(Chinhphu.vn) – Tổng số dân của Việt Nam vào thời điểm 0h ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người, trong đó dân số nam là 47.881.061 người (chiếm 49,8%) và dân số nữ là 48.327.923 người (chiếm 50,2%). Với kết quả này, Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 15 trên thế giới, tụt 2 bậc so với cách đây 10 năm, và đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines).
Đây là thông tin đáng chú ý tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc công bố kết quả sơ bộ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 tổ chức ngày 11/7 tại Hà Nội.
Mật độ dân số cao với thế giới
So với năm 2009, vị trí xếp hạng về quy mô dân số của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á không thay đổi và giảm hai bậc so với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Sau 10 năm, kể từ năm 2009 đến nay, quy mô dân số Việt Nam tăng thêm 10,4 triệu người. Tỉ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009-2019 là 1,14%/năm, giảm nhẹ so với giai đoạn 10 năm trước (1,18%/năm).
Tỉ số giới tính là 99,1 nam/100 nữ, trong đó khu vực thành thị là 96,5 nam/100 nữ, khu vực nông thôn là 100,5 nam/100 nữ. Tỉ số giới tính tăng liên tục trong những năm qua nhưng luôn thấp hơn 100 trên phạm vi toàn quốc.
Kết quả Tổng điều tra 2019 cũng cho thấy Việt Nam là quốc gia có mật độ dân số cao so với các nước trên thế giới và trong khu vực. Năm 2019, mật độ dân số của Việt Nam là 290 người/km2, tăng 31 người/km2 so với năm 2009. Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai địa phương có mật độ dân số cao nhất cả nước, tương ứng là 2.398 người/km2 và 4.363 người/km2.
Phân bố dân cư giữa các vùng kinh tế-xã hội có sự khác biệt đáng kể, vùng Đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung dân cư lớn nhất của cả nước với 22,5 triệu người, chiếm gần 23,4%; tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với 20,2 triệu người, chiếm 21,0%. Tây Nguyên là nơi có ít dân cư sinh sống nhất với tổng dân số là 5,8 triệu người, chiếm 6,1% dân số cả nước.
Trong 10 năm qua, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh và rộng khắp tại nhiều địa phương đã tác động làm gia tăng dân số ở khu vực thành thị. Dân số khu vực thành thị ở Việt Nam năm 2019 là 33.059.735 người, chiếm 34,4%; ở khu vực nông thôn là 63.149.249 người, chiếm 65,6%. Từ năm 2009 đến nay, tỉ trọng dân số khu vực thành thị tăng 4,8 điểm phần trăm.
Toàn quốc có 82.085.729 người dân tộc Kinh, chiếm 85,3% và 14.123.255 người dân tộc khác, chiếm 14,7% tổng dân số của cả nước. Địa bàn sinh sống chủ yếu của nhóm dân tộc khác là vùng Trung du và miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên. Tại vùng rrung du và miền núi phía bắc, nhóm dân tộc khác chiếm 56,2%; con số này ở vùng Tây Nguyên là 37,7%; ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là 10,3%; ở các vùng khác, tỉ lệ này chiếm không quá 8%.
Trên phạm vi toàn quốc, tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã từng kết hôn là 77,5%. Trong đó, dân số đang có vợ/chồng chiếm 69,2%; dân số có tình trạng “ly hôn” hoặc “ly thân” chiếm 2,1%; dân số góa vợ/chồng chiếm 6,2%. Tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên chưa từng kết hôn ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn 6,7 điểm phần trăm, tương ứng là 26,8% và 20,1%. Nữ giới có xu hướng kết hôn sớm và phổ biến hơn nam: Tỉ lệ dân số nam từ 15 tuổi trở lên đã từng kết hôn thấp hơn so với nữ, tương ứng là 73,4% và 81,5%.
Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số, toàn quốc có khoảng 91,7% dân số trong độ tuổi đi học phổ thông hiện đang đi học. Tỉ lệ này của nữ cao hơn so với nam, tương ứng là 92,5% và 90,8%. Trong vòng 20 năm qua, tỉ trọng dân số trong độ tuổi đi học phổ thông hiện không đi học (chưa bao giờ đi học hoặc đã thôi học) giảm đáng kể, từ 20,9% năm 1999 xuống còn 16,4% năm 2009 và còn 8,3% năm 2019.
Tỉ lệ đi học chung của bậc tiểu học là 101,0%, bậc THCS là 92,8%, bậc THPT là 72,3%. Ở cấp tiểu học, không có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn về tỉ lệ đi học chung (100,9% so với 101,0%). Cấp học càng cao thì khoảng cách chênh lệch về tỉ lệ đi học chung giữa thành thị và nông thôn càng lớn, cụ thể: ở cấp THCS, tỉ lệ đi học chung của khu vực thành thị cao hơn tỉ lệ đi học chung của khu vực nông thôn là 3,4 điểm phần trăm; mức chênh lệch này ở cấp THPT là 13,0 điểm phần trăm.
