Ngày 1 tháng Morning Star, năm 2920
tại Mournhold, Morrowind.
Almalexia nằm dài trên chiếc giường bằng lông của mình, cô vẫn đang mơ màng. Chỉ khi ánh nắng mặt trời chiếu qua cửa sổ, hòa lẫn với gỗ và màu da của căn phòng thành một quầng sáng màu sữa đục, cô mới chịu mở mắt. Thật im ắng và thư thả, một sự trái ngược đáng kinh ngạc với những giấc mơ của cô, đầy máu và sự tán tụng. Trong một khoảnh khắc, cô chỉ đơn giản nhìn chằm vào trần nhà, cố để sắp xếp lại những viễn tượng mình đã thấy.
Trong sân vườn thuộc cung điện của cô là một bể bơi được đun nóng đang tỏa hơi nước giữa cái lạnh của buổi sáng mùa đông. Chỉ với một cái phẩy tay, nó trở nên trong suốt và cô có thể thấy khuôn mặt và hình dáng người tình của mình, Vivec, người đang trong cuộc nghiên cứu của anh ở phương Bắc. Cô không muốn bắt chuyện ngay: Anh ấy trông thật đẹp trai trong chiếc áo choàng màu đỏ sậm, đang viết thơ như cách anh ấy làm mỗi buổi sáng.
"Vivec," cô nói, và anh ngẩng đầu lên với một nụ cười, nhìn vào khuôn mặt của cô đang cách xa anh vạn dặm. "Em đã thấy một viễn cảnh về cái kết của cuộc chiến."
"Sau tám năm, ta không nghĩ có người có thể tưởng tượng về cái kết," Vivec nói với một nụ cười, nhưng rồi anh dần nghiêm túc, tin tưởng vào lời tiên đoán của Almalexia. "Ai sẽ chiến thắng? Morrowind hay Đế chế Cyrodiil?"
"Với việc thiếu vắng Sotha Sil ở Morrowind, chúng ta sẽ thua," cô trả lời.
"Tin tình báo của ta nói Đế chế sẽ tấn công chúng ta ở phía Bắc vào mùa nước lớn, tầm tháng First Seed là trễ nhất. Nàng có thể đi tới Artaeum và thuyết phục anh ấy quay về được không?"
"Em sẽ đi vào ngày mai," cô trả lời ngắn gọn.
Ngày 4 tháng Morning Star, năm 2920
tại Gideon, Black Marsh.
Vị Hoàng Hậu bước quanh phòng giam của bà. Mùa đông khiến bà lãng phí năng lượng, trong khi vào mùa hè bà chỉ ngồi bên cửa sổ của mình và cảm kích từng cơn gió đầm lầy thổi tới để làm dịu bà. Phía bên kia của căn phòng, tấm thảm thêu chưa hoàn thành của bà về một buổi khiêu vũ ở trong một biệt thự Đế chế dường như đang chế giễu bà. Bà bức nó khỏi khung dệt, xé từng mảnh ra và để chúng rơi xuống sàn.
Và rồi bà cười vào chính hành động phỉ báng vô ích này. Bà có nhiều thời gian để sửa nó và dệt cả trăm cái khác nữa. Hoàng đế đã nhốt bà trong lâu đài Giovesse 7 năm trước, và có vẻ sẽ giữ bà ở đây cho tới khi một trong hai người chết.
Thở dài, bà kéo sợi dây thừng nhỏ để gọi hiệp sĩ của bà, Zuuk. Ông có mặt ở cửa chỉ trong vài phút, được trang bị đầy đủ để phù hợp làm một cảnh binh Đế chế. Đa số những người bộ lạc Kothringi bản địa thích khỏa thân, nhưng Zuuk có một xu hướng thời trang tích cực hơn. Làn da màu bạc, bóng láng của ông không hiện diện mấy, duy chỉ có ở mặt, cổ và bàn tay của ông.
"Kính thưa Hoàng hậu," ông nói khi đang cúi chào.
"Zuuk," Hoàng hậu Tavia nói. "Ta chán rồi. Hãy bàn về phương cách ám sát chồng của ta hôm nay đi."
Ngày 14 tháng Morning Star, năm 2920
tại Đế Đô, Cyrodiil.
Những tiếng kêu vang đang công bố Lời cầu của Gió Nam (South Wind’s Prayer) vang dội qua đại lộ rộng lớn và những khu vườn của Đế Đô, kêu gọi mọi người đến những ngôi đền của họ. Hoàng đế Reman đệ Tam luôn luôn tham dự buổi lễ ở Ngôi đền của Người (Temple of the One), trong khi con trai của ngài và người kế tự -- Hoàng tử Juilek cảm thấy sẽ có tính chính trị hơn khi tham dự buổi lễ ở một ngôi đền khác cho mỗi ngày lễ tôn giáo. Năm nay, đó là giáo đường Sự nhân từ của Mara (Benevolence of Mara).
Buổi lễ ở đó tuy ngắn ngủi một cách đầy nhân từ, nhưng cũng không sớm hơn sau giờ trưa, khi mà Hoàng đế đã có thể quay về cung điện. Khi đó, những đấu sĩ ở đấu trường đang chờ đợi cách thiếu kiên nhẫn để bắt đầu nghi thức. Đám đông đỡ bồn chồn hơn, khi mà Quốc chủ (Potentate) Versidue-Shaie đã chuẩn bị một màn kịch bởi đoàn diễn gồm những diễn viên xiếc tộc Khajiiti.
"Văn hóa của ngươi thuận tiện hơn nhiều so với của ta," Hoàng đế nói với vị Quốc chủ của mình như một lời xin lỗi. "Trò đầu tiên là gì?"
"Một trận đấu tay đôi giữa hai chiến binh tài giỏi," vị Quốc chủ nói, bộ da vẩy của hắn bắt nắng khi hắn đứng dậy. "Và được vũ trang theo văn hóa riêng của họ."
"Nghe hay đấy," Hoàng đế nói và vỗ tay. "Hãy để trận đấu bắt đầu!"
Vừa khi ngài thấy hai chiến binh bước vào đấu trường trong tiếng reo hò của đám đông, Hoàng đế Reman đệ Tam chợt nhớ ra ngài đã phê chuẩn việc này từ nhiều tháng trước mà quên mất. Một trong hai đấu sĩ là con trai của vị Quốc chủ, Savirien-Chorak, một xà nhân với lớp da vảy màu vàng ngà lấp lánh, nắm thanh katana và wakizashi với đôi tay thon gọn, trông có vẻ yếu ớt. Người còn lại là con trai của Hoàng đế, Hoàng tử Juilek, trong bộ giáp Ebony với chiếc mũ giáp Orcish bặm trợn, mang một chiếc khiên và thanh trường kiếm bên mình.
"Sẽ rất hấp dẫn đây," vị Quốc chủ rít lên, một nụ cười lớn xuất hiện trên khuôn mặt méo mó của hắn. "Tôi không nghĩ là mình từng thấy một người Cyrodiil đấu với một người Akavir như vầy. Thường là giữa các đội quân với nhau trong chiến tranh. Cuối cùng thì chúng ta cũng có thể phân định xem triết lý nào hay hơn -- rèn những bộ giáp chống lại những thanh kiếm như người của ngài, hay rèn những thanh kiếm chống lại những bộ giáp như người của tôi."
Không ai trong đám đông, trừ số ít những cố vấn người Akavir và vị Quốc chủ, muốn Savirien-Chorak thắng, nhưng vẫn có nhiều người choáng ngợp trước sự chuyển động uyển chuyển của gã. Thanh kiếm dường như là một phần của gã, một chiếc đuôi mọc ra từ tay để gã cân bằng với cái đuôi đằng sau. Đó là mẹo đối trọng, cho phép gã người rắn trẻ tuổi lộn tới trước thành một vòng tròn và lăn vào trung tâm của sàn đấu trong một tư thế tấn công. Hoàng tử đã phải bất đắc dĩ chọn cách truyền thống kém ấn tượng hơn.
Khi cả hai lao về phía nhau, đám đông rống lên thích thú. Đối thủ từ Akavir như một mặt trăng theo quỹ đạo quanh Hoàng tử,hắn lao tới vai của chàng một cách dễ dàng để ra đòn từ phía sau, nhưng Hoàng tử quay vòng cách nhanh nhẹn để đỡ bằng khiên của mình. Cú phản đòn của chàng chỉ đón được gió khi đối thủ đã trườn xuống sát đất và luồn qua giữa hai chân, quật ngã chàng. Vị Hoàng tử ngã xuống đất với tiếng va đập vang dội.
Kim loại và không khí dường như nóng lên khi Savirien-Chorak rải những cú đánh của mình lớp này tới lớp khác như mưa lên Hoàng tử, người đang chống đỡ từng đòn đánh bằng chiếc khiên của mình.
"Chúng tôi không có khiên trong nền văn hóa của mình," Versidue-Shaie thì thầm với Hoàng đế. "Nó có vẻ lạ lẫm đối với cậu bé của tôi, tôi đoán vậy. Ở đất nước của chúng tôi, nếu ngài không muốn bị đánh trúng, ngài phải né chỗ khác."
Khi Saviren-Chorak đang lùi lại để chuẩn bị một loạt đòn tấn công phủ đầu nữa, thì Hoàng tử đá vào đuôi của gã, làm gã ngã về sau trong một khoảnh khắc. Trong chớp mắt, hắn đã bật dậy, tuy nhiên Hoàng tử cũng đã vào tư thế. Cả hai vờn nhau, cho tới khi gã người rắn lao tới trước, vươn thanh katana ra. Hoàng tử thấy được kế hoạch của đối thủ, và đỡ thanh katana bằng thanh trường kiếm còn thanh wakizashi bằng chiếc khiên của mình. Lưỡi kiếm ngắn ấy găm chặt chính nó vào tấm kim loại, và Savirien-Chorak bị xô mất thăng bằng.
Lưỡi thanh trường kiếm của Hoàng tử rạch ngang qua ngực của gã Akavir và cơn đau bất ngờ đầy dữ dội khiến gã buôn bỏ cả hai vũ khí của mình. Trong giây lát, nó đã kết thúc. Savirien-Chorak đã tê liệt trong bụi đất với thanh trường kiếm của Hoàng tử kề cổ họng của mình.
"Trận đấu kết thúc!" Hoàng đế hét lên, nhưng khó có thể nghe được giữa tiếng reo hò tán dương từ khán đài.
Hoàng tử mỉm cười và giúp Savirien-Chorak đứng dậy và tới chỗ một trị liệu sư. Hoàng đế vỗ lưng vị Quốc chủ, cảm thấy nhẹ nhõm. Ngài đã không nhận ra được rằng khi trận đấu diễn ra, khả năng thắng mà ngài dành cho con trai mình nhỏ bé chừng nào.
"Cậu ấy sẽ là một chiến binh tốt," Versidue-Shaie nói. "Và là một hoàng đế vĩ đại."
"Hãy nhớ lấy," vị Hoàng đế cười. "Người Akavir các cậu có rất nhiều chiêu trò bắt mắt, nhưng nếu chỉ một trong những đòn tấn công của chúng tôi qua được thôi, mọi chuyện coi như kết thúc cho các cậu."
"Ồ, tôi sẽ ghi nhớ điều đó," Vị Quốc chủ gật đầu.
Reman suy nghĩ về lời bình đó suốt phần còn lại của sự kiện, nó khiến ngài khó có thể tận hưởng hết mình. Liệu vị Quốc chủ này có phải là một kẻ thù khác, giống như Hoàng hậu? Vấn đề đó sẽ còn phải xem xét.
Ngày 21 tháng Morning Star, năm 2920
tại Mournhold, Morrowind.
"Sao nàng không mặc cái áo choàng màu lam ta đã tặng nàng?" Công tước của Mournhold hỏi, ngắm nhìn thiếu nữ trẻ đang mặc đồ.
"Nó không vừa," Turala mỉm cười. "Và chàng biết em thích màu đỏ mà."
"Nó không vừa là vì nàng đang béo ra," vị Công tước cười, kéo cô gái xuống giường, hôn lên ngực và bụng của cô. Cô gái cười với những cái cù lét, nhưng rồi tự lôi mình dậy, quấn chiếc áo choàng đỏ quanh người.
"Em tròn trịa theo cách của một người phụ nữ," Turala nói. "Em sẽ gặp ngài ngày mai chứ?"
"Không," Công tước trả lời. "Ta phải mua vui cho Vivec ngày mai, và ngày mốt Công tước của Ebonheart sẽ tới. Nàng có biết không, ta chưa từng thật sự coi trọng Almalexia và kĩ năng chính trị của cô ta cho tới khi cô ấy rời đi?"
"Cũng giống như đối với em thôi," Turala mỉm cười. "Ngài sẽ chỉ trân trọng em khi em đi mất."
"Điều đó không đúng chút nào," vị Công tước khịt mũi. "Bây giờ ta đang rất trân trọng nàng."
Turala cho phép Công tước trao nụ hôn cuối cùng trước khi cô bước ra khỏi cửa. Cô cứ tiếp tục nghĩ về những gì ông ấy nói. Liệu ông ấy trân trọng cô nhiều hơn hay ít hơn một khi ông biết lý do cô béo lên là vì cô đang mang trong mình đứa con của ông? Liệu ông có đủ sự trân trọng để cưới cô?
Năm ấy tiếp tục trong 2920, Sun’s Dawn.
Ngày 3 tháng Sun’s Dawn, năm 2920
tại Đảo Artaeum, Summerset.
Sotha Sil quan sát những môn đệ của anh, khi từng người trong số họ dần trôi lơ lửng lên cây oassom, hái một thứ quả hay một bông hoa từ nhánh của nó trước khi đáp xuống lại mặt đất với những biểu hiện khác nhau. Anh đợi một chút rồi gật đầu như tận hưởng ngày hôm nay. Bức tượng vôi trắng của vị pháp sư vĩ đại Syrabane, được cho là đã ở đó từ thời cổ đại, đứng trên vách đá dựng đứng nhìn ra con vịnh. Những bông hoa Proscato màu tím nhạt đung đưa trong làn gió thoảng. Xa hơn nữa là đại dương, và một đường ranh giới sương mù giữa Artaeum với hòn đảo chính của Summerset.
"Đại đa số, chấp nhận được," anh tuyên bố khi người học trò cuối cùng thả quả của cô vào tay của anh. Với một cái phất tay của mình, anh đưa những quả và hoa quay trở về với cái cây. Và với một cái phất tay nữa, những học trò đã xếp hàng tạo thành hình bán nguyệt quanh người thầy pháp. Anh lấy ra một quả bóng từ nhiều sợi tua, đường kính khoản 1 bộ, từ chiếc áo thụng trắng của mình.
"Đây là cái gì?"
Các học trò hiểu bài kiểm tra này. Nó đòi hỏi họ niệm một câu thần chú nhận dạng lên vật thể lạ. Từng môn đồ nhắm mắt của mình lại và tưởng tượng quả bóng trong không gian của Vũ Trụ Sự Thật (Universal Truth). Năng lượng của nó có một sự cộng hưởng riêng biệt như tất cả vật chất hữu hình hay tâm linh sở hữu, một mặt tiêu cực, một bản sao chép, những đường dẫn liên quan đến nhau, ý nghĩa thật sự, một bản nhạc trong vũ trụ, một kết cấu được dệt trong mảnh vải của không gian, một khía cạnh nhỏ của tạo vật mà đã luôn tồn tại và sẽ luôn tồn tại.
"Một quả bóng," một chàng trai Nord trẻ tuổi tên Welleg trả lời, khiến những môn đồ trẻ tuổi hơn cười khúc khích, nhưng lại làm nhiều người khác cau mày, bao gồm cả Sotha Sil.
"Nếu cậu thật sự ngốc nghếch, thì chí ít hãy tỏ ra hài hước ," người thầy pháp càu nhàu, rồi nhìn sang một cô gái Altmer trẻ tóc đen đang tỏ ra bối rối. "Lilatha, cô có biết không?"
"Nó là Grom," Lilatha ngập ngừng nói. "Thứ mà bọn dreugh meff thải ra sau khi chúng trải qua k-k-kr-krevinasim"
"Karvinasim, nhưng dù sao cũng rất khá," Sotha Sil nói. "iờ thì nói ta nghe, điều đó có nghĩa gì?"
"Em không biết," Lilatha thú thật. Những môn đệ còn lại cũng đều lắc đầu.
"Có nhiều lớp vỏ bọc cần gạt bỏ để có thể hiểu được mọi thứ," Sotha Sil nói. "Một người bình thường nhìn một sự vật và nhét nó vào nơi phù hợp theo cách nghĩ của anh ta. Những người khéo léo trong Cổ Đạo (The Old Ways), trong cách vận hành của Psijic, trong Thần Bí Giáo (Mysticism), có thể nhìn một sự vật và nhận dạng dựa trên vai trò đúng của nó. Nhưng còn một lớp bọc nữa cần bị lột bỏ để đạt được sự thấu hiểu. Các người phải nhận dạng sự vật bằng vai trò và sự thật của nó, và rồi lý giải cho ý nghĩa đó. Trong trường hợp này, quả bóng này đúng chính xác là một Grom, một vật chất được tạo ra từ loài Dreugh, một loài vật dưới nước sống ở khu vực phía Bắc và Tây của lục địa. Trong vòng đời của mình, chúng trải qua giai đoạn karvinasim kéo dài khoảng một năm, khi bước đi trên cạn. Sau đó, chúng quay về vùng nước và bắt đầu meff, hay nói cách khác là ăn phần da và nội tạng chúng đã dùng cho cuộc sống trên cạn. Rồi chúng mửa nó ra thành những quả bóng nhỏ như này. Grom. Mửa của Dreugh."
Những học trò nhìn quả bóng với chút buồn nôn. Còn Sotha Sil thì luôn yêu thích bài học này.
Ngày 4 tháng Sun’s Dawn, năm 2920
tại Đế Đô, Cyrodiil.
"Bọn gián điệp," Hoàng đế càu nhàu, khi ngồi trong bể tắm và nhìn chằm vào một vết sưng trên chân của ngài. "Xung quanh ta toàn là lũ phản bội và gián điệp."
Nàng tình nhân Rijja đang kì lưng cho Hoàng Đế, trong khi đôi chân của nàng quấn quanh hông của ngài. Sau nhiều năm, nàng biết rõ khi nào thì nên gợi cảm và khi nào nên gợi tình. Khi ngài đang có tâm trạng như vầy, tốt nhất là nên gợi cảm một cách thật, từ tốn, nhẹ nhàng và quyến rũ. Và không được nói lời nào trừ khi ngài hỏi nàng trực tiếp.
Và thật vậy, ngài đã hỏi: "Nàng nghĩ sao khi một anh bạn giẫm lên chân Hoàng Đế của mình và nói ‘Thần xin lỗi, thưa Hoàng Đế bệ hạ’? Nàng không nghĩ ‘Thứ lỗi cho thần, thưa Hoàng Đế bệ hạ’ thích hợp hơn sao? ‘Thần xin lỗi’, nó nghe gần như là tên khốn Argonian đó cảm thấy có lỗi khi ta là Hoàng Đế của hắn vậy. Rằng hắn mong chúng ta thua cuộc chiến với Morrowind, nó nghe có vẻ như vậy đấy."
"Điều gì sẽ làm ngài cảm thấy tốt hơn?" Rijja hỏi. "Liệu ngài có muốn hắn bị đánh bằng roi? Hắn cũng chỉ là, như ngài nói, Tộc trưởng của Soulrest. Điều đó sẽ dạy hắn phải để ý chỗ mà hắn bước chân."
"Nếu là cha ta thì hắn bị bắt và đánh đập bằng roi, còn ông của ta thì có thể đã giết hắn rồi," Vị Hoàng Đế làu bàu. "Nhưng ta không màng nếu tất cả bọn chúng đều dẫm lên chân ta, nếu như chúng tôn trọng ta. Và không âm mưu chống lại ta."
"Ngài phải tin tưởng ai đó chứ."
"Chỉ có nàng thôi," Hoàng Đế cười, và quay sang một chút để trao cho Rijja một nụ hôn. "Và con trai ta Juilek, ta nghĩ vậy, dù ta ước rằng nó cẩn trọng hơn một chút."
"Thế còn hội đồng của ngài, và vị Quốc chủ?" Rijja hỏi.
"Một bầy gián điệp và một con rắn," Hoàng đế cười phá lên, hôn cô tình nhân của mình lần nữa. Khi họ chuẩn bị làm tình, ngài thì thầm, "Chừng nào nàng còn thành thật, ta có thể lo liệu cả thế giới."
Ngày 13 tháng Sun’s Dawn, năm 2920
tại Mournhold, Morrowind.
Turala đứng trước những cánh cổng đen, được khảm đá quý của thành phố. Một cơn gió hú quanh nàng, nhưng nàng không chút cảm giác.
Vị Công tước đang phẫn nộ khi nghe tin người tình yêu thích của ông đã có thai và đuổi nàng đi cho khuất mắt ông. Nàng đã cố hết lần này tới lần khác để gặp ông, nhưng những cận vệ của ông đuổi nàng đi. Cuối cùng, nàng quay về với gia đình và kể họ nghe sự thật. Phải chi nàng đã nói dối và nói nàng không biết cha đứa trẻ là ai. Một người lính, một nhà thám hiểm lang thang, ai cũng được. Nhưng nàng nói cho họ nghe người cha chính là vị Công tước, một thành viên của Gia tộc Indoril. Và họ đã làm điều mà nàng biết rõ họ sẽ phải làm, như những thành viên đáng tự hào của Gia tộc Redoran.
Trên tay nàng, dấu ấn Trục xuất được nung lên bởi người cha đang đầy đau đớn của nàng. Nhưng sự tàn nhẫn của vị Công tước còn khiến nàng tổn thương nhiều hơn. Nàng nhìn ra ngoài cổng và ra đồng bằng mùa đông rộng lớn. Những cái cây méo mó đang ngủ và bầu trời không một chú chim. Bây giờ sẽ không có ai ở Morrowind chấp nhận nàng ấy. Và nàng sẽ phải đi xa thật xa khỏi đây.
Với những bước chân chậm chạp và buồn rầu, nàng bắt đầu cuộc hành trình của mình.
Ngày 16 tháng Sun’s Dawn, năm 2920
tại Senchal, Anequina (Elsweyr ngày nay).
"Điều gì làm ngài phiền lòng vậy?" Hoàng hậu Hasaama hỏi, bà để ý thấy tâm trạng khó chịu của chồng mình. Vào những lúc cuối cùng của đa số ngày lễ Tình nhân ngài ấy hay trong tâm trạng tuyệt vời, nhảy múa trong phòng khiêu vũ với tất cả các vị khách, nhưng tối nay ngài đi nghỉ sớm. Khi bà tìm thấy ngài, ngài ấy đang quấn mình trong chăn, nhăn mặt.
