HỌC VÀ LÀM THEO PHONG CÁCH NGÔN NGỮ CỦA BÁC HỒ

Chúng ta đang triển khai thực hiệc việc học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15.5.2016 của Bộ Chính trị khóa XII. Chỉ thị đã nêu rõ ba nội dung cần phải học và làm theo Bác là tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người.

Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc và là danh nhân văn hóa thế giới. Phong cách của Người rất mẫu mực và thể hiện qua cách sống cách làm việc, cách tư duy, cách ứng xử, cách nói và viết (phong ngôn ngữ)... của một nhân cách lớn. Phong cách ngôn ngữ của Bác là chuẩn mực về sử dụng tiếng Việt. Học sinh, sinh viên, thầy, cô giáo và những ai thường xuyên phải giao tiếp thì việc học và làm theo phong cách ngôn ngữ của Người sẽ giúp diễn đạt tốt hơn suy nghĩ, tình cảm, kiến thức... của mình. Cán bộ lãnh đạo, đảng viên phải thường xuyên làm công tác dân vận, học tập phong cách ngôn ngữ của Bác sẽ góp phần diễn đạt đúng “ý Đảng lòng dân”, sẽ trở thành người “dân vận khéo” thì đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước sẽ được dân làm đúng. “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” (lời của Bác).

Là lãnh tụ vĩ đại của dân ta, là nhà ngoại giao, nhà chính trị xuất chúng, Bác còn là nhà văn, nhà thơ, nhà báo gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Người.

Sự nghiệp văn chương của Người “vô cùng trong sáng và đẹp đẽ ”. Di sản văn học của Người là vô giá. Văn của Bác có nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, truyện viễn tưởng, truyện ký, kịch, văn chính luận... Văn chính luận của Bác rất ngắn gọn, lập luận chặt chẽ, sắc sảo, bút pháp nghệ thuật phong phú, bằng chứng đầy thuyết phục. Đó là những áng hùng văn bất hủ như: Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước (1966). Truyện và ký Bác viết rất hiện đại, sử dụng nghệ thuật trào phúng sắc bén. Thơ của Bác là “những vần thơ thép, mà vẫn mênh mông bát ngát tình”.

Bác là nhà báo bậc thầy và sự nghiệp báo chí của Người để lại hết sức to lớn. Sinh thời Bác không nhận mình là nhà văn, nhà thơ mà chỉ nhận mình có duyên với báo chí. Bác sáng lập 9 tờ báo cách mạng Việt Nam, trong đó có những báo lớn như Cứu quốc, Quân đội nhân dân (tiền thân là báo Lính Kách mệnh), Nhân Dân (trước 3.1951 là báo Sự thật). Bác có hơn 2.000 bài đăng trên các báo trong và ngoài nước, trong đó có 1.205 bài trên báo Nhân Dân dưới rất nhiều bút danh. Theo báo điện tử ĐCSVN, đã xác định được Bác có 175 bút danh và 30 bút danh đang xem xét. Dù có bút danh hay bút danh mới lạ hoặc không có bút danh ta vẫn dễ nhận ra bài viết của Bác. Phong cách ngôn ngữ của Bác rất riêng, không thể lẫn với ai được như một dạng “vân chữ” vậy, đặc biệt ngôn ngữ báo chí.

Bác Hồ làm báo là để tố cáo tội ác của chế độ thực dân phong kiến, để truyền bá chủ nghĩa Mác, tuyên truyền vận động dân ta cùng nhau đứng lên đánh đổ thực dân Pháp, quét sạch giặc Mỹ xâm lược giành độc thống nhất nước nhà, động viên mọi người hăng hái thi đua yêu nước và xây dựng XHCN... Bác xem nhà văn, nhà báo là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa văn nghệ, “cây bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh...”

Bác viết ngắn gọn, trong sáng. Lời nói và bài viết giản dị như phong cách đời thường của Bác, “vì muốn cho quần chúng nhân dân hiểu được, nhớ được và làm được”. Hơn 30 năm ra đi tìm đường cứu nước, Bác tiếp xúc với văn hóa nhiều vùng trên thế giới từ Đông sang Tây và đến nhiều nước ở các châu lục. Bác biết 9 ngoại ngữ. Bác viết văn bằng tiếng Pháp “rất Pháp”. Thơ Đường bằng chữ Hán của Bác là những tuyệt tác. Thế nhưng khi Bác viết và nói tiếng Việt thì không có bóng dáng của ngôn ngữ nước ngoài nào mà lại rất Việt Nam, mộc mạc, giản dị, trong sáng, dễ hiểu phù hợp với sự hiểu biết của người nghe, người đọc. Nhờ đó bài viết, bài nói của Bác thấm vào lòng dân như một lẽ tự nhiên, có sức thuyết phục mạnh mẽ.

