TIN TỨC


       DỰ BÁO THỜI TIẾT

Trường PTTH và Công tác hướng nghiệp học sinh năm học 2012

posted Aug 16, 2012, 9:39 PM by Trung cấp xây dựng số 4 Trường   [ updated Aug 16, 2012, 9:48 PM ]

Tư vấn hướng nghiệp cho học sinh


Gặp cậu học trò nghèo đỗ thủ khoa ĐH Kinh tế Quốc dân năm 2012

posted Aug 16, 2012, 4:54 AM by Trung cấp xây dựng số 4 Trường   [ updated Aug 16, 2012, 4:55 AM ]

(Theo báo điện tử Dân trí) - Nhà nghèo, bố mẹ chủ yếu lao động tự do, cậu học trò xứ Thanh Dương Công Tráng đã vượt khó học giỏi. Tráng vừa đỗ thủ khoa vào Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội với 29 điểm.

 >> Canh cánh nỗi lo của cậu thủ khoa 29 điểm ĐH Dược Hà Nội
 >> Trông trẻ giúp mẹ, vẫn đỗ thủ khoa
 >> Thủ khoa quê nghèo ước mơ trở thành bác sĩ

Những ngày này, trong gian nhà cấp bốn ở làng Cổ Đông Sơn, phường Hàm Rồng, TP Thanh Hóa lúc nào cũng đông người đến chia vui cùng em Dương Công Tráng - tân thủ khoa Trường ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội.

Chúng tôi tìm đến gia đình anh Dương Đình Hùng (bố em Tráng) khi hai anh em Tráng đang ở nhà. Trước mặt chúng tôi là một chàng trai cao gầy, có chiếc răng khểnh với nụ cười rất duyên và khá điển trai. Căn nhà Tráng ở ngoại ô thành phố Thanh Hóa trông rất đơn sơ nằm tựa lưng vào núi. Cuộc sống tuy còn khó khăn, nhưng đổi lại, gia đình anh Hùng lại hạnh phúc bởi các con anh chăm ngoan và học giỏi.

Tráng học rất giỏi, nhưng rất khiêm tốn và tính tình hơi nhút nhát.
Thủ khoa Dương Công Tráng (bên trái) học giỏi, nhưng rất khiêm tốn và tính tình hơi nhút nhát.
Ngay từ khi còn học cấp 1, Tráng đã là một cậu học trò chăm ngoan, học giỏi. Mang tiếng là nhà thành phố, nhưng so với các bạn trong lớp, trong trường, nhà Tráng vất vả, bố mẹ không có công việc ổn định, chủ yếu là lao động tự do. Có những lúc, bố đi làm ăn ở xa vài tháng mới về một lần, còn mẹ em là chị Lương Thị Hoa hàng ngày trên chiếc xe đạp nữ cà tàng cũ nát chạy chợ bán hàng để kiếm tiền cho 2 anh em ăn học.

Thương bố mẹ nghèo, hai anh em Tráng bảo nhau chăm ngoan học hành và phụ giúp bố mẹ những công việc trong gia đình. Sau thời gian học tập ở trường, về nhà Tráng giúp bố mẹ cơm nước, dọn dẹp rồi dạy em học bài. Ngày còn học cấp 1, cấp 2, nhà gần trường nên cũng đỡ vất vả. Lên cấp 3, Tráng đi học ở trung tâm thành phố, nhà nghèo, bố mẹ cũng chắt bóp mua cho em được chiếc xe đạp mini cũ để làm phương tiện đi lại.

Không phụ lại tấm lòng của bố mẹ, suốt 12 năm học, Tráng liên tục đạt học sinh giỏi. Ngày còn học lớp 5, em đạt giải Ba cấp tỉnh, lên lớp 9 đạt giải Ba môn Toán cấp thành phố. Đến năm vào cấp 3, em thi vào Trường THPT Hàm Rồng và đậu vào lớp chọn của trường, năm lớp 12, Tráng giành giải Ba môn Toán cấp tỉnh.

Tranh thủ những ngày nghỉ để chuẩn bị nhập trường, Tráng vừa lo công việc trong gia đình, vừa phụ đạo cho cậu em trai năm nay bắt đầu vào lớp 8. Nhìn góc học tập của hai anh em Tráng thật đơn sơ, không có nhiều sách vở hay đồ dùng học tập. Chiếc bàn học đã cũ, nhưng được sắp xếp rất gọn gàng, ngăn nắp.