"Câu chuyện của tên thi nhân chết tiệt ấy về Polydor và Eloisa hủy hoại tâm trạng của ta," ngài làu nhàu "Tại sao hắn phải tỏ ra tuyệt vọng đến vậy?"
"Nhưng chẳng phải đó là sự thật của câu chuyện sao, bệ hạ? Chẳng phải họ chết bởi bản tính tàn nhẫn của thế giới này sao?"
"Nó không quan trọng sự thật là gì, hắn đã làm một việc tồi khi kể một câu chuyện tồi, và ta sẽ không để hắn làm việc ấy nữa đâu," Vua Dro’Zel nhảy khỏi giường. Mắt của ngài đẫm lệ. "Họ đã nói hắn từ đâu đến nhỉ?"
"Em tin là Gilverdale ở tận cùng phía Đông của Valenwood," Nữ hoàng run rẩy trả lời. "Chồng của em, ngài đang định làm gì vậy?"
Dro’Zel đã rời khỏi phòng chỉ trong một cú phóng, nhảy lên những bậc thang để lên tòa tháp của ngài. Nếu như Hoàng Hậu Hasaama biết được điều chồng mình sẽ làm, bà đã không cố để ngăn ngài lại. Ngài ấy đã luôn có những hành vi thất thường, dễ nóng giận và đôi lúc còn có những cơn co giật. Nhưng bà chưa từng ngờ về độ sâu của sự điên loạn của ngài, cũng như sự ghê tởm của ngài dành cho tên thi nhân và câu chuyện đầy gian ác và hư hỏng của hắn có thể được tìm thấy trong người phàm nhân.
Ngày 19 tháng Sun’s Dawn, năm 2920
tại Gilverdale, Valenwood.
"Nghe tôi một lần nữa này," Người thợ mộc già nói. "Nếu ô thứ ba chứa đồng thau vô giá trị, thì ô thứ hai chứa chiếc chìa khóa bằng vàng. Nếu ô thứ nhất chứa chiếc chìa khóa vàng, thì ô thứ ba chứa đồng thau vô giá trị. Nếu ô thứ hai chứa đồng thau vô giá trị, thì ô thứ nhất chứa chìa khóa vàng."
"Tôi hiểu rồi," Người phụ nữ trả lời. "Ông đã nói với tôi rồi. Vậy nên ô thứ nhất chứa chìa khóa vàng, đúng không?"
"Không," Người thợ mộc trả lời. "Để tôi bắt đầu lại từ đầu."
"Mẹ ơi?" Cậu bé đang kéo vạt áo của mẹ mình nói.
"Chỉ một chút thôi, con yêu, mẹ đang nói chuyện," Cô trả lời, và tập trung vào câu đố. "Ông nói 'ô thứ ba chứa chìa khóa vàng nếu như ô thứ hai chứa đồng thau’, đúng không?"
"Không," Người thợ mộc trả lời một cách kiên nhẫn. "Ô thứ ba chứa đồng thau vô giá trị, nếu ô thứ hai --- "
"Mẹ ơi!" Cậu bé thét lên. Và mẹ cậu cuối cùng cũng chịu nhìn.
Một màn sương đỏ tươi đang đổ xuống khắp thị trấn trong một con sóng, nhấn chìm hết tòa nhà này tới tòa nhà khác trên đường đi của nó. Sải bước trước nó là một gã khổng lồ da màu đỏ. Chúa Tể Daedra Molag Bal. Và hắn đang mỉm cười.
Ngày 29 Sun’s Dawn, năm 2920
tại Gilverdale, Valenwood.
Almalexia thắng con chiến mã của cô lại trong một bãi hoang lầy lội rộng lớn để nó uống nước từ dòng sông. Nhưng nó không chịu uống, thậm chí có vẻ như bị đẩy lùi lại bởi dòng nước. Nó khiến cô thấy rất lạ: Họ đã đi được một khoảng thời gian đáng kể từ Mournhold, và chắc rằng con chiến mã phải rất khát. Cô xuống ngựa và trở lại với tùy tùng của mình.
"Chúng ta đang ở đâu?" Cô hỏi.
Một trong những cô gái của cô rút ra một tấm bản đồ. "Thần đã nghĩ là chúng ta đang tới gần một thị trấn được gọi là Gilverdale."
Almalexia nhắm rồi mở mắt mình thật nhanh. Cảnh tượng thật quá sức để chịu được. Trong khi những người tùy tùng đang nhìn theo, cô nhặt một mảnh gạch và một mẫu xương, rồi ôm chặt chúng vào lòng mình.
"Chúng ta phải tiếp tục đi tới Artaeum," cô khẽ nói.
Năm ấy tiếp tục vào tháng First Seed.
Ngày 15 tháng First Seed, năm 2920
tại Caer Suvio, Cyrodiil.
Từ vị trí thuận lợi trên những ngọn đồi, Hoàng đế Reman đệ Tam có thể thấy được những chóp nhà hình xoắn ốc của Đế Đô, nhưng ngài biết là mình đã xa khỏi ngôi nhà ấm cúng của mình. Dù lãnh chúa Glavius có một trang viên rộng lớn và sang trọng, nhưng nó vẫn là chưa đủ rộng để có thể chứa cả một đội quân bên trong những bức tường. Những chiếc lều dựng dọc theo sườn đồi, và những người lính đang tụ tập lại để tận hưởng suối nước nóng nổi tiếng của vị Lãnh chúa. Không hề bất ngờ: Cái lạnh mùa đông vẫn còn đọng lại trong không khí.
"Hoàng tử Juilek, con trai của ngài, đang không được khỏe."
Khi Quốc chủ Versidue-Shaie cất tiếng, Hoàng đế có chút giật mình. Cách mà gã Akavir ấy có thể trườn trên cỏ mà không gây một tiếng động gì, là một điều bí ẩn đối với ngài.
"Bị trúng độc, ta chắc vậy," Reman làu nhàu. "Hãy đưa một trị liệu sư tới khám cho nó. Ta đã bảo nó thuê một tên nếm thử như ta, nhưng thằng nhóc cứng đầu đâu chịu nghe. Xung quanh ta toàn là gián điệp, ta biết chắc vậy."
"Tôi tin ngài nói đúng, Hoàng Đế bệ hạ," Versidue-Shaie trả lời. "Đây là khoảng thời gian nguy hiểm, và chúng ta phải thực hiện những bước đi thận trọng để chắc rằng Morrowind không thắng cuộc chiến này, dù là trên chiến trường hay theo cách mờ ám khác. Vậy nên tôi cho rằng ngài không nên dẫn quân tiên phong xông vào trận. Tôi biết ngài rất muốn, như những vị tổ tiên lừng lẫy của ngài, Reman đệ Nhất, Brazollus Dor, và Reman đệ Nhị đã từng, nhưng tôi sợ đó là hành động dại dột. Tôi mong ngài không phiền khi tôi nói thẳng như vầy."
"Không," Reman gật đầu. "Ta nghĩ cậu nói đúng. Vậy ai sẽ lãnh đạo quân tiên phong đây?"
"Tôi nghĩ là Hoàng tử Juilek, khi cậu ấy cảm thấy khá hơn," Gã Akavir trả lời. "Nếu không được, thì sẽ là Storig của Farrun, cùng với Nữ hoàng Naghea của Riverhold ở cánh trái, và Tù trưởng Ulaqth của Lilmoth ở cánh phải."
"Một Khajiit ở cánh trái và một Argonian ở cánh phải," Hoàng đế cau mày. "Ta không bao giờ tin tưởng những á nhân."
Vị Quốc chủ không hề thấy bị xúc phạm. Gã biết từ "á nhân" được dùng để chỉ dân bản địa của Tamriel, không phải tộc Tsaesci của Akavir như bản thân gã. "Tôi cũng khá đồng tình với bệ hạ, nhưng ngài cũng phải đồng ý là bọn họ ghét người Dunmer. Ulaqth có một mối thù sâu đậm, sau khi vùng đất của hắn bị nô dịch bởi Công tước của Mournhold."
Hoàng đế phê chuẩn kế hoạch ấy, và vị Quốc chủ lui đi. Đúng là một điều bất ngờ, Reman nghĩ, lần đầu tiên sau bấy lâu nay, gã Quốc chủ có vẻ như tỏ ra đáng tin cậy. Hắn là một người tài đáng để gần bên.
Ngày 18 tháng First Seed, năm 2920
tại Ald Erfoud, Morrowind.
"Quân Đế chế còn cách bao xa?" Vivec hỏi.
"Hai ngày hành quân, thưa ngài" viên trung úy của anh trả lời. "Nếu như chúng ta hành quân cả đêm, thì sẽ có thể lên chỗ đất cao hơn ở Pyral vào sáng mai. Tin tình báo cho ta biết Hoàng Đế sẽ chỉ huy từ phía rìa, Storig của Farrun sẽ làm tiên phong, Naghea của Riverhold cánh trái và Ulaqth của Lilmoth cánh phải."
"Ulaqth," Vivec thì thầm, một ý tưởng dần xuất hiện. "Tin tình báo này có đáng tin không? Ai mang nó đến cho chúng ta?"
"Một tay gián điệp người Breton trong Quân Đế chế, thưa ngài" Trung úy nói và ra hiệu về phía một người đàn ông trẻ, tóc vàng sậm, người tiến lên phía trước và cúi đầu trước Vivec.
"Tên ngươi là gì và tại sao một Breton lại làm việc cho chúng ta, chống lại người Cyrodiil?" Vivec cười hỏi.
"Tên tôi là Cassyr Whitley của Dwynnen, thưa ngài" người đàn ông trả lời. "Tôi làm việc cho ngài vì không phải ai cũng có thể nói rằng hắn từng làm gián điệp cho một vị thần. Và tôi biết là nó sẽ, chà, sẽ rất là có lợi."
Vivec cười lớn, "Nó sẽ có lợi cho ngươi, nếu như thông tin này là chính xác."
Ngày 19 tháng First Seed, năm 2920
tại Bodrum, Morrowind.
Ngôi làng nhỏ tĩnh lặng của Bodrum trông xuống dòng sông uốn khúc, Pryai. Đó là một địa điểm bình dị, ít cây, nơi mà dòng nước uốn quanh một con dốc ở phía Đông với một cánh đồng hoa dại đẹp đẽ ở phía Tây. Thảm thực vật lạ từ Morrowind gặp thảm thực vật lạ từ Cyrodiil tại biên giới và hòa lẫn với nhau tạo nên một khung cảnh tráng lệ.
"Khi nào xong các ngươi sẽ có thời gian ngủ!"
Những người lính đã phải nghe câu đó cả buổi sáng. Họ đã hành quân cả đêm mà vẫn chưa đủ, giờ họ còn phải chặt cây từ con dốc và đắp đê chặn con sông để nước của nó tràn ra ngoài. Phần nhiều trong số họ đã đạt tới giới hạn, đã quá mệt mỏi để có thể than phiền rằng mình đang mệt mỏi.
"Để thần chắc rằng mình đã hiểu, thưa ngài," Viên Trung úy của Vivec nói. "Chúng ta sẽ giữ con dốc để có thể bắn tên và niệm phép xuống bọn chúng từ trên cao. Đó là lý do tại sao chúng ta phải chặt hết cây. Đắp đê chặn nước sông lại, làm ngập đồng bằng bên dưới để chúng sẽ phải lê bước trong bùn lầy, và bị chậm bước tiến."
"Chính xác một nửa," Vivec nói cách bằng lòng. Anh gọi một người lính đang kéo lê những khúc cây gần đó. "Chờ đã, ta cần cậu bẻ những cành cây thẳng nhất, cứng nhất của những cái cây này và chuốt chúng thành những cây lao. Nếu như cậu gọi thêm khoảng trăm người nữa cùng làm, thì các cậu sẽ chỉ mất tầm vài tiếng để chuốt đủ số chúng ta cần."
Người lính làm theo những gì anh được bảo một cách mệt mỏi. Những người đàn ông và đàn bà cùng bắt tay vào việc, tạo những cây lao từ những cái cây.
"Nếu ngài không phiền cho thần hỏi," Trung úy nói. "Những người lính không cần thêm vũ khí nữa. Họ đã quá mệt để có thể nắm vững những vũ khí họ đang có rồi."
"Những ngọn lao này không phải để cầm trên tay," Vivec nói rồi thì thầm, "Nếu chúng ta làm họ mệt hôm nay, thì họ sẽ có một giấc ngủ ngon vào buổi tối" trước khi anh bắt đầu đi giám sát công việc của bọn họ.
Những mũi lao phải thật bén nhọn là điều thiết yếu, dĩ nhiên, nhưng việc chúng được cân bằng và đẽo theo tỉ lệ cũng quan trọng không kém. Điểm kiên cố hoàn hảo là mũi hình kim tự tháp, không phải mũi hình nón của vài loại thương và giáo. Anh kêu mọi người phóng những ngọn lao mà họ đã hoàn thành để thử độ cứng, độ sắc bén, và sự cân bằng, bắt họ phải tạo cây lao khác nếu cây của họ gãy. Cuối cùng, từ sự kiệt sức hoàn toàn khi làm sai, mọi người học được cách tạo cây lao bằng gỗ hoàn hảo. Một khi họ đã xong, anh cho họ biết chúng sẽ được sắp xếp như thế nào và ở đâu.
Đêm đó, không có đám nhậu nhẹt trước trận chiến nào, và không có tân binh lo lắng nào thức khuya lo lắng cho trận chiến ngày mai. Vừa khi mặt trời lặn sau đồi cây, cả trại quân đều nghỉ ngơi, chỉ trừ những người lính gác.
Ngày 20 tháng First Seed, năm 2920
tại Bodrum, Morrowind.
Miramor đã kiệt sức. Suốt sáu ngày qua, hắn đã cờ bạc và đĩ điếm cả đêm sau đó lại hành quân cả ngày. Hắn đã mong đợi trận chiến, nhưng hơn cả thế, hắn mong đợi được nghỉ ngơi sau đó. Hắn thuộc phần quân của Hoàng đế ở cánh rìa, đó là điều tốt vì không có vẻ gì là hắn sẽ bị giết ở đó. Mặc khác, nó có nghĩa là phải đi trong bùn lầy và chất thải mà đoàn quân đi trước để lại.
Khi họ bắt đầu đi qua cánh đồng hoa dại, Miramor và tất cả những người lính quanh hắn bị lún tới mắt cá trong bùn lầy lạnh lẽo. Đó là cả một vấn đề chỉ để tiếp tục di chuyển. Xa, thật xa ở đằng trước, hắn có thể thấy đội quân tiên phong của quân đoàn, dẫn đầu bởi Lãnh chúa Storig, dần xuất hiện từ đồng cỏ ở chân con dốc.
Đó là lúc tất cả bắt đầu.
Một đội quân Dunmer đột ngột xuất hiện bên trên con dốc như những Daedra đang trồi lên, đổ lửa và những mũi tên như vũ bão xuống đội quân tiên phong.
Cùng lúc ấy, một đoàn người với lá cờ của Công tước Mournhold phi nước đại quanh bờ sông, mất dạng dọc theo phía rìa cạn của con sông, nơi nó tẻ xuống một thung lũng nhỏ nhiều cây ở phía Đông. Tù trưởng Ulaqth ở cánh phải gần đó hét lên tiếng hét đòi sự trả thù ngay khi thấy cảnh tượng ấy rồi ngay lập tức đuổi theo. Nữ hoàng Naghea cho cánh quân của mình tới chỗ con đê ở phía Tây để đánh chặn đội quân trên con dốc.
Hoàng đế không thể nghĩ ra cách gì để đối phó. Lính của ngài đã lún quá sâu để có thể di chuyển nhanh tới trước và tham gia vào trận chiến. Ngài ra lệnh cho họ hướng về phía Đông, phía rừng cây gỗ, đề phòng đoàn quân Mournhold cố vòng qua khu rừng. Bọn họ không xuất hiện, nhưng nhiều người, lo hướng về phía Tây, bỏ lỡ hoàn toàn trận chiến. Còn Miramor thì chăm chú nhìn con dốc.
Một người Dunmer cao ráo, hắn cho rằng chắc hẳn là Vivec, ra hiệu lệnh cho những pháp chiến sư niệm phép lên cái gì đó ở phía Tây. Từ những gì đang diễn ra, Miramor suy đoán đó là một con đập. Một dòng lũ lớn đổ ra, cuốn trôi cánh quân của Naghea vào đám quân tiên phong còn sót lại và đẩy cả hai xuống dòng sông về phía Đông.
Hoàng đế khựng lại một chút, như đang chờ cho đội quân vừa tan rã của mình quay lại, sau đó ra lệnh rút lui. Miramor lẩn trốn giữa những cây cói cho tới khi tất cả bọn họ đã đi hết và rồi lội đi cách yên lặng hết sức mà hắn có thể tới chỗ con dốc.
Đội quân Morrowind cũng đang lui về trại quân của họ. Hắn có thể nghe tiếng họ ăn mừng bên trên khi hắn lén lút đi dọc theo bờ sông. Về phía Đông, hắn thấy đoàn Quân Đế chế. Họ đã bị trôi dạt vào một cái lưới đầy mũi lao giăng ngang con sông, cánh quân bên trái của Naghea rồi quân tiên phong của Storig rồi cánh quân bên phải của Ulaqth, xác của hàng trăm người lính xâu lại với nhau như những hạt cườm trang trí.
Miramor lấy bất cứ thứ gì có giá trị mà hắn có thể mang theo từ những xác chết và rồi chạy xuống dòng sông. Hắn đã phải đi nhiều dặm đường thì dòng nước mới trở nên trong trở lại, không còn bị nhuốm đỏ bởi máu.
Ngày 29 tháng First Seed, năm 2920
tại Hegathe, Hammerfell.
"Cô có một lá thư từ Đế đô," nữ tư tế nói, giao cho Corda cuộn giấy da. Những nữ tu trẻ khác cười và làm bộ kinh ngạc, nhưng sự thật là chị của Corda, Rijja, viết thư cho cô rất thường xuyên, ít nhất một lần mỗi tháng.
Corda mang lá thư tới khu vườn để đọc nó, đó là nơi ưa thích của cô, một ốc đảo nằm giữa thế giới đơn sắc chỉ có màu cát của nhạc viện. Lá thư không có gì bất thường cả: những lời đồn từ pháp viện, tin tức thời trang mới nhất có xu hướng nghiêng về vải lụa màu rượu vang đậm , và những báo cáo về chứng hoang tưởng càng ngày càng nặng của Hoàng đế.
"Em thật may mắn khi tránh xa khỏi tất cả những điều này," Rijja viết. "Hoàng đế tin chắc rằng chiến dịch gần đây thất bại thảm hại là do có gián điệp trong cung điện. Ông ta thậm chí còn tra hỏi cả chị nữa. Cảm tạ thần Ruptga vì em không bao giờ có một cuộc sống 'thú vị' như chị."
Corda lắng nghe âm thanh của sa mạc và cầu nguyện với thần Ruptga điều ước ngược lại với chị của mình.
Năm ấy tiếp tục trong tháng Rain’s Hand.
Ngày 3 tháng Rain's Hand, năm 2920
tại Coldharbour, Oblivion.
Sotha Sil tiến tới trước nhanh hết sức có thể qua những hành lang sơn đen của cung điện, ngập nửa người trong nước lợ. Xung quanh anh, những sinh vật nhớp nháp ghê tởm lẩn trong những cây lau, những ngọn lửa trắng nổ ra soi sáng những bậc thang của hành lang một chút trước khi vụt tắt, và những mùi hương như đang công kích anh, lúc thì mùi hôi tanh của cái chết, lúc thì mùi thơm ngọt ngào của nước hoa. Anh đã nhiều lần tới viếng những Hoàng tử Daedra ở lãnh thổ tại Oblivion của họ, nhưng cứ mỗi lần, lại có một thứ gì đó khác biệt chờ đợi anh.
Anh biết rõ mục đích của mình, và không để bản thân bị phân tâm.
Tám Hoàng tử Daedra nổi tiếng nhất đang chờ đợi anh, trong căn phòng có mái vòm đã bị chảy mất phân nửa. Azura, Hoàng tử của Hoàng hôn và Bình minh; Boethiah, Hoàng tử của những Âm mưu; Hermaeus Mora, Daedra của Tri thức; Hircine, Vị Thần Thợ Săn; Malacath, Vị Thần của những Lời nguyền; Molag Bal, Hoàng tử của Thịnh nộ; Sheogorath, Vị Thần Điên Rồ.
Bên trên họ, bầu trời phủ những bóng đen đầy đau đớn xuống buổi gặp mặt.
Ngày 5 tháng Rain’s Hand, năm 2920
tại Đảo Artaeum, Summurset.
Giọng của Sotha Sil la lên, vọng ra từ cái hang, "Di chuyển tảng đá!"
Ngay lập tức, những môn đồ làm theo, lăn tảng đá cuội to lớn đã chắn lối vào Hang Mơ ngủ sang một bên. Sotha Sil bước ra, mặt của anh nhem nhuốc đầy tro bụi, và mệt mỏi. Anh cảm thấy như mình đã rời đi trong nhiều tháng, nhiều năm, nhưng thực tế chỉ mới vài ngày trôi qua. Lilatha đỡ tay anh để giúp anh bước đi, nhưng anh từ chối sự giúp đỡ của cô bằng một nụ cười thân thiện và cái lắc đầu.
"Ngài đã... thành công chứ?" Cô hỏi.
"Những Hoàng tử Daedra mà ta gặp mặt đã đồng ý với những điều kiện của chúng ta," anh trả lời một cách thẳng thắn. "Những thảm họa như đã xảy ra ở Gilverdale phải được phòng ngừa. Giờ sẽ chỉ có những người trung gian cụ thể, như những phù thủy hoặc pháp sư, mới chấp nhận lời kêu gọi của man và mer."
"Và đổi lại thì ngài đã hứa với họ những gì?" Cậu trai người Nord, Welleg hỏi.
"Những thỏa thuận của chúng ta với Daedra," Sotha Sil vừa nói vừa đi tới điện của Iachesis để gặp Thủ lĩnh của Hội Psijic. "Không nên bàn luận với những người vô can."
Ngày 8 tháng Rain’s Hand, năm 2920
tại Đế Đô, Cyrodiil.
Một cơn bão đang đập vào những ô cửa sổ phòng ngủ của Hoàng tử, mang tới mùi ẩm mốc của không khí, hòa lẫn với mùi từ lư hương và thảo dược.
"Một lá thư được gửi tới từ Hoàng Hậu, mẹ của ngài," người đưa thư nói. "Lo lắng muốn biết tình hình sức khỏe của ngài."
"Ta có những bậc cha mẹ thật đáng sợ!" Hoàng tử Juilek cười lớn trên giường của mình.
"Là một người mẹ, lo lắng cho con mình là điều tự nhiên thôi," Savirien-Chorak, con trai của vị Quốc chủ, nói.