Tròn 90 năm trước (1927) trong phần đầu cuốn Đường Kách mệnh, Bác viết: “Sách này muốn nói vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ. Chắc có người chê văn chương cụt quằn. Đây muốn nói việc gì thì nói rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như 2 lần 2 là 4, không tô vẽ trang hoàng gì cả. Sách này chỉ ước ao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau làm cách mệnh”. Khi còn là sinh viên năm thứ nhất, người viết bài này bị choáng ngợp trước những từ ngữ hàn lâm của các môn triết học, kinh tế chính trị... Một lần đến thư viện tình cờ tìm được cuốn Đường Kách mệnh, thấy Bác Hồ giải thích các khái niệm cách mạng, cách mạng dân tộc, cách mạng tư sản... thật đơn giản, thật dễ hiểu. “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Bác giải thích cách mạng dân tộc : “Bọn cường quyền này bắt dân tộc kia làm nô lệ như Pháp với An Nam. Đến khi dân nô lệ ấy chịu không nổi nữa, tỉnh ngộ lên, đoàn kết lại, biết rằng thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ, đồng tâm hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi, ấy là dân tộc cách mệnh”. Về cách mạng vô sản Bác viết: “Giai cấp công nông bị áp bức bóc lột, công nông không chịu nổi, đoàn kết nhau đánh đuổi tư bản đi, như bên Nga, ấy là giai cấp cách mệnh ; nói tóm lại là giai cấp bị áp bức cách mệnh để đạp đổ giai cấp đi áp bức mình”... Bác nói về CNXH là “mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng tự do, là đoàn kết vui, khỏe”. Sau này khi dân trí đã cao hơn, Bác giải thích thêm “CNXH là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”...

Bác luôn nói, viết ngắn gọn, đủ ý. Năm 1953 nói chuyện về cách viết với các nhà báo Bác dặn: “Trước hết là cần tránh cái lối viết “rau muống” nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải” làm cho người xem như “chắt chắt vào rừng xanh”(chắt chắt là loài chim sâu, nhỏ như chim vành khuyên). Bác viết không có câu thừa, chữ thừa. Di chúc của Người có đoạn lặp lại 4 lần chữ “thật” mà vẫn không thừa một chữ. “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân...”. Chữ “thật” thứ tư của đoạn trên vừa bao hàm vừa là kết quả cả ba chữ thật trước đó. Ở đoạn sau của Di chúc, Bác còn dùng đến 4 lần chữ “nhất định” cũng không thừa chữ nào để khẳng định “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Bác viết : “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta.Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”. 4 chữ “nhất định” trong 4 câu trên liên quan chặt chẽ với nhau, chữ “nhất định” ở câu sau là kết quả của câu trước. Bác viết rất đúng các quy tắc chuẩn mực của tiếng Việt, thể hiện rõ ràng, mạch lạc nội dung, tư tưởng, tình cảm của Bác. Câu văn vừa đúng vừa hay, lập luận vừa chặt chẽ vừa có văn hóa, có sáng tạo, làm cho người đọc rung động và dễ dàng lĩnh hội với ý tưởng, cảm xúc của Bác.

Cách viết của Bác đã làm cho tiếng Việt ta thêm giàu và thêm đẹp. Tiếng Việt dưới ngòi bút của Bác trở nên giàu hơn và đẹp hơn. Bác rất ít dùng từ nước ngoài, kể cả từ Hán-Việt hay từ vay mượn, chỉ dùng khi thật sự cần thiết. Suốt đời phấn đấu cho độc lập tự do của đất nước, Bác muốn độc lập cả trong tiếng nói. Ở bài nói hay bài viết nào ta cũng thấy Bác chọn dùng rất nhiều từ thuần Việt (Bác gọi đó là “tiếng ta”). Trong bản Tuyên ngôn độc lập, Bác chỉ dùng hai lần từ “nhân dân”, mặc dù từ này rất quen thuộc nhưng là từ Hán-Việt, thay vào đó là từ “dân ta” đến 8 lần: “chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến dân ta nghèo nàn xơ xác; chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý làm dân ta... trở nên bần cùng; từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích ; từ đó dân ta càng cực khổ...”. Năm 1946 khi kêu gọi dân ta đi học để xóa nạn mù chữ, Bác viết: “Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học”, không nói nỗ lực mà dùng “gắng sức”; “Công việc này, mong anh chị em thanh niên sốt sắng giúp sức”, Bác dùng từ “sốt sắng” thay chữ “nhiệt tình”. Năm 1947 trong cuốn Sửa đổi lối làm việc (ta hay nói lề lối ) Bác viết: “Tiếng ta còn thiếu, nên nhiều lúc phải mượn tiếng nước ngoài, nhất là tiếng Trung Quốc. Nhưng phải có chừng mực. Tiếng nào ta sẵn có thì dùng tiếng ta”.

