Khi Musashi được bảy tuổi, cậu bé đã được nuôi bởi chú của cậu, Dorinbo (hoặc Dorin), trong chùa Shoreian, cách Hirafuku 3 km (~1.8 mi.). Cả Dorin và Tasumi, bác bên họ mẹ của Musashi, đã dạy dỗ kinh điển Phật giáo và những kỹ năng cơ bản cho cậu như đọc và viết. Sự giáo dục này có lẽ là nền tảng của sự giáo dục tưởng tượng mà Yoshikawa Eiji đặt cho Musashi theo nhà sư Thiền tông trong lịch sử là Takuan. Ông rõ ràng đã được đào tạo bởi Munisai về kiếm thuật, và về bộ môn võ thuật jutte gia đình. Việc đào tạo này đã không kéo dài trong một thời gian dài, khi năm 1589, Munisai được phái bởi Shinmen Sokan tới hạ sát học trò của mình, Honiden Gekinosuke. Gia đình Honiden không hài lòng, và Munisai buộc phải di chuyển 4 km (~2.5 mi.) tới làng Kawakami.
Cái tên "Musashi" được cho là được lấy từ tên của một tăng binh tên là Musashibō Benkei, người phục vụ dưới quyền Minamoto no Yoshitsune, nhưng điều này không được xác nhận.
Người ta nói rằng ông ta đã học tại môn phái Yoshioka-ryū, cũng được cho là nơi mà Musashi bị đơn thương độc mã đánh bại vào những năm cuối của mình, mặc dù điều này rất không chắc chắn. Ông đã được đào tạo chính thức hoặc từ cha mình cho đến khi được bảy tuổi, hoặc từ chú của mình bắt đầu từ lúc bảy tuổi. Cuối cùng, cái tên này được lấy từ các ký tự kanji gốc của ông, 武蔵, có thể đọc là Takezō hoặc Musashi, như đã nói trong cuốn Musashi của Yoshikawa Eiji.
Miyamoto Musashi được đọc cho biết số mạng của mình. Bản in bởi Utagawa Kuniyoshi
Từ thuở thanh xuân, ta đã dốc tâm dồn sức nghiên cứu binh nghiệp. Trận quyết đấu đầu tiên là năm ta mười ba tuổi, ta từng đánh bại một kiếm thủ thuộc Thần đạo lưu (Shinto-ryū) có tên là Arima Kihei. Năm mười sáu tuổi, ta đánh bại một võ sĩ tài ba là Tadashima Akiyama, người tới từ tỉnh Tajima. Năm hai mươi một tuổi, ta lên kinh thành Kyōtō, giao đấu với đủ loại kiếm khách và chưa từng nếm mùi thất bại.
Năm 1596, Musashi mười ba tuổi, và Arima Kihei, người đang du ngoạn khắp nơi dể trau dồi võ nghệ của mình, đã đăng một trát thách đấu công cộng ở Hirafuku-mura. Musashi đã điền tên mình vào mục thách đấu. Một người đưa tin đã đến ngôi chùa của Dorin, nơi Musashi đang cư ngụ, để thông báo cho Musashi rằng cuộc đấu của ông đã được chấp nhận bởi Kihei. Dorin, chú của Musashi, cảm thấy hoảng hốt bởi điều này, ông cố gắng thay mặt Musashi xin tha cho cháu mình khỏi cuộc đấu này, sợ tuổi trẻ của cháu trai còn nông nổi. Kihei kiên quyết rằng cách duy nhất mà danh dự của ông có thể được trong sạch trở lại là nếu Musashi tạ lỗi với ông trước khi cuộc đấu được ấn định. Vì vậy, khi thời điểm quyết đấu đã tới, Dorin bắt đầu tạ lỗi cho Musashi, người chỉ tấn công Kihei với một cây bổng dài sáu xích (khoảng 1.8 m), hét lên thách đấu với Kihei. Kihei đã tấn công với một thanh wakizashi, nhưng Musashi đã ném Kihei xuống sàn, và trong khi Kihei cố gắng trở dậy, Musashi đánh vào giữa hai mắt của Arima, và sau đó đánh ông tới chết. Arima được cho là tỏ ra kiêu ngạo, quá hăng hái chiến đấu, chứ không phải là một kiếm sĩ đặc biệt tài năng.