"Mọi chuyện đều không tự nhiên trong gia đình của tôi, anh bạn Akavir à. Người mẹ bị lưu đày của tôi sợ rằng cha tôi sẽ nghĩ tôi là kẻ phản bội, thèm khát vương miện, và đang cho người đầu độc tôi," Hoàng tử nằm xuống lại chiếc gối của mình, tỏ vẻ khó chịu. "Trong khi Hoàng đế thì luôn buộc tôi phải có một kẻ nếm thử cho tất cả các bữa ăn của mình."
"Có rất nhiều âm mưu như vậy," Gã Akavir đồng tình. "Cậu đã bị nằm giường gần ba tuần, với tất cả các trị liệu sư ở Đế chế từng người một tới đây, giống như là một điệu nhảy chậm ở phòng khiêu vũ vậy. Ít ra thì, ai cũng có thể thấy rằng cậu đang dần khỏe hơn."
"Sẽ sớm đủ khỏe để dẫn quân tiên phong đánh bại Morrowind, tôi hy vọng vậy," Juliek nói.
Ngày 11 tháng Rain’s Hand, năm 2920
tại Đảo Artaeum, Summurset.
Những môn đồ đứng trong hàng thật lặng lẽ dọc theo hành lang ngoài bằng gỗ thông, chăm chú xem cái hào dài và sâu, được lót đá cẩm thạch trước mặt họ đang rực lửa. Không khí bên trên nó run lên với những sóng nhiệt tỏa ra. Dù mỗi học trò giữ vẻ mặt của mình thật mạnh mẽ và vô cảm, như cách một thành viên của Psijic nên làm, thì nỗi sợ của họ vẫn có thể được cảm nhận rõ như độ nóng này. Sotha Sil nhắm mắt mình lại và thì thầm câu chú kháng lửa. Chậm rãi, anh băng qua lòng chảo của những ngọn lửa hừng, leo qua bờ bên kia, vô sự. Bộ áo thụng trắng của anh thậm chí còn không bị xém lửa.
"Câu chú được cường hóa bởi năng lượng mà các người cho nó, và bởi kỹ năng của mỗi cá nhân, cũng giống như mọi phép khác," anh giảng giải. "Trí tưởng tượng và ý chí của các người chính là những mấu chốt. Không cần phải có một thứ phép nào ban cho mọi người khả năng kháng không khí, hay kháng những bông hoa; sau khi niệm xong câu chú, các người phải phải quên đi là cần phải có một phép thuật nào đó để ban cho mình khả năng kháng lửa. Đừng hiểu lầm những gì ta đang nói đây: 'kháng lại' không phải là lờ đi ngọn lửa ở thực tại. Mọi người sẽ cảm nhận được tính vật chất của ngọn lửa, kết cấu của nó, cơn đói của nó, và thậm chí nhiệt độ của nó, nhưng mọi người sẽ biết rằng nó sẽ không hại hay gây thương tổn nào cho mình."
Những môn đồ gật đầu và từng người một, niệm phép rồi bước đi qua lửa. Vài người còn tiến xa tới mức cúi người xuống và xúc một nắm lửa đầy lòng bàn tay rồi cho nó thêm không khí, để nó to ra như một bọt nước rồi chảy xuống những ngón tay của họ. Sotha Sil mỉm cười. Bọn họ đang đấu tranh với nỗi sợ hãi của mình một cách đáng ngưỡng mộ.
Vị Tổng Giám thị Thargallith chạy tới từ những bậc thang gỗ thông, "Ngài Sotha Sil! Quý cô Almalexia vừa tới Artaeum. Iachesis bảo tôi đi báo cho ngài biết."
Sotha Sil chỉ mới quay qua Thargallith trong một khắc thôi, nhưng anh biết ngay điều gì đã xảy ra khi nghe tiếng thét. Gã trai trẻ người Nord, Wellig đã không niệm phép đúng cách và đang bốc cháy. Mùi tóc và da thịt đang bị đốt làm những người học trò khác đang cố gắng kéo cậu ta thoát khỏi chảo lửa thêm hoảng loạn, nhưng cái dốc quá nghiêng và quá xa khỏi vị trí ra vào. Với một cái phẩy tay, Sotha Sil dập tắt ngọn lửa.
Wellig và nhiều môn đồ khác bị bỏng, nhưng không quá nặng. Vị Thầy pháp niệm một câu chú chữa thương lên họ, trước khi quay lại chỗ Tharagallith.
"Đợi một chút rồi tôi sẽ đi với ông, hãy để Almalexia và đoàn tùy tùng có thời gian để làm sạch bụi bặm từ chặng đường dài của họ," Sotha Sil quay lại với những học trò, giọng nghiêm nghị. "Sự sợ hãi không phá hủy những câu phép, nhưng sự hoài nghi và bất lực là những kẻ thù lớn đối với người dùng phép. Cậu Welleg, xin hãy gói ghém hành lý của mình. Ta sẽ sắp xếp một con tàu đưa cậu quay về đại lục vào sáng mai."
Người Thầy pháp thấy Almalexia và Iachesis đang ngồi trong thư phòng, uống trà nóng, và cười đùa. Cô ấy xinh đẹp hơn những gì anh nhớ, dù anh cũng chưa bao giờ thấy cô ấy luộm thuộm như vầy, quấn mình trong chăn, hơ mái tóc ẩm ướt của mình lủng lẳng trước lửa cho khô. Khi thấy Sotha Sil lại gần, cô nhảy tới và ôm chầm lấy anh.
"Cô đã bơi cả quãng đường từ Morrowind đấy à?" Anh cười.
"Trời mưa như trút từ Skywatch xuống tới tận bờ biển," cô giải thích, đáp lại nụ cười của anh.
"Chỉ cách nhau khoảng một dặm rưỡi, và không bao giờ có mưa ở đây," Iachesis tỏ vẻ tự hào. "Dĩ nhiên, ta đôi lúc cũng nhớ sự sôi động của Summerset, và đôi khi là cả đại lục nữa. Tất nhiên, ta luôn rất ngưỡng mộ bất cứ ai đạt được thành tựu ngoài đó. Đó là cả một thế giới đầy sự xao lãng. Nhắc tới xao lãng, có phải đang có một cuộc chiến ngoài đó không?"
"Ý ngài là thứ đã nhuốm máu cả lục địa trong suốt tám mươi năm qua ấy hả, Giáo sư?" Sotha Sil tỏ vẻ thích thú.
"Ta cho là vậy," Iachesis nhún vai. "Thế cuộc chiến đó sao rồi?"
"Chúng tôi sẽ thua, trừ khi tôi có thể thuyết phục Sotha Sil rời Artaeum," Almalexia nói, nụ cười của cô biến mất. Cô đã định đợi và nói chuyện riêng với bạn của mình, nhưng gã Altmer già này đã cho cô động lực để nói tiếp. "Tôi đã thấy những viễn cảnh; Tôi biết nó sẽ thành hiện thực."
Sotha Sil yên lặng trong giây lát, rồi nhìn Iachesis, "Tôi phải quay về Morrowind."
"Đó mới là cậu, nếu phải làm chuyện gì, cậu sẽ làm tới cùng," Giáo sư già thở dài. "Cách vận hành của những Psijic là không để bị xao lãng. Những cuộc chiến tranh nổ ra, những đế chế nổi lên rồi tàn lụi. Cậu phải đi, và chúng ta cũng vậy."
"Ý ngài là sao, ngài Iachesis? Ngài định rời hòn đảo sao?"
"Không, hòn đảo sẽ rời khỏi vùng biển này," Iachesis nói, giọng của ông chút mơ màng. "Trong một vài năm nữa, màn sương sẽ di chuyển tới Artaeum và chúng ta sẽ biến mất. Chúng ta được chỉ dẫn và cố vấn bởi tự nhiên, và đã có quá nhiều người cố vấn ở Tamriel rồi. Không, chúng ta sẽ rời đi, và chỉ quay lại khi vùng đất cần tới chúng ta một lần nữa, có lẽ vào một thời kỳ khác."
Gã Altmer già cố gắng đứng dậy, và uống ngụm trà cuối cùng trước khi để Sotha Sil và Almalexia ở lại một mình: "Đừng bỏ lỡ chuyến tàu cuối cùng."
Năm ấy tiếp tục trong 2920 tháng Second Seed.
Ngày 5 tháng Second Seed, năm 2920
tại Đế đô, Cyrodiil.
“Hoàng Đế bệ hạ,” Quốc chủ Versidue-Shaie mở cửa phòng của hắn với một nụ cười. “Dạo này tôi không thấy ngài. Tôi đã nghĩ có lẽ ngài đã… làm mếch lòng quý cô Rijja đáng yêu.”
“Nàng ấy đang tắm ở Mir Corrp,” Hoàng đế Reman đệ Tam buồn bã trả lời.
“Xin mời ngài vào.”
“Giờ đây ta chỉ còn có thể tin tưởng ba người: cậu, con trai ta Hoàng tử, và Rijja,” Hoàng đế cáu kỉnh. “Cả hội đồng nguyên lão là một lũ gián điệp.”
“Có vấn đề gì vậy, thưa Hoàng Đế bệ hạ?” Quốc chủ Versidue-Shaie tỏ vẻ đồng cảm, và đóng tấm rèm bằng vải dày của căn phòng lại. Ngay lập tức, mọi âm thanh bên ngoài căn phòng bị dập tắt, tiếng bước chân vang vọng trong những hành lang cẩm thạch và tiếng chim trong khu vườn mùa xuân. “Ta đã phát hiện ra rằng một ả tù nhân khét tiếng, thuộc bộ lạc Orma từ Black Marsh có tên Catchica, đã ở cùng quân đoàn tại Caer Suvio đương lúc chúng ta đóng trại ở đó, khi mà con trai ta bị trúng độc ngay trước trận Bodrum. Ta chắc rằng ả đã muốn giết ta, nhưng cơ hội không đến,” vị Hoàng đế nổi giận. “Hội đồng nguyên lão đề nghị chúng ta đưa ra bằng chứng về sự dính líu của ả trước khi truy tố.”
“Dĩ nhiên bọn họ sẽ làm vậy rồi,” vị Quốc chủ nói. “Đặc biệt là nếu một hay nhiều người trong số họ có dính líu tới âm mưu này. Tôi vừa một ý tưởng, thưa bệ hạ.”
“Sao?” Reman lộ rõ sự hấp tấp. “Nói luôn đi!”
“Hãy nói với hội đồng rằng ngài từ bỏ vụ này, sau đó tôi sẽ phái cận vệ đi truy tìm và theo dấu ả Catchica này. Chúng ta sẽ biết được đồng bọn của ả là những ai, và có lẽ sẽ nắm được cả mục đích của âm mưu hiểm độc này.”
“Được,” Reman nhíu mày đầy thỏa mãn. “Đó là kế hoạch chính. Chúng ta sẽ truy âm mưu này tới bất cứ kẻ nào mà nó dẫn tới.”
“Quyết định như vậy đi, thưa Hoàng Đế bệ hạ,” vị Quốc chủ cười, mở tấm màn ra để Hoàng đế có thể rời đi. Bên ngoài hành lang là con trai của Quốc chủ, Savirien-Chorak. Chàng trai cúi chào Hoàng đế trước khi vào phòng của Quốc chủ.
“Cha gặp rắc rối gì sao?” Gã trai Akavir thì thầm. “Con nghe được rằng Hoàng đế đã tìm ra tên của kẻ hạ độc.”
“Con trai bé bỏng của ta, nghệ thuật trong giao tiếp,” Versidue-Shaie nói với con trai mình. “Là nói cho bọn họ nghe điều họ muốn, theo cái cách mà, khiến cho họ làm điều mà con muốn bọn họ làm. Ta cần con giao một lá thư cho Catchica, và chắc chắn rằng bà ta hiểu được, nếu bà ta không theo những chỉ dẫn này một cách hoàn hảo, thì bà ta đang mạo hiểm tính mạng của chính mình nhiều hơn chúng ta.”
Ngày 13 tháng Second Seed, 2920
tại Mir Corrup, Cyrodiil.
Rijja đắm mình trong suối nước nóng sang trọng đang sủi bọt, cảm nhận được làn da râm ran như đang được chà bởi hàng triệu viên đá tí hon. Phần mỏm đá nhô ra bên trên che chắn cho nàng khỏi cơn mưa lất phất, nhưng vẫn hứng trọn những tia nắng, chiếu thành từng lớp xuyên qua những tán cây. Đó là một giây phút bình dị trong một cuộc sống bình dị, và nàng biết rằng vẻ đẹp của mình sẽ được hồi phục hoàn toàn sau khi tắm. Thứ duy nhất nàng cần là uống nước. Bể tắm này có hương thơm tuyệt hảo, nhưng vẫn có vị phấn vôi.
“Nước!” nàng gọi người hầu của mình. “Mang nước cho ta!”
Một phụ nữ hốc hác với những tấm vải buộc quanh mắt mình chạy tới bên nàng và dâng lên một bầu da chứa nước. Rijja như chuẩn bị cười vì sự thẹn thùng của người bà hầu nữ -- trong khi bản thân nàng còn không hề thấy xấu hổ bởi cơ thể trần truồng của mình -- nhưng rồi nàng nhận ra, qua khe hở của những tấm vải, rằng người đàn bà này không có con mắt nào cả. Bà ta giống như một trong những người thuộc bộ lạc Orma mà Rijja từng nghe nhưng chưa bao giờ gặp mặt. Sinh ra thiếu đôi mắt, họ đã thuần thục và làm chủ những giác quan còn lại của mình. Vị Lãnh chúa của Mir Corrup thường thuê những đầy tớ kì lạ, nàng tự nghĩ.
Trong một khắc, người phụ nữ đã đi mất và bị lãng quên. Rijja nhận ra thật khó để tập trung vào bất cứ điều gì ngoài mặt trời và mặt nước. Nàng mở nút bầu da ra, nhưng chất lỏng bên trong có một mùi kim loại kỳ lạ. Bất chợt, nàng nhận ra rằng mình không đơn độc.
“Thưa quý cô Rijja,” Đội trưởng đội Cận vệ Hoàng Tộc lên tiếng. “Theo như như tôi thấy, thì cô có quen biết với ả Catchica đó?”
“Ta chưa bao giờ nghe tới cái tên đó,” Rijja lắp bắp trước khi trở nên phẫn nộ. “Các ngươi đang làm gì ở đây? Thân thể này không phải để cho mắt các người nhìn trộm.”
“Chưa từng nghe về bà ta ư, nhưng chúng tôi đã thấy ả ở với cô mới chỉ mấy phút trước thôi,” đội trưởng nói, nhặt bầu da dê lên và ngửi nó. “Mang cho cô neivous ichor, phải không? Để đầu độc Hoàng đế?”
“Đội trưởng,” một trong những cận vệ nói, chạy tới chỗ gã thật nhanh. “Chúng tôi không thể tìm ra ả Argonian. Cứ như ả đã biến mất vào trong rừng vậy.”
“Đúng, bọn chúng rất giỏi khoản đó,” đội trưởng nói. “Nhưng không sao cả. Chúng ta đã tóm được đồng phạm của ả. Điều này sẽ đủ để vừa lòng bệ hạ. Bắt lấy cô ta.”
Khi những cận vệ lôi cô gái trần truồng đang quằn quại lên từ bể nước, nàng gào thét, “Ta vô tội! Ta không biết chuyện này là sao, nhưng ta chẳng làm gì cả! Hoàng đế sẽ lấy đầu các ngươi vì hành động này!”
“Đúng, ta nghĩ rằng ngài sẽ làm vậy,” đội trưởng mỉm cười. “Nếu ngài còn tin cô.”
Ngày 21 tháng Second Seed, năm 2920
tại Gideon, Black Mash.
Quán rượu Sow and Vulture là một trong những nơi đặc biệt mà Zuuk thích chọn cho những cuộc gặp như vầy. Ngoài ông ta và người đồng hành ra, chỉ có vài thủy thủ già trong căn phòng tối, và họ thì có vẻ đang bất tỉnh vì rượu chứ không hề để ý. Sự nhầy nhụa của sàn nhà chưa được lau chùi là thứ có thể cảm thấy rõ hơn là trông thấy. Những đám bụi lơ lửng bất động trong những tia sáng thưa thớt của mặt trời sắp tàn.
“Ngươi có kinh nghiệm trong những trận đánh lớn chứ?” Zuuk hỏi. “Phần thưởng cho nhiệm vụ lần này rất hời, nhưng rủi ro cũng không kém.”
“Dĩ nhiên là tôi có kinh nghiệm chiến đấu,” Miramor ngạo nghễ trả lời. “Tôi đã từng ở Trận Bodrum chỉ hai tháng trước đây thôi. Nếu ông làm tốt phần của ông, khiến cho Hoàng đế đi qua Khe Dosza (Dosza Pass) với lượng quân hộ tống tối thiểu đúng ngày và giờ đã được bàn bạc trước, thì tôi sẽ hoàn thành phần của mình. Chỉ cần chắc rằng hắn không ngụy trang khi vi hành thôi. Tôi sẽ không tàn sát bất kì đoàn lữ hành nào đi qua, và hy vọng một trong số họ là Hoàng đế Reman đâu.”
Zuuk mỉm cười, và Miramor như thấy ảnh phản chiếu của bản thân hắn trong khuôn mặt của người đàn ông tộc Kothringi kia. Hắn thích ánh nhìn của kẻ đối diện: đầy sự tự tin và chuyên nghiệp.
“Thỏa thuận vậy đi,” Zuuk nói. “Và ngươi sẽ có số vàng còn lại sau.”
Zuuk đặt một rương lớn lên chiếc bàn ở giữa họ và đứng lên.
“Hãy đợi thêm vài phút rồi hẵng rời đi,” Zuuk nói. “Ta không muốn ngươi theo đuôi. Chủ thuê ngươi muốn giữ bí mật về danh tính của mình, đề phòng trường hợp ngươi bị bắt và tra tấn.”
“Tốt thôi,” Miramor trả lời và gọi thêm rượu.
Zuuk nhảy lên thú cưỡi của mình, và băng qua những con phố chật hẹp ngoằn ngèo như mê cung của thành phố Gideon, cả ông lẫn con ngựa của mình đều vui mừng khi vượt qua những cánh cổng của vùng nông thôn. Con đường dẫn tới Lâu đài Giovese đã bị ngập giống như mọi năm vào mùa nước lớn, nhưng Zuuk biết một con đường tắt qua những con đồi. Chạy nhanh dưới những tán cây đầy rêu phong đang rủ xuống và trên những phiến đá trơn trượt đầy nguy hiểm, ông có mặt ở cổng lâu đài sau hai tiếng. Không bỏ phí giây nào, ông ngay lập tức leo lên phòng của Hoàng Hậu Tavia ở đỉnh của tòa tháp cao nhất.
“Ngươi thấy hắn ta thế nào?” Hoàng hậu hỏi.
“Hắn là một tên đần,” Zuuk trả lời. “Nhưng đó chính là thứ chúng ta cần cho những phi vụ kiểu này.”
Ngày 30 tháng Second Seed, năm 2920
tại Pháo đài Thurzo, Cyrodiil.
Rijja gào thét, gào thét rồi lại gào thét. Bên trong phòng giam, thính giả duy nhất của nàng là những tảng đá màu xám khổng lồ, bám đầy rêu nhưng vẫn rất chắc chắn. Đám lính canh bên ngoài giả điếc với nàng cũng như với những tù nhân khác. Hoàng đế, xa cách vạn dặm ở Đế đô, hẳn là cũng đã giả điếc trước tiếng gào khóc vô tội của nàng.
Nàng vẫn gào thét, dù biết rõ rằng sẽ không còn ai nghe được tiếng nàng nữa.
Ngày 31 tháng Second Seed, năm 2920
tại Khe Kavas Rim (Kavas Rim Pass), Cyrodiil.
Đã nhiều ngày, có khi là nhiều tuần trôi qua, kể từ lần cuối Turala được thấy khuôn mặt của một ai đó, người Cyrodiil hay Dunmer. Khi đang rảo bước trên đường, nàng chợt tự nghĩ rằng thật lạ làm sao khi một nơi không thể sinh sống được như Cyrodiil lại có thể trở thành cái nôi Đế chế, là ngai vàng của một Hoàng đế. Ngay cả dân Bosmer ở Valenwood hẳn phải có nhiều người sinh sống hơn là rừng cây Heartland này.
Nàng nghĩ lại. Liệu có phải một hay hai tháng trước là lúc nàng đã vượt qua biên giới từ Morrowind vào Cyrodiil? Lúc đó trời lạnh hơn nhiều, nhưng ngoài điều đó ra, nàng không có chút cảm giác gì về thời gian cả. Những lính gác đã tỏ ra cộc cằn, nhưng khi thấy nàng không hề mang vũ khí, họ đã để nàng qua. Từ lúc ấy, nàng đã thấy vài đoàn lữ hành, thậm chí ăn chung bữa với vài thám hiểm gia cắm trại qua đêm, nhưng không gặp được ai cho nàng đi nhờ tới một thị trấn nào.
Turala lột bỏ chiếc khăn choàng cổ của mình rồi kéo lê nó phía sau. Trong một khắc, nàng đã nghĩ rằng mình nghe thấy tiếng ai đó đằng sau và quay lại xem. Không một ai ở đó cả. Chỉ có một con chim đậu trên cành cây tạo ra âm thanh như tiếng cười.
Nàng bước tiếp, và rồi dừng lại. Điều gì đó đang xảy ra. Đứa trẻ đã đá trong bụng nàng được nhiều lần rồi, nhưng cơn co thắt này lại khác. Nàng rên rỉ, rồi loạng choạng tấp vào lề đường, ngã xuống bãi cỏ. Đứa con của nàng đang ra đời.
Nàng nằm ngửa ra rồi bắt đầu rặn, nhưng khó có thể thấy được gì trong nước mắt đau đớn của mình và sự bực bội. Sao nó đến nông nỗi này? Sinh con ở một nơi hoang vắng, chỉ có một mình nàng, với đứa trẻ là con của tên Công tước Mournhold? Tiếng gào thét của phẫn nộ và quằn quại của nàng dọa cả những con chim trên những cành cây bay đi mất.
Con chim đã cười nàng lúc nãy bay xuống con đường. Nàng chớp mắt, và con chim biến mất, thay vào đó là một gã elf trần chuồng đang đứng sừng sững, không có màu da tối như Dunmer, nhưng cũng không nhợt nhạt như Altmer. Nàng biết ngay đó là một Ayleid, một Elf Hoang Dã (Wild Elf). Turala hét lên đau đớn nhưng người đàn ông ghì nàng xuống. Sau một vài phút vật vã, nàng cảm thấy một sự giải phóng, và rồi lịm đi.
Nàng giật mình tỉnh dậy, do tiếng khóc của một đứa trẻ. Đứa bé đã được rửa sạch và đang nằm kế bên nàng. Turala bồng đứa con gái bé bỏng của nàng lên, và lần đầu tiên trong năm ấy, cảm nhận được những giọt nước mắt hạnh phúc chảy xuống mặt nàng. Nàng thì thầm với những cái cây, “Cảm ơn” và bắt đầu bước đi, với đứa trẻ trong tay mình, xuống con đường đi về phía Tây.