Có 95,8% người dân trên 15 tuổi biết chữ
Cả nước có 95,8% người dân từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết, tăng 1,8 điểm phần trăm so với năm 2009. Tỉ lệ nam giới biết đọc biết viết đạt 97,0%, cao hơn 2,4 điểm phần trăm so với tỉ lệ này ở nữ giới. Trong 20 năm qua, tỉ lệ biết đọc biết viết của nữ tăng 7,7 điểm phần trăm; khoảng cách chênh lệch về tỉ lệ biết đọc biết viết giữa nam và nữ được thu hẹp đáng kể. Năm 1999, tỉ lệ biết đọc biết viết của nam là 93,9%, cao hơn tỉ lệ này của nữ 7,0 điểm phần trăm; đến năm 2019, tỉ lệ đọc biết viết của nam đạt 97,0%, cao hơn tỉ lệ của nữ 2,4 điểm phầm trăm.
Tính đến thời điểm 0h ngày 01/4/2019 cả nước có 26.870.079 hộ dân cư, tăng 4,4 triệu hộ so với thời điểm 0h ngày 01/4/ 2009. Tỉ lệ tăng số hộ bình quân năm là 1,8%/năm trong giai đoạn 2009-2019, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với giai đoạn 1999-2009. Đây là giai đoạn có tỉ lệ tăng quy mô hộ thấp nhất trong vòng 40 năm qua.
Bình quân mỗi hộ dân cư có 3,5 người, thấp hơn 0,3 người/hộ so với năm 2009. Tại khu vực thành thị, trung bình mỗi hộ dân có 3,3 người/hộ, thấp hơn khu vực nông thôn 0,3 người/hộ. Vùng Trung du và miền núi phía bắc có số người bình quân một hộ cao nhất cả nước (3,8 người/hộ); vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ có số người bình quân một hộ thấp nhất cả nước (3,3 người/hộ).
Trong tổng số 26,9 triệu hộ dân cư, vẫn còn 4.800 hộ không có nhà ở; trung bình cứ 10.000 hộ dân cư thì có khoảng 1,8 hộ không có nhà ở. Tình trạng hộ không có nhà ở đang dần được cải thiện trong hai thập kỷ qua, từ mức 6,7 hộ/10.000 hộ vào năm 1999 xuống còn 4,7 hộ/10.000 hộ năm 2009 và đến nay là 1,8 hộ/10.000 hộ.
Italy là nước có tỷ lệ sinh thất nhất ở châu Âu. Trong dự trù ngân sách mới nhất, chính phủ vừa quyết định sẽ cấp đất nông nghiệp 20 năm cho những bố mẹ sinh con thứ 3 từ năm 2019 tới 2021. Những gia đình này cũng được vay tới 200.000 Euro không lãi suất nếu mua nhà lần đầu ở gần khu đất mới được cấp.
Chính sách dân số mới khuyến khích phụ nữ sinh con nhiều hơn, đẩy lùi sự suy giảm dân số ở Hungary.
Ngày 10/2, Viktor Orban, Thủ tướng Hungary tuyên bố phụ nữ nước này sinh con hoặc nuôi 4 con trở lên sẽ được miễn thuế thu nhập suốt đời, theo BBC.
Các lợi ích khác gồm gia đình có ba con trở lên được trợ cấp 2,5 triệu forint (hơn 206 triệu đồng) cho việc mua ôtô 7 chỗ. Phụ nữ dưới 40 tuổi kết hôn lần đầu tiên được vay lãi suất thấp đến 10 triệu forint (hơn 827 triệu đồng), khoản vay này sẽ được xóa nếu họ sinh 3 đứa con.
Thủ tướng Orban cho rằng đối với các nước phương Tây, nguyên nhân chính khiến tỷ lệ sinh suy giảm ở châu Âu do người nhập cư. Ông giải thích, mỗi đứa trẻ giảm đi sẽ được bù đắp bằng một đứa trẻ nhập cư từ nước ngoài, và sự cân bằng vẫn được đảm bảo.
Chính sách dân số mới này nhắm đến mục tiêu tăng số trẻ em sinh ra, giúp Hungary tránh được sự phụ thuộc vào lực lượng lao động nhập cư trong tương lai.
"Chúng tôi không cần bù đắp thiếu hụt lao động bằng người nhập cư, chúng tôi cần những đứa trẻ Hungary", ông đưa ra quan điểm.
Chính sách dân số mới khích lệ tỷ lệ sinh ở Hungary đã nhận được ủng hộ tích cực của người dân.