Bác dùng từ rất chính xác. Trong bài nói về tinh thần yêu nước của dân ta, Bác viết: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính... Nhưng cũng có khi cất dấu kín đáo trong rương, trong hòm”. Ở miền Trung hòm là cái quan tài dùng để chôn người chết, rương là hòm gỗ nhỏ có nắp đậy và khóa để cất giữ tiền, vàng và các thứ quí giá. Nếu chỉ viết “cất dấu kín đáo trong hòm” thì người miền Trung sẽ không hiểu vì sao thứ của quí lại cất dấu trong quan tài. Báo Nhân Dân ngày 14.6.1961 đăng tin: Hội đồng Chính phủ quyết định điều chỉnh giá bán lẻ một số hàng công nghiệp. Bác xem và xóa chữ “điều chỉnh” thay vào chữ “giảm”. Số ngày 18-3-1963 đưa tin “Triều Tiên được mùa lớn trong tình hình lụt nặng”, Bác gạch dưới “trong tình hình” thay vào “mặc dù”.

Viết xong, Bác giành thời gian để đọc đi sửa lại nhiều lần, sửa từng câu cho trọn nghĩa, chọn từng từ sao cho chính xác, đủ ý, ít từ, dùng “chữ nhỏ” mà nói được nghĩa to, dùng lời ít mà ý nhiều. Trong các bút tích bản thảo của Bác, Bác thường gạch đi, sửa lại, thêm vào, khi thì bằng mực đỏ, khi bằng mực xanh cả trên bản viết tay và cả trên bản đánh máy. Bản thảo viết tay Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Bác viết: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng mãi. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân pháp càng lấn tới”, rồi Bác xóa chữ “mãi”, câu văn trở nên mạnh mẽ hơn.

Đến cuối đời, viết Di chúc Bác cũng sửa đi sửa lại nhiều lần, nhiều chỗ. Bác bắt đầu viết di chúc vào ngày 10.5.1965. Cũng vào những ngày đó năm 1968 Bác sửa lại và viết thêm. Ngày 10.5.1969, bốn tháng trước khi lên đường đi xa, Bác còn sửa tiếp. Phần mở đầu bản di chúc năm 1969 Bác viết: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn”. Bản viết năm 1965 là :“Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta cũng phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”. Từ ba câu và bốn mươi chữ, Bác viết lại còn hai câu và 27 chữ, bỏ được một câu và 13 chữ.

Học và làm theo phong cách ngôn ngữ của Bác, khi nói hay viết điều gì ta nên nhớ lời Bác dặn các nhà báo, nhà văn năm 1953: “Muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, chớ dùng nhiều chữ. Chớ ham dùng chữ. Những chữ mà không biết rõ thì chớ dùng. Những chữ mà tiếng ta có, thì phải dùng tiếng ta. Phải học cách nói, tiếng nói của quần chúng. Nên phát huy cốt cách dân tộc. Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt và phải có đầu có đuôi. Viết rồi thì phải đọc đi đọc lại.Thấy cái gì thừa, câu nào thừa, chữ nào thừa, thì bỏ bới đi”.

Phong cách ngôn ngữ nói riêng và phong cách của Bác nói chung là cả một vườn hoa đẹp. Viết về phong cách ngôn ngữ của Bác ta như đi giữa vườn hoa mênh mông ấy, thấy loài hoa nào cũng đẹp, bông hoa nào cũng ngát hương thơm. Mấy ví dụ trên đây của bài này chỉ là mấy cánh hoa trong vườn hoa mênh mông của Người. Đến đây người viết bỗng nhớ về lời bài hát “Những bông hoa trong vườn Bác” của nhạc sĩ Văn Dung: “Ngắm muôn hoa trong vườn Bác, con thấy đây dáng hình bao thân thương của Người. Những loài hoa từ miền quê xa đã về đây ngạt ngào hương bay. Mỗi mùa hoa một mùa quê hương, mỗi màu hoa một màu yêu thương”.

Có rất nhiều điều ta cần học theo Bác, học cả đời vẫn không đủ, nhưng học theo Bác lòng ta sẽ “trong sáng hơn” và làm theo Bác được điều gì dù nhỏ ta sẽ “lớn bên Người một chút”.@

NGUYỄN TÂN MỸ

Tài liệu tham khảo:

  • Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1980.
  • Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, tập 6, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000
  • Vũ Kỳ (2012), Bác Hồ viết Di chúc, NXB Thanh Niên, Hà Nội
  • Vũ Ngọc Khánh (2006), Bí quyết giỏi văn, NXB Giáo dục, Hà Nội