Năm ấy tiếp tục vào tháng Mid Year.
Ngày 2 tháng Mid Year, 2920
tại Balmora, Morrowind.
“Quân Đế chế đã tập kết ở phía Nam, thưa ngài” Cassyr nói. “Bọn chúng còn cách Ald Iuval và Hồ Coronati hai tuần hành quân, và toàn bộ được trang bị giáp hạng nặng.”
Vivec gật đầu. Cả thành phố Ald Iuval lẫn thành phố Ald Marak phía bên kia hồ đều là những pháo đài ở vị trí chiến lược quan trọng. Anh đã suy tính tới nước đi để chống lại chúng được một thời gian rồi. Viên đội trưởng của anh kéo ra một bản đồ địa hình vùng Tây Nam Morrowind từ trong tường rồi vuốt cho nó thẳng ra, giữ phẳng nó trước những cơn gió biển nhẹ nhàng thổi vào từ ngoài cửa sổ.
“Cậu nói rằng chúng được trang bị giáp hạng nặng?” Đội trưởng hỏi.
“Vâng, thưa ngài,” Cassyr nói. “Bọn chúng đã được lệnh cắm trại gần Bethal Gray bên trong Heartland, và tôi không thấy gì ngoài Ebony, Dwavern, và Daedric, kho vũ khí chất lượng, và những thiết bị công thành cỡ lớn.”
“Còn về những pháp sư và tàu thuyền?” Vivec hỏi.
“Có một nhóm pháp chiến sư,” Cassyr trả lời. “Nhưng không hề có tàu thuyền.”
“Được trang bị nặng nề như vậy, chúng sẽ mất ít nhất hai tuần, như ngươi nói, để có thể di chuyển từ Bethal Gray tới Hồ Coronati,” Vivec nghiên cứu bản đồ cách cẩn thận. “Chúng sẽ bị kéo xuống những bãi lầy nếu chúng cố vòng lại đế tới Ald Marak từ phía Bắc, vậy nên có lẽ chúng đang lên kế hoạch vượt qua những eo hồ ở đây, đánh chiếm Ald Iuval. Rồi sau đó sẽ tiếp tục đi vòng qua hồ tới phía Đông và chiếm Ald Marak từ phía Nam.”
“Chúng sẽ rất dễ bị phục kích ở dọc eo hồ,” Đội trưởng nói. “Nếu như chúng ta tấn công vào lúc chúng đã qua được hơn nửa đường, thì chúng sẽ không thể rút quân về Heartland được nữa.”
“Sự thông minh của cậu, một lần nữa, đã giúp chúng ta rất nhiều,” Vivec nói, mỉm cười với Cassyr. “Chúng ta sẽ đánh lui bọn Đế chế xâm lược một lần nữa.”
Ngày 3 tháng Mid Year, 2920 ở Bethal Gray, Cyrodiil.
“Liệu ngài có quay lại theo đường này sau khi chiến thắng không?” Lãnh chúa Bethal hỏi.
Hoàng tử Juilek khó mà chú ý tới người đàn ông đó. Chàng đang tập trung vào đội quân đang thu dọn trại. Đó là một buổi sáng mát mẻ trong khu rừng, nhưng không hề có mây. Tất cả điều đó làm nên một buổi hành quân nóng nực vào buổi chiều, đặc biệt là trong những bộ giáp hạng nặng.
“Nếu chúng ta quay về sớm, thì sẽ là do bại trận,” Hoàng tử nói. Chàng có thể thấy ở dưới bãi cỏ, vị Quốc chủ Varsidue-Shaie đang thanh toán với quản gia của Lãnh chúa khoản phí cho thức ăn, rượu, và kỹ nữ từ ngôi làng. Một đội quân chắc chắn là một thứ rất tốn kém.
“Thưa Hoàng tử,” Lãnh chúa Bethal nói với sự lo lắng. “Đội quân của ngài đang bắt đầu hành quân về phía Đông phải không? Nó sẽ chỉ đưa ngài tới bờ của Hồ Coranati. Ngài sẽ muốn đi về hướng Đông Nam để tới những eo hồ.”
“Ông chỉ cần chắc rằng những tay buôn của ông nhận được phần vàng của họ,” Hoàng tử nhếch miệng cười. “Để ta tự lo về hướng đi cho đội quân của mình.”
Ngày 16 tháng Mid Year, năm 2920
tại Hồ Coronati, Morrowind.
Vivec chăm chú nhìn, dọc qua khoảng xanh rộng lớn của hồ, nhìn thấy cả hình ảnh phản chiếu của anh và đội quân của mình trong làn nước xanh mát lạnh. Thứ mà anh đã không thấy được chính là hình ảnh phản chiếu của Quân Đế chế. Chúng đáng ra đã phải tới những eo hồ rồi chứ, trừ khi gặp tai nạn ở trong rừng. Những cái cây cao, gầy hình lông vũ che mất phần nhiều tầm nhìn của anh tới eo hồ, nhưng một đội quân, đặc biệt là một toán người di chuyển chậm chạp trong giáp hạng nặng không thể nào di chuyển một cách vô hình và im lặng như vậy được.
“Cho ta xem bản đồ lần nữa,” anh gọi viên Đội trưởng của mình. “Ngươi có chắc là không còn đường nào khác mà chúng có thể chọn không?”
“Chúng ta có cả lính canh trong những đầm lầy phía Bắc để phòng khi chúng đần tới nỗi đi đến đó và bị sa lầy bên dưới,” Đội trưởng nói. “Nhưng nếu như vậy thì chúng ta đã phải nghe được tin báo rồi. Và ngoài ra không còn cách nào khác để băng qua ngoài những eo hồ.”
Vivec nhìn xuống lần nữa ảnh phản chiếu của mình trên mặt nước, nó có vẻ như đang nhiễu loạn, và có mỉa mai anh. Rồi anh nhìn lại tấm bản đồ.
“Tên gián điệp,” Vivec gọi Cassyr lại. “Khi ngươi nói đội quân đó có một toán pháp chiến sư, điều gì khiến ngươi chắc chắn chúng là pháp chiến sư?”
“Bọn chúng mặc áo thụng xám với dấu hiệu thần bí trên nó,” Cassyr giải thích. “Tôi đã nghĩ rằng chúng là pháp chiến sư, và còn lý do nào khác khi có một số lượng lớn những kẻ như vậy đi chung với một đội quân? Chúng không thể là trị liệu sư được.”
“Tên đần độn!” Vivec gào lên. “Chúng là nhóm pháp sư theo học hệ phép Alteration. Chúng đã niệm phép giúp toàn bộ đội quân có thể thở dưới nước.”
Vivec chạy tới một điểm quan sát khác nơi anh có thể thấy cả phía Bắc. Phía bên kia hồ, dù nó chỉ là một cái bóng nhỏ nằm trên đường chân trời, họ có thể thấy những đốm lửa từ cuộc đột kích lên Ald Marak. Vivec rống lên đầy phẫn nộ và viên đội trưởng của anh bắt tay ngay vào việc điều hướng quân đoàn đi vòng qua hồ về phòng thủ lâu đài.
“Quay về Dwynnen ngay,” Vivec nói thẳng với Cassyr trước khi anh rời đi. “Ta không còn cần hay muốn sự phục vụ của nhà ngươi nữa.”
Đã quá muộn khi đội quân Morrowind tới gần Ald Marak. Nó đã bị chiếm đóng bởi Quân Đế Chế.
Ngày 19 tháng Mid Year, 2920 ở Đế đô, Cyrodiil.
Vị Quốc chủ có mặt ở Đế đô sau một hồi kèn giới thiệu lớn, những con phố chứa đầy người, đàn ông và phụ nữ, tung hô gã như biểu tượng của chiến thắng Ald Marak. Sự thật là, có thể đã có một đám đông còn lớn hơn nữa nếu như chính Hoàng tử trở về, và bản thân Versidue-Shaie cũng biết rõ điều đó. Tuy nhiên, hắn vẫn hài lòng vô cùng. Trước đây chưa bao giờ có chuyện những công dân Tamirel tung hô vui mừng trước sự hiện diện của một người Akavir trong đất của họ.
Hoàng đế Reman đệ Tam chào đón hắn với cái ôm nồng ấm, rồi nhanh chóng nhận lấy bức thư gã mang về từ Hoàng tử.
“Ta không hiểu,” Hoàng Đế lên tiếng, đầy sự vui sướng nhưng cũng đầy sự bối rối. “Các cậu đã đi dưới lòng hồ sao?”
“Ald Marak là một pháo đài rất kiên cố,” vị Quốc chủ giải thích. “Và tôi cũng phải nói thêm, quân đội Morrowind đã biết từ trước rồi, nên bọn chúng đều chờ ở bên ngoài. Để chiếm lấy nó, chúng ta phải tấn công bất ngờ với những binh sĩ được trang bị những bộ giáp chắc chắn nhất. Bằng cách niệm một thần chú cho phép toàn quân thở dưới nước, chúng ta đã có thể di chuyển nhanh hơn những gì Vivec dự đoán, sức nặng của bộ giáp bị giảm bớt đi bởi môi trường nước xung quanh, và rồi tấn công vào phía Tây được bao phủ bởi nước của pháo đài, nơi mà tuyến phòng thủ của chúng yếu nhất.”
“Xuất sắc!” Hoàng đế thốt lên. “Cậu là một nhà chiến lược tuyệt vời, Versidue-Shaie! Nếu như cha ông của cậu giỏi như cậu, Tamriel có lẽ đã thuộc lãnh thổ Akavir rồi!”
Vị Quốc chủ đã không định cướp công kế hoạch của Hoàng tử Juilek, nhưng vì Hoàng đế nhắc lại về cuộc xâm lược thất bại hoàn toàn hai trăm mười sáu năm trước của dân tộc gã, nên hắn đã quyết định vậy. Hắn nở một cười khiêm tốn rồi hưởng hết sự khen ngợi.
Ngày 21 tháng Mid Year, 2920 ở Ald Marak, Morrowind.
Savirien-Chorak trườn tới tường thành và quan sát qua cái khe tháp canh, quân đội Morrowind đang rút lui về cánh rừng giữa đầm lầy và lâu đài. Trông có vẻ như là thời điểm thích hợp để tấn công. Có lẽ khu rừng có thể bị thiêu rụi chung với đội quân bên trong nó. Có lẽ với Vivec nằm trong tay kẻ thù của bọn chúng, đội quân ấy sẽ cho bọn họ lấy luôn Ald Iuval. Gã trình bày những ý tưởng này cho Hoàng tử.
“Điều mà cậu dường như đã quên,” Hoàng tử Juilek cười. “Tôi đã hứa rằng không tổn thương quân đội hay những thủ lĩnh của họ trong suốt cuộc thương lượng này. Bộ các cậu không có danh dự trong chiến tranh ở Akavir sao?”
“Thưa Hoàng tử, tôi được sinh ra ở đây tại Tamriel, tôi chưa từng ở quê hương của mình,” Gã người rắn trả lời. “Nhưng cho dù vậy, cách thức hành động của cậu vẫn lạ lẫm đối với tôi. Cậu đã không mong chờ sự khoan nhượng nào và tôi cũng đã không hề khoan nhượng với cậu khi chúng ta giao đấu ở Đấu trường Đế chế năm tháng trước.”
“Nó chỉ là một trò giải trí thôi,” Hoàng tử trả lời, trước khi gật đầu với cố vấn của mình để mời vị tướng lĩnh Dunmer vào.
Juilek chưa từng gặp Vivec trước đây, nhưng chàng từng nghe rằng hắn ta là một vị thánh sống. Nhưng những gì anh thấy trước mắt mình chỉ là một người thường. Một người lực lưỡng, đẹp trai với khuôn mặt thông thái, nhưng cũng chỉ là người thường không hơn không kém. Vị Hoàng tử hài lòng: một người đàn ông chàng có thể trao đổi với, chứ không phải một vị thần.
“Xin chào, đối thủ xứng tầm của ta,” Vivec chào hỏi. “Có vẻ như cả hai ta đều đang rơi vào bế tắc.”
“Không cần thiết phải vậy,” Hoàng tử nói. “Các người không muốn nhường Morrowind cho chúng tôi, tôi không thể trách được. Nhưng chúng tôi cần có bờ biển để bảo vệ Đế chế khỏi quân thù từ phía biển, và một số lâu đài chiến lược dọc biên giới, như lâu đài này, cũng như Ald Umbeil, Tel Aruhn, Ald Lambasi, và Tel Mothrivra.”
“Và đổi lại?” Vivec hỏi.
“Đổi lại sao?” Savirien-Chorak cười phá lên. “Ngươi quên rằng chúng ta mới là kẻ chiến thắng, không phải các ngươi hả.”
“Đổi lại,” Hoàng tử Juilek trả lời đầy cẩn trọng. “Sẽ không có cuộc tấn công nào của Đế chế lên Morrowind, trừ khi để đáp trả một cuộc tấn công từ các người. Các người cũng sẽ được bảo vệ khỏi bọn xâm lược bởi Thủy quân Đế chế. Và vùng đất của các người có thể mở rộng bằng cách chiếm lấy một số địa phận của Black Marsh, tùy ý các người chọn, miễn là chúng không được Đế chế cần tới.
“Một đề nghị hợp lý,” Vivec nói sau một hồi yên lặng. “Cậu phải thứ lỗi cho ta, ta không quen với việc những người Cyrodiil cho ra những thỏa thuận để đổi lại cho những gì họ lấy. Ta có thể có vài ngày để quyết định được không?”
“Chúng ta sẽ gặp lại trong vòng một tuần,” Hoàng tử mỉm cười. “Trong lúc đó, nếu quân đội của ngài không khiêu khích, thì chúng ta vẫn sẽ hòa bình.”
Vivec rời phòng của Hoàng tử, cảm thấy rằng Almalexia đã đúng. Cuộc chiến đã tới hồi kết. Hoàng tử này sẽ thành một Hoàng đế tuyệt vời.
Năm ấy tiếp tục trong tháng Sun’s Height.
Ngày 4 tháng Sun’s Height, năm 2920
tại Đế đô, Cyrodiil.
Hoàng đế Reman đệ Tam và Quốc chủ của mình, Versidue-Shaie đi dạo quanh Khu vườn Hoàng Tộc. Được trang trí với những pho tượng và đài phun nước tuyệt đẹp, khu vườn phía Bắc rất hợp tâm trạng của Hoàng đế, và cũng là khu vực mát mẻ nhất Đô thành trong suốt những ngày hè. Những lớp hoa nghiêm trang màu xám xanh và lục xếp tầng lên nhau xung quanh đương khi họ bước qua.
“Vivec đã đồng ý với những điều kiện của Hoàng tử để đổi lấy hòa bình,” Reman nói. “Con trai ta sẽ quay về trong vòng hai tuần.”
“Đây là một tin tuyệt vời,” vị Quốc chủ cẩn trọng trả lời. “Tôi hy vọng bọn người Dunmer sẽ tôn trọng những điều kiện ấy. Chúng ta đã có thể đòi hỏi thêm. Pháo đài Black Gate chẳng hạn. Nhưng tôi cho rằng Hoàng tử biết thế nào là hợp lý. Cậu ta sẽ không làm tổn hại tới Đế chế chỉ vì hòa bình đâu.”
“Gần đây ta đã suy nghĩ về Rijja và lý do gì khiến nàng ấy rắp tâm ta,” Hoàng đế nói, khựng lại để tán dương pho tượng của Nữ hoàng nô lệ Alessia trước khi tiếp tục. “Điều duy nhất mà ta có thể nghĩ đến đó là nàng ấy ngưỡng mộ con trai ta quá nhiều. Nàng ấy có thể đã yêu ta vì quyền lực và nhân cách, nhưng nó, dù gì cũng còn trẻ và đẹp trai, hơn nữa một ngày nào đó sẽ thừa kế ngôi vị của ta. Nàng ấy có thể đã nghĩ rằng nếu ta chết, nàng có thể có một vị Hoàng đế sở hữu cả tuổi trẻ và quyền lực.”
“Hoàng tử… liệu có tham gia vào âm mưu này không?” Versidue-Shaie hỏi. Đó là một trò chơi khó, dự đoán chứng hoang tưởng của Hoàng đế sẽ đánh vào đâu tiếp theo.
“Ô, ta không nghĩ vậy đâu,” Reman mỉm cười. “Không, con trai ta rất yêu quý ta.”
“Ngài có biết Corda, em gái của Rijja, đang là một thực tập ở nhạc viện Morwha ở Hegathe không?” gã Quốc chủ hỏi.
“Morwha?” Hoàng để hỏi. “Ta quên mất rồi: đó là vị thần nào vậy?”
“Nữ thần Sắc dục và Sinh sản của người Yokudan,” Quốc trưởng trả lời. “Nhưng không quá sắc dục như Dibella. Đoan trang, nhưng rất gợi dục.”
“Ta đã chán phụ nữ sắc dục rồi. Hoàng hậu, rồi Rijja, tất cả đều quá ham muốn, sự thèm khát tình yêu dẫn đến sự thèm khát quyền lực,” Hoàng đế nhún vai. “Nhưng một nữ tu thực tập với suy nghĩ lành mạnh nghe có vẻ lý tưởng. Bây giờ thì, cậu mới nói gì về Black Gate nhỉ?”
Ngày 6 tháng Sun’s Height, năm 2920
tại Pháo đài Thurzo, Cyrodiil.
Rijja đứng yên lặng chăm nhìn sàn nhà bằng đá lạnh lẽo trong khi Hoàng đế nói. Ngài chưa bao giờ thấy nàng ấy nhợt nhạt và buồn bã đến thế. Nàng ít nhất phải thấy hài lòng khi mình được thả, được trả về với quê hương. Chà, nếu như nàng rời đi ngay bây giờ, nàng có thể tới Hammerfell vào đúng ngày Lễ hội của Thương nhân. Không lời nào ngài nói ra có vẻ là làm nàng phản ứng cả. Một tháng rưỡi ở trong Pháo đài Thurzo dường như đã giết chết tinh thần của nàng.
“Ta đã nghĩ,” Hoàng đế nói. “Nên mời em gái của nàng, Corda, tới cung điện một khoảng thời gian. Ta nghĩ nàng ấy sẽ thích ở đây hơn là nhạc viện ở Hegather, nàng có nghĩ vậy không?”
Cuối cùng nàng cũng có phản ứng. Rijja nhìn Hoàng đế với lòng căm thù của thú vật, quăng mình vào hắn với cơn thịnh nộ. Móng tay nàng đã mọc dài ra kể từ ngày bị giam giữ và nàng cào ngang mặt, trúng cặp mắt hắn. Hắn ta rú lên đau đớn, và những cận vệ phải kéo nàng ra, đánh nàng liên tiếp bằng cán kiếm của mình tới khi nàng bất tỉnh.
Một trị liệu sư được triệu hồi ngay lập tức, nhưng Hoàng đế Reman đệ Tam đã mất con mắt phải của mình.
Ngày 23 tháng Sun’s Height, năm 2920
tại Balmora, Morrowind.
Vivec vươn mình ra khỏi nước, cảm thấy sự nóng nực của ngày dài được rửa sạch khỏi da mình, lấy một cái khăn tắm từ một trong những người đầy tớ. Sotha Sil quan sát người bạn cũ của mình từ ban công.
“Có vẻ như cậu có thêm vài vết sẹo mới kể từ lần cuối tôi gặp cậu,” người Thầy pháp nói.
“Nhờ Azura phù hộ nên tôi sẽ không có thêm cái nào nữa trong ít lâu nữa,” Vivec cười lớn. “Anh tới hồi nào vậy?”
“Hơn một tiếng trước thôi,” Sotha Sil vừa nói vừa bước xuống những bậc thang tới rìa hồ nước. “Tôi đã tưởng là mình tới để kết thúc chiến tranh, nhưng dường như cậu đã hoàn thành công việc ấy mà không có tôi rồi.”
“Vâng, tám mươi năm cho những trận chiến không hồi kết là đủ dài rồi,” Vivec trả lời và ôm lấy Sotha Sil. “Chúng ta đã nhượng bộ, nhưng bọn họ cũng vậy. Khi mà Hoàng đế già chết đi, chúng ta có lẽ sẽ bước vào thời kì hoàng kim. Hoàng tử Juilek rất khôn ngoan so với độ tuổi của mình. Almalexia đâu rồi?”
“Đang họp mặt với Công tước của Mournhold. Họ sẽ tới đây vào chiều mai.”
Không khí yên bình bị phá vỡ khi thấy từ góc của cung điện - một người phụ nữ đang tiến đến, xuyên qua thị trấn, hướng đến những bậc thềm cổng chính. Có thể thấy rằng người phụ nữ này đã phải chạy thật nhanh một khoảng thời gian rồi. Họ tiếp cô trong thư phòng, nơi mà cô xông vào, thở gấp.
“Chúng ta đã bị phản bội,” cô lấy hơi. “Quân đội Đế chế đang bao vây thành Black Gate.”
Ngày 24 tháng Sun’s Height, năm 2920
tại Balmora, Morrowind.
Đây là lần đầu tiên sau mười bảy năm, cả ba thành viên Tribunal của Morrowind gặp mặt ở chung một nơi, kể từ khi Sotha Sil rời đi để tới Artaeum. Cả ba đều ước rằng cuộc hội ngộ này ở trong một hoàn cảnh khác.
“Từ những gì chúng ta biết được, trong khi Hoàng tử đang quay về Cyrodiil từ phía Nam, một toán quân Đế chế khác đổ xuống từ phía Bắc,” Vivec nói với những người đồng hương khắc khổ của mình. “Có lý do để cho rằng Juilek không hề biết về vụ tấn công này.”
“Nhưng cũng không phải vô lý khi cho rằng hắn ta lên kế hoạch để làm mồi nhử để đánh lạc hướng trong khi Đế chế gửi quân đi tấn công Black Gate,” Sotha Sil nói. “Điều này được coi là phá vỡ sự đình chiến.”
“Công tước của Mournhold đâu rồi?” Vivec hỏi. “Tôi muốn nghe ý kiến của hắn về vấn đề này.”
“Ông ta đang gặp Night Mother ở Tel Aruhn,” Almalexia khẽ nói. “Em bảo ông ấy đợi tới khi gặp chàng, nhưng ống ấy nói vấn đề này đã phải đợi đủ lâu rồi.”
“Hắn sẽ dính líu tới hội Morag Tong? Trong những vấn đề bên ngoài?” Vivec lắc đầu, rồi nhìn Sotha Sil: “Xin hãy làm những gì anh có thể. Một vụ ám sát chỉ đưa chúng ta đi thụt lùi thôi. Vấn đề này phải được giải quyết bằng ngoại giao hoặc trong chiến đấu.”
Ngày 25 tháng Sun’s Height, năm 2920
tại Tel Aruhn, Morrowind.