Hiện dân số Hungary giảm 32.000 người trong một năm. Số phụ nữ nước này thấp hơn mức bình quân của châu Âu. Tỷ lệ sinh bình quân của phụ nữ Hungary trong độ tuổi sinh đẻ là 1,45. Trong khi đó, bình quân ở EU là 1,58. Pháp có tỷ lệ sinh cao nhất EU là 1,96. Nước có tỷ lệ sinh thấp nhất là Tây Ban Nha với 1,33.
Các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) là một tập hợp các chỉ tiêu liên quan đến tương lai phát triển quốc tế. Liên Hiệp Quốc đã đề ra các mục tiêu này và xúc tiến với tên gọi Các Mục tiêu Toàn cầu về Phát triển Bền vững, để thay cho Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đã hết hạn vào cuối năm 2015. Họ sẽ thực hiện Các Mục tiêu Phát triển Bền vững này từ năm 2015 đến năm 2030. Tháng 8 năm 2015, có 193 đất nước đã đồng ý với 17 mục tiêu và 169 chỉ tiêu cụ thể :
(https://www.un.org/sustainabledevelopment/sustainable-development-goals/)
UBND TP. Hà Nội vừa ban hành kế hoạch về việc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Thời điểm điều tra là 0h ngày 1/4/2019. Thời gian điều tra tại địa bàn là 25 ngày, bắt đầu từ 7h ngày 1/4/2019.
Đối tượng điều tra gồm tất cả người Việt Nam thường xuyên cư trú tại Hà Nội tính đến thời điểm điều tra; người Việt Nam được cơ quan có thẩm quyền cho phép xuất cảnh ra nước ngoài trong thời hạn quy định; các trường hợp chết của hộ dân cư xảy ra từ mùng 1 Tết Âm lịch Mậu Tuất năm 2018 (tức ngày 16/2/2018) đến hết ngày 31/3/2019; nhà ở của hộ dân cư.
Đơn vị điều tra là hộ dân cư. Hộ dân cư bao gồm một người ăn riêng, ở riêng, hoặc một nhóm người ăn chung và ở chung. Đối với hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung; có hoặc không có mối quan hệ ruột thịt, hôn nhân hay nuôi dưỡng; hoặc kết hợp cả hai.
Tổng điều tra được thực hiện toàn bộ trên phạm vi toàn thành phố đối với tất cả các đơn vị điều tra.
Theo Chi cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình Hà Nội, trung bình mỗi năm dân số Thủ đô dự kiến tăng thêm khoảng 200.000 người, tương đương một huyện lớn. Dân số Hà Nội trong 5 năm qua tăng thêm 1,3 triệu người, riêng khu vực nội thành tăng 1,2 triệu, trong đó phần lớn là gia tăng cơ học từ người nhập cư.
Nếu không tính người dân các địa phương lân cận về Hà Nội làm ăn theo mùa vụ và người vãng lai, thì mật độ dân số trung bình hiện nay của Hà Nội khoảng 2.100 người/km2, khu vực trung tâm có mật độ cao nhất.
So với Thủ đô của các nước trong khu vực ASEAN, mật độ trung bình ở mức từ 100 -200 người/km2, thì mật độ dân số của Hà Nội là quá cao.
Tính đến cuối năm 2015, Hà Nội có khoảng 7,5 triệu nhân khẩu, trong đó, có gần 1,5 triệu người tạm trú. Theo dự báo của Viện Dân số và các vấn đề xã hội, đến năm 2050, dân số Hà Nội có thể lên khoảng 14 triệu người. Với tốc độ tăng trưởng dân số như vậy, Thủ đô đang phải chịu áp lực rất lớn trên mọi lĩnh vực./.
Theo Chinhphu.vn
Theo thống kê của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, chỉ tính từ năm 2005 đến 2017, tổng số dân DCTD đến địa bàn khoảng 25.732 hộ, với 91.703 khẩu, chủ yếu là đồng bào các dân tộc miền núi phía bắc. Trong đó, tỉnh Kon Tum có 7.243 hộ, với 21.708 khẩu; tỉnh Gia Lai 6.250 hộ, với 23.624 khẩu; tỉnh Đác Nông 5.391 hộ, với 8.038 khẩu; tỉnh Lâm Đồng 3.862 hộ, với 14.639 khẩu và tỉnh Đác Lắc 2.986 hộ, với 8.038 khẩu.
