Sách đỏ (Red Data Book) là tài liệu khoa học ghi nhận danh sách các loài động vật, thực vật quý hiếm đang bị đe dọa, suy giảm số lượng nghiêm trọng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao. Màu đỏ tượng trưng cho "báo động đỏ", nhằm cảnh báo và kêu gọi hành động bảo tồn, phục hồi loài sinh vật đó
Khám phá 10 loài động vật quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam
DANH SÁCH 10 LOÀI QUÝ HIẾM TRONG VIDEO
Video này cung cấp cái nhìn chi tiết về các loài động vật đang ở tình trạng báo động đỏ tại Việt Nam:
1. Hổ Đông Dương: "Chúa sơn lâm" đang dần mất dấu trong tự nhiên.
2. Voi Châu Á: Đang đứng trước nguy cơ xung đột với con người do mất sinh cảnh sống.
3. Sao La: Loài "Kỳ lân châu Á" cực kỳ quý hiếm, biểu tượng của bảo tồn.
4. Voọc chà vá chân xám: Loài linh trưởng đặc hữu có màu sắc rực rỡ nhất.
5. Tê tê Manis: Nạn nhân của việc buôn bán động vật hoang dã xuyên quốc gia.
6. Gấu ngựa: Đang nỗ lực được giải cứu từ các trang trại nuôi lấy mật.
7. Sếu đầu đỏ: Biểu tượng của sự thuần khiết tại vùng đất ngập nước miền Tây.
8. Rùa Hoàn Kiếm: Loài rùa nước ngọt quý hiếm nhất thế giới.
9. Vượn đen má trắng: Sở hữu tiếng hót vang vọng khắp núi rừng đại ngàn.
10. Cá heo sông (Irrawaddy): Những "thiên thần" nước ngọt đang dần cạn kiệt số lượng.
Thạch sùng ngón Bà Đen( là loài bò sát thuộc họ Tắc kè, sống chủ yếu tại núi Bà Đen)Lớp bò sát
Bọ lá Việt Nam( cơ thể dẹt, chân rộng bản, cánh giả gân lá), quý hiếm cần được bảo tồn tại Việt NamLớp côn trùng
Bọ cap hang( nhóm động vật chân khớp thuộc hình nhện)Lớp hình nhện
Sóc đen( là loài gậm nhấm hiếm quý đặc hữu, một trong những biểu tượng động vật đặc sắc của Côn Đảo) Lớp thú
Rắn cạp nia nam( loài rắn độc nguy hiểm thuộc họ Rắn hổ, phân bố chủ yếu ở miền trung và miền nam Việt Nam)Lớp bò sát
Nguyên nhân chính dẫn đến động vật bị đưa vào Sách Đỏ là do tác động tiêu cực của con người, bao gồm săn bắt trái phép, mất môi trường sống, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Sự bùng nổ dân số và khai thác quá mức làm suy giảm nghiêm trọng số lượng loài, khiến nhiều loài quý hiếm đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. * Cụ thể các nguyên nhân bao gồm: - Mất và suy thoái môi trường sống: Chặt phá rừng, cháy rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và ô nhiễm nguồn nước/đất làm mất nơi ở và nguồn thức ăn tự nhiên của sinh vật. - Săn bắt, bẫy bắt và buôn bán trái phép: Nạn săn trộm, kinh doanh các loài động vật hoang dã quý hiếm làm giảm số lượng loài nhanh chóng. - Biến đổi khí hậu: Sự thay đổi nhanh chóng của khí hậu toàn cầu khiến nhiều loài không kịp thích nghi. - Sinh vật ngoại lai xâm hại: Các loài mới du nhập cạnh tranh thức ăn, môi trường sống hoặc tiêu diệt loài bản địa. - Khai thác quá mức: Đánh bắt, khai thác tài nguyên sinh vật vượt quá khả năng phục hồi của tự nhiên.
A) Sự suy giảm về kích cỡ quần thể
B) Phân bố địa lý
C) Kích cỡ quần thể nhỏ và bị suy giảm
D) Quần thể rất nhỏ hoặc phân bố hẹp
E) Phân tích số lượng
Nhóm I: Không (hoặc chưa) được đánh giá (Not Evaluated, NE) theo các tiêu chuẩn. Một taxon (tạm dịch là đơn vị phân loại) được xác định là Chưa đánh giá nếu nó chưa được đánh giá tình trạng bảo tồn theo các tiêu chuẩn (Hình 1).