Miyamoto Musashi, sinh năm 1584, bắt đầu cuộc hành trình luyện tập võ thuật và tham gia nhiều trận đấu tay đôi từ khi còn trẻ. Sau khi gia đình ông gặp biến cố vào năm 1599, Musashi rời làng để du lịch và thực hành kiếm thuật. Năm 1600, ông tham gia vào cuộc chiến giữa Toyotomi và Tokugawa. Sau thất bại của Toyotomi tại trận Sekigahara, Musashi lui về luyện tập trên núi Hiko. Vào khoảng năm 1604, Musashi đến Kyoto và đối đầu với môn phái Yoshioka, nơi ông giành chiến thắng trong nhiều trận đấu quyết định, tiêu diệt hoàn toàn nhánh của họ. Từ năm 1605 đến 1612, Musashi tiếp tục cuộc hành trình du ngoạn khắp Nhật Bản, tham gia các cuộc đấu tay đôi nổi tiếng, bao gồm trận chiến với Musō Gonnosuke. Ông được cho là đã chiến đấu hơn 60 trận mà không một lần thất bại. Cuối cùng, Musashi bắt đầu tập luyện zazen và có thể đã tham gia vào những hoạt động chính trị liên quan đến lãnh chúa Hosokawa Tadaoki, dẫn tới việc đề xuất một trận đấu với Sasaki Kojirō. Musashi không chỉ nổi tiếng với tài năng kiếm thuật mà còn với triết lý và phong cách sống độc đáo của mình.
Musashi đã đến muộn và vất vả đến nơi được chỉ định — đảo Funajima, ở eo biển Kanmon ngăn cách Honshū và Kyūshū. Cuộc đấu đã diễn ra rất ngắn. Musashi đã giết chết đối thủ của mình bằng một thanh bokken, mà huyền thoại nói rằng ông đã khắc từ một mái chèo trên chiếc thuyền đưa ông đến đảo.
Sự xuất hiện muộn của Musashi đã gây nhiều tranh cãi. Những người không ủng hộ sự lăng mạ mà Sasaki đã phải nhận cho rằng điều đó là đáng xấu hổ và thiếu tôn trọng, trong khi những người ủng hộ Musashi nghĩ đó là một cách hợp lý để làm suy yếu đối thủ của mình. Một thuyết khác cho rằng Musashi đã hẹn thời điểm quyết đấu trùng khớp với thời điểm thủy triều lên. Thủy triều đã đưa ông đến được hòn đảo. Sau khi chiến thắng, Musashi ngay lập tức nhảy xuống thuyền của mình và cuộc tẩu thoát của ông khỏi những đồng minh thù địch của Sasaki đã được hưởng lợi từ sự thay đổi thủy triều. Một thuyết khác cho biết ông đã chờ đợi mặt trời vào đúng vị trí. Sau khi tránh một đòn, Sasaki đã bị loá mắt bởi ánh mặt trời.
Musashi đã thành lập một trường dạy kiếm thuật trong cùng năm.
Ngày 13 tháng 4 năm 1612, Musashi (khoảng 30 tuổi) đấu trận quyết đấu với Sasaki Kojirō, người được biết đến như là "Con quỷ của miền Tây", sử dụng một thanh nodachi, loại kiếm lớn của Nhật Bản.
Musashi đã tạo ra và cải tiến một kỹ thuật song kiếm kenjutsu gọi là niten'ichi (二天一 (nhị thiên nhất)? "hai thiên đường như một") hay nitōichi (二刀一 (nhị đao nhất)? "hai thanh kiếm như một") hay 'Niten Ichi-ryū' (một sutra trong Phật giáo Kongen viện dẫn hai thiên đàng như hai vị thần canh giữ của Phật). Trong kỹ thuật này, kiếm sĩ sử dụng một thanh kiếm lớn, và một "thanh kiếm đồng hành" cùng lúc, chẳng hạn như katana cùng một thanh wakizashi.