Kết quả rà soát của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) mới đây cho thấy, trên địa bàn Tây Nguyên hiện còn 11.642 hộ dân DCTD đang sinh sống phân tán, chưa được bố trí, sắp xếp ổn định vào các vùng dự án. Trong đó, nhiều hộ sống ở bìa rừng và vùng lõi của rừng phòng hộ, đặc dụng; tình trạng đốt nương làm rẫy, chặt phá rừng lấy đất sản xuất thường xuyên xảy ra. Đời sống của các hộ dân gặp nhiều khó khăn, phần lớn chưa có hộ khẩu cho nên chưa được hưởng các chính sách an sinh xã hội; thiếu đất ở, đất sản xuất, thiếu nước và điện sinh hoạt, nơi ở tạm bợ, không ổn định, chưa có việc làm; tỷ lệ đói nghèo cao, tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp về trật tự, trị an...
Tây Nguyên có năm tỉnh thì tất cả đều là điểm nóng về DCTD. Khi làm việc với các ngành chức năng các tỉnh, phóng viên ghi nhận những số liệu mà qua đó, nói lên rất rõ về sự nan giải của vấn đề này. Mở rộng thống kê từ ngày thống nhất đất nước đến nay thì lượng dân DCTD đến Tây Nguyên quả không hề nhỏ. Tỉnh Đác Nông cho biết, 38.191 hộ, với 173.973 khẩu đã đến địa phương bằng con đường DCTD kể từ năm 1976; trong đó, đã ổn định đời sống 26.680 hộ, với 122.220 khẩu; chưa được bố trí, sắp xếp ổn định cuộc sống là 11.511 hộ, với 51.753 khẩu. Cũng trong thời gian đó, 59.616 hộ với 290.241 khẩu từ khắp cả nước DCTD đến Đác Lắc. Còn ở tỉnh Kon Tum, DCTD chủ yếu là đi theo anh em, họ hàng đi kinh tế mới trước đây, sống xen ghép trong các thôn, buôn. Theo số liệu do Sở NN-PTNT Kon Tum cung cấp: Từ năm 2005 đến 2016, số lượng dân DCTD đến tỉnh là 7.243 hộ với 21.708 khẩu. Các tỉnh như Gia Lai, Lâm Đồng từ lâu cũng trở thành “miền đất hứa” cho DCTD.
Ngày 9/12/2018, tại tỉnh Đắk Lăk, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu chỉ đạo tại hội nghị “Giải pháp ổn định dân di cư tự do trên địa bàn cả nước và quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường tại Tây Nguyên” .
Thủ tướng dẫn ra số liệu mới nhất của ILO, cho thấy năm 2017, có 277 triệu người di cư giữa các quốc gia trên thế giới. “Chúng ta nhận thức vấn đề này trong phạm vi toàn cầu và Việt Nam chúng ta để có biện pháp chủ động hơn”, Thủ tướng nói “Nếu năm 1975, dân số Tây Nguyên chỉ có 1 triệu người thì đến năm 2004 đã có 4,7 triệu và đến 2017, 5,7 triệu người, trong đó, dân di cư tự do chiếm 50%, khoảng 3 triệu người”.
Theo Thủ tướng giải quyết vấn đề di dân tự do ở các địa phương trên địa bàn Tây Nguyên không chỉ cần đúng pháp luật mà phải hài hòa, linh hoạt, đồng bộ từ các cấp, các ngành.
Mục đích cuối cùng là làm sao người dân di cư có cuộc sống ổn định và phát triển, con cái được học hành, người già được chăm sóc, chữa bệnh, không ai bị bỏ lại phía sau.
“Chúng ta không khuyến khích di dân tự do nhưng họ đã đi rồi, đã lỡ đến đây rồi, nhất là hiện tại có 20.000 hộ này thì chúng ta phải quan tâm, giải quyết những chính sách cụ thể để bảo đảm an sinh xã hội, đừng để đồng bào ta lâm cảnh màn trời chiếu đất, mất an ninh trật tự, phá rừng”, Thủ tướng nói.
Mục tiêu đến năm 2020, là giảm thiểu tình trạng dân di cư tự do; ưu tiên thực hiện bố trí, sắp xếp ổn định cho các hộ dân thực sự khó khăn. Hoàn thành dứt điểm 32 dự án bố trí ổn định dân di cư đang thực hiện. Bảo đảm mức sống của người dân di cư bằng mức trung bình của người dân địa phương.
Phấn đấu đến năm 2025 cơ bản không còn tình trạng dân di cư tự do; hoàn thành công tác bố trí, sắp xếp toàn bộ số hộ dân di cư tự do vào các điểm dân cư theo quy hoạch.
Yêu cầu hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc nông lâm trưởng ở Tây Nguyên, Thủ tướng cho rằng, đất rừng phải có chủ, “không để tình trạng vô chủ, sổ sách không có, bìa đỏ bìa hồng không có, ranh giới đất đai không rõ ràng”.
