Hồi còn ở Long An, có một lần nhà có việc nên mình phải chạy ra đường lúc ba giờ sáng. Đường vắng hoe. Chỉ có một đoạn xếp dài những hàng người. Đông lắm, ai cũng xách theo làn đựng cơm. Họ lặng lẽ đứng chờ dưới ánh đèn đường.
Sau đó mình mới biết họ là công nhân đi làm ở các doanh nghiệp tại TPHCM. Lúc phần lớn mọi người còn ngủ, ngày làm việc của nhiều người khác đã bắt đầu.
Họ làm mình nhớ lại những chuyến xe chở du học sinh đi farm nho ở Nam Úc lúc bốn, năm giờ sáng. Mình cũng từng ngồi trên những chuyến xe ấy. Nhưng với mình, đó chỉ là việc làm thêm của những năm du học. Còn với họ, đó là một ngày đi làm bình thường.
Trên những chuyến xe buýt, “văn phòng thứ hai” của mình, còn rất nhiều khung hình in đậm trong ký ức.
* * *
Để lên trường, mình cần bắt tuyến 85 để đến An Sương, rồi từ đó chuyển sang xe 33. Chỗ mình ở khá gần bến đầu, nên mình thường tìm được một chỗ ngồi, và có cơ hội quan sát khách quen lên – xuống xe. Cứ đúng trạm, đúng khung giờ, họ sẽ xuất hiện.
Có chị tiểu thương thường xuất hiện cùng năm, bảy giỏ hàng ở gần chợ đầu mối. Mỗi giỏ to bằng cả người mình. Xếp chừng ấy giỏ lên một chiếc xe buýt đông người là cả một nghệ thuật. Chị ấy tất nhiên là một nghệ sĩ, vì chỉ tốn không đến một phút đồng hồ để mọi thứ đâu vào đấy. Chiếc xe buýt dừng lại, đón chị cùng đống đồ, rồi rời đi rất nhanh. Không khác gì những trạm dừng khác.
Có anh bán bánh mì chỉ đi mỗi chuyến vài trạm. Anh nhảy lên, đi dọc lối giữa mời khách, xử lý đơn hàng, nhận chả vào bánh rất chuyên nghiệp, rồi lại nhảy xuống ở một trạm khác, băng qua đường rất nhanh để đón chiếc buýt theo chiều ngược lại. Mình đoán quãng đường anh đi mỗi ngày, cộng hết lại, chắc cũng không ngắn hơn năm mươi kilômét.
Và có một cô bé. Không phải là hành khách trên xe. Mình cũng không thấy rõ mặt.
Nếu cần đến trường sớm, mình sẽ đi ngang qua ngôi trường ấy trước sáu giờ sáng. Cổng trường tất nhiên còn đang đóng. Nhưng cô bé đã ngồi đó, cặp sách để bên cạnh. Có một lần mình được nhìn thấy cảnh mẹ bé thả con, dúi vội vào tay cô bé túi đồ ăn sáng, rồi tất tả phóng chiếc xe máy cũ kĩ đi, chở theo vài giỏ đồ hàng. Khoảnh khắc đó đối với mẹ con họ có lẽ là rất bình thường.
Nhưng chẳng hiểu sao, người ngoài như mình lại cứ nhớ mãi hình ảnh cô bé ngồi lặng lẽ, một mình trước cổng trường, khi mặt trời chưa ló dạng…
* * *
Năm 2023, con gái chuyển cấp, và cả nhà mình dọn về Củ Chi.
Sau vài ngày chuyển nhà, sắp xếp trường lớp cho con, mình lại vận hành cuộc sống bằng lời giải năm 2021: ở xa trường, đi xe buýt. Một lời giải khiếm khuyết, vì nó đã bỏ sót một biến mà không bài toán nào tránh được: sự thay đổi.