Night Mother gặp Sotha Sil trong phòng khác của mình, chỉ được thắp sáng bởi mặt trăng. Cô ăn mặc đẹp một cách tàn nhẫn trong một tấm áo choàng đen bằng lụa, nằm dài trên chiếc đi văng của mình. Với một cái ra dấu, cô giải tán những cận vệ đồ đỏ của mình và mời người thầy pháp chút rượu.
“Ngài chỉ vừa trễ hơn bạn của mình, vị Công tước, một chút thôi,” cô thì thầm. “Ông ấy rất không vui, nhưng tôi nghĩ chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề của ông ấy cho.”
“Hắn ta thuê hội Morag Tong ám sát Hoàng đế phải không?” Sotha Sil hỏi.
“Ngài là người thẳng thắn, phải không? Rất tốt. Tôi thích người ăn nói đơn giản: nó tiết kiệm biết bao là thời gian. Dĩ nhiên, tôi không thể bàn bạc với ngài điều tôi và Công tước đã nói,” cô mỉm cười. “Nó sẽ rất tệ cho công việc."
“Nếu tôi đề nghị một lượng vàng tương đương để cô không ám sát Hoàng đế thì sao?”
“Hội Morag Tong giết người để vinh danh Mephala và lợi nhuận,” cô nói vào ly rượu của mình. “Chúng tôi không chỉ đơn giản là giết. Điều đó là phạm thượng. Một khi vàng của Công tước tới trong vòng ba ngày, chúng tôi sẽ hoàn thành phần công việc của mình. Và tôi sợ là chúng tôi sẽ không dám mơ tới việc chấp thuận cho một đề nghị đối lập khác. Mặc dù chúng tôi là một tổ chức kinh doanh cũng như một hiệp hội tôn giáo, chúng tôi không tuân theo quy luật cung cầu, Sotha Sil.”
Ngày 27 tháng Sun’s Height, năm 2920
tại Nội Hải, Morrowind.
Sotha Sil đã quan sát dòng nước được hai ngày rồi, đợi chờ một con tàu đặc biệt, và giờ anh thấy nó. Một con tàu hạng nặng với lá cờ của Mournhold. Người thầy pháp cưỡi trên gió và chặn đường con tàu trước khi nó cập bến. Một ngọn lửa tỏa ra bao bọc hình dáng của anh, ngụy trang giọng và hình thể anh thành một Daedra.
“Bỏ tàu của các ngươi ngay!” Anh gào thét. “Nếu không các ngươi sẽ chết chìm cùng nó!”
Thực tế thì, Sotha Sil đã có thể làm nổ tung con tàu chỉ với một quả cầu lửa của mình, nhưng anh chọn cách từ tốn chờ đợi, để cho thủy thủ đoàn cơ hội nhảy khỏi tàu xuống dòng nước ấm. Khi đã chắc chắn rằng không còn người nào trên tàu, anh tập trung năng lượng thành một luồng sóng hủy diệt làm rung động không khí và mặt nước khi phóng nó đi. Con tàu và phần tiền chi trả của Công tước cho Morag Tong đã chìm xuống đáy của Nội Hải.
“Night Mother,” Sotha Sil nghĩ, đương khi anh trôi vào bờ để cảnh báo chủ cảng rằng có vài thủy thủ cần được giải cứu. “Mọi người đều tuân theo quy luật cung cầu.”
Năm ấy tiếp tục trong tháng Last Seed.
Ngày 1 tháng Last Seed, năm 2920
tại Mournhold, Morrowind.
Mọi người tụ tập lại trong sân nhà Công tước vào lúc chạng vạng, thưởng thức mùi hương và sự ấm áp của ngọn lửa đốt bởi những cành cây khô với những lá đắng. Những đốm tàn lửa nhỏ bé bay lên trời, lơ lửng một chút trước khi tan biến.
“Thần đã quá hấp tấp,” vị Công tước tỉnh táo nhận lỗi. “Nhưng nhờ Lorkhan phù hộ, mà mọi việc đều ổn cả. Hội Morag Tong sẽ không ám sát Hoàng đế vì giờ đây phần tiền thanh toán của thần đã nằm dưới đáy Nội Hải rồi. Thần tưởng ngài đã lập hòa ước với những Hoàng tử Daedra rồi chứ.”
“Thứ mà thủy thủ của ông gọi là daedra có lẽ không phải đâu,” Sotha Sil trả lời. “Có khi đó là một pháp chiến sư vô chủ hay thậm chí là một tia sét đã đánh chìm tàu của ông.”
“Hoàng tử và Hoàng đế đang trên đường tới để nhận thành Ald Lambasi theo như hòa ước mà chúng ta đã thỏa thuận. Điều dĩ nhiên khi bọn người Cyrodiil cho rằng những nhượng bộ của họ thì có thể thương lượng được, trong khi của chúng ta thì không,” Vivec lôi ra một tấm bản đồ. “Chúng ta có thể gặp họ tại đây, ở ngôi làng này, nằm ở Tây Bắc Ald Lambasi, Fervinthil.”
“Nhưng chúng ta tới gặp họ để nói chuyện,” Almalexia hỏi. “Hay để tuyên chiến?”
Không ai có câu trả lời cho việc đó cả.
Ngày 15 tháng Last Seed, năm 2920
tại Fervinthil, Morrowind.
Một cơn gió lớn vào cuối hè thổi khắp ngôi làng nhỏ, làm tối cả bầu trời chỉ chừa lại những tia sét chớp nhoáng nhảy từ đám mây này sang đám mây khác như những diễn viên xiếc. Nước chảy xiết xuống những con phố hẹp, ngập tới tận mắt cá chân, và Hoàng tử phải hét lớn để những viên Đội trưởng của mình, chỉ cách chàng vài bộ, có thể nghe thấy được.
“Có một quán trọ phía trước! Chúng ta sẽ đợi ở đó cho tới khi cơn bão đi qua, rồi sẽ tiếp tục đi Ald Lambasi!”
Quán trọ ấm cúng cúng và khô ráo, và nhộn nhịp. Những nữ phục vụ chạy tới lui, mang rượu greef và rượu vang tới một căn phòng kín ở đằng sau, tỏ ra háo hức vì vị khách nổi tiếng. Người nào đó mà thu hút hơn cả người kế vị của cả Đế chế Tamriel. Cảm thấy thích thú, Juilek quan sát họ chạy quanh tới khi chàng vô tình nghe được cái tên “Vivec”.
“Ngài Vivec,” chàng nói đang khi xông vào căn phòng đằng sau. “Ngài phải tin tôi, tôi không biết gì về vụ tấn công Black Gate cho tới lúc nó xảy ra cả. Chúng tôi, dĩ nhiên, sẽ trả nó lại cho ngài ngay. Tôi đã viết một lá thư về việc đó cho ngài gửi thẳng tới cung điện của ngài ở Balmora, nhưng rõ ràng là ngài không ở đó,” chàng khựng lại, nhìn thấy nhiều gương mặt mới trong căn phòng. “À tôi xin lỗi, xin để tôi được tự giới thiệu. Tôi là Juilek Cyrodiil.”
“Tên tôi là Almalexia,” người phụ nữ đẹp nhất mà Hoàng tử từng thấy nói. “Cậu tham gia cùng chúng tôi chứ?”
“Sotha Sil,” người Dunmer trông có vẻ cực kì nghiêm túc, mặc một chiếc áo choàng trắng, vừa nói vừa bắt tay Hoàng tử và chỉ cho chàng một chỗ ngồi.
“Công tước Indoril Brindisi Dorom, và cũng là Hoàng tử của Mournhold,” người đàn ông to lớn ngồi kế chàng nói lúc chàng ngồi xuống.
“Tôi nhận ra từ những sự kiện trong tháng vừa rồi cho thấy rằng, Quân đoàn Đế chế không thuộc quyền kiểm soát của tôi,” Hoàng tử nói sau khi gọi rượu. “Đây là sự thật. Quân đội là của cha tôi.”
“Tôi biết rằng Hoàng đế cũng đang định tới Ald Lambasi,” Almalexia nói.
“Thông tin chính thống thì, đúng là vậy,” Hoàng tử nói thận trọng. “Thông tin không được công bố thì, ngài vẫn đang ở Đế đô. Ngài đã gặp phải một tai nạn không may.”
Vivec liếc Công tước thật nhanh trước khi nhìn Hoàng tử: “Một tai nạn?”
“Cha tôi,” Hoàng tử nói nhanh. “Ngài sẽ sống, nhưng mất đi một bên mắt. Đó là một vụ ẩu đả không liên quan gì tới cuộc chiến. Tin vui duy nhất là trong khi ngài bình phục, tôi có thể sử dụng ấn tín của ngài. Bất cứ thỏa thuận nào chúng ta đồng ý ở đây ngay bây giờ sẽ bị ràng buộc vào Đế chế, cả thời của cha ta và của ta.”
“Vậy hãy bắt đầu thỏa thuận nào,” Almalexia mỉm cười.
Ngày 16 tháng Last Seed, năm 2920
tại Wroth Naga, Cyrodiil.
Ngôi làng nhỏ bé Wroth Naga chào đón Cassyr với những căn nhà rực rỡ màu sắc của nó, trên mũi đất nhìn ra đồng bằng của núi Wrothgarian và xa hơn nữa là High Rock. Nếu như hắn có tâm trạng tốt hơn thì cảnh tượng hẳn là rất hùng vĩ. Nhưng với tâm trạng như vầy, hắn chỉ có thể nghĩ là theo điều kiện thực tế, một ngôi làng nhỏ như vầy sẽ chỉ có lượng lương thực ít ỏi cho hắn và ngựa của hắn.
Hắn cưỡi ngựa xuống quảng trường, nơi có một nhà trọ tên là Eagle’s Cry. Yêu cầu cậu bé chăn ngựa đem ngựa của hắn vào và cho ăn, Cassyr bước vào quán trọ và bị bất ngờ bởi khung cảnh bên trong. Một người hát mướn mà hắn đã từng nghe một lần ở Gilverdale đang biểu diễn một giai điệu cũ vui nhộn theo tiếng vỗ tay của những người miền núi. Một niềm vui gượng gạo như vậy không phải là điều Cassyr muốn lúc này. Một người cô gái Dunmer nhăn nhó đang ngồi ở bàn duy nhất, cách xa khỏi tiếng ồn, nên hắn lấy đồ uống của mình rồi ngồi đó mà không cần lời mời nào. Chỉ khi làm vậy hắn mới nhận ra người cô ấy đang bồng một đứa bé mới sinh.
“Tôi vừa về từ Morrowind,” hắn nói có chút khó xử, hạ giọng mình xuống. “Tôi đã chiến đấu cho Vivec và Công tước Mournhold chống lại quân đội Đế chế. Một kẻ phản bội lại dân tộc mình, tôi đoán cô sẽ gọi tôi như vậy.”
“Tôi cũng là một kẻ phản bội dân tộc mình,” cô gái nói, đưa bàn tay bị sẹo bởi một biểu tượng được đóng lên. “Nó có nghĩa là tôi sẽ không bao giờ được quay lại quê nhà.”
“Chà, cô không nghĩ là mình sẽ ở lại đây đó chứ?” Cassyr cười phá lên. “Nó chắc chắn là một thị trấn yên tĩnh, nhưng khi đông tới, tuyết sẽ dày cao lên tận mi mắt của cô. Không phải nơi cho một đứa trẻ mới sinh đâu. Tên con bé là gì nhỉ?”
“Bosriel. Nghĩa là ‘Người đẹp của khu rừng’. Anh đang định đi đâu vậy?”
“Dwynnen, trên con vịnh ở High Rock. Cô có thể đi cùng tôi, tôi có thể cần người bầu bạn đấy.” Hắn đưa tay mình ra. “Cassyr Whitley.”
“Turala,” cô gái nói sau một hồi khựng lại. Cô đã định dùng họ của gia đình mình trước, theo truyền thống, nhưng cô nhận ra nó không còn thuộc về cô nữa. “Tôi rất vui khi đi cùng anh, cảm ơn anh.”
Ngày 19 tháng Last Seed, năm 2920
tại Ald Lambasi, Morrowind.
Năm người đàn ông và hai người phụ nữ đứng im lặng trong Phòng Lớn của lâu đài, âm thanh duy nhất là từ tiếng viết lên giấy da của lông vũ và tiếng gõ nhẹ nhàng của những hạt mưa lên cửa sổ. Khi Hoàng tử đóng ấn của Cyrodiil lên văn kiện, hòa bình đã chính thức được thiết lập. Công tước của Mournhold xông ra ngoài với tiếng gào rú của sự vui vẻ, ra lệnh mang rượu vào để kỷ niệm kết thúc tám mươi năm chiến tranh.
Chỉ có Sotha Sil đứng ngoài nhóm người đó. Mặt anh tỏ ra vô cảm. Những ai biết anh rõ nhất sẽ hiểu rằng anh không hề tin vào kết thúc hay khởi đầu, đó chỉ là một vòng quay liên tục mà điều này chỉ là một phần nhỏ trong đó.
“Thưa Hoàng tử,” quản gia của lâu đài nói, cảm thấy không vui khi phải chen ngang sự ăn mừng này. “Có một người đưa tin từ mẹ của ngài, đang ở đây. Hắn ta muốn gặp Hoàng Đế, nhưng vì ngài ấy không ở đây nên-- “
Juilek xin phép lui đi và tới nói chuyện với người đưa tin.
“Nữ hoàng không sống ở Đế Đô sao?” Vivec hỏi.
“Không,” Almalexia nói, lắc đầu buồn bã. “Hoàng Đế đã giam bà ở Black Marsh, lo sợ rằng bà đã đang âm mưu một cuộc cách mạng chống lại ông. Bà ta cực kỳ giàu có và có những đồng minh quyền lực ở phía Tây lãnh thổ Clovian nên ông ta không thể cưới người khác trừ khi đã xử tử bà. Họ đã đấu đá nhau được mười bảy năm rồi kể từ khi Juilek chỉ mới là một đứa trẻ.”
Hoàng tử quay lại chỉ ít phút sau. Mặt của chàng tỏ ra lo lắng, dù là chàng đã cố giấu nó đi.
“Mẹ tôi cần tôi,” chàng nói ngắn gọn. “Tôi sợ là mình phải rời đi ngay bây giờ. Nếu tôi có thể có một bản sao của hòa ước, tôi sẽ có thể mang theo để cho Nữ hoàng thấy điều tốt mà chúng ta đã thực hiện hôm nay, và rồi tôi sẽ mang nó về Đế đô để nó được công bố chính thức.”
Hoàng tử Juilek rời đi với sự tạm biệt thật thà của Bộ ba Morrowind. Lúc họ nhìn chàng cưỡi ngựa vào đêm mưa về phía Nam, đến Black Marsh, Vivec nói, “Tamriel sẽ được hàn gắn rất nhiều một khi cậu ấy lên ngôi.”
Ngày 31 tháng Last Seed, năm 2920
tại Khe Dorsza, Black Marsh.
Mặt trăng soi rọi qua mỏ đá hoang vắng, tỏa những làn hơi của khí ga đầm lầy do mùa hè đặc biệt nóng nực, lúc Hoàng tử và hai cận vệ hộ tống mình cưỡi ngựa ra khỏi khu rừng. Những bãi đất và phân khổng lồ được chất cao lên thành những cổ vật do những bộ lạc sơ khai, đã chết từ lâu đời của Black Marsh, hy vọng sẽ ngăn được cái ác từ phương Bắc. Rõ ràng thì, cái ác đó đã phá tan và vượt qua ở Khe Dorsza, vết nứt rộng lớn trong cái thành lũy buồn bã cô đơn kéo dài nhiều dặm này.
Những cái cây méo mó màu đen mọc trên rào chắn ấy tạo thành những cái bóng kỳ lạ dưới mặt đất, như một cái lưới bị rối lại với nhau. Tâm trí Hoàng tử đang nghĩ về là thư khó hiểu từ mẹ mình, gợi ý về một cuộc xâm lăng sắp tới. Chàng không thể, hiển nhiên, nói cho người Dunmer về việc đó, ít nhất là cho tới khi chàng biết thêm về nó và thông báo cho cha mình. Dù gì thì, lá thư đó đáng ra là cho ngài ấy. Chính là do giọng điệu khẩn thiết ấy đã làm cho chàng quyết định tới trực tiếp Gideon.
Nữ hoàng cũng đã cảnh báo trước cho ngài ấy về một toán nô lệ hay tấn công những đoàn lữ hành đi qua Khe Dorsza. Bà khuyên ngài nên chắc chắn làm cho tấm khiên Đế chế của mình thấy được từ xa, để chúng biết rằng ngài không phải một trong những chủ nô người Dunmer mà chúng ghét. Vừa khi cưỡi ngựa vào đám cỏ cao tràn ngập khe hẹp như một một dòng sông độc hại, Hoàng tử ra lệnh khiên của chàng được bày ra.
“Tôi có thể hiểu tại sao những nô lệ dùng nơi này,” viên Đội trưởng của Hoàng tử nói. “Đây là một vị trí hoàn hảo cho một cuộc phục kích.”
Juilek gật đầu, nhưng ý nghĩ của chàng đang ở nơi khác. Mối đe dọa xâm lăng nào mà Nữ hoàng có thể phát hiện ra? Liệu có phải người Akavir từ ngoài khơi nữa không? Nếu thật là vậy, làm sao mẹ của chàng từ phòng giam của mình ở Lâu đài Giovese biết được? Một âm thanh xào xạc trong đám cỏ và một tiếng hét sắc lẹm từ đằng sau cắt ngang dòng suy nghĩ của chàng.
Quay lại nhìn, Hoàng tử nhận ra mình đơn độc. Lính hộ tống của chàng đã biến mất.
Hoàng tử chăm chú nhìn qua một biển cỏ được soi sáng bởi ánh trăng đang gợn sóng theo những hoa văn đầy thôi miên của thủy triều và luồng gió đêm cuộn qua khe hẹp. Không thể nào biết được nếu như đang có một người lính chật vật bên dưới cái những dao động này, một con ngựa chết theo sau một con khác. Một tiếng huýt sáo cao ngất của cơn gió như nhấn chìm mọi âm thanh mà những nạn nhân của vụ phục kích cố tạo ra.
Juilek rút kiếm của mình ra, và suy nghĩ xem nên làm gì, lý trí chàng trấn an con tim không nên hốt hoảng. Chàng đang ở gần với lối ra khỏi khe hẹp hơn là lối vào. Thứ gì đã giết đoàn hộ tống của chàng thì cũng đang ở đằng sau chàng. Nếu chàng chạy đủ nhanh, có lẽ chàng có thể vượt khỏi nó. Quất dây cương ngựa của mình để phi nước đại, chàng xông lên về phía những con đồi phía trước, rồi bị bẫy bởi một đống đất khổng lồ.
Khi chàng ngã xuống, nó diễn ra quá đột ngột, chàng đã lao tới trước trước khi thật sự lấy lại ý thức của mình. Chàng đã tiếp đất cách ngựa nơi ngựa của mình ngã vài mét, bị gãy xương vai và lưng trong vụ va chạm. Một sự tê tái tỏa khắp người chàng khi nhìn chằm vào con chiến mã tội nghiệp đang chết dần chết mòn, bụng nó bị rạch toang ra bởi một trong những cây lao chỉa lên bên dưới bề mặt của đám cỏ.
Hoàng tử Juilek không thể quay qua đối mặt với hình bóng đang bước ra từ đám cỏ, hay có thể di chuyển để tự vệ bản thân. Chàng bị cắt cổ mà không có một sự khoan nhượng. Miramor nguyền rủa khi hắn thấy gương mặt của nạn nhân rõ ràng hơn dưới ánh trăng. Hắn đã thấy mặt Hoàng đế ở trận Bodrum khi chiến đấu dưới trướng của ngài, và đây rõ ràng không phải ngài ấy. Lục soát thi thể chàng, hắn tìm thấy là thư và hòa ước được ký bởi Vivec, Almalexia, Sotha Sil và Công tước Mournhold đại diện cho Morrowind và Hoàng tử Juilek Cyrodiil, đại diện cho Đế chế Cyrodiil.
“Đáng nguyền rủa, vận may của ta,” Miramor lẩm bẩm với bản thân và những bụi cỏ. “Ta chỉ giết một Hoàng tử. Điều đó mang lại lợi lộc gì đâu?”
Miramor hủy lá thư như Zuuk đã chỉ dẫn, và bỏ tấm hòa ước vào túi. Ít nhất thì, một vật đáng hiếu kì như vậy cũng đáng giá gì đó ngoài chợ đen. Hắn gỡ bỏ những cái bẫy của mình trong khi suy tính bước tiếp theo. Quay về Gideon và nhận phần thưởng kém hơn vì đã giết kẻ thừa kế? Đi tới một vùng đất khác? Ít nhất thì, hắn cho rằng, mình đã học được vài kĩ năng hữu dụng từ trận Bodrum. Từ người Dunmer, những cái bẫy bằng lao tuyệt vời. Từ việc bỏ trốn khỏi quân đội Đế quốc, hắn học được cách lẩn trốn trong bụi cỏ.
Năm ấy tiếp tục trong tháng Hearth Fire.
Ngày 2 tháng Heart Fire, năm 2920
tại Gideon, Black Marsh.
Hoàng Hậu Tavia nằm dài trên chiếc giường của mình, một cơn gió nóng nực của mùa hè mà bà không thể cảm nhận được đẩy cánh cửa sổ của phòng giam đập vào những song sắt. Cổ họng bà có cảm giác như đang bị thiêu đốt nhưng bà vẫn khóc nức nở, một cách không kiểm soát, vò nát tấm tranh thêu cuối cùng trong tay mình. Tiếng than khóc của bà vang vọng qua những hành lang trống rỗng của Lâu đài Giovese, làm những hầu gái đang giặt dũ và những lính canh đang tán dóc phải dừng lại. Một trong những cô hầu gái của bà chạy lên những bậc thang hẹp để xem bà chủ của mình, nhưng trưởng cận vệ của bà, Zuuk, đứng chặn ở cửa vào và lắc đầu.
“Bà ấy vừa nghe tin con trai mình đã chết,” ông khẽ nói.
Ngày 5 tháng Heart Fire, năm 2920
tại Đế đô, Cyrodiil.
“Hoàng đế Bệ hạ,” Quốc chủ Versidue-Shaie nói qua cánh cửa. “Ngài có thể mở cửa ra được rồi. Tôi chắc chắn với ngài rằng, ngài hoàn toàn an toàn. Không có ai muốn giết ngài đâu.”
“Máu của Mara!” Giọng của Hoàng đế Reman đệ Tam thều thào, đầy kích động và pha chút điên loạn. “Ai đó đã ám sát Hoàng tử, khi nó đang cầm khiên của ta! Có lẽ chúng đã nghĩ rằng nó là ta!”
