Home‎ > ‎TỔ 2‎ > ‎Trần Thị Hải Lý‎ > ‎Tài liệu tham khảo‎ > ‎

U nhầy ruột thừa

Mucocele Ruột Thừa

 

21/10/2008

                                                                                                      Bs. Nguyễn Tăng Miên

Bệnh nhân Nguyễn Đức T. 45 tuổi, ở Đức Minh, Mộ Đức, Quảng ngãi. Số nhập viện 08/056658. Nhập viện ngày 14/5/2008 vì đau bụng.

Cách ngày nhập viện mười hôm, bệnh nhân lên cơn đau bụng.

Tiền sử: liệt nữa người bên phải lúc mười tuổi do chấn thương đầu. Có lúc lên cơn động kinh. Bệnh nhân đi khám sức khỏe kiểm tra, được phát hiện sỏi túi mật và u ở hố chậu phải qua siêu âm và CT bụng.

Khi vào viện, bệnh nhân được siêu âm bụng lại thấy túi mật dày # 8mm, có mô dày âm xung quanh #5mm, có sỏi # 8mm.. Và có một cấu trúc dạng nang dịch vách mỏng, lợn cợn, d# 69mm, có ít dịch ở ngoài, ở hố chậu phải nghi là u GIST.

             

             

CTscan ở TT Ykhoa Medic cho thấy thành  túi mật  8mm có sỏi và ở hố chậu phải có u 6,5cm, dạng nang, chứa tổ chức lợn cợn. Thành nang dày nhẹ có đóng vôi, bắt thuốc cản quang nhẹ. Không thấy có hạch. Không có dịch tự do. Nghi là u nang mạc treo. Siêu âm cũng ở trung tâm trên thấy túi mật có sỏi 8mm, vách dày đều 17mm. Ở vùng hạ vị trước bàng quang có cấu trúc sợi thớ cơ echo dày, bên trong có phần echo trống, giới hạn rõ, khu trú, không di động. Kích thước 60 x 70mm nghi là u cơ trơn ruột non.

             

             

Bệnh nhân được mổ với chẩn đoán viêm túi mật do sỏi và u tiểu khung chưa rõ nguồn gốc. Bệnh nhân được mổ nội soi cắt bỏ túi mật.

                         

Qua nội soi, phát hiện một u to, tròn có đường kính 65 x 70mm ở cuối ruột thừa. Từ gốc ruột thừa ra đến quá đoạn giữa, ruột thừa được tiếp nối bằng một khối u tròn, có một cuống nhỏ dính ra thành sau ổ bụng. U không dính với ruột non mà chỉ dính với quai cuối hồi tràng một cách lõng lẽo. Cắt dính quanh u dễ dàng. Cắt ruột thừa gồm cả khối u. Lấy u qua endobag ở rốn xẻ rộng. Về đại thể, thấy u có vỏ rất mỏng, bên trong có nhầy mỡ trắng, đặc và rất dẽo. Chẩn đoán u  nhầy mucocèle ruột thừa.

             

Kết quả giải phẫu bệnh lý cho thấy viêm túi mật mạn tính. Mô ruột thừa có vách mỏng, có chổ niêm mạc vẫn bình thường. có chổ lòng ruột giản rộng, lót bởi lớp tế bào trụ cao chế tiết nhầy. Kết luận “bọc nhầy ruột thừa (mucocèle)” (Giáo sư Nguyễn Sào Trung).
Bệnh nhân được xuât viện 3 ngày sau.

                   

U nhầy ruột thừa được Rotansky mô tả lần đầu tiên. Tỷ lệ u nhấy chiếm 0,2 đến 0,4% các trường hợp cắt ruột thừa. U nhầy có thể do tăng sinh của niêm mạc hoặc do u nang tuyến nhầy (mucinous cystadenoma) hay do u biểu mô nang-tuyến nhầy (mucinous cystadenocarrcinoma). Lòng ruột thừa bị giản nở do sự tích tụ bất thường của chất nhầy. Nó có thể có những hội chứng lâm sàng khác nhau mà cũng có thể được phát hiện một cách tình cờ  trong 50% các trường hợp. Còn 50% các trường hợp có triệu chứng thường là ác tính.