Hai năm đã đủ để mọi tham số không còn như cũ. Và chính vì bị bỏ sót, biến ấy mới có sức tác động lớn đến thế. Nhưng mãi một thời gian sau mình mới nhận ra.
* * *
Mình chuyển sang tuyến 74. Quãng đường ngắn hơn một chút, và mình cũng gặp những người khách quen mới.
Những người bạn đồng hành của mình bây giờ là những bạn sinh viên. Phần lớn đều cố chớp lấy vài giấc ngủ vội trên chặng đường đến trường. Mình không khỏi tò mò đêm qua các bạn thức khuya vì môn nào (hoặc vì phim gì?), và liệu lát nữa có ngủ gục trên lớp rồi bị rầy la gì hay không.
Có một bạn còn rất trẻ, có lẽ chưa đến tuổi thành niên, đi chân đất bán vé số. Bạn thường chỉ đi nửa chặng. Từ Củ Chi lên Hóc Môn, nơi đông người hơn, rồi bạn nhảy xuống để bắt đầu hành trình mưu sinh của mình.
Có anh công chức làm việc ở trung tâm thành phố. Thỉnh thoảng mình lại thấy anh tranh thủ mở sách ra đọc thêm vài trang tiếng Anh. Có lẽ cũng giống mình, anh đang biến chuyến xe dài thành văn phòng thứ hai, cho một mục tiêu riêng nào đó.
Mình cũng gặp lại anh bánh mì, vẫn nhảy lên, đi dọc lối giữa, rồi nhảy xuống ở một trạm khác để đón chuyến ngược lại. Không biết anh ấy có nhận ra mình đã đổi xe?
* * *
Năm 2025, những trận giông gió ập đến. “Văn phòng thứ hai” trở thành nơi mình suy nghiệm nhiều hơn về bài toán mới khi đã thêm vào “sự thay đổi”.
Bài toán động luôn khó giải hơn bài toán tĩnh.
Mải nghĩ về những trận giông gió của đời riêng, mình gần như không để ý rằng chính những chuyến xe buýt cũng đang thay đổi. Tuyến 74 và tuyến 33, hai tuyến mình đi gần như mỗi ngày, không còn do các hợp tác xã vận hành nữa, mà được chuyển cho doanh nghiệp tư nhân khai thác.
Cho đến một ngày, mình nghe bác tài tuyến 74 chào tạm biệt hành khách trên từng chặng một. Thấy hơi lạ, mình lân la hỏi thì mới được chị tiếp viên giải thích, giọng có chút đượm buồn.
Nhiều bác tài và những anh chị tiếp viên đã gắn với tuyến đường này nhiều năm, sẽ thôi đi trên hành trình đã quen thuộc.
Anh bánh mì cũng thôi xuất hiện trên chuyến 74. Tuyến ấy giờ đã có những quy định mới.
Không ai trên những chuyến xe ấy được cuộc đời phát cho một bài toán tĩnh.
* * *
Ngồi đủ lâu trên những chuyến buýt xa, mình thôi nghĩ hành trình “đi Việt Nam” là điều gì đó đặc biệt. Nó chỉ là một con đường bình phàm, giữa rất nhiều con đường bình phàm khác.
Trên mỗi con đường ấy, ai cũng có những thách thức, những niềm vui, và chắc chắn cả những điều không diễn ra như dự tính.
Nhưng mỗi con đường ấy cũng có điểm khác biệt. Có người được quyền lựa chọn con đường sẽ đi, có người thì không.
Mình có lẽ là một trong số có quyền lựa chọn. Việc ở xa trường, rồi đi xe buýt là phương án mình đã cân nhắc giữa một số phương án khác.
Cô bé ngồi trước cổng trường khi mặt trời chưa ló dạng thì có lẽ không. Khoảng thời gian ngồi lặng lẽ trước cổng trường của bé là lựa chọn của người lớn.
Lựa chọn nào cũng có cái giá của nó.
Và đôi khi, không phải chỉ một người phải trả.