“Hẳn là ngài đúng, thưa bệ hạ,” gã Quốc chủ trả lời, giấu đi bất kì chút giọng điệu mỉa mai nào của mình trong khi hắn đảo cặp mắt đen sắc bén thành một ánh nhìn khinh thường. “Nên chúng ta phải tìm ra và trừng phạt kẻ thủ ác chịu trách nhiệm cho cái chết của con trai ngài. Nhưng chúng ta không thể làm thế nếu thiếu ngài. Ngài cần phải dũng cảm vì Đế chế của ngài chứ.”
Không có hồi âm.
“Ít nhất thì, ngài hãy ra và kí sắc lệnh xử tử Quý cô Rijja,” gã Quốc chủ gọi. “Chúng ta sẽ trừ khử bất cứ kẻ phản bội và tên sát thủ nào mà chúng ta đã biết được.”
Một chút yên lặng, và rồi là âm thanh của đồ đạc rớt xuống sàn nhà. Reman chỉ hé cửa một chút, nhưng gã Quốc chủ có thể thấy gương mặt giận dữ, sợ hãi của ông, và chỗ nhô lên của những mô thịt bi rách trông ghê tởm, chỗ từng là mắt phải của ông. Mặc cho là những trị liệu sư giỏi nhất Đế chế, nó vẫn là một món quà lưu niệm kinh hãi của Quý cô Rijja tạo ra ở Pháo đài Thurzo.
“Đưa ta tờ lệnh,” Hoàng đế gầm gừ. “Ta rất vui lòng được ký nó.”
Ngày 6 tháng Heart Fire, năm 2920
tại Gideon, Cyrodiil.
Ánh sáng mập mờ màu xanh kì lạ của hiện tượng ma trơi, một sự kết hợp mà bà được kể là của khí ga đầm lầy và năng lượng tâm linh tạo ra, đã luôn làm Tavia khiếp sợ khi bà nhìn nó từ cửa sổ. Giờ thì có vẻ như nó lại dễ chịu một cách kì lạ. Qua khỏi bãi lầy chính là thành phố Gideon. Thật buồn cười, bà tự nghĩ, rằng bà chưa bao giờ đặt chân vào những con phố của nó, mặc dù bà đã quan sát nó mỗi ngày trong suốt mười bảy năm.
“Ngươi có cho rằng ta đã quên thứ gì không?” Bà hỏi, quay lại nhìn gã Kothringi trung thành Zuuk.
“Thần biết chính xác phải làm gì,” ông nói ngắn gọn. Ông có vẻ như đang cười, nhưng Nữ hoàng nhận ra rằng bà chỉ đang nhìn thấy ảnh phản chiếu của mặt bà từ làn da của ông ấy. Bà đang cười, và bà thậm chí không nhận ra điều đó.
“Hãy chắc rằng ngươi không bị theo đuôi,” Bà cảnh báo. “Ta không muốn chồng mình biết nơi ta giấu vàng của mình suốt bao năm qua. Và hãy cứ lấy phần của ngươi đi. Ngươi đã là một người bạn tốt.”
Nữ hoàng Tavia bước tới trước và rơi vào màn sương mù. Zuuk thay thế những song sắt cửa sổ của tòa tháp, và trùm một tấm chăn lên vài cái gối trên giường bà. Với chút may mắn, họ sẽ không phát hiện ra thi thể của bà trên bãi cỏ cho tới sáng, và lúc đó ông hy vọng mình đã đi được nửa đường tới Morrowind.
Ngày 9 tháng Heart Fire, năm 2920
tại Phrygias, High Rock.
Những cái cây kì lạ từ tứ phía trông như những bãi hình dị hợm được phủ lên bởi những tán lá đỏ, vàng, và cam, như đám côn trùng bị bắt lửa. Dãy núi wrothagarian phai mờ vào trong sương chiều. Turala bị cuốn vào cảnh tượng ấy, thật kì lạ, thật khác biệt so với Morrowind, trong lúc nàng dẫn ngựa đi về phía trước vào đồng cỏ trống. Phía sau nàng, đầu gật gù trước ngực gã, Cassyr đang ngủ, bồng Bosriel trong tay. Trong một khoảnh khắc, Turala đã tính nhảy qua những hàng rào thấp nhũn được sơn màu, chạy dọc qua cánh đồng, nhưng rồi nàng nghĩ nên thôi. Để cho Cassyr ngủ thêm vài tiếng nữa trước khi trao lại dây cương cho hắn ta.
Khi ngựa đã vào cánh đồng, Turala nhìn thấy căn nhà màu lam trên ngọn đồi kế tiếp, được giấu đi phân nửa sau cánh rừng. Hình ảnh đẹp như tranh vẽ, đến nỗi nàng cảm thấy như bản thân đang rơi vào trạng thái thư giãn nửa tỉnh nửa mê. Bỗng một tiếng tù và lớn đưa nàng về thực tại với chút giật mình. Cassyr mở mắt hắn ra.
“Chúng ta đang ở đâu?” hắn rít lên.
“Tôi không biết,” Turala lắp bắp, mắt mở to. “Âm thanh đó là gì vậy?”
“Orc,” hắn thì thầm. “Một tốp đi săn. Trốn vào bụi cây nhanh lên.”
Turala dắt con ngựa chạy nước kiệu vào một đám cây. Cassyr giao đứa bé cho nàng rồi xuống ngựa. Hắn tiếp tục lôi những túi của họ xuống, ném chúng vào những bụi cây. Một tiếng động làm họ giật mình, tiếng chân dậm từ xa, ngày càng lớn hơn và gần hơn. Turala leo xuống thật cẩn thận rồi giúp Cassyr bỏ đồ xuống khỏi ngựa. Trong khi Bosriel chăm chú nhìn. Turala đôi lúc lo rằng con mình sẽ không bao giờ khóc. Giờ cô cảm thấy biết ơn vì điều đó. Với túi hành lý cuối cùng được dỡ xuống, Cassyr tát vào sườn của con ngựa, để nó phi nước đại xuống cánh đồng trống. Nắm lấy tay Turala, hắn núp xuống những bụi cây.
“Với chút may mắn,” hắn lẩm bẩm. “Chúng sẽ nghĩ rằng đó là ngựa hoang hoặc thuộc về nông trại nên sẽ không truy tìm người cưỡi.”
Đang khi hắn còn nói, một đám orc xông vào cánh đồng, thổi những cái tù và của mình. Turala từng thấy orc trước đây rồi, nhưng chưa bao giờ đông như vậy, chưa bao giờ tự tin và thú tính tới vậy. Gào lên vui sướng khi thấy con ngựa và sự bối rối của nó, chúng vội vàng chạy qua rừng gỗ nơi Cassyr, Turala và Bosriel đang ẩn nấp. Những bông hoa dại bay lên không trung khi chúng dẫm đạp qua, rải trên đất những hạt giống của mình. Turala đã cố không hắt xì, và cứ tưởng rằng mình thành công. Một trong những tên orc nghe thấy tiếng gì đó, và dẫn theo một tên nữa để kiểm tra.
Cassyr rút kiếm mình ra thật yên lặng, dồn hết mọi sự tự tin mà hắn có. Những kĩ năng của hắn, như theo cách của chúng, là để là gián điệp, không phải chiến đấu, nhưng hắn đã thề sẽ bảo vệ Turala và đứa con của nàng chừng nào hắn vẫn còn có thể. Có thể hắn sẽ giết được hai tên này, hắn lý lẽ, nhưng cũng không thể ngăn chúng hét lên và đưa đám còn lại tới.
Đột nhiên, có thứ gì đó vô hình lướt qua những bụi cây như một cơn gió. Những tên orc nhảy về sau, ngã ngửa. Turala quay lại và thấy một bà lão nhăn nheo với mái tóc sáng màu xuất hiện từ cái bụi cây gần đó.
“Ta đã tưởng các người sẽ đưa chúng lại chỗ ta chứ,” bà ta thì thầm và mỉm cười. “Tốt nhất nên đi với ta.”
Cả ba đi theo bà lão qua cái khe hở của những bụi cây mâm xôi sâu hút, chạy dọc qua ca cánh đồng về phía căn nhà trên đồi. Khi họ qua tới bên kia, bà lão quay lại nhìn bọn orc đang ăn ngấu nghiến phần còn lại của con ngựa, một cuộc săn say sưa đẫm máu theo nhịp của những loạt tù và.
“Con ngựa đó của các người sao?” Bà hỏi. Khi Cassyr gật đầu, bà lão cười lớn. “Thứ thịt giàu chất đạm ấy. Bọn quái vật đó sẽ bị đau bụng và đầy hơi vào buổi sáng. Đáng đời.”
“Không phải là chúng ta nên đi tiếp sao?” Turala thì thầm, cảm thấy mất hết tự tin bởi tiếng cười của bà.
“Chúng sẽ không lên đây đâu,” bà cười nhếch mép, nhìn Bosriel mỉm cười lại. “Chúng sợ chúng ta lắm.”
Turala quay sang Cassyr, người đang lắc đầu. “Những phù thủy. Liệu tôi có đúng khi cho rằng đây là nông trại Old Barbyn không, nhà của hội Skeffington?”
“Các người là, thú nuôi,” bà lão khúc khích theo vẻ nữ tính, cảm thấy hài lòng khi được coi là khét tiếng. “Ta là Mynista Skeffington.”
“Bà đã làm gì với bọn orc vậy?” Turala hỏi. “Hồi ở những bụi rậm?”
“Nắm đấm của tinh linh vào bên phải đầu,” Mynista nói, tiếp tục leo lên đồi. Đằng trước họ là một khu nông trại, một cái giếng, một chuồng gà, một cái ao, những người phụ nữ trạc tuổi nhau đang làm việc nhà, tiếng vui cười của con nít đang chơi đùa. Bà lão quay lại và thấy Turala dường như không hiểu. “Bộ cô không có phù thủy ở chỗ của mình sao cô bé?”
“Theo tôi biết thì không,” nàng nói.
“Có đủ mọi loại người dùng phép thuật ở Tamriel,” Bà giải thích. “Hội Psijic dùng phép như một nghĩa vụ nặng nề của họ. Những pháp chiến sư trong quân đội thì lại khác, ném câu phép đi như những mũi tên vậy. Phù thủy chúng ta thì trò chuyện, triệu hồi và ăn mừng. Để đánh ngã bọn orc đó, ta chỉ đơn giản là thì thầm với những tinh linh của gió Amaro, Pina, Tallatha, những ngón tay của Kynareth, và hơi thở của thế giới, người mà ta có mối quan hệ gần gũi với, để đập lũ khốn ấy chết. Các người thấy đấy, thuật triệu hồi không phải là về sức mạnh, hay giải những câu đố, hay lo lắng trằn trọc về những cuộn giấy cũ kĩ đóng rêu. Mà là về nuôi nấng những mối quan hệ. Trở nên gần gũi và thân thiện, các người có thể coi nó là vậy.”
“Chà, chúng tôi chắc chắn rất cảm kích bà đã thân thiện với chúng tôi,” Cassyr nói.
“Các người nên thế,” Mynista ho ra tiếng. “Người của các cậu đã tàn phá quê hương bọn orc hai ngàn năm trước. Trước đó, chúng chưa bao giờ đi cả đoạn đường lên tới tận đây và làm phiền chúng ta như vầy. Giờ thì hãy để các người tắm rửa và ăn uống nào.”
Và như vậy, Mynista dẫn họ vào trang trại, và Turala gặp được gia đình Skeffington Coven.
Ngày 11 tháng Heart Fire, năm 2920
tại Đế đô, Cyrodiil.
Rijja đã không thèm cố để ngủ đêm qua, nàng thấy rằng tiếng nhạc ảm đạm được chơi suốt buổi hành quyết của mình rất dễ gây buồn ngủ. Cứ như là nàng tự nguyện làm cho mình bất tỉnh trước khi cái rìu giáng xuống. Mắt nàng đã bị che lại để nàng không thể thấy được người tình cũ của mình, Hoàng đế, ngồi trước nàng, đang lườm với con mắt còn lại của hắn. Nàng không thể thấy gã Quốc chủ Versidue-Shaie, hắn quấn thân dưới của mình gọn gàng, một cái vẻ đắc thắng trên khuôn mặt vàng kim của hắn. Nàng có thể cảm thấy mờ nhạt, bàn tay của tên đao phủ chạm vào lưng nàng để giữ nàng bước đi chắc chắn. Nàng rùng mình như một người mơ đang cố tỉnh dậy.
Phát đầu tiên trúng gáy của nàng và nàng đã hét. Phát chém thứ hai xuyên qua cổ nàng, và nàng đã chết.
Hoàng đế quay sang Quốc chủ cách mệt mỏi, “Giờ thì việc này đã xong. Cậu nói ả có một đứa em gái xinh đẹp ở Hammerfell tên là Corda nhỉ?”
Ngày 18 tháng Heart Fire, năm 2920
tại Dwynnen, High Rock.
Con ngựa mà những phù thủy đã bán cho hắn không được tốt như con trước, Cassyr đánh giá. Thờ những tinh linh, hiến tế và tình chị em tốt cho thuật triệu hồi những tinh linh, nhưng nó lại làm hư những con vật chuyên vận chuyển. Tuy nhiên, chẳng có gì để phàn nàn cả. Với sự rời đi của cô gái Dunmer và con của nàng, hắn đã có một quãng thời gian thong thả. Trước mặt là những bức tường bao quanh thành phố quê nhà của hắn. Gần như ngay lập tức, hắn đã được gặp những người bạn cũ và gia đình mình.
“Cuộc chiến sao rồi?” em họ hắn la lên chạy ra đường. “Có thật là Vivec đã ký hòa ước với Hoàng tử, nhưng Hoàng đế không tuân theo không?”
“Điều đó không đúng, phải không?” một người bạn khác hỏi, nhập bọn với họ. “Tôi nghe rằng người Dunmer đã giết Hoàng tử rồi bịa lên chuyện hòa ước, nhưng không có bằng chứng nào cả.”
“Bộ ở đây không có điều gì thú vị cả sao?” Cassyr cười. “Tôi thật sự không có chút hứng thú nào cho việc bàn luận về chiến tranh hay Vivec cả.”
“Anh đã bỏ lỡ cuộc diễu hành của Quý cô Corda rồi,” bạn hắn nói. “Cô ấy đã đi qua con vịnh với cả đoàn tùy tùng rồi hướng về phía Đông tới Đế đô.”
“Nhưng nó chẳng là gì cả. Vivec trông như thế nào?” cậu em họ của hắn hăng hái hỏi. “Hắn ta được cho là vị thánh sống.”
“Nếu như Sheogorath nghỉ hưu và họ cần một vị Thần Điên Loạn khác thì hắn sẽ phù hợp đấy,” Cassyr ngạo nghễ nói.
“Còn người phụ nữ?” cậu trai trẻ, người chỉ được thấy những cô gái Dunmer trong những dịp rất hiếm, hỏi.
Cassyr chỉ mỉm cười. Turala Skeffington thoắt hiện lên trong tâm trí hắn rồi mờ nhạt đi. Nàng sẽ hạnh phúc ở đó, và con của nàng sẽ được chăm sóc chu đáo. Nhưng họ đều nằm trong quá khứ cả rồi, một nơi và một cuộc chiến mà hắn muốn quên đi mãi mãi.
Xuống khỏi ngựa của mình, hắn bước vào thành phố, trò chuyện về những tin đồn nhỏ nhặt với cuộc sống đời thường ở Vịnh Iliac.
Năm ấy tiếp tục trong tháng Frostfall.
Ngày 10 tháng Frostfall, năm 2920
tại Dwynnen, High Rock.
Sinh vật trước mặt họ chớp mắt, bất giác, cặp mắt của nó nhìn chăm chú, miệng nó mở ra rồi đóng lại như đang dần nhớ lại chức năng của mình. Nước dãi nhầy nhụa của nó chảy xuống rồi treo đó bất động giữa những nanh của mình. Turala chưa bao giờ thấy bất giống loài nào như nó trước kia, giống bò sát và to lớn, đứng trên đôi chân sau của nó như một con người. Mynistera nhiệt tình vỗ tay.
“Cô bé của ta,” bà kêu lên. “Cô đã tiến bộ nhiều chỉ trong thời gian ngắn. Cô đã nghĩ gì khi mà triệu hồi con daedroth này?”
Phải đợi một lúc để Turala nhớ lại được rằng mình đã có suy nghĩ bất cứ gì lúc đó hay không. Nàng chỉ đơn giản là bị choáng ngợp vì đã đi xuyên qua những dải cấu tạo của thực tại và vào không gian của Oblivion, rồi mang theo sinh vật ghê tởm này, thực thể hóa nó trong thế giới này với sức mạnh tâm trí của nàng.
“Tôi đã nghĩ về màu đỏ.” Turala vừa tập trung vừa nói. “Sự đơn sơ và trong sáng của nó. Và rồi -- tôi đã khao khát, và nói lên câu chú. Và rồi đây là thứ tôi đã triệu hồi lên.”
“Sự khao khát là một thế lực mạnh mẽ đối với một phù thủy trẻ,” Mynistera nói. “Và nó phù hợp trong trường hợp này. Vì con daedroth này chẳng là gì ngoài một thế lực đơn giản của những tinh linh. Liệu cô có thể buông bỏ nỗi khát khao của mình dễ dàng được như vậy không?”
Turala nhắm đôi mắt mình lại và đọc câu thần chú giải thể. Con quái vật mờ nhạt dần như một bức tranh trong ánh nắng, vẫn còn đang chớp mắt cách bối rối. Mynistera ôm chầm lấy người học trò Dark elf của mình, cười trong vui sướng.
“Ta không thể nào tin được, một tháng một ngày cô ở với hội, và cô đã tiến bộ hơn nhiều so với đa số những phụ nữ ở đây. Dòng máu mạnh mẽ chảy trong cô, Turala, cách cô chạm những tinh linh như thể cô đang chạm vào một tình nhân vậy. Rồi cô sẽ lãnh đạo hội này vào một ngày nào đó -- ta thấy trước điều đó!”
Turala mỉm cười. Thật tốt khi được khen ngợi. Công tước của Mournhold đã từng ca ngợi khuôn mặt xinh xắn của nàng, và gia đình nàng, trước khi nàng làm mất mặt họ, đã từng khen ngợi phép tắc của nàng. Cassyr không hơn gì một người đồng hành: lời khen của hắn không có nghĩa gì cả. Nhưng với Mynistera, nàng cảm thấy như mình đã được về nhà.
“Bà sẽ còn dẫn dắt hội trong nhiều năm nữa, người chị em vĩ đại à,” Turala nói.
“Dĩ nhiên ta cũng định như vậy. Nhưng những tinh linh, dù là những người bạn đồng hành tuyệt hảo và là những người nói thật không thể bắt bẻ, lại thường mập mờ về khoản thời gian và cách thức. Cô không thể thật sự trách họ. Thời gian và cách thức không mấy nghĩa lý gì với họ.” Mynistera mở cửa vào căn lều, cho những làn gió thu nhanh nhảu ùa vào, xua tan đi mùi tanh và hôi thối của con daedroth. “Giờ thì, ta cần cô làm một việc vặt ở Wayrest. Nó chỉ mất một tuần đi và một tuần về. Hãy đưa Doryatha và Celephyna đi cùng với cô. Dù cho chúng ta muốn tự cung tự cấp cỡ nào chăng nữa, vẫn có những loại thảo dược chúng ta không thể trồng ở đây, và có vẻ như chúng ta đã dùng hết một lượng lớn pha lê trong thời gian ngắn. Để cho người trong thành phố nhận ra cô là một trong những người nữ thông thái của hội Skeffington cũng rất quan trọng. Cô sẽ thấy được lợi ích của việc khét tiếng hơn xa những bất lợi của nó.”
Turala làm theo những gì nàng được bảo. Đang khi nàng và những người chị em của mình leo lên ngựa, Mynistera mang đứa bé của nàng lại, Bosriel chỉ mới năm tháng tuổi, để hôn mẹ mình nụ hôn tạm biệt. Những phù thủy ở đây yêu quý đứa trẻ Dunmer sơ sinh, con của tên Công tước xấu xa, được đỡ sinh bởi những Ayleid hoang dã của khu rừng trong lòng của Đế chế. Turala biết rõ những người trông trẻ này sẽ bảo vệ con của nàng với cả mạng sống. Sau những nụ hôn và cái vẫy tay chào tạm biệt, ba phù thủy trẻ cưỡi ngựa vào khu rừng sáng láng, bên dưới những tán cây màu đỏ, vàng và cam.
Ngày 12 tháng Frostfall, năm 2920
tại Dwynnen, High Rock.
Quán rượu the Least Loved Porcupine vẫn đông khách khủng khiếp mặc cho đây là một buổi tối thứ Middas (Middas = Wednesday = Thứ tư). Mỗi ngọn lửa cháy sáng trong cái hố ở trung tâm căn phòng, phát ra ánh sáng trải bóng lên trên khuôn mặt của những vị khách một cách nham hiểm, và làm cơ thể của đám người đó trông như những tấm thảm thêu dùng cho trừng phạt được lấy cảm hứng từ cuốn sách Arcturian Heresies vậy. Cassyr ngồi chỗ thường ngồi của mình với người em họ và gọi một vại bia.
“Anh tới đây để gặp ngài Nam tước phải không?” Palyth hỏi.
“Đúng vậy, ông ta có thể sẽ có việc cho anh trong cung điện ở Urvaius,” Cassyr tự hào nói. “Nhưng ngoài ra, anh không biết có thể nói gì nữa. Em hiểu mà, bí mật quốc gia và chuyện giống vậy. Sao lại tối nay lại đông đến vậy?”
“Một con tàu chở đầy Dark elf vừa cập bến. Bọn họ đến từ cuộc chiến. Em chỉ đang đợi họ tới đây để giới thiệu anh với họ như những cựu binh với nhau.”
Cassyr đỏ mặt, nhưng vẫn giữ được bình tỉnh để hỏi: “Họ đang làm gì ở đây vậy? Vậy là có một hòa ước sao?”
“Em không biết đầu đuôi câu chuyện,” Palyth nói. “Nhưng có vẻ là, Hoàng đế và Vivec đang thương lượng lần nữa. Những anh bạn này có những mối đầu tư mà họ muốn kiểm tra xem, và họ nghĩ là mọi chuyện ở Con Vịnh thì đủ kín đáo. Nhưng cách duy nhất để biết rõ mọi chuyện là hỏi trực tiếp bọn họ.”
Và như vậy, Palyth choàng tay người anh họ của cậu và kéo hắn đi qua phía bên kia quầy rượu cách đột ngột, Cassyr có lẽ đã phải chống cự quyết liệt mới có thể ngăn cậu ta lại được. Những lữ khách Dunmer ngồi tản ra bốn bàn, cười đùa với người địa phương. Họ là những chàng trai to lớn và đáng mến, ăn mặc đẹp đẽ, hợp lý với những thương nhân, cử chỉ sống động và lãng phí nhiều hơn cả vào đồ uống.