Theo TTXVN và tin nước ngoài, ngày 19-12, Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) chính thức thông qua Hiệp ước toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự (GCM), với 152 nước ủng hộ, 12 phiếu trắng và năm nước phản đối là Mỹ, Hungari, Séc, Ba Lan và Israel. Là văn kiện quốc tế đầu tiên về quản lý người di cư, văn kiện đặt ra 23 mục tiêu bảo đảm di cư hợp pháp và quản lý dòng người di cư tốt hơn, trong bối cảnh số người di cư tăng lên 260 triệu người, tương đương 3,4% dân số toàn thế giới.
* Cùng ngày, Chính phủ Anh công bố chương trình cải cách chính sách di cư lớn nhất trong nhiều thập niên qua, theo đó ưu tiên những người lao động có tay nghề và đối xử công bằng với cả công dân Liên hiệp châu Âu (EU) cũng như công dân ngoài EU. Anh vẫn tiếp nhận người lao động thời vụ áp dụng trong thời gian chuyển tiếp sau Brexit. Sau khi được Quốc hội Anh thông qua, chính sách nhập cư mới sẽ có hiệu lực từ cuối tháng 3-2019.
* Chính phủ Đức cũng thông qua dự luật nhập cư mới, nới lỏng các quy định nhằm thu hút lao động nước ngoài lành nghề, kể cả công dân ngoài EU, bổ sung cho lực lượng lao động đang trong tiến trình già hóa. Theo đó, thủ tục cấp thị thực được nới lỏng cho lao động nước ngoài muốn làm các công việc như nấu ăn, trong ngành công nghệ thông tin hay luyện kim, sẽ được phép lưu lại Đức trong sáu tháng để tìm và thử việc, với điều kiện tự trang trải chi phí cuộc sống.
* Trong động thái đi đầu điều chỉnh chính sách di cư theo GCM vừa được Đại hội đồng LHQ thông qua, Chính phủ Mexico thông báo áp dụng mô hình chính sách mới ưu tiên tôn trọng quyền lợi của người di cư và phát triển kinh tế trong khu vực gồm miền nam Mexico cùng các nước Guatemala, El Salvador và Honduras. Chính phủ Mexico nêu rõ, mục tiêu của chính sách mới là hướng tới phi hình sự hóa và tôn trọng không giới hạn đối với quyền của người di cư.
* Tại Mỹ, thẩm phán Tòa án quận Colombia ra phán quyết rằng, việc chính quyền Tổng thống D.Trump cấm các nạn nhân bạo lực ở trong nước, hoặc bạo lực của băng nhóm tội phạm xuyên quốc gia, xin quy chế tị nạn tại Mỹ là bất hợp pháp. Biện pháp này vi phạm cả luật nhập cư và luật hành chính. Các quy định cấm nêu trên được Nhà trắng công bố hồi tháng 6, nhằm ngăn chặn làn sóng người di cư Trung Mỹ xin tị nạn tại Mỹ.
(Báo Nhân Dân,thứ Sáu, ngày 21/12/2018)
Shiro Armstrong
Dân số Nhật Bản đang già hóa và suy giảm.
Dân số Nhật Bản đạt đỉnh 128 triệu người vào năm 2008. Với tỉ lệ sinh giảm xuống dưới 1,5 vào đầu thập niên 1990 và tiếp tục giảm xuống còn 1,29 vào năm 2004, dân số nước này đang suy giảm nhanh chóng. Hiện dân số Nhật đã ít hơn 1 triệu người so với năm 2008. Chính phủ nước này đang nhắm đến mục tiêu duy trì dân số trên mức 100 triệu người vào năm 2060.
Một vấn đề có lẽ còn nghiêm trọng hơn là tỷ lệ người già ở Nhật đang tăng nhanh chóng. Một phần ba dân số trên 60 tuổi và 12,5% trên 75 tuổi. Dân số trong độ tuổi lao động đạt mức cao nhất vào năm 1997 và theo một thống kê thì kể từ thời điểm đó đã giảm đi 9,7 triệu người. Những sự thật đó đều được thừa nhận nhưng hậu quả của nó thì vẫn chưa thể tiêu hóa hết. Những hậu quả đó vô cùng sâu sắc.
Việc nhập cư nhanh chóng và liên tục có thể trì hoãn sự suy giảm dân số và sau cùng có thể kìm hãm nó, nhưng có rất ít khả năng Nhật Bản sẽ mở cửa nhập cư ở mức độ lớn. Nước Nhật có rất nhiều việc cần làm về phương diện văn hóa và thể chế trước khi nước này có thể chào đón người nhập cư với số lượng lớn.
Mục tiêu chủ yếu của chính sách kinh tế Nhật Bản phải là duy trì mức sống và tăng thu nhập bình quân đầu người, chứ không phải phát triển quy mô kinh tế tổng thể. Nhưng thậm chí tăng thu nhập bình quân đầu người cũng sẽ là một thành tựu phi thường trong bối cảnh phải đương đầu với khủng hoảng nhân khẩu ở một quy mô mà không một nước nào khác từng phải đối mặt trước đó.