Những chuyển động hai tay của những vị sư phụ trách việc đánh trống trong chùa có thể đã tạo cảm hứng cho ông, mặc dù có thể đó là kỹ thuật đã được rèn luyện qua kinh nghiệm chiến đấu của Musashi. Các kỹ thuật về jutte là do người cha dạy cho ông — jutte thường được sử dụng trong trận chiến kết hợp với kiếm; jutte sẽ đóng vai trò dự phòng và vô hiệu hoá vũ khí của kẻ thù, trong khi thanh kiếm sẽ ra đòn hoặc học viên sẽ vật nhau với kẻ thù. Phong cách kiếm thuật ngày nay của Musashi được gọi là Hyōhō Niten Ichi-ryū.[cần dẫn nguồn]
Musashi cũng là một chuyên gia trong việc ném vũ khí. Ông thường xuyên ném thanh đoản kiếm của mình, và Tokitsu Kenji tin rằng những phương thức của shuriken cho wakizashi là những kỹ thuật bí mật của Niten Ichi Ryu.[13]
Musashi đã dành nhiều năm nghiên cứu Phật giáo và kiếm thuật. Ông là một nghệ sĩ, nhà điêu khắc và thư pháp tài hoa. Những ghi chép cũng cho thấy ông có các kĩ năng trong lĩnh vực kiến trúc. Ngoài ra, dường như ?ông có một cách tiếp cận chiến đấu khá đơn giản, không có thêm điệu bộ, kiểu cách hay chú ý về thẩm mỹ nào. Điều này có thể là do kinh nghiệm chiến đấu thực tế của ông; mặc dù trong những năm cuối đời, Musashi có theo đuổi một phong cách mang tính thẩm mỹ nhiều hơn. Ông đã vẽ các bức tranh bằng bút lông về Thiền tông, viết thư pháp, và điêu khắc gỗ cũng như kim loại. Thậm chí trong Ngũ luân thư, ông nhấn mạnh rằng samurai cũng nên hiểu về những ngành nghề khác. Nên hiểu rằng các bài viết của Musashi có ý nghĩa rất mơ hồ, và việc dịch chúng sang tiếng Anh làm cho chúng thậm chí còn khó hiểu hơn; đó là lý do tại sao có rất nhiều bản dịch khác nhau của Ngũ luân thư. Để có thêm thông tin chi tiết về các nguyên tắc sống và nhân cách của Musashi, ta có thể đọc các tác phẩm khác của ông, như Dokkōdō và Hyoho Shiji ni Kajo.
Không chỉ nổi tiếng là một kiếm sĩ huyền thoại, Miyamoto Musashi còn được biết đến là một họa sĩ, triết gia và một phật tử. Ông tìm ý nghĩa cuộc sống, viết sách về binh pháp, triết học. Ngoài ra, sự kỉ luật đến hà khắc của ông vẫn luôn là thứ được nhắc tới đầu tiên khi nói về Miyamoto Musashi khi ông đã trải qua một hành trình luyện tập vô cùng gian khổ để có thể đạt tới cảnh giới "Đệ nhất kiếm sĩ".Các tác phẩm của ông đã trở thành những cuốn sách gối đầu giường cho những ai muốn sống cuộc đời kỉ luật.
Đối với hậu thế, Miyamoto Musashi là hình mẫu của một người kiếm sĩ độc hành vĩ đại, phá bỏ khuôn phép để dành chiến thắng và luôn tìm kiếm cơ hội để thúc đẩy bản thân vượt qua giới hạn của chính mình.
“The Only reason a warrior is alive is to fight, and the only reason a warrior fights is to win.”
“Lý do duy nhất một chiến binh tồn tại lại để chiến đấu, và lý do duy nhất một chiến binh chiến đấu là để dành chiến thắng.”
Miyamoto Musashi - The book of Five Rings: The Classic Guide to Strategy.