Danh từ “u nhầy ruột thừa” không nói rõ nguồn gốc xác định nào, mà nó bao gồm cả thể hiền tính và ác tính. Về phương diện bệnh lý có thể chia ra làm 4 týp: u nang ứ đọng, quá sản niêm mạc, u nang tuyến (cystadenoma), và u biểu mô nang-tuyến ác tính (cystadenocarcinoma). Hai týp sau cùng này bao gồm những u tiết mucine và đại diện cho 62-76% u nhầy. Chẩn đoán khác biệt với u nhầy ruột thừa là ứ dịch vòi trứng, u nang buồng trứng, lymphocèle, u nang mạc treo, u nang ruột đôi, u máu và áp xe. Đặc trưng lâm sàng của u nhầy thường do những biến chứng của nó. Những biến chứng thường là do vỡ u thoát nhầy qua u, xoắn, hoại tử và xuất huyết hoặc do u lồng vào manh tràng gây tắc ruột.

Chẩn đoán u nhầy trước mổ là cần thiết và quan trọng để tránh làm vỡ u khi mổ gây nên Pseudomyxoma peritonei. Pseudomyxoma peritonei thứ phát có dự liệu rất xấu, giống như một ung thư xâm lấn. Pseudomyxoma peritonei rất khó điều trị dù ngoại khoa hay nội khoa, chẩn đoán cũng rất khó và tỷ lệ sống 5 năm là 53-75%

Về phương diện siêu âm thì u nhầy ruột thừa có những dấu hiệu đặc biệt sau: 1) Trước hết phải là một khối u ở vị trí của ruột thừa. 2) Thể chất của echo thay đổi, không đồng nhất, phức tạp, có những khoảng hở nghèo âm nằm chen kẻ những đường cong hay dợn sóng tăng âm mà người ta gọi hình ảnh “dấu hiệu vỏ cũ hành (onion skin sign). 3) Thành u có từng lớp và vôi hóa thành nang, bờ mỏng. 4) Không có u, cục bên trong u nang.

Về phương diện CT u biểu thị bằng khối có vỏ bọc rõ, thành láng, đều và không có phản ứng viêm. Có thể thấy canxi hóa ở thành u.

Phần lớn những u nhầy ruột thừa là u nang tuyến nhầy và được điều trị bằng cắt ruột thừa./.

U nhày ruột thừa (Mucocele of the Appendix)

 

14/04/2009

U nhày ruột thừa là một bệnh hiếm gặp, chỉ chiếm vào khoảng từ 0,1% đến 0,2% trong tất cả các trường hợp cắt ruột thừa. U nhày ruột thừa được hình thành do sự  tích tụ chất nhày bên trong lòng ống ruột thừa và có sự tắc nghẽn ở gốc ruột thừa.

Bệnh này có thể gặp ở bất cứ độ tuổi nào nhưng thường thấy ở tuổi trên 35, nữ bị nhiều hơn nam. Bệnh thường lành tính chỉ khoảng 10% có diễn biến thành u ác tính. Có trên 50% trường hợp u nhày ruột thừa không có triệu chứng và được phát hiện do tình cờ đi siêu âm hay chụp X Quang cắt lớp (CT Scan) hay khi mổ thăm dò một bệnh lý khác trong ổ bụng. Gần 50% trường hợp có triệu chứng đau ở hố chậu phải hay đau ở hạ vị.

 

Do U nhày ruột thừa rất ít triệu chứng do đó siêu âm và chụp cắt lớp là phương tiện hữu hiệu giúp bác sĩ lâm sàng phát hiện bệnh trong đa số trường hợp.

 

1. Siêu âm cho ta các hình ảnh sau

- Cấu trúc dạng nang ở vùng hố chậu phải

- Hình ảnh vỏ củ hành (Union skin like). Theo Caspi đâu là hình ảnh đặc thù của u nhày ruột thừa.