Các nước láng giềng Nhật Bản cũng đang phải đối phó với vấn đề tương tự. Dân số Hàn Quốc đang bắt đầu sụt giảm và dân số trong độ tuổi lao động của Trung Quốc hiện đã đạt đỉnh. Trung Quốc còn có một vấn đề khác nữa là dân số của họ sẽ bị già trước khi giàu. Nhưng không quốc gia nào mà vấn đề nhân khẩu lại trầm trọng như Nhật Bản và cả thế giới đang dõi theo để học hỏi kinh nghiệm.
Nhiều quốc gia vẫn còn ám ảnh với mục tiêu tăng trưởng GDP và mục tiêu của gói cải cách Abenomics của Thủ tướng Shinzo Abe là đạt tăng trưởng 1%/năm. Tăng trưởng GDP của Nhật Bản gần đây giảm dần về 0.
Tăng trưởng GDP âm – tức tình trạng suy thoái về mặt kỹ thuật nếu tiếp diễn trong vòng 6 tháng trở lên – có ý nghĩa như thế nào khi dân số sụt giảm? Có lẽ là không lớn như chúng ta tưởng. Nếu GDP không tăng, thu nhập bình quân đầu người có thể tăng khi dân số giảm. Và người Nhật đã tiết kiệm và đầu tư ra nước ngoài, nhờ vậy họ nắm giữ các khối tài sản ngoài nước – những thứ sẽ mang lại thu nhập. Tổng thu nhập quốc dân có thể khác biệt đáng kể so với tổng sản phẩm quốc dân. Tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế cần được đánh giá khác so với các nước có dân số đang tăng, đòi hỏi tạo ra nhiều việc làm, như Ấn Độ chẳng hạn.
Nhật Bản đã phải trải qua tình hình tăng trưởng kinh tế ảm đạm kể từ đầu thập niên 1990 khi bong bóng nhà đất bị vỡ. Nhưng người Nhật vẫn tiếp tục giàu có, sống rất thọ – góp phần vào tỷ lệ người già lớn trong cơ cấu dân số – và Nhật Bản vẫn là một đất nước an toàn, sạch sẽ, thoải mái và hiện đại. Hoàn toàn không có dấu hiệu khủng hoảng đối với dân chúng Nhật Bản và cũng không có cảm giác cần thiết phải tạo ra những thay đổi mạnh mẽ.
Mối bận tâm về việc tăng trưởng nền kinh tế tổng thể và, đối với ông Abe, là đưa Nhật Bản trở về những vinh quang thời kỳ trước Thế chiến II, có vẻ như là những mục tiêu khác thường.
Gói chính sách Abenomics nhằm hồi sinh nền kinh tế rõ ràng đang dần thất bại. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã hoàn tất phần việc của mình là bơm nhiều tiền hơn vào nền kinh tế, mua hết các tài sản trên thị trường mở và thậm chí còn áp dụng lãi suất âm theo kiểu Ngân hàng Trung ương châu Âu, nhưng chính phủ nước này thì vẫn chưa thực hiện được nhiệm vụ của mình. Hai mũi tên khác của Abenomics – chính sách tài khóa linh hoạt với việc củng cố vị thế tài khóa trung hạn, và các cải cách cấu trúc – đều thất bại một cách nguy hiểm.
Chi tiêu chính phủ vẫn chưa chậm lại và đợt tăng thuế tiêu dùng lần hai, từ 8% lên 10%, đã bị trì hoãn từ 2015 sang đến 2017. Kế hoạch nhằm đạt được thặng dư sơ cấp – với việc chi tiêu của chính phủ ít hơn tổng thu ngân sách chưa kể nghĩa vụ trả lãi các khoản nợ – vào năm 2020 đã bị trì hoãn. Tổng nợ công quốc gia đạt mức chưa từng thấy, 245% GDP, và vẫn tiếp tục tăng lên. Đây là cách chi tiêu kiểu Keynes sơ cấp mà thiếu đi các kế hoạch (bù đắp chi tiêu) đi kèm.
Vấn đề quan trọng nhất của gói chính sách này là cải cách cấu trúc, và trên khía cạnh này thậm chí còn có ít hành động được thực hiện hơn. Các cải cách phía cung (supply – side), hay nâng cao năng suất, đòi hỏi đột phá xuyên qua các nhóm lợi ích vốn kéo lùi sự gia tăng năng suất, đồng thời cho phép các nguồn lực được phân bổ tới những nơi chúng đạt hiệu suất cao nhất.