“Thứ lỗi cho tôi,” Palyth nói, chen ngang vào cuộc trò chuyện. “Người anh họ ngượng ngùng Cassyr của tôi cũng từng tham gia cuộc chiến, chiến đấu cho vị thánh sống, Vivec.”
“Kẻ tên Cassyr duy nhất mà tôi từng nghe tới,” một người Dunmer say xỉn với một nụ cười lớn và thân thiện, vừa bắt bên tay còn rảnh của Cassyr vừa nói. “Là Cassyr Whitley, kẻ mà Vivec nói là tên gián điệp tồi nhất lịch sử. Chúng ta mất Ald Marak là do tin tình báo dở tệ của hắn. Để tốt cho cậu thôi, anh bạn, tôi mong cậu và hắn ta sẽ không bao giờ bị nhầm với nhau.”
Cassyr chỉ có thể cười và nghe tên thô lỗ này kể câu chuyện về sự thất bại của hắn với những điểm phóng đại lố bịch khiến cả bàn cười ồ lên. Nhiều cặp mắt nhìn về phía hắn, nhưng không ai trong những người bản địa tìm được lời giải thích cho việc tên ngốc trong câu chuyện đang đứng đây lắng nghe. Cặp mắt làm hắn đau đớn nhất chính là từ người em họ của mình, gã trai trẻ đã tin rằng hắn trở về Dwynnen như một người hùng vĩ đại. Vào một lúc nào đó, dĩ nhiên thôi, Nam tước sẽ nghe được về việc này, sự ngu ngốc của hắn sẽ được tăng thêm cho mỗi lần câu chuyện được truyền miệng.
Từ từng sợi tơ kẻ tóc trong hồn của hắn, Cassyr nguyền rủa vị thánh sống Vivec.
Ngày 21 tháng Frostfall, năm 2920
tại Đế đô, Cyrodiil.
Corda, trong tấm áo thụng trắng xóa mờ ảo, một bộ đồng phục của những nữ tu ở Nhạc viện Hegathe Morwha, đã có mặt ở Đô thành vừa lúc cơn bão mùa đông đầu tiên đã qua. Những đám mây tràn ngập ánh nắng, và thiếu nữ Redguard xinh đẹp xuất hiện trên đại lộ với đoàn hộ tống, đang đi về phía cung điện.Trái ngược với người chị gái cao, gầy, đầy góc cạnh và cao dáng vẻ cao ngạo, Corda lại nhỏ nhắn, với khuôn mặt tròn trịa với cặp chân mày rậm. Những người bản địa nhanh chóng có sự so bì nàng với chị mình.
“Chưa được một tháng kể từ vụ hành quyết Quý cô Rijja” một bà nội trợ thì thầm, nhìn ra cửa sổ, và nháy mắt với hàng xóm của mình.
“Và cũng chưa được một tháng từ tu viện,” người phụ nữ khác đồng tình, tiết lộ thêm về vụ bê bối. “Cô gái này vào để vui chơi thôi. Chị của cô ấy đâu có phạm tội, và hãy nhìn xem cô ấy ra nông nỗi nào.”
Ngày 24 tháng Frostfall, năm 2920
tại Dwynnen, High Rock.
Cassyr đứng trên bến cảng và quan sát những bông tuyết sớm mùa rơi trên mặt nước. Thật là tiếc, hắn nghĩ, vì hắn dễ bị say sóng. Giờ thì không có gì cho hắn làm ở Tamriel dù là phía Đông hay phía Tây. Câu chuyện của Vivec về nghệ kỹ năng tình báo tồi tàn của hắn đã được lan truyền tới khắp các quán rượu ở khắp mọi nơi. Bá Tước vùng Dwynnen cũng đã cắt đứt hợp đồng với hắn. Không nghi ngờ gì nếu họ đang cười nhạo hắn ở Daggerfall, ở Dawnstar, Lilmoth, Rimmen, Greenheart, có khi là ở Akavir và Yokuda nữa. Có lẽ tốt hơn hết cứ rơi xuống những con sóng này và chìm nghỉm. Tuy nhiên, suy nghĩ ấy chẳng đọng lại trong đầu hắn lâu: không phải sự tuyệt vọng là thứ đang ám ảnh hắn, mà là sự phẫn nộ. Cơn giận dữ đầy bất lực mà hắn không thể xoa dịu.
“Xin lỗi thưa ngài, cho tôi hỏi,” một giọng nói phát ra đằng sau hắn, đương khi hắn định nhảy. “Tôi xin lỗi khi phải làm phiền ngài, nhưng tôi muốn hỏi liệu ngài có thể chỉ cho tôi một quán rượu không quá đắt để tôi có thể tá túc một buổi tối được không.”
Đó là một cậu trai trẻ, một người Nord, với một bao đồ trên vai. Rõ ràng, cậu ta vừa mới xuống từ một trong những con tàu. Lần đầu tiên sau nhiều tuần lễ, một người nào đó đã nhìn Cassyr như một người bình thường chứ không phải là một tên siêu đần khét tiếng nữa. Hắn ta không thể giúp, với tâm trạng tồi tệ như bây giờ, nhưng vẫn cố tỏ ra thân thiện.
“Cậu vừa tới đây từ Skyrim sao?” Cassyr hỏi.
“Không thưa ngài, đó là nơi tôi đang hướng về,” anh bạn trả lời. “Tôi đang trên đường về nhà. Tôi đã đi từ Sentinel, và trước đó là Stros M’kai, và trước cả đó là Woodhearth ở Valenwood, và trước trước cả đó nữa là Artaeum ở Summerset. Tên tôi là Welleg.”
Cassyr tự giới thiệu bản thân rồi bắt tay Welleg. “Cậu vừa nói mình tới từ Artaeum à? Cậu có phải là một Psijic không?”
“Không, thưa ngài, không còn nữa,” anh bạn nhún vai. “Tôi đã bị đuổi học.”
“Cậu có biết gì về việc triệu hồi daedra không? Cậu thấy đấy, tôi đang muốn yểm một lời nguyền lên một người có quyền lực cụ thể, một kẻ có thể gọi là thánh sống, và tôi chưa gặp được vận may nào cả. Nam tước không cho phép tôi gặp mặt ngài, nhưng Nam tước phu nhân đồng cảm với tôi và cho phép tôi dùng những Buồng Triệu hồi của họ.” Cassyr nhổ xuống đất. “Tôi đã thực hiện mọi nghi thức, cúng vật tế, nhưng chẳng có gì xuất hiện cả.”
“Đó là do Sotha Sil, người thầy cũ của tôi,” Welleg trả lời với chút cay đắng. “Những hoàng tử Daedra đã đồng ý sẽ không nhận phép triệu hồi từ bất cứ kẻ nghiệp dư nào ít nhất là tới khi chiến tranh kết thúc. Chỉ có những Psijic mới có thể thưa chuyện với daedra, hay một vài thầy pháp và phù thủy du mục khác.”
“Cậu nói những phù thủy sao?”
Ngày 29 tháng Frostfall, năm 2920
tại Phrygias, High Rock.
Những ánh nắng trắng nhạt thoi thóp đằng sau màn sương mù đang bao phủ khu rừng đương khi Turala, Doryatha, và Celephyna cưỡi ngựa mình tới trước. Mặt đất ẩm ướt với một lớp sương giả mỏng, và với đống đồ chất đầy, đó là một con đường trơn trượt đi qua những con đồi chưa lát đá. Turala cố gắng giấu đi sự háo hức của mình khi quay về với hội. Wayrest đã là một cuộc phiêu lưu kì thú, nàng yêu thích cái nhìn kinh sợ và tôn trọng mà cư dân thành phố ấy nhìn nàng. Nhưng trong suốt những ngày gần đây, tất cả những gì nàng nghĩ tới là quay về với những người chị em và đứa con của mình.
Một cơn gió mang theo mùi chát thổi tóc của nàng rủ về trước, nên nàng không thể thấy gì ngoài con đường trước mặt. Nàng đã không thể nghe thấy tiếng một người cưỡi ngựa khác đang tiến tới gần bên nàng cho tới khi hắn đã sát bên nàng. Khi nàng quay qua và thấy đó là Cassyr, nàng thốt lên với sự bất ngờ cũng như vui sướng như khi gặp lại một người bạn cũ. Khuôn mặt hắn tái nhợt và như kiệt sức, nhưng nàng cho rằng đó đơn giản là do việc đi đường.
“Điều gì khiến anh quay lại Phrygias vậy?” nàng mỉm cười. “Anh đã không được đối xử tử tế ở Dwynnen sao?”
“Đủ tử tế rồi,” Cassyr nói. “Tôi có việc cần tới Hội Skeffungton.”
“Đi cùng chúng tôi,” Turala nói. “Tôi sẽ mang anh tới chỗ Mynistera.”
Cả bốn người tiếp tục đi, và những phù thủy kể cho Cassyr đủ mọi câu chuyện từ Wayrest. Có thể thấy rằng việc rời khỏi trang trại Old Barbyn cũng là một phần thưởng hiếm hoi đối với Doryatha và Celephyna. Họ đã được sinh ra ở đó, như những người con gái và cháu gái của những phù thủy Skeffington. Cuộc sống đời thường ở thành phố của High Rock thật sự kì thú với họ cũng như đối với Turala. Cassyr nói chuyện rất ít, chỉ cười và gật đầu, nhưng cũng đủ khuyến khích họ rồi. Thật đáng biết ơn, khi những cậu chuyện họ nghe được, không có cái nào là về sự ngu ngốc của hắn. Hoặc ít ra là, họ không kể cho hắn nghe.
Doryatha đang kể dỡ một câu chuyện mà cô được nghe ở quán rượu về một tên trộm mà đã bị nhốt qua đêm trong một tiệm cầm đồ khi mà họ đi qua một con đồi quen thuộc. Đột nhiên, cô dừng câu chuyện của mình lại. Trang trại đáng ra đã có thể nhìn thấy từ đây rồi, nhưng lại không thấy. Ba người còn lại nhìn theo cô xuyên qua màn sương, và một khắc sau, họ chạy nhanh hết sức có thể về nơi từng là Hội Skeffington.
Vụ cháy đã hết từ lâu rồi. Không còn gì ngoài tro bụi, những bộ xương, và những vũ khí bị hư còn lại. Cassyr nhận ra ngay những dấu hiệu của một cuộc cướp phá của Orc.
Những phù thủy nhảy xuống ngựa, chạy hết sức qua những bãi đổ nát và gào khóc. Celephyna tìm được một mảnh vải rách nát nhuốm máu mà cô nhận ra là từ áo choàng của Mynistera. Cô ôm nó vào khuôn mặt đầy tro của mình, khóc nức nở.Turala gào lên tìm Bosriel, nhưng chỉ có tiếng gió huýt cao vót qua những bãi tro đáp lời nàng.
“Kẻ nào đã làm điều này?” Nàng la khóc, nước mắt tuôn xuống mặt nàng. “Ta thề ta sẽ gọi lên ngọn lửa từ chính Oblivion! Bọn chúng đã làm gì với con của ta?”
“Tôi biết kẻ nào làm việc này,” Cassyr nói nhỏ nhẹ, xuống ngựa của mình và tiến về phía nàng. “Tôi đã từng thấy những vũ khí này trước đây. Tôi sợ rằng mình đã gặp những tên quái vật này ở Dwynnen, nhưng chưa bao giờ nghĩ chúng sẽ tìm ra cô. Đây là từ những tên sát thủ được mướn bởi Công tước Mournhold.”
Hắn ngưng lại. Lời nói dối tới cách dễ dàng. Thích nghi với hoàn cảnh và hoàn toàn ứng phó. Hơn nữa là, hắn có thể thấy ngay lập tức nàng tin điều đó. Cơn phẫn nộ về sự tàn nhẫn mà tên Công tước từng cho nàng thấy đã từng lắng xuống, nhưng chưa bao giờ bị quên lãng. Một cái nhìn vào đôi mắt rực lửa của nàng cho hắn biết rằng nàng sẽ triệu hồi daedra và tuôn ra sự trả thù lên hắn cũng như lên khắp Morrowind. Và hơn thế nữa, hắn biết họ sẽ nghe theo.
Và đúng là họ đã nghe hắn. Vì sức mạnh mà lớn hơn cả khát vọng chính là sự phẫn nộ. Dù là cơn phẫn nộ đặt nhầm nơi.
Năm ấy tiếp tục trong tháng Sun’s Dusk.
Ngày 2 tháng Sun’s Dusk, năm 2920
tại Tel Aruhn, Morrowind.
“Một người đàn ông muốn diện kiến người, thưa Night Mother,” cận vệ nói. “Một người thuộc bộ lạc Kothringi, hắn tự xưng là Lãnh chúa Zuuk của Black Marsh, thuộc Quân đồn trú Đế chế ở Gideon.”
“Điều gì khiến ngươi nghĩ là ta sẽ có bất kì hứng thú nào dù là nhỏ nhất để gặp hắn?” Night Mother hỏi một cách ngọt ngào đầy hiểm độc.
“Hắn có mang một lá thư từ Nữ hoàng quá cố của Đế chế Cyrodiil.”
“Chúng ta đang có một ngày bận rộn,” cô mỉm cười, vỗ tay một cách vui thích. “Cho hắn ta vào.”
Zuuk bước vào căn phòng. Làn da màu kim loại của ông, dù chỉ bị hở ra ngoài ở mặt và bàn tay, bắt ánh sáng từ lò sưởi và cả tia sét của đêm giông ngoài cửa sổ. Night Mother cũng để ý thấy rằng cô có thể thấy bản thân cách mà ông nhìn thấy cô: bình tỉnh, đẹp đẽ, gợi lên sự sợ hãi. Ông giao cho cô lá thư của mình được gửi từ Nữ hoàng mà không nói thêm một lời nào cả. Nhấm ngụm rượu của mình, cô đọc nó.
“Công tước vùng Mournhold cũng đã từng đề nghị tôi một khoản tiền xứng đáng để giết Hoàng đế cũng trong năm nay,” cô nói, gập lá thư lại. “Nhưng phần tiền chi trả của ông ta bị chìm, và không bao giờ được giao tới. Nó cũng khá là khó chịu đấy, đặc biệt là sau khi tôi đã phải gặp khá nhiều rắc rối để cài người của mình vào cung điện. Tại sao tôi phải tin rằng phần tiền trả ‘nhiều hơn cả sự rộng lượng cho phép’ của ông, và là từ một người đàn bà đã chết, sẽ được giao?”
“Tôi có mang theo nó cùng mình,” Zuuk trả lời đơn giản. “Nó ở trong cỗ xe đậu bên ngoài.”
“Vậy hãy mang nó vào và công việc của chúng ta coi như xong,” Night Mother mỉm cười. “Hoàng đế sẽ chết vào cuối năm nay. Ông có thể giao vàng lại cho Apaladith. Trừ khi ông muốn dùng chút rượu?”
Zuuk từ chối lời đề nghị và xin lui. Ngay lúc ông rời khỏi phòng, Miramor lách ra ngoài từ sau tấm thảm thêu tối màu, không một tiếng động. Night Mother mời hắn một ly rượu, và hắn nhận nó.
“Tôi biết gã đó, Zuuk,” Miramor nói cẩn trọng. “Dù là tôi không biết là hắn đã làm việc cho Nữ hoàng quá cố.”
“Hãy nói chuyện về bản thân anh thêm một chút nhỉ, nếu anh không phiền.” cô nói, biết rõ rằng hắn, thật sự ra, không hề phiền.
“Hãy để tôi chứng tỏ giá trị của mình,” Miramor nói. “Hãy để tôi làm vụ Hoàng đế. Tôi đã giết con trai lão rồi, và cô cũng đã thấy tôi có thể ẩn thân giỏi như thế nào. Cô dám nói là thấy được một gợn sóng nào từ tấm thảm thêu ấy không.”
Night Mother mỉm cười. Mọi chuyện đâu vào đấy hơi quá tốt.
“Nếu anh biết cách dùng dao găm, and sẽ tìm được hắn ở Bodrum,” cô nói, rồi diễn tả cho hắn những gì hắn phải làm.
Ngày 3 tháng Sun’s Dusk, năm 2920
tại Mournhold, Morrowind.
Công tước nhìn chăm ra ngoài cửa sổ. Đó là một buổi sáng sớm, và đã được bốn ngày liền, một màn sương đỏ bao trùm cả thành phố, chớp giật những tia sét. Một cơn gió quái gở thổi qua những con đường, xé những lá cờ của hắn từ thành lũy của lâu đài, buộc tất cả người dân của hắn phải đóng chặt cửa sổ mình lại. Có điều gì đó kinh khủng đang tới vùng đất của hắn. Hắn không phải kẻ được giáo dục quá tốt, nhưng hắn cũng biết những dấu hiệu. Thần dân của hắn cũng vậy.
“Chừng nào những thông điệp của ta mới tới chỗ Bộ Ba?” hắn gầm rú, quay sang người quản gia của hắn.
“Ngài Vivec đang ở rất xa về phía Bắc, đàm phán về hòa ước với Hoàng đế,” người đàn ông nói, khuôn mặt và giọng của ông run lên trong sợ hãi. "Almalexia và Sotha Sil đang ở Necrom. Có lẽ là tin sẽ tới chỗ họ trong vòng vài ngày.”
Công tước gật đầu. Hắn biết kẻ đưa tin của mình nhanh, nhưng bàn tay của Oblivion cũng nhanh không kém.
Ngày 6 tháng Sun’s Dusk, năm 2920
tại Bodrum, Morrowind.
Ánh đuốc kẹt giữa cơn bão tuyết dày như sương mù làm cho nơi này có cảm giác như thế giới khác. Những người lính từ cả hai trại quân đang co rúm lại với nhau quanh đống lửa lớn nhất: mùa đông mang những kẻ thù suốt bốn năm chiến đấu lại gần nhau. Dù chỉ số ít cận vệ Dunmer biết tiếng Cyrodilic, nhưng bọn họ vẫn tìm được điểm chung chiến đấu để cùng sưởi ấm. Khi một thiếu nữ Redguard xinh xắn bước vào giữa đám họ để xin chút hơi ấm trước khi quay về túp lều bàn bạc hòa ước, nhiều người đàn ông từ cả hai đội quân ngước mắt nhìn chấp thuận.
Hoàng đế Reman đệ Tam nóng lòng muốn rời buổi thỏa ước thậm chí trước khi nó bắt đầu. Một tháng trước, ông nghĩ nó sẽ là biểu hiện của thiện ý nếu chọn nơi gặp mặt là nơi ông thua trước đội quân của Vivec, nhưng nơi này mang lại nhiều ký ức xấu hơn ông nghĩ. Mặc cho sự quả quyết của Quốc chủ Versidue-Shaie rằng những tảng đá của con sông này có màu đỏ là do tự nhiên, Hoàng Đế vẫn thề rằng mình thấy những vết máu từ quân lính của mình.
“Chúng ta đã có đầy đủ phần cụ thể của hòa ước,” ông nói, nhận lấy một ly yuelle nóng từ tình nhân của mình, Corda. “Nhưng ở đây và lúc này thì không phù hợp để ký nó. Chúng ta nên làm việc đó ở Cung điện Đế chế, với đủ mọi sự lộng lẫy và huy hoàng mà sự kiện lịch sử này cần phải có. Cậu nên dẫn theo Almalexia luôn; và cả cậu thầy pháp ấy.”
“Sotha Sil,” gã Quốc chủ thì thầm.
“Khi nào?” Vivec hỏi với sự nhẫn nại đến tột cùng.
“Trong chính xác một tháng,” Hoàng đế nói, mỉm cười hào phóng và run chân một cách khó xử. “Chúng ta sẽ tổ chức một buổi dạ hội lớn để ăn mừng. Và giờ tôi phải đi dạo một chút. Đôi chân của tôi đang bị co rút bởi thời tiết này. Corda thân yêu, nàng đi với ta được không?”
“Dĩ nhiên, Hoàng đế bệ hạ,” nàng nói, giúp ông đi tới cửa lều.
“Ngài có muốn tôi đi cùng luôn không, thưa bệ hạ?” Versidue-Shaie hỏi.
“Hoặc là thần?” Vua Dro’Zel của Senchal hỏi, một cố vấn mới được chỉ định cho tòa án.
“Điều đó không cần thiết đâu, ta sẽ chỉ đi trong vòng một phút thôi,” Reman nói.
Miramor ngồi xổm trong chính bụi cây cói mà hắn đã trốn vào khoảng tám tháng trước. Bây giờ thì mặt đất cứng chắc và được phủ tuyết, và bụi cói được đánh bóng bởi băng giá. Mỗi cử động của hắn dù là nhỏ nhất đều gây ra tiếng giòn răn rắc. Nếu không nhờ những bài ca bằng chất giọng khàn khàn của quân đội Morrowind lẫn Đế chế đang họp quanh đống lửa, thì hắn sẽ chẳng dám mò tới chỗ Hoàng đế và cô người tình bé bỏng của ông gần như thế này. Họ đang đứng ở chỗ cái khe suối bị đóng băng dưới đồi, bao quanh bởi những loài cây bị đóng băng lấp lánh như pha lê.
Một cách cẩn trọng, Miramor lôi con dao ra khỏi vỏ đựng của nó. Hắn đã hơi phóng đại về khả năng xài đoản kiếm của mình cho Night Mother. Đúng là hắn đã dùng một con dao để cắt cổ Hoàng tử Juilek, nhưng chàng trai ấy lúc đó không có khả năng phản kháng. Tuy nhiên, việc đâm một lão già chỉ có một mắt thì khó thế nào? Cần phải có kỹ năng đoản kiếm cỡ nào cho vụ ám sát đơn giản như vậy?
Ý tưởng của hắn hiện ra ngay trước mắt. Người phụ nữ nhìn thấy thứ gì đó sâu trong khu rừng, nàng nói nó là một cột băng có hình dáng kì lạ, rồi phóng đi để lấy nó. Hoàng đế đứng lại phía sau, cười lớn. Ông quay mặt về phía con đồi để nhìn những người lính của mình đang hát bài ca của họ lặp đi lặp lại, lưng của ông quay về phía tên sát thủ. Miramor biết rõ thời khắc đã điểm.
Để ý trong đầu tiến bước chân của mình trên mặt đất đông cứng, hắn bước về phía trước và chém. Rất gần.
Gần như cùng một lúc, hắn cảm nhận được một cánh tay mạnh mẽ giữ cánh tay đang đánh của hắn lại và một cánh tay khác thì thọc một con dao vào họng hắn. Hắn không thể hét lên lời nào. Hoàng đế, vẫn đang nhìn những người lính, không bao giờ thấy được Miramor đang bị lôi lại vào trong bụi cây với một bàn tay điêu luyện hơn hắn rất nhiều đang cắt vào lưng hắn, làm hắn bị tê liệt.
Máu của hắn đổ ra và đã bị đông cứng lại trên mặt đất lạnh giá, Miramor quan sát lúc sắp chết, khi Hoàng đế và cô gái của mình quay lại với trại quân trên con đồi.