2. CT Scan có giá trị cao hơn siêu âm với các hình ảnh sau

- Nang có vỏ bao ở hố chậu phải

- Calci hoá vỏ nang

- Nốt tăng quang ở thành u nhày. Hình ảnh này gợi ý u hoá ác tính

 

Về phương diện giải phẩu bệnh u nhày ruột thừa có thể phân làm 4 loại:

- U nhày đơn thuần (Simple mucocele)

- Tăng sản nhày (Mucosal hyperplasia)

- U nang tuyến nhày (Mucinous cystadenoma)

- Ung thư nang tuyến nhày (Mucinous cystadeno caranoma)

Trong 4 loại trên chỉ có loại cuối cùng là độc tính và chiếm khoảng 10% trường hợp.

 

Phương pháp điều trị

- Khi phát hiện ra bệnh lý này,  người ta đề nghị phải phẫu thuật cắt trọn khối nhày của ruột thừa. Nhưng hiện nay phẫu thuật cắt khối nhày bằng phương pháp mổ hở hay mổ nội soi là vấn đề còn tranh cãi. Có nhiều tác giả khuyên nên mổ hở cắt ruột thừa vì sợ ruột thừa bị vỡ làm chất nhày lan vào khoang phúc mạc dẫn đến u giả nhày phúc mạc (Pseudomyxoma peritonei) hoặc khi gặp loại ung thư nang tuyến nhày mà để vỡ hoặc đụng chạm vào thành bụng đều là tai hoạ khó lường.

Tuy nhiên với kỹ thuật mổ nội soi cắt ruột thừa ngày nay cùng với sự khéo tay của phẫu thuật viên, u nhày ruột thừa có thể được cắt gọn gàng sau khi được cột gốc cẩn thận và đưa vào trong túi nylon để đưa ra ngoài ổ bụng một cách sạch sẽ và gọn gàng.

- Sau khi lấy bệnh phẩm làm giải phẫu bệnh mà thấy có tế bào ác tính thì phải thực hiện ngay một cuộc phẫu thuật cắt đại tràng phải hay chí ít là cắt đoạn manh tràng.

Trong nhiều năm qua tại Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn (CS2), chúng tôi chỉ mới phát hiện được 2 trường hợp u nhày ruột thừa và cả 2 ca này đều được phẫu thuật nội soi và đều không có tế bào ác tính.

Ca thứ nhất:

- Bệnh nhân Dương Quang, 44 tuổi, Nam (ngụ tại Quận Tân Bình)                       

- Nhập viện ngày 16/12/2006 vì triệu chứng đau hạ vị và đi tiểu nhiều lần.

- Các xét nghiệm về huyết học và sinh hoá đều bình thường.

- Siêu âm thấy một Mass ở vùng hạ vị và hố chậu phải có kích thước 86 x 47 mm.

- MSCT 64 thấy hình ảnh khởi sang thương dạng nang, hình lê kích thước 90 x 35 mm xuất phát mặt trong manh tràng thòng xuống sao bọng đái. Khởi sang thương có đậm độ dịch đồng nhất, có vài nốt vôi hoá # 5 mm tại đáy túi, vách mỏng # 3 mm gợi ý đến Mucocele ruột thừa.

- Chẩn đoán: Mucocel ruột thừa.

- Xử trí: Phẫu thuật nội soi cắt u nhày ruột thừa.

- Kết quả: Mucocel ruột thừa (Giải phẫu bệnh lý lành tính)

 

 

Ca thứ hai:

- Bệnh nhân Phạm Thị Cẩm, 51 tuổi, Nữ (ngụ tại tỉnh Long An)

- Nhập viện ngày 02/10/2008

- Lý do: nhức đầu, phù chân

- Siêu âm ổ bụng phát hiện ở hố chậu phải có một khối ECHO kém kích thước 25 x 75 mm có hình vảy hành (+)

- MSCT cho thấy cạnh manh tràng có khối u kích thước 25 x 75 mm có dịch lợn cợn. Tổn thương không bắt thước cản quang. Kết luận: U nhày ruột thừa

- Chẩn đoán: U nhày ruột thừa

- Xử trí: Phẫu thuật nội soi cắt u nhày ruột thừa

- Kết quả: Mucocel ruột thừa (Giải phẫu bệnh lý lành tính)

 

BS. PHAN TIÊU THU; BS. HỒ QUỐC VIỆT; BS NGUYỄN NGỌC THAO

Chuyên Khoa Ngoại - Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

 

Comments