Nhóm II: Được đánh giá, gồm: Thiếu dẫn liệu (Data Deficient, DD) và Có đủ dẫn liệu bao gồm: Ít lo ngại (Least Concern, LC), Gần bị đe dọa (Near Threatened, NT), Sẽ nguy cấp (Vulnerable, VU), Nguy cấp (Endangered, EN), Cực kỳ nguy cấp (Critically Endangered, CR), Tuyệt chủng ngoài tự nhiên (Extinct in the Wild, EW) và Tuyệt chủng (Extinct, EX)
Tuyệt chủng (EX): Một taxon được xếp hạng Tuyệt chủng khi đủ lý do để tin là cá thể cuối cùng của taxon đó đã chết. Một taxon được xác định là tuyệt chủng nếu đã có các đợt điều tra kỹ lưỡng tại các sinh cảnh đã từng bắt gặp hoặc được cho là có taxon đó phân bố vào các thời điểm thích hợp (đêm, ngày, mùa, hàng năm) ở khắp vùng phân bố đã biết nhưng không ghi nhận một cá thể nào của taxon này. Những đợt điều tra này phải kéo dài đủ một khoảng thời gian nhất định tùy thuộc vòng đời và dạng sống của taxon.
Tuyệt chủng ngoài tự nhiên (EW): Một taxon được xếp hạng Tuyệt chủng ngoài tự nhiên khi nó chỉ còn được ghi nhận trong điều kiện nuôi trồng, nuôi nhốt hoặc trong các quần thể được du nhập và phát triển ở bên ngoài vùng phân bố trước đây của nó. Một taxon được xác định là Tuyệt chủng ngoài tự nhiên nếu đã có các đợt điều tra kỹ lưỡng tại các sinh cảnh đã từng bắt gặp hoặc được cho là có taxon đó phân bố vào các thời điểm thích hợp (đêm ngày, mùa, hàng năm) ở khắp vùng phân bố đã biết nhưng không ghi nhận một cá thể nào của taxon này. Những đợt điều tra này phải kéo dài đủ một khoảng thời gian nhất định tùy thuộc vòng đời và dạng sống của taxon.
Cực kỳ nguy cấp (CR): Một taxon được xếp hạng Cực kỳ nguy cấp nếu với các bằng chứng hiện có cho thấy phù hợp với bất kỳ tiêu chuẩn nào từ A đến E ở mức Cực kỳ nguy cấp, và vì vậy taxon này được coi là đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên ở mức độ cực kỳ cao.
Nguy cấp (EN): Một taxon được xếp hạng Nguy cấp nếu với các bằng chứng hiện có cho thấy phù hợp với bất kỳ tiêu chuẩn nào từ A đến E ở mức Nguy cấp, và vì vậy taxon này được xác định là đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên ở mức độ rất cao.
Gần bị đe dọa (NT): Một taxon được xếp hạng Gần bị đe dọa nếu theo các tiêu chuẩn đánh giá thì chưa đáp ứng để xếp hạng Cực kỳ nguy cấp, Nguy cấp hay Sẽ nguy cấp vào thời điểm hiện tại, nhưng gần đạt hoặc có khả năng sẽ đáp ứng các tiêu chí để phân hạng ở một mức độ bị đe dọa trong tương lai gần.
Ít lo ngại (LC): Một taxon được xác định là ít lo ngại nếu đã đánh giá theo các tiêu chuẩn nhưng không thuộc các phân hạng Cực kỳ nguy cấp, Nguy cấp, Sắp nguy cấp hay Gần bị đe dọa. Các loài có số lượng cá thể phong phú hoặc phân bố rộng nằm trong mức phân hạng này.
Thiếu dẫn liệu (DD): Một taxon được coi là Thiếu dẫn liệu nếu không đủ tài liệu để trực tiếp hoặc gián tiếp để đánh giá mức độ nguy cơ tuyệt chủng của nó dựa trên tình trạng phân bố và tình trạng quần thể. Taxon này có thể đã được nghiên cứu rất kỹ về các đặc tính sinh học, nhưng thiếu số liệu chính xác về độ phong phú và phạm vi phân bố địa lý. Do vậy, thiếu dẫn liệu không được coi là một phân hạng bị đe dọa. Các taxon được liệt kê vào phân hạng này cần có thêm thông tin và được cho rằng các nghiên cứu trong tương lai có thể sẽ xác định loài này vào một cấp phân hạng nào đấy phù hợp. Điều quan trọng là mức độ phân hạng này tạo nên sự sẵn sàng để cập nhật thông tin bất cứ lúc nào. Trong nhiều trường hợp, cần rất cẩn trọng khi lựa chọn giữa đánh giá là Thiếu dữ liệu và phân hạng vào một bậc bị đe dọa. Nếu trong trường hợp một taxon được cho là đáp ứng gần đủ tiêu chuẩn đánh giá và thời gian tính từ lần ghi nhận cuối cùng của taxon này đã khá lâu thì nên đưa nó vào tình trạng bị đe dọa.
Do điều kiện thời gian còn hạn chế nên trong khuôn khổ của Đề tài này, các tác giả chỉ đưa vào Danh lục Đỏ Việt Nam và Sách Đỏ Việt Nam các loài được đánh giá, phân hạng bảo tồn ở các bậc NT, VU, EN, CR, EW và EX
Bảng 1: Tóm tắt 5 tiêu chuẩn (A đến E) sử dụng để đánh giá một taxon theo tiêu chí phân hạng của Danh lục Đỏ IUCN ở các bậc đe dọa: Cực kỳ nguy cấp CR, Nguy cấp EN và Sẽ nguy cấp VU