Ngày 12 tháng Sun’s Dusk, năm 2920
tại Mourhold, Morrowind.
Một đốm sáng của ngọn lửa không bao giờ tàn là những gì còn sót lại của trung tâm Lâu đài Mournhold, cháy thẳng lên trời vào những đám mây sôi sục. Một đám khói dày, hắc ín trải qua các con đường, đốt cháy bất cứ thứ gì bằng gỗ hay giấy. Những sinh vật có cánh giống dơi gom những người dân đang trốn trong nơi ẩn trú của họ ra ngoài chỗ trống, nơi họ bắt gặp đội quân thật sự. Thứ duy nhất giữ cho Mournhold không bị thiêu rụi là do máu ẩm ướt của người dân phun ra khắp nơi.
Mehrunes Dagon mỉm cười khi hắn quan sát bãi đổ nát của lâu đài.
“Nghĩ xem, ta đã gần như quyết định sẽ không đến,” hắn nói lớn, giọng vang khắp mớ hỗn loạn này. “Tưởng tượng xem, bỏ lỡ tất cả những thú vui này.”
Sự chú ý của hắn bắt gặp một tia sáng nhỏ như cây kim đâm xuyên qua bầu trời đen và đỏ của hắn. Hắn theo sau nó tới nguồn của mình, hai hình dáng, một đàn ông và một đàn bà đang đứng trên ngọn đồi bên trên thành phố. Người đàn ông trong áo choàng trắng hắn nhận ra ngay là Sotha Sil, người thầy pháp đã thuyết phục các Hoàng tử của Oblivion theo cái hòa ước đình chiến vô nghĩa ấy.
“Nếu các ngươi tới tìm tên Công tước của Mournhold, thì hắn không có ở đây,” Mehrunes Dagon cười phá lên. “Nhưng các ngươi có thể sẽ tìm được từng mảnh vụn của hắn trong trận mưa lần sau.”
“Daedra, chúng ta không thể giết ngươi,” Almalexia nói, mặt cô cứng rắn và kiên quyết. “Nhưng ngươi sẽ sớm hối hận về việc đó.”
Và như vậy, hai vị thánh sống và một trong những hoàng tử của Oblivion giao chiến trên đống đổ nát của Mournhold.
Ngày 17 tháng Sun’s Dusk, năm 2920
tại Tel Aruhn, Morrowind.
“Thưa Night Mother,” cận vệ nói.
“Có tin hồi báo từ người của chúng ta trong Cung điện Đế chế.”
Night Mother đọc mảnh giấy thật cẩn thận. Vụ kiểm tra đã thành công: Miramor đã bị phát hiện thành công và bị giết. Hoàng đế đang nằm trong sự bảo vệ lỏng lẻo. Night Mother trả lời ngay lập tức.
Ngày 18 tháng Sun’s Dusk, năm 2920
tại Balmora, Morrowind.
Sotha Sil, khuôn mặt trang nghiêm và khó đoán, đón Vivec ở quảng trường lớn đằng trước cung điện. Vivec đã cưỡi ngựa ngày đêm ngay sau khi nghe tin về trận đánh trong lều của mình ở Bodrum, vượt qua dặm này tới dặm khác, cắt qua khu vực nguy hiểm của Dagoth Ur với tốc độ mù quáng. Về phía Nam, trong suốt quãng đường của cuộc hành trình, anh có thể thấy những đám mây cuộn màu đỏ và biết rằng trận chiến vẫn tiếp tục, ngày qua ngày. Ở Gnisis, anh gặp một người đưa tin từ Sotha Sil, mời anh tới gặp mặt ở Balmora.
“Almalexia đâu rồi?”
“Bên trong,” Sotha Sil nói mệt nhoài. Có một vết cắt dài và xấu xì chạy dọc hàm của anh. “Cô ấy bị thương rất nặng, nhưng Mehrunes Dagon sẽ không quay lại từ Oblivion trong nhiều mùa trăng nữa đâu.”
Almalexia nằm trên một cái giường bằng lụa, được điều trị bởi chính những trị liệu sư của Vivec. Mặt cô, thậm chí là đôi môi cô, xám đục như đá, và máu nhuốm qua lớp vải của những băng gạc. Vivec nắm lấy bàn tay lạnh lẽo của cô. Miệng của Almalexia cử động không ra lời. Cô đang mơ.
Cô đang đánh với Mehrunes Dagon lần nữa giữa cơn bão lửa. Xung quanh cô, những mảnh đen của lâu đài bị vỡ vụn, phát ra những đốm sáng vào bầu trời đêm. Móng của tên Daedra đâm sâu vào bụng cô, truyền độc tố vào mạch máu của cô đang khi Almalexia đang bóp cổ hắn. Khi cô ngã xuống đất kề bên kẻ thù vừa bị đánh bại, cô nhìn thấy viễn cảnh một lâu đài đang bị nuốt lấy bởi lửa, không phải Lâu đài Mournhold. Nó là Cung điện Đế chế.
Ngày 24 tháng Sun’s Dusk, năm 2920
tại Đế đô, Cyrodiil.
Một cơn lốc mùa đông thổi vào thành phố, vỗ vào những cửa sổ và mái vòm bằng kính của Cung điện Đế chế. Những luồng sáng run rẩy thắp sáng những dáng hình bên trong với những đường vân kì lạ.
Hoàng đế ra lệnh cho người của mình chuẩn bị bàn tiệc và dạ hội. Đây là điều mà ông thích nhất, nhiều hơn cả chiến trận. Vua Dro’Zel đang giám sát việc giải trí, và có những ý kiến đóng góp rất nghiêm túc. Chính Hoàng đế cũng tham gia bày biện chi tiết của bàn ăn tối. Cá nebfish nướng, lõi rau quả, những súp kem, helerac trét bơ, cá tuyết, lưỡi tùng dương. Quốc chủ Versidue-Shaie cũng đã đề xuất một số ý kiến của bản thân, nhưng khẩu vị của người Akavir rất kì lạ.
Quý cô Corda đi chung với Hoàng đế về phòng của mình khi trời đã tối.
Năm ấy tiếp tục vào tháng Evening Star.
Ngày 1 tháng Sun’s Dusk, năm 2920
tại Balmora, Morrowind.
Ánh nắng của buổi sáng mùa đông lấp lánh chiếu qua những lớp sương giá như mạng nhện trên cửa sổ, và Almalexia cuối cùng đã mở mắt. Một trị liệu sư cổ đại lau trán cô bằng một cái khăn ướt, mỉm cười nhẹ nhõm. Đang ngủ trên cái ghế ở kề bên giường của cô là Vivec. Người trị liệu sư nhanh chóng đi tới một cái buồng phụ và quay lại với một bình nước.
“Ngài cảm thấy thế nào, thưa nữ thần?” trị liệu sư hỏi.
“Cứ như là ta đã ngủ rất lâu rồi vậy,” Almalexia nói.
“Và đúng là như vậy. Mười lăm ngày,” trị liệu sư nói, rồi chạm tay của Vivec. “Chủ nhân, hãy dậy đi. Ngài ấy nói chuyện được rồi.”
Vivec giật mình bật dậy, thấy được Almalexia còn sống và đang thức, mặt anh nở một nụ cười rạng rỡ. Anh hôn trán của cô, và nắm tay cô. Cuối cùng thì, đã lại có hơi ấm trong da thịt của cô.
Sự bình thản của Almalexia đột nhiên bị gián đoạn: “Sotha Sil --”
“Anh ấy còn sống và khỏe mạnh,” Vivec trả lời. “Lại đang làm việc với một trong những cỗ máy của mình ở đâu đó. Anh ấy cũng muốn ở lại đây, nhưng rồi nhận ra rằng mình có thể giúp nàng nhiều hơn nếu làm cho xong cái phép thuật kỳ lạ của anh ấy.”
Người quản gia xuất hiện ở trước cửa. “Xin lỗi đã gián đoạn ngài, thưa chủ nhân, nhưng thần muốn thông báo cho ngài rằng người đưa tin nhanh nhất của ngài đã đi tới Đế đô vào khuya hôm qua.”
“Người đưa tin?” Almalexia hỏi. “Vivec, chuyện gì đã xảy ra vậy?”
“Ta đã dự định sẽ đi và kí một hòa ước với Hoàng đế vào ngày sáu, nên ta đã gửi tin cho ông ta rằng nó phải bị hoãn lại.”
“Chàng không thể giúp được gì cho ta ở đây đâu,” Almalexia nói, gắng sức tự kéo mình dậy. “Nhưng nếu chàng không ký hòa ước ấy, chàng sẽ đưa Morrowind quay lại thời kỳ chiến tranh, có thể là thêm tám mươi năm nữa. Nếu chàng rời đi ngay hôm nay với một đoàn hộ tống và thật khẩn trương, thì có lẽ chàng có thể tới Đế đô chỉ trễ một hay hai ngày.”
“Nàng có chắc chắn rằng không cần ta ở đây không?” Vivec hỏi.
“Em biết rằng Morrowind cần chàng hơn.”
Ngày 6 tháng Sun’s Dusk, năm 2920
tại Đế đô, Cyrodiil.
Hoàng đế Reman đệ Tam ngồi trên ngai của mình, nhìn quanh khảo sát thính phòng. Nó là một khung cảnh ngoạn mục: Những nơ bạc treo ở đỉnh những cột nhà, những vạc thảo dược được đun sôi tỏa mùi hương ngọt ngào đang sùng sục ở mọi góc nhà, loài chim cánh én vùng Pyandonean lướt qua trong không trung, hót những bài ca của chúng. Khi những ngọn đuốc đã được thắp lên và những người đầy tớ bắt đầu quạt, căn phòng hóa thành một xứ sở thần tiên đẹp lung linh. Ông đã có thể ngửi thấy mùi nhà bếp rồi, mùi gia vị và đồ nướng.
Quốc chủ Versidue-Shaie và con trai mình Savirien-Chorak trườn vào trong phòng, cả hai đều được trang điểm đầy những vật đeo đầu và trang sức của người Tsaesci. Không có nụ cười nào trên gương mặt vàng kim của họ, nhưng cũng hiếm khi có nụ cười nào cả. Hoàng đế vẫn chào đón người cố vấn đáng tin cậy của mình với sự nhiệt thành.
“Điều này chắc hẳn sẽ gây ấn tượng cho bọn Dark elf man rợ đó,” ông cười lớn. “Khi nào họ mới tới?”
“Một người đưa tin từ Vivec vừa tới,” gã Quốc chủ nói cách long trọng. “Tôi nghĩ tốt nhất Hoàng đế bệ hạ nên gặp riêng hắn một mình.”
Hoàng đế không còn cười được nữa, nhưng rồi gật đầu với những người hầu của mình để họ lui xuống. Sau đó cánh cửa mở ra và Quý cô Corda bước vào phòng, với một cuộn giấy da trong tay. Nàng đóng cánh cửa đằng sau mình lại, nhưng không nhìn lên để thấy mặt Hoàng đế.
“Kẻ đưa tin đưa lá thư của hắn cho tình nhân của ta sao?” Reman nói, đầy hoài nghi, đứng dậy để nhận lá thư. “Đó là một cách đưa tin rất không chính thống đấy.”
“Nhưng thông điệp, bản thân nó, thì rất chính thống,” Corda nói, nhìn lên vào con mắt tốt còn lại của ông. Với một chuyển động gây mù duy nhất, nàng đưa lá thư lên tới cằm của Hoàng đế. Mắt ông mở to và máu đổ xuống tấm da trống không không chữ. Đúng là trống không, chỉ trừ ra một dấu hiệu màu đen của hội Morag Tong, cho thấy con dao găm ẩn đằng sau nó, cái mà nàng đang bắt đầu vặn xoắn, cắt vào họng của ông tới tận xương. Hoàng đế ngã rạp xuống sàn, thở gấp không thành tiếng.
“Cô cần bao lâu?” Savirien-Chorak hỏi.
“Năm phút,” Corda nói trong khi lau máu trên tay nàng. “Nhưng nếu anh có thể cho tôi mười phút, tôi sẽ biết ơn gấp đôi.”
“Được thôi,” gã Quốc chủ nói với tấm lưng của Corda vì nàng đã phóng nhanh khỏi thính phòng. “Cô ấy hẳn phải là một người Akavir, cách cô gái ấy dùng lưỡi dao thật đáng phải ngưỡng mộ.”
“Con phải đi tạo chứng cứ ngoại phạm cho chúng ta,” Savirien-Chorak nói, biến mất vào đằng sau một trong những lối đi bí mật mà duy chỉ có những người Hoàng đế tin tưởng nhất biết.
“Ngài còn nhớ không, gần một năm trước, thưa Hoàng đế bệ hạ,” gã Quốc chủ cười, nhìn xuống người đàn ông đang hấp hối. “Khi ngài bảo tôi phải nhớ ‘Người Akavir các cậu có rất nhiều chiêu trò bắt mắt, nhưng nếu chỉ một trong những đòn tấn công của chúng tôi qua được thôi, mọi chuyện coi như kết thúc cho các cậu.’ Tôi đã ghi nhớ điều đó, ngài thấy đấy.”
Hoàng đế nhổ ra máu và bằng cách nào đó nói ra từ: “Rắn.”
“Tôi đúng là rắn, thưa Hoàng đế bệ hạ, từ trong ra ngoài luôn. Nhưng tôi đã không nói dối. Có một người đưa tin từ Vivec. Có vẻ như cậu ta sẽ có mặt muộn một chút,” gã Quốc chủ nhún vai trước khi biến mất đằng sau lối đi bí mật. “Nhưng ngài đừng lo. Tôi chắc rằng thức ăn sẽ không bị hỏng mất đâu.”
Hoàng đế của Tamriel đã chết trong vũng máu của chính mình giữa một thính phòng trống không được trang trí cho một vũ hội lớn. Ông được tìm thấy mười lăm phút sau bởi cận vệ của mình. Corda thì không thể bị tìm thấy.
Ngày 8 tháng Sun’s Dusk, năm 2920
tại Caer Suvio, Cyrodiil.
Lãnh chúa Gla, đang mạnh dạn xin lỗi vì chất lượng của con đường dẫn qua cách rừng, cũng là sứ giả đầu tiên tới chào đón Vivec và đoàn hộ tống của anh khi họ có mặt. Một dãy những quả cầu lửa rực sáng trang trí những cái cây không lá bao quanh căn villa, bồng bềnh trong làn gió nhẹ nhàng nhưng lạnh lẽo của buổi tối. Từ bên trong, Vivec có thể ngửi thấy mùi một bữa tiệc đơn sơ với một giai điệu cao và buồn. Đó là một đồng giao truyền thống của người Akavir vào mùa đông.
Quốc chủ Versidue Shaie chào đón Vivec ở cửa trước.
“Tôi mừng là cậu đã nhận được tin trước khi phải tốn cả chặng đường vào Đô thành,” gã Quốc chủ nói, dẫn khách của mình vào một căn phòng khách rộng lớn và ấm áp. “Chúng ta đang trong một khoảng thời gian chuyển giao khó khăn, và tạm thời thì, tốt nhất chúng ta không nên tiến hành công việc của mình trong thủ đô.”
“Không có người kế vị sao?” Vivec hỏi.
“Không có ai chính thức cả, dù là có vài người họ hàng xa đang tranh nhau ngai vàng. Trong khi chúng ta làm rõ vấn đề, ít ra thì những người thuộc quý tộc đã quyết định rằng tôi nên điều hành cho vị chủ nhân quá cố của mình,” Versidue-Shaie ra hiệu cho những đầy tớ kéo hai cái ghế thoải mái ra trước lò sưởi. “Vậy cậu cảm thấy dễ chịu hơn nếu như chúng ta ký hòa ước chính thức ngay bây giờ, hay cậu muốn ăn gì đó trước?”
“Ông định tuân theo hòa ước của Hoàng đế ư?”
“Tôi định làm mọi việc như Hoàng đế,” gã Quốc chủ nói.
Ngày 14 tháng Sun’s Dusk, năm 2920
tại Tel Aruhn, Morrowind.
Corda, dính đầy bụi đất từ chuyến đi, bay vào vòng tay của Night Mother. Trong giây lát, họ ôm chặt lấy nhau, Night Mother vuốt ve tóc con gái mình, hôn lên trán của nàng. Cuối cùng, cô đưa tay vào vạt áo rồi đưa cho Corda một lá thư.
“Đó là gì vậy?” Corda hỏi.
“Một là thư từ Quốc chủ, bày tỏ sự hài lòng của ngài ấy về sự chuyên nghiệp của con,” Night Mother trả lời. “Ngài đã hứa gửi cho chúng ta phần tiền thanh toán, nhưng ta đã gửi lời đáp tới ngài ấy rồi. Vị Hoàng hậu quá cố đã trả đủ cho chúng ta cho cái chết của chồng bà ấy rồi. Mephala sẽ không cho chúng ta tham lam hơn phần mà chúng ta cần có. Con không nên được trả gấp đôi cho cùng một vụ ám sát, nó được viết như vậy đấy.”
“Hắn đã giết Rijja, chị của con,” Corda thì thầm.
“Và vậy nên con phải là người thực hiện việc ấy.”
“Bây giờ con sẽ đi đâu đây?”
“Mỗi khi một trong những người làm việc thiêng liêng như chúng ta trở nên quá nổi tiếng để có thể tiếp tục cuộc thập tự chinh, chúng ta gửi họ tới một hòn đảo tên là Vounoura. Không mất hơn một tháng đi tàu tới đó, và ta đã sắm sẵn một nơi đẹp đẽ để con ẩn náu ở đó rồi,” Night Mother hôn những giọt nước mắt của cô gái. “Con sẽ được gặp nhiều người bạn ở đó, và ta biết cuối cùng con sẽ tìm được sự bình yên và hạnh phúc, con gái ta à.”
Ngày 19 tháng Sun’s Dusk, năm 2920
tại Mournhold, Morrowind.
Almalexia khảo sát việc tái xây dựng thành phố. Tinh thần của những công dân thật sự rất đáng ngưỡng mộ, cô nghĩ, đang khi đi bộ dọc theo bộ khung của những tòa nhà mới đang đứng giữa đống đổ nát, đen kịt của những tòa nhà cũ. Đến cả những loài cây cỏ cũng cho thấy khả năng hồi phục đáng kinh ngạc. Có sự sống trong bãi đổ nát còn lại của những bụi dâu và roobrush mà đã từng xếp dọc theo đại lộ chính. Cô có thể cảm nhận được nhịp đập. Khi mùa xuân đến, màu xanh sẽ đâm chồi qua màu đen này.
Người kế vị của Công tước, một chàng trai khá thông minh với sự mạnh mẽ và lòng can đảm của người Dunmer, đang xuống đây từ phía Bắc để nhận vị trí của cha mình. Vùng đất sẽ làm nhiều hơn là chỉ sống sót: nó sẽ mạnh lên và mở rộng ra. Cô cảm thấy được tương lai còn mạnh mẽ hơn những gì cô thấy ở hiện tại.
Trong tất cả những điều mà cô chắc chắn, cô biết rằng Mournhold sẽ luôn là nhà cho ít nhất một nữ thần.
Ngày 22 tháng Sun’s Dusk, năm 2920
tại Đế đô, Cyrodiil.
“Huyết thống Cyrodiil đã tận,” gã Quốc chủ tuyên bố cho đám đông tụ tập bên dưới Ban công của Người phát ngôn của Cung điện Đế chế. “Nhưng Đế chế vẫn sống. Những họ hàng xa của Hoàng đế đáng kính của chúng ta đã bị đánh giá là không xứng với ngôi vị bởi những quý tộc đáng tin cậy đã cố vấn cho Hoàng đế bệ hạ trong suốt triều đại dài và lẫy lừng của ngài. Nó đã được quyết định là, như một người bạn công bằng và trung thành với Reman đệ Tam, tôi sẽ có trách nhiệm tiếp tục công việc trên danh nghĩa của ngài ấy.”
Gã Akavir dừng lại một chút, để cho lời của hắn vang ra và truyền vào trong tai của những cư dân. Họ đơn giản chỉ nhìn lên hắn chằm chằm trong im lặng. Cơn mưa đã trải qua những con đường của thành phố, nhưng mặt trời, trong một thời gian ngắn ngủi, xuất hiện để ban ra một chút yên bình trước cơn bão mùa đông.
“Tôi muốn làm rõ rằng tôi sẽ không nhận danh hiệu Hoàng đế,” hắn tiếp tục. “Tôi đã và sẽ tiếp tục là Quốc chủ Versidue Shaie, một người ngoại bang được tiếp đón tử tế tới vùng đất của mọi người. Nó là nghĩa vụ của tôi khi bảo vệ vùng đất thân thương này, và tôi xin được làm việc không ngừng nghỉ cho tới khi một ai đó xứng đáng hơn tới và đón lấy gánh nặng này từ tôi. Như là hành động đầu tiên, tôi tuyên bố rằng để kỷ niệm sự kiện lịch sử này, kể từ ngày đầu tiên của tháng Morning Star, chúng ta sẽ bước vào năm đầu tiên của Kỷ nguyên thứ hai. Như vậy, chúng ta sẽ ngừng than khóc cho cái chết của gia đình Đế vương, và nhìn vào tương lai phía trước.”
Chỉ có một người vỗ tay trước những lời đó. Vua Dro’Zel của Senchai thật sự tin rằng đây sẽ là điều tốt nhất có thể xảy ra trong lịch sử của Tamriel. Và dĩ nhiên, ông ta khá là điên.
Ngày 31 tháng Sun’s Dusk, năm 2920
tại Ebonheart, Morrowind.
Trong hầm mộ đầy khói bên dưới thành phố nơi mà Sotha Sil rèn nên tương lai với những bộ máy đồng hồ của mình, điều gì đó không thể lường trước đã xảy ra. Một bong bóng dầu thấm qua một bánh răng chắc chắn và vỡ ra. Ngay lập tức, vị thầy pháp chú ý tới nó và chuỗi những sự kiện nhỏ mà nó gây ra. Một đường ống lệch khoản một phân rưỡi về bên trái (half an inch; 1 inch = 2,5 cm). Một phần máy bị bỏ qua. Một cuộn dây tự quấn nó lại rồi bắt đầu quay theo chiều ngược lại. Một pít tông mà đã luôn đẩy trái-phải, trái-phải, hàng ngàn năm đột nhiên chuyển sang phải-trái. Không có gì bị hư hại cả, nhưng mọi thứ đều thay đổi.
“Giờ thì nó không thể sửa được nữa,” người thầy pháp thì thầm.
Anh nhìn lên, qua một cái khe trên trần nhà, vào bầu trời đêm. Giờ đang là nửa đêm. Kỷ nguyên thứ hai, một thời kỳ hỗn mang, đã bắt đầu.
Bộ sách được dịch bởi Hunson Abadeer thuộc team lore của group Skyrim VN.
Vui lòng không sao chép, reup ngoài phạm vi fanpage và group Skyrim VN.