Ba sự kiện lớn trong những năm Tuất của lịch sử dân tộc

Trước thềm năm mới Mậu Tuất 2018, hãy cùng ôn lại những sự kiện đáng nhớ trong những năm Tuất của lịch sử dân tộc.

Sự kiện đầu tiên, cách đây 1080 năm, cũng vào năm Mậu Tuất (938) Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở ra kỷ nguyên độc lập sau một ngàn năm Bắc thuộc.

Trận thủy chiến thắng lợi nổi tiếng này trên sông Bạch Đằng không chỉ là chiến thắng của tài thao lược quân sự mà còn là kết quả của việc trừ gian, diệt phản, phán đoán nhân sự và thế sự như thần của cha ông ta. Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Nghe tin Hoằng Thao - con trai của Vua Nam Hán sắp sang xâm lược nước ta, Ngô Quyền bảo tướng tá rằng: Hoằng Thao là một đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt, lại nghe được tin Công Tiễn đã chết, không có người nội ứng đã mất vía trước rồi. Quân ta sức mạnh, đối địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Song họ có lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được thua chưa thể biết được. Nếu ta sai người đem những cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước, vạt nhọn đầu mà bịt sắt, thuyền của họ nhân khi nước triều lên tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ ta dễ bề chế ngự. Không kế gì hơn kế ấy cả”. (Lịch sử Việt Nam tập 1. NXB KHXH Hà Nội - 1976).

Thực hiện theo kế sách của Ngô Quyền, quân ta bày trận địa cọc bịt sắt bí mật mai phục ở lòng sông Bạch Đằng, trước sự tấn công ào ạt của quân Nam Hán, đội thuyền nhẹ của ta giả vờ thua chạy, nhử thuyền quân giặc từ vịnh Hạ Long vào sâu trong vùng đặt cọc, đợi thủy triều rút xuống, Ngô Quyền ra lệnh toàn quân bất ngờ quay lại đánh úp, quân giặc hốt hoảng quay đầu chạy ra hướng biển. Ra đến gần cửa biển, thuyền giặc bị vướng trận địa cọc, lớp bị vỡ, lớp bị đắm, lớp bị đánh tan hoang, quân giặc chết nhiều vô số kể, tướng giặc Hoằng Thao phải bỏ mạng. Vua Nam Hán đang điều quân tiếp viện cho con nhưng nửa đường nghe tin Hoằng Thao chết trận, y thu nhặt tàn quân rút chạy về. Từ đó trở đi quân Nam Hán không còn dám quấy nhiễu bờ cõi nước ta. Ý chí xâm lược của quân Nam Hán đối với nước ta đã bị trận thủy chiến kiêu hùng đó đè bẹp. Dân ta đã cởi bỏ được ách Bắc thuộc hơn một ngàn năm, chủ quyền của đất nước được giành lại.

Ngày nay đến thăm Vịnh Hạ Long, thăm tỉnh Quảng Ninh, thăm Hải Phòng, hãy đến với sông Bạch Đằng, con sông nằm trong Huyện Thủy Nguyên, huyện giáp ranh giữa hai tỉnh Quảng Ninh và Hải phòng, con sông gần cửa biển này rất hiền hòa song lại ghi dấu nhiều chiến tích đáng nhớ, trong đó có sự kiện Ngô Quyền chấm dứt ngàn năm Bắc thuộc vào năm Mậu Tuất.

Sự kiện thứ hai, Năm Canh Tuất (1010) Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long.

Năm Canh Tuất (1010), Nhà vua Lý Thái Tổ ra chiếu dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên thành là thành Thăng Long. Đây là một sự kiện rất quan trọng. Hoa Lư núi non hiểm trở, thích hợp với sự phòng ngự, lợi hại về quân sự; còn Thăng Long ở giữa vùng đồng bằng với vị trí trung tâm đất nước và những điều kiện giao thông thủy bộ thuận tiện của nó, đủ điều kiện để trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của một quốc gia độc lập, hùng cường. Trong “Chiếu dời đô” Lý Thái Tổ nói rõ mục đích của dời đô là “đóng tại nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau” và Lý Thái Tổ đã thấy Thăng Long “ở trung tâm bờ cõi đất nước, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi; vị trí ở giữa bốn phương đông tây nam bắc; tiện hình thế núi sông sau trước. Ở đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật rất phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt, chỗ ấy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời”. Sau đó, tại kinh thành Thăng Long, nhà Lý cho xây dựng nhiều lâu đài, cung điện, và thành lũy bảo vệ.