Thủ tướng Abe đã sử dụng nguồn vốn chính trị của mình để thông qua các đạo luật an ninh cho phép Nhật Bản đóng vai trò quan trọng hơn trong các vấn đề quốc phòng và an ninh. Nhưng ông vẫn chưa sử dụng nguồn vốn chính trị quan trọng để đấu tranh chống các nhóm lợi ích ngay trong chính đảng của mình, thứ vốn đang ngăn cản cải cách kinh tế.
Lĩnh vực nông nghiệp Nhật Bản khét tiếng là được bảo hộ và không hiệu quả. Đó là một gánh nặng lên nền kinh tế. Ít nổi tiếng nhưng lại quan trọng hơn đó là lĩnh vực dịch vụ cũng được bảo hộ khỏi sự cạnh tranh quốc tế và nội địa. Các hãng nước ngoài không thể và không được cạnh tranh trong nhiều lĩnh vực ở Nhật Bản. Thực vậy, ở mức thấp hơn 3% , vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nhật Bản nếu so với quy mô nền kinh tế thì đang ở mức thấp nhất trong khối OECD, thậm chí còn ít hơn mức ước tính ở Bắc Triều Tiên.
Việc ký TPP sẽ giúp ích đôi chút cho mũi tên thứ ba của Nhật Bản. Nhưng thành quả của cải cách nông nghiệp phần lớn vẫn chưa đạt được.
Với quy mô dân số giảm sút và già hóa, Nhật Bản sẽ cần tăng năng suất để duy trì mức sống. Chỉ in thêm tiền là điều không bền vững. Mỗi người lao động phải trở nên năng suất hơn bởi lực lượng lao động sụt giảm này phải hỗ trợ một tỷ lệ dân số lớn hơn. Họ sẽ có nhiều khả năng thực hiện được điều đó nếu như Nhật Bản mở cửa hơn nữa cho nguồn vốn, công nghệ và nhân công nước ngoài.
Nhập cư với quy mô lớn có vẻ không phải là tương lai được dự đoán trước nhưng Nhật Bản đang dần dần chào đón các nhân công có tay nghề và nhiều du khách hơn nữa. Để thúc đẩy dòng chảy của nhân công nước ngoài và nhằm đạt được mục tiêu của chính phủ là thu hút được 40 triệu khách du lịch tới dự Olympics 2020, cần phải có sự thay đổi về mặt thể chế và thậm chí cả văn hóa. Điều đó cũng sẽ giúp thu hút thêm đầu tư nước ngoài.
Nhật Bản là một quốc gia tiên phong. Họ dẫn dắt một hình mẫu phát triển của châu Á và, trong thời kỳ hậu chiến, đã trở thành một trong những xã hội thu nhập cao thành công nhất thế giới. Nhưng vấn đề quá độ dân số chưa từng thấy đòi hỏi sự đổi mới chính sách và tinh thần khởi nghiệp khác thường.
Việc thừa nhận rằng quy mô nền kinh tế Nhật Bản sẽ không thể tránh khỏi giảm sút khi dân số suy giảm nhanh chỉ là điểm khởi đầu. Việc chấp thuận hệ lụy của điều này đối với vị thế của Nhật Bản trên thế giới và tái định hình chương trình nghị sự quốc gia của Nhật Bản để phù hợp với thực tế đó rõ ràng sẽ mất nhiều thời gian hơn thế.
Shiro Armstrong là đồng giám đốc Trung tâm nghiên cứu Australia – Nhật Bản và là đồng biên tập của Diễn đàn Đông Á tại Đại học Quốc gia Australia.
Quy định tại Thông tư 26/2018/TT-BTC quy định về việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số giai đoạn 2016 - 2020:
Tải Thông tư 26
Ngày 21/5/2018, tại Hà Nội, Bộ Y tế triển khai Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số năm 2018 với sự tham gia của đại diện các đơn vị trực thuộc Bộ, các sở y tế.
Giai đoạn 2016-2020, ngành y tế chỉ có một chương trình mục tiêu gồm 8 dự án thành phần, mỗi dự án thành phần lại có nhiều dự án nhỏ. Các dự án đó là:
Theo đó, Chương trình mục tiêu Y tế- Dân số giai đoạn 2016-2020 được triển khai nhằm chủ động phòng, chống dịch bệnh, phát hiện sớm, kịp thời khống chế không để dịch lớn xảy ra; giảm tỷ lệ mắc, tử vong một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, khống chế tốc độ gia tăng các bệnh không lây nhiễm phổ biến, bệnh tật lứa tuổi học đường bảo đảm sức khỏe cộng đồng. Đồng thời, Chương trình góp phần nâng cao năng lực quản lý, kiểm soát an toàn thực phẩm, bảo đảm cung cấp máu, an toàn truyền máu, phòng chống hiệu quả một số bệnh lý huyết học; khống chế và giảm tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng để giảm tác động của HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế – xã hội.
