ghi lại trong tác phẩm “Tôi Đi Học”. Năm ấy, tôi được học cô Năm Châu, người chuyên dạy lớp Năm nhiều năm và rất nghiêm khắc với học trò nên đứa nào cũng sợ và răm rắp nghe theo lời Cô. Vì trường nhỏ, mỗi cấp lớp chỉ có một lớp nam và một lớp nữ nên hầu như học sinh nữ cả làng đều phải qua tay Cô ở lớp năm. Cô tuy nghiêm khắc nhưng rất thương học trò và dạy rất tận tâm nên thuở ấy không có lớp mẫu giáo mà học trò lớp Năm nào cũng biết đọc để chuẩn bị lên lớp Tư.
Đến lớp Ba thì tôi học cô Năm Tích, cũng nghiêm khắc như cô Năm Châu và hay đánh đòn học trò những đứa ham chơi và lười học. Trái lại những đứa giỏi ngoan thì Cô rất thương. Vì sợ đòn nên bọn con gái chúng tôi dều ráng học cho giỏi. Một điểm đặc biệt khi lớp cô có nhiều học sinh trùng tên thì cô thường gọi tên và họ chung với nhau cho dễ nhớ. Vậy mà những cái tên đó theo chúng tôi cho đến bây giờ khi bạn bè cũ gặp lại nhau. Nào là Hoa Đỗ, Hoa Ngô, Hoa Phan, Hoa Dương, Hoa Đào… nào là Hạnh Phạm, Hạnh Nguyễn, Loan Đào, Loan Lê…
Lớp Tư và lớp Nhì thì tôi không nhớ tên thầy cô giáo, có lẽ không phải là người ở Cù Lao. Còn cô Năm Châu ở ấp Nhất Hòa, cô Năm Tích ở ấp Nhị Hòa nên tôi vẫn còn nhớ nhà của hai Cô. Đặc biệt lên lớp Nhất thì tôi học cô Trần Thị Hai, Cô ở nơi khác và mới ra trường Sư Phạm Cộng Đồng Long An về dạy ở trường Hiệp Hòa. Cô còn rất trẻ, dáng người cao ráo và có mái tóc dài thật đẹp. Cô dạy rất nhiệt tình và thương yêu học trò như những đứa em trong gia đình nên chúng tôi rất quý mến Cô. Cuối năm lớp Nhất, cô cho cả lớp chụp hình chung với Cô để làm kỷ niệm và tặng cho mỗi đứa một tấm. Cho đến bây giờ - 50 năm sau - tôi vẫn còn giữ tấm hình đó. Màu thời gian đã tấm ảnh vàng úa , nhạt nhòa nhưng hình ảnh của cô giáo và bạn bè thân thương năm ấy vẫn còn được lưu giữ ở một góc ký ức trong tôi.
Tuy đi làm ở Saigon nhưng đến ngày thi tuyển vào lớp đệ Thất trường Ngô Quyền thì Ba tôi xin nghỉ làm để đưa tôi đi thi ở Biên Hòa. Rồi đến ngày xem kết quả Ba tôi cũng về Biên hòa để chở tôi đi. Ba tôi rất vui mừng khi tôi đã thi đậu và thưởng cho tôi một bữa mì ở tiệm “Mì Chú Mừng”. Chính Ba tôi cũng là người chở tôi đi học ngày đầu tiên ở trường Ngô Quyền cũng là lần đầu tiên tôi mặc chiếc áo dài vải trắng, quần satin đen, đội nón lá và chân mang đôi guốc. Ôi, cái hình ảnh thơ ngây thật dễ thương đó tôi làm sao quên được!