Từ năm Canh Tuất (1010) trở đi, Thăng Long trở thành trung tâm của đất nước ngàn năm văn vật, trái tim của tổ quốc Việt Nam. Việc dời đô về Thăng Long phản ánh yêu cầu phát triển mới của quốc gia dân tộc. Thăng Long (Hà Nội) từ khi được xác định là thủ đô của nước ta từ năm 1010 đến nay, đều đã được phần lớn các triều đại của Việt Nam chọn là thủ đô của đất nước. Năm 1070 (cũng là năm Canh Tuất) nhà Lý lập Văn Miếu Quốc Tử Giám ở kinh thành làm nơi học tập cho con em tầng lớp quý tộc, quan lại. Nền đại học Việt Nam bắt đầu được hình thành từ đó. Hiện nay Văn Miếu Quốc Tử Giám là nơi tham quan cho du khách trong ngoài nước đồng thời cũng là nơi khen tặng những học sinh xuất sắc và là nơi tổ chức hội thơ hàng năm ngày rằm tháng Giêng. Cũng là nơi mà các em học sinh, sinh viên đến tịnh tâm cầu xin cho con đường học hành thi cử của mình.

Sự kiện thứ ba, năm Bính Tuất (1946) là năm Việt Nam tổ chức tổng tuyển cử bầu quốc hội và xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên.

Sau hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến và gần trăm năm dưới chế độ Pháp thuộc nước ta mới có cuộc Tổng tuyển cử quốc hội đầu tiên do mọi người dân đi bầu. Về sự kiện này Bác Hồ từng nói “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay một cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái, 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội, 1995, T.14, trang 8).

Ngày 6.1.1946, cuộc tổng tuyển cử thắng lợi. Ngày 9.11.1946 Hiến pháp được Quốc hội thông qua. Điều 1 của Hiến pháp 1946 ghi nhận rằng: “Nước Việt Nam là một nhà nước dân chủ. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hiến pháp đã dành một chương - chương II để quy định các quyền và nghĩa vụ công dân. Điều 6 Hiến pháp ghi: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa”. Điều 7 ghi: “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình”. Điều 9 ghi: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Về kinh tế: Điều 12 ghi nhận Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được đảm bảo. Đồng thời Hiến pháp bảo đảm quyền lợi các giới lao động trí thức và chân tay (Điều 13). Về văn hóa, Hiến pháp ghi: Nền sơ học cưỡng bách và không học phí, trường tư thục mở rộng tự do.

Đánh giá về Hiến pháp này, Hồ Chí Minh đã nhận xét: “...Bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà... là một vết tích lịch sử Hiến pháp trong toàn cõi Á Đông. Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do (...). Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp” (Sđd, T4, trang 440).

Chúng ta tự hào là một nước sớm có tổng tuyển cử và ban hành một Hiến pháp tiến bộ. Bản Hiến pháp này kết tinh truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, hài hòa với tư duy pháp lý hiện đại của dân tộc và quốc tế. Bản Hiến pháp năm 1946 đã làm nền tảng căn bản để quản lý và phát triển đất nước bao nhiêu năm qua, cho đến nay chúng ta đã vài lần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu cuộc sống, song giá trị nền tảng của nó vẫn còn nguyên giá trị.

Trước thềm năm mới Mậu Tuất (2018) cũng là năm có nhiều thời cơ, vận hội lớn để đưa đất nước ta hội nhập quốc tế, sánh vai cùng các cường quốc năm châu, song để nắm bắt được thời cơ vận hội, đòi hỏi phải có một bãn lĩnh vững vàng, một trí tuệ sáng suốt, một nền dân chủ được phát huy cao độ. Hy vọng khi ôn lại những sự kiện đầy ý nghĩa trong những năm Tuất của lịch sử dân tộc, chúng ta sẽ hiểu rõ mình hơn, tự tin hơn vào trí tuệ và sức mạnh dân tộc, vượt qua được những thử thách của thời kỳ lịch sử mới.@

NGUYỄN THÙY DƯƠNG