Tráng học rất giỏi, nhưng rất khiêm tốn và tính tình hơi nhút nhát.
Sau khi biết tin Tráng đậu thủ khoa, Hội Khuyến học phường Hàm Rồng đã đến chia sẻ và tặng quà để động viên em.

Kỳ thi tuyển sinh ĐH năm nay, Tráng đăng ký dự thi vào ngành Kiểm toán, trường ĐH Kinh tế quốc dân và đạt 29 điểm (làm tròn): Môn Toán 8,75 điểm, môn Lý 10, môn Hóa 10 điểm. Nói về kỳ thi đại học vừa qua, Tráng tỏ vẻ tiếc nuối: “Môn Toán là môn sở trường của em, nhưng em làm lại thấp điểm nhất, chưa được ưng ý lắm”.

Chia sẻ về bí quyết học tập của mình, cậu bé thủ khoa cười hiền hậu: “Đầu tiên, em luôn học kỹ những kiến thức cơ bản ở sách giáo khoa, ở lớp chú ý nghe thầy cô giáo giảng bài và nắm bắt ngay tại lớp. Sau khi nắm bắt vững những kiến thức cơ bản, em bắt đầu tìm tòi và làm những bài tập nâng cao, các đề thi trắc nghiệm để rèn luyện khả năng tính toán nhanh và chính xác”.

“Với môn Toán, phải làm các bài tập nâng cao và học thêm ở thầy cô, rèn luyện khả năng tư duy. Các môn còn lại là môn thi trắc nghiệm nên phải rèn luyện khả năng tính toán nhanh, tìm thêm tài liệu ở ngoài để nghiên cứu thì có thể đạt được điểm cao. Trong quá trình học bài ở nhà, nếu thấy mệt và buồn ngủ thì đi ngủ chứ không học cố theo kiểu nhồi nhét. Thường buổi tối, em chỉ học đến khoảng 23 giờ là đi ngủ”, Tráng cho biết thêm.

Phần lớn thời gian Tráng tự học ở nhà là chính. Ngày nào cũng vậy, cứ đi học về là Tráng lại vào bếp nấu cơm nước cho bố mẹ, dọn dẹp nhà cửa và phụ đạo em trai học bài.

Thầy Nguyễn Văn Hải - giáo viên chủ nhiệm em Tráng tự hào: “Tráng là một học sinh thông minh, chịu khó, chăm chỉ trong quá trình học tập. Đặc biệt, em có khả năng tự đọc sách và tự học rất tốt. Trong quan hệ với bạn bè, thầy cô, Tráng tỏ ra rất ngoan, sống giản dị, được các bạn bè, thầy cô yêu quý. Tuy nhiên, tính tình hơi nhút nhát. Kết quả thi của em phản ánh đúng với năng lực của Tráng. Trước đó, tại một số kỳ thi thử, sát hạch thì Tráng cũng đạt được kết quả rất ấn tượng. Nhà trường rất tự hào với kết quả mà em Tráng đạt được”.

Tranh thủ những ngày chưa nhập trường, Tráng ở nhà dạy em trai học thêm ở nhà.
Tranh thủ những ngày chưa nhập trường, Tráng ở nhà dạy em trai học thêm ở nhà.

Đậu thủ khoa là niềm vui không chỉ với bản thân em Tráng mà cả gia đình, dòng họ em. Nhưng đằng sau niềm vui đó là một nỗi lo cho chặng đường dài phía trước khi hoàn cảnh gia đình em rất khó khăn.

Bà Dương Thị Cúc - bà ngoại em Tráng chia sẻ: “Bà vui lắm, mấy hôm nay bà mừng không ngủ được. Nhà nghèo nhưng cháu lại cố gắng vươn lên, học tốt. Bà vừa mừng vừa lo, lo vì bố mẹ cháu còn khó khăn không biết có lo nổi cho cháu theo học được không nữa”.

Chia sẻ về ước mơ sau này của mình, Tráng cho biết: “Nhà em nghèo, bố mẹ vốn không có công việc ổn định, nên em phải cố gắng học hành thật tốt để sau này kiếm được việc làm tốt. Sau khi nhập trường, nếu có điều kiện em sẽ đi dạy thêm để kiếm tiền trang trải học tập để bố mẹ đỡ vất vả”.

Duy Tuyê

HỌC TẬP KIỂU THỰC DỤNG- CÓ NÊN HAY KHÔNG?

posted Aug 16, 2012, 4:49 AM by Trung cấp xây dựng số 4 Trường

Thực dụng được hiểu là coi trọng lợi ích trước mắt và thường được nhìn nhận với nghĩa xấu. Tuy nhiên cần hiểu nghĩa tích cực của từ này, học tập thực dụng có nghĩa là học những gì dùng được thật.

Chúng ta vẫn thường thiếu thiện cảm với những người thực dụng mà quên rằng thực dụng chính là động lực chính đáng để phát triển. Nếu không thực dụng, người ta sẽ làm việc vô nghĩa và không hiệu quả. Thực dụng đi liền với hiệu quả.

Các thế hệ Việt Nam quá coi trọng Nho giáo mà bỏ qua tính thực dụng, thực tiễn. Mô tả điều gì thì thường dùng ý, dùng tứ chứ không mô tả trực tiếp, coi trọng lễ nghĩa hơn bản chất. Chính những yếu tố đó đã khiến cho người lao động Việt Nam được nhận vào nhiều nơi là do quan hệ, quen biết hơn là làm được việc. Bố mẹ nghỉ hưu thì con cái vào làm thay mà không cần biết con có thích và có phù hợp với vị trí đó không? Hậu quả là tổ chức không phát triển được mà cá nhân cũng luôn cảm thấy không thỏa mãn.
 

Học tập thực dụng - nên hay không?

Trong khủng hoảng, mọi người, mọi doanh nghiệp mới nhận ra tầm quan trọng của tính thực dụng. Tức là những gì không cần thiết, không bản chất thì có thể loại bỏ để doanh nghiệp có tính cạnh tranh cao hơn để có thể tồn tại và phát triển. Mỗi cá nhân cũng cần nhìn nhận việc học tập thực tiễn và thực dụng hơn. Những gì cần học sẽ học cẩn thận để đi làm, những gì rườm rà sẽ được bỏ qua.

Với triết lý “Thực học - Thực nghiệp”, FPT Polytechnic đưa khái niệm thực dụng vào trong học tập. Thực dụng trong học tập có nghĩa là chỉ học những gì cần thiết và hiện tại xã hội đang cần. Chương trình học xoay quanh ba kỹ năng căn bản gồm: kỹ năng chuyên môn tập trung vào các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng; kỹ năng Tiếng Anh giúp sinh viên giao tiếp và đọc hiểu tài liệu chuyên môn trong thời đại hội nhập và kỹ năng Tin học giúp sinh viên sử dụng công nghệ trong công việc và cuộc sống. Với ba kỹ năng thực dụng cho cuộc sống và công việc, sinh viên ra trường sẽ không còn bỡ ngỡ và thiếu tự tin.

Để thực hiện được triết lý trên, FPT Polytechnic áp dụng phương pháp đào tạo “project-based training” có nghĩa là đào tạo qua dự án. Mỗi dự án là một yêu cầu thực tế đời sống cần được giải quyết, mỗi bài tập là một bài học từ thực tiễn để nâng cao tính thực dụng của chương trình học. Mục tiêu lớn nhất của chương trình đào tạo là để sinh viên có thể làm được việc sau khi ra trường.

FPT Polytechnic hiện đào tạo 5 chuyên ngành đang rất thu hút được đông đảo người học và là những chuyên ngành mà xã hội đang thiếu nhân lực có tay nghề hiện nay là: Thiết kế web, Ứng dụng phần mềm, Kế toán doanh nghiệp, QTDN - Nhân sự & Văn phòng, QTDN - Marketing & Bán hàng). Thí sinh thuộc một trong các đối tượng sau sẽ đủ điều kiện trở thành sinh viên của FPT Polytechnic: Tốt nghiệp THPT hoặc tương đương và có điểm tổng kết Toán lớp 12 hoặc điểm Toán thi tốt nghiệp THPT từ 5.5 trở lên, hoặc sinh viên hệ chính quy các trường Cao đẳng, Đại học.

Nhằm giải đáp thắc mắc của các bậc phụ huynh, các em học sinh THPT về FPT Polytechnic và kỳ tuyển sinh tháng 8/2012, đại diện của FPT Polytechnic tư vấn tuyển sinh trên báo điện tử Dân trí vào 14h ngày 20/8.
 