Giã từ những trò chơi trẻ con của trường tiểu học: đánh đũa, búng hột me, búng thun, nhảy cò cò, nhảy dây… tôi trưởng thành và điềm đạm hơn một chút khi lên bậc trung học. Tôi có thêm nhiều bạn mới ở rải rác khắp các xã của tỉnh Biên Hòa như Chợ Đồn, Hãng Dầu, Tam Hiệp, Hố Nai, Bửu Long, Hóa An… Chúng tôi chơi với nhau và hễ có cơ hội là rủ nhau đến nhà của một bạn nào đó chơi vài tiếng đồng hồ có khi kéo dài cả buổi. Những dịp Lễ Tết thì đi chơi xa có khi cả ngày và bao giờ cũng được ba mẹ của bạn mình tiếp đón và cho ăn no mới về. Đến nhà các bạn có vườn cây ăn trái thì tha hồ mà leo lên cây hái trái chin vừa ăn vừa nô giỡn ầm ĩ. Thật là một thời vô tư hoa mộng!
Với tôi, thời trung học đệ nhất cấp là phần đời đẹp nhất của tuổi học trò vì đó là cái gạch nối của tiểu học và trung học đệ nhị cấp. Chúng tôi đã giã từ tuổi thơ ngây và sắp bước chân vào tuổi trưởng thành với nhiều mơ ước cho tương lai. Khi bắt đầu lên đệ tam thì cũng là lúc tình cảm phát triển, lại học chung với nam sinh nên không tránh khỏi những mối tình học trò vụng dại. Từ đó, tâm hồn của các nữ sinh không còn trong trắng thơ ngây và đã biết mơ mộng một bóng hình nào đó để rồi thẫn thờ và mang những nỗi buồn không tên!
Cho đến khi rời khỏi trường trung học là đã thực sự làm người lớn để tự quyết định và có trách nhiệm với chính bản thân mình. Bây giờ cha mẹ sẽ là người cố vấn để truyền đạt những kinh nghiệm sống mà người đã trải qua. Tôi thật sự bước vào đời với hành trang là những điều dạy dỗ của Cha Mẹ vả những kiến thức Thầy Cô đã truyền đạt. Tôi mở cánh cửa tương lai, mang hành trang bước vào đời, bỏ lại sau lưng những kỷ niệm đẹp của thời thơ dại với gia đình, Thầy Cô và bè bạn…
Hát Bình Phương
Đôi Dòng Về Thầy Đinh Văn Sái
Kính thưa quý Thầy Cô, quý Anh Chị Em và các Bạn cựu học sinh Ngô Quyền.
Tôi tên là Đinh Cẩn Cấp, trưởng nam của Thầy Đinh Văn Sái, cựu học sinh khóa 4 Ngô Quyền (1959 – 1966). Gia đình tôi có bốn anh em: Đinh Cẩn Cấp, Đnh Cẩn Thân, Đinh Thị Thu Cúc và Đinh Cẩn Thủ. Tôi xin có đôi dòng về thân phụ tôi là Thầy Đinh Văn Sái.
Ba tôi sinh ngày 15 tháng giêng năm 1915 tại Tân Uyên, Biên Hòa. Ba tôi là cựu học sinh trường Petrus Ký và trường Sư Phạm. Sau khi tốt nghiệp trường Sư Phạm, trường đầu tiên ba tôi dạy ở tận dưới Cà Mau. Sau đó ba tôi được đổi về trường ở Phú Hội, Long Thành và sau đó được chuyển về trường tiểu học Biên Hòa, sau nầy có tên là trường Nguyễn Du.
Năm 1945, phong trào kháng chiến và giặc giã nổi lên khắp nơi. Hầu hết người dân Tân Uyên chạy xuống Biên Hòa. Gia đình tôi cũng rời khỏi Tân Uyên xuống ở phố Thầy Hai Lụa, chỉ còn một mình ông Nội tôi không đi vì Ông nghĩ rằng nay mai rồi cũng yên, vả lại Ông cũng không muốn bỏ lại nhà cửa và mồ mả Ông Bà.
Gia đình tôi đông người nên Thầy Hai thương tình cho thêm nhà xe (garage)ở tạm. Chính nơi nhà xe nầy, ba tôi làm nơi tụ tập của những bậc đàn anh chơi bóng bàn như một câu lạc bộ rất đông vui. Họ là những cầu thủ của đội bóng bàn Hàng Dương.
Cách nay vài năm, Thầy Trần Minh Đức có gọi phone cho tôi để hỏi thăm về gia đình tôi. Thầy cũng có nhắc đến nhà xe nầy đồng thời kể cho tôi nghe: “Ba em luyện cho Thầy môn Pháp Văn để thi tuyển vào Đệ thất trường Petrus Ký Saigon và Thầy đã thi đậu năm đó nên Thầy nhớ ơn Ba em nhiều lắm!”
Ở Biên Hòa, thỉnh thoảng Ba tôi về Tân Uyên để thăm ông Nội.Ba tôi kể lại, có một lần lên thăm, xui xẻo gặp lúc Tây đang bố ráp. Họ thấy thanh niên là bắt vì nghi ngờ những người ở lại là Việt Minh.Sau đó họ bắt những thanh niên nầy đi làm tạp dịch như dân công làm đường, làm cầu.v.v. Trên đường đạp xe trở về Biên Hòa, lúc đi ngang qua cầu Rạch Tre thì ba tôi bị bắt. Họ tập trung đám thanh niên ở phía dưới cầu, chỗ bờ rạch. Trong lúc nghỉ ngơi, thấy bọn Tây lơ đểnh, ba tôi tính chạy trốn nhưng lại thôi. Ba tôi kể lại nếu lúc đó chạy trốn chắc chết vì sau nầy mới biết bọn Tây còn bố trí một lớp ở vòng ngoài nữa.
Cứ mỗi ngày bắt làm cầu, chiều tối đến họ đem ra hai người tù bắn bỏ. Họ chủ trương “thà giết lầm hơn tha lầm”. Ba tôi đã chứng kiến cảnh giết người khủng khiếp đó nên rất lo sợ. Tới phiên ba tôi vào lúc cùng đường vụt buộc miện nói tiếng Pháp với họ. Bọn Pháp ngỡ ngàng hỏi: “Sao mầy biết tiếng Pháp”. Ba tôi mới nói là giáo chức dạy ở Biên Hòa. Họ hỏi: “Sao hổm rày mầy không nói?” Ba tôi nói vì nhốt chung cả đám nên không biết ai là Việt Minh nên không dám nói vì Việt Minh chủ trương ai làm việc cho Pháp thì giết, không giếtđược chồng thì sẽ giết vợ.
Sau đó họ nhốt riêng ba tôi và bắt làm thông dịch. Một thời gian ngắn sau. Họ liên lạc với Ty Tiểu học Biên Hòa và được xác nhận đúng tên tuổi nên chờ có chuyến tàu về Biên Hòa thì gửi ba tôi đi. Trở về nhà với gia đình, ba tôi thầm cảm ơn Trời Phật và Ông Bà đã phò hộ cho ba tôi thoát nạn.
Ba tôi dạy ở trường tiểu học Biên Hòa một thời gian thì trường trung học Ngô Quyền được thành lập. Ba tôi cùng với hai Thầy Phạm Văn Tiếng và Bùi Quang Huệ được Bộ Quốc Gia Giáo Dục đề cử lên dạy trường trung học Ngô Quyền từ lúc mới thành lập năm 1956 cho đến lúc nghỉ hưu khoảng năm 1977. Đó là ba vị Giáo Sư đầu tiên của trường Ngô Quyền mà nhiều người trong tỉnh Biên Hòa đều biết và kính mến.
Khi làm Giáo Sư ở trường Ngô Quyền, ba tôi phụ trách môn Pháp văn là chính, lại thêm môn phụ là Toán. Ngoài ra ba tôi rất ham thích các họat động thể dục thể thao nên được phân công thêm phụ trách môn bóng rổ vì lúc còn đi học ở Petrus Ký, ba tôi có chơi trong đội bóng rổ của trường. Ba tôi thành lập nhiều đội bóng rổ của các lớp trường Ngô Quyền để thi đấu với nhau thật vui vẻ và học sinh rất thích thú.