Chương trình được triển khai nhằm duy trì mức sinh thay thế, hạn chế tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh, cải thiện tình trạng dinh dưỡng, nâng cao chất lượng dân số và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; tăng cường công tác kết hợp quân dân y trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân vùng biên giới, biển đảo và vùng trọng điểm an ninh quốc phòng…
LỊCH SỬ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC NGÀNH DÂN SỐ
Công tác dân số-kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1961 với quyết định 216/CP ngày 26/12/1961 của Hội đồng Chính phủ. Lịch sử chương trình DS-KHHGĐ của Việt Nam được chia thành bốn giai đoạn:
Giai đoạn I: Bắt đầu từ năm 1961 khi Ban chỉ đạo hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch được thành lập để xây dựng chính sách và thực hiện các dịch vụ của chương trình thông qua Bộ Y tế. Chương trình đã tiến hành một cuộc vận động khuyến khích các cặp vợ chồng thực hiện sinh đẻ kế hoạch. Tuy nhiên, trong giai đoạn này quy mô gia đình giảm chậm.
Giai đoạn II: Năm 1971 chương trình được chuyển giao sang Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em đảm trách cuộc vận động và các dịch vụ đặt vòng tránh thai thông qua mạng lưới các Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em/KHHGĐ. Năm 1974, Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em giải thể và chương trình được giao lại cho Bộ Y tế.
Giai đoạn III: Năm 1984, Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ được thành lập nằm trong Vụ Điều trị của Bộ Y tế. Uỷ ban là cơ quan xây dựng chính sách còn các dịch vụ KHHGĐ tiếp tục được cung cấp qua mạng lưới khám chữa bệnh của Bộ Y tế.
Giai đoạn IV: Năm 1989, Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ tách khỏi Bộ Y tế. Từ thời điểm này, công tác DS-KHHGĐ được tăng cường cả nguồn nhân lực và tài chính, các dịch vụ KHHGĐ được mở rộng hơn. Từ năm 1991, Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ là cơ quan thuộc Chính phủ do một Bộ trưởng, là thành viên của Chính phủ làm Chủ nhiệm. Sau Hội nghị TW lần thứ 4 Ban chấp hành TW Đảng khoá VI, chính sách DS-KHHGĐ đã được ban hành, đã đưa ra mục tiêu và giải pháp thực hiện công tác DS-KHHGĐ tới năm 2015; kèm theo đó Nghị định 42/CP ngày 21/6/1993 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và lề lối làm việc của Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ và Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã tạo tiền đề cho việc hoạch định các chương trình mục tiêu DS-KHHGĐ nhằm hạn chế sự gia tăng dân số và xây dựng quy mô gia đình nhỏ.
Giai đoạn V: tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá 11 ngày 5/8/2002 cña Quốc hội nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Nghị quyết số 02/2002/QH11 về việc thành lập Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em trên cơ sở hợp nhất của 2 Uỷ ban Quốc gia Dân số-Kế hoạch hoá gia đình và Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam
Giai đoạn VI: tại Quyết định số 1001/QĐ-TTg ngày 8/8/2007 của Thủ tướng chính phủ về việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về việc giải thể Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, chuyển các chức năng của Ủy ban này sang các Bộ có liên quan thực hiện, các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về dân số và chuyển nguyên trạng về tổ chức, biên chế cán bộ, công chức, viên chức làm công tác dân số thuộc Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em sang Bộ Y tế, gồm :
1. Vụ Dân số;
2. Vụ Truyền thông - Giáo dục;
3. Vụ Kế hoạch - Tài chính;
4. Vụ Hợp tác quốc tế;
5. Vụ Tổ chức cán bộ;
6. Vụ Pháp chế;
7. Thanh tra;
8. Văn phòng;
9. Viện Khoa học dân số, Gia đình và Trẻ em;
10. Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức;
11. Trung tâm Thông tin;
12. Báo Gia đình và Xã hội;
13. Ban Quản lý các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về dân số;
14. Ban Quản lý dự án phòng, chống HIV/AIDS cho thanh niên;
15. Ban Quản lý dự án góp phần cải thiện dịch vụ y tế/sức khoẻ sinh sản (dự án GTZ);
16. Ban Quản lý dự án hỗ trợ phương tiện tránh thai cho Chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2006 - 2007;
17. Ban Quản lý dự án tăng cường năng lực của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em và các cơ quan liên quan trong việc thực hiện giai đoạn II của chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 (VNM7 PG 0009);
18. Ban Quản lý dự án nâng cao năng lực nghiên cứu dân số và sức khoẻ sinh sản tại Việt Nam.
Ngày 29/1/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 18/2008/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình thuộc Bộ Y tế.