Ngoài ra có thời gian ba tôi được cử tạm thời làm phát ngân viên lên Ngân Khố tỉnh Biên Hòa lãnh tiền về phát lương cho Thầy Cô và nhân viên hàng tháng. Cũng có thời gian ba tôi được đề cử làm Tổng Giám Thị cùng làm việc với các giám thị như Cô Tư Giàu, Cô Tư Múi, Thầy Lý và Thầy Cầm.
Những kỷ niệm với ba tôi thì nhiều nhưng tôi nhớ nhất là thông lệ của gia đình hàng năm mỗi khi Tết đến. Từ lúc nào không biết, nhưng cứ mỗi dịp Xuân về Tết đến dù thế nào thì ba tôi cũng lo có một cành mai vàng chưng trên bàn thờ Ông Bà.
Tháng chạp năm Tân Mù 1992, trước rằm vài ngày, ba tôi lên Tân Uyên trước và dặn tôi lên sau. Năm đó có ba ngày trời trở lạnh quá, chiều tối ba tôi phải đốt củi ở bếp nóng lên để sưởi. Sáng hôm sau tôi lên đến thì ba tôi chỉ tôi cắt cành mai nầy, cành mai nọ của những cây mai trồng trong vườn nhà. Vì bị cảm nặng nên ba tôi phải về lại Biên Hòa sớm hơn dự định. Còn tôi lo thui những gốc mai đã cắt xong rồi về Biên Hòa sau. Tới nhà, ba tôi cảm thấy đau nhức nơi cổ nên đến bác sĩ Lộ để khám bệnh. Bác sĩ chỉ cho thuốc đau nhức và thoa bóp nhưng không thấy thuyên giảm. Ba tôi bị đau nhức xuống tới lưng và mỗi lúc nặng thêm. Thấy vậy hai người chị bà con khuyên tôi nên đem đến bệnh viện Biên Hòa. Tới đó ba tôi bắt đầu mê sảng, bác sĩ có rút tủy sống ra thử nghiệm và nói rất tiếc vì đã muộn quá rồi!
Đến chiều tối hôm đó có nhiều bà con đến thăm và bác sĩ khuyên nên đem về nhà sớm để tránh thủ tục rắc rối ở bệnh viện. Gia đình tôi đồng ý đem về nhà và tối hôm đó ba tôi ra đi vĩnh viễn vào ngày 24 tháng giêng năm 1992 (nhằm ngày 20 tháng chạp âm lịch) để lại trong tôi bao nhiêu luyến tiếc không nguôi.
Từ khi mất đi người Cha thân yêu, cứ mỗi độ xuân về, khi nhìn những cành hoa mai vàng nở tôi không khỏi chạnh lòng nhớ đến ba tôi – một người cha, một người thầy và cũng có thể nói một người bạn thân thiết, luôn khuyên nhủ và khích lệ mỗi khi tôi nản chí hay gặp trở ngại trên đường đời…
Tôi có dịp đọc những bài viết của quý Thầy Cô và cựu học sinh Ngô Quyền có nhắc đến ba tôi như một lời bày tỏ lòng biết ơn Người đã góp công đào tạo về giáo dục. Cảm ơn quý Thầy Cô và quý Anh Chị Em đã dành những tình cảm chân thành đối với ba tôi nên vẫn còn giữ lại những kỷ niệm khó quên của một thuở Ngô Quyền…
Hình chụp của ba tôi khá nhiều nhưng tiếc rằng đã bị thất lạc theo thời gian,nay tôi chỉ còn giữ được vài tấm hình chụp lúc ba tôi còn sinh tiền, xin chia sẻ cùng quý Thầy Cô và Anh Chị Em cựu học sinh Ngô Quyền.
Hình 1: Nơi sân vận động Biên Hòa: Các Cô Đào Thị Nga, Đinh Thị Hòa, Khương Thị Bàn đang thi thể dục. Phía xa xa là dãy nhà sơ sài ở phía bờ sông Đồng Nai mới cất.
Hình 2: Nơi sân vận động Biên Hòa: Trong kỳ Ngô Quyền tham dự meeting cùng với những trường trung học khác.
Hình 3: Trước nhà vào dịp Tết năm 1982
Hình 4: Hình do hai em CHS Ngô Quyền đến thăm Thầy và chụp hình kỷ niệm. Thầy giơ tay chào giã từ tất cả…
Đinh Cẩn Cấp
CHS Ngô Quyền Khóa 4
Seattle, ngày 30/8/2012
Nhớ Mùa Xuân Năm Xưa
Phương rón rén bước ra khỏi phòng trong lúc Bình còn đang say ngủ. Tối hôm qua là đêm Giao Thừa mà vợ chồng Phương vẫn đi làm đến gần nửa đêm mới về đến nhà. Đó là công việc làm hàng ngày của Bình và Phương từ mười mấy năm nay. Trong thời khắc giao mùa ở Việt Nam, mọi người rộn ràng đón mừng Tết Nguyên Đán thì ở đây, những người Việt tha hương hồi tưởng về những mùa xuân năm cũ ở quê nhà…
Thấm thoát mà đã 17 năm kể từ ngày Bình và Phương cùng các con đến định cư ở thành phố Seattle nầy. Cũng như các năm trước, những ngày Tết đến rồi đi theo chu kỳ của thời gian, để lại trong lòng Phương niềm nuối tiếc! Dù rằng Phương đã cố gắng tạo cho gia đình một cái Tết với dưa hấu, bánh chưng, trái cây, thịt kho, dưa giá… cùng với cành mai hay cành đào. Phương đã tạo ra được hương vị ngày Tết nhưng thiếu hẳn cái không khí Tết của chốn quê nhà mỗi độ Xuân về.
Năm nay Tết đến trễ vì năm ngoái là năm nhuần nên cây mai Mỹ ở trước sân nhà Phương bắt đầu nhú lên những nụ mai vàng e ấp. Giống mai Mỹ nầy không đẹp bằng mai vàng ở Việt Nam nhưng cũng có màu vàng rực rỡ và lâu tàn. Hôm qua Phương đã cẩn thận cắt mấy cành mai đem chưng trên bàn cạnh hai quả dưa hấu cho ra vẻ Tết.
Ở miền nam Cali và các thành phố có đông người Việt thì những ngày Tết rộn ràng với những sinh hoạt truyền thống như chợ hoa, hội chợ Tết, văn nghệ mừng Xuân… và những món ăn ngày Tết thì hầu như không thiếu thứ gì. Vì vậy người Việt ở những tiểu bang lạnh thường về Cali ăn Tết thay vì về Việt Nam vừa xa xôi lại mất nhiều thời gian, tiền bạc. Họ muốn tìm lại cái không khí Tết của quê nhà.
Còn nơi Phương ở là một thành phố mưa nhiều nên cây cối xanh tươi và có nhiều rừng thông xanh với thời tiết lạnh giống như Dalat. Tuy vậy, cứ đến cuối mùa đông thì hoa đào nở rộ sắc trắng sắc hồng khắp mọi nơi báo hiệu mùa xuân sắp về. Phương ngồi nhìn qua cửa sổ, bụi mai vàng sát hàng rào trước sân lấm tấm những nụ hoa. Phía vườn sau, cây đào trơ trụi lá cũng đang nhú lên những mầm xanh. Bất giác Phương chạnh lòng nhớ về mùa xuân của 39 năm về trước…
Đó là mùa xuân Giáp Dần 1974, cuộn phim dĩ vãng theo trí nhớ của Phương thoáng hiện về. Sau ngày đám hỏi của Bình và Phương năm trước, Bình trở lại đơn vị - Trung đoàn 53, Sư đoàn 23 bộ binh đang đóng ở Komtum – mới biết đại đội của Bình đang hành quân ở Quảng Đức. Bình phải trở lại với đồng đội ở đây trong lúc chiến trường vẫn sôi động sau ngày hiệp định Paris được ký kết. Tưởng đâu hòa bình sẽ được lập lại, nào ngờ trận chiến càng ngày càng khốc liệt hơn và Quân đội Việt Nam Cộng Hòa lâm vào tình huống thiếu vũ khí và đạn dược vì bị cắt viện trợ bởi Quốc hội Hoa Kỳ.
Năm ấy, ảnh hưởng đến tình hình chiến trường nên không khí Tết ở Saigon không rộn ràng như xưa vì mọi người lo lắng đến cuộc chiến không cân sức. Phương cũng lo lắng không yên, chạnh lòng nhớ đến Bình đang ở ngoài trận địa xa xôi mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Phượng trông đợi tin tức của Bình và ngày đêm thầm cầu nguyện cho Bình được an lành trở về với gia đình. Một nỗi vui mừng khôn tả khi Phượng nhận được tấm thiệp Xuân của Bình gửi về từ chiến trường sau ngày Tết. Trong thiệp có bốn câu thơ Bình gửi tặng, thật không còn niềm vui gì bằng khi biết được tin của Bình tuy vẫn còn xa nhà.
Cái thiệp Xuân đó Phương vẫn mang theo bên mình cho đến bây giờ dù đã 39 năm qua. Màu giấy đã vàng úa và mực đã nhạt nhòa theo năm tháng nhưng vẫn được Phương trân quý như một kỷ vật, chứng tích của một thời chiến tranh đã đi qua cuộc đời của Bình và Phương. Rồi vận nước đổi thay, cuộc đời của Bình và Phương cũng nổi trôi theo mệnh nước. Những nỗi gian khổ tưởng đâu bám lấy vợ chồng Phương mãi mãi. Nhưng thần may mắn đã mĩm cười với Bình và Phương nên mới được chấp nhận định cư ở Mỹ qua chương trình HO. Thật là một niềm hạnh phúc tuyệt vời mà Thượng Đế đã ban tặng cho gia đình Phương.
Sau những giây phút xúc động khi thả hồn về dĩ vãng để hồi tưởng lại những mùa xuân năm xưa, Phương cảm tác thành bài thơ:
Đón Xuân Nầy Nhớ Xuân Xưa
Mùa xuân năm ấy ta quen nhau
Tay nắm trong tay vui biết bao
Chúng mình thề nguyện lời hẹn ước
Sông cạn đá mòn vẫn bên nhau...
Mùa xuân năm ấy kết duyên lành
Chợ hoa ngày Tết em bên anh
Lính trận, giáo viên cùng sánh bước
Như chim liền cánh, lá liền cành...
Mùa xuân năm ấy anh trên ngàn
Rừng thẵm hành quân thấy mai vàng
Năm mới đã sang nào hay biết
Gửi cánh thiệp xuân dẫu muộn màng...
Bao mùa xuân đến, nhớ xuân xưa
Đón Tết quê hương, Tết xứ người
Hạnh phúc, khổ đau ta nếm đủ
Dầu dãi gian nan vẫn mĩm cười.
Đất khách ta mừng xuân mới sang
Dưa hấu, bánh chưng, chậu mai vàng
Đôi mái đầu xanh nay điểm bạc
Gìn chữ thủy chung, tuổi đá vàng...
Những mùa xuân đã lần lượt đi qua cuộc đời của vợ chồng Bình và Phương để bây giờ khi bước vào tuổi hoàng hôn, cứ mỗi độ xuân về nơi đất khách, ngược dòng thời gian trở về quá khứ nhìn lại những phần đời của mình đã trải qua. Dù vẫn còn đi làm nhưng Bình và Phương cảm thấy thanh thản trong tâm hốn. Nhờ cuộc sống đã ổn định nên vợ chồng Phương luôn bằng lòng với những gì mình đang có. Cuộc sống ở phía trước vẫn tươi đẹp và luôn mĩm cười với mọi người dù ở bất cứ tuổi tác nào…
Hát Bình Phương
"NEVER CAN BE FINISHED"
"JAMAIS PEUT ÊTRE FINI"
Những Tình-Khúc Vượt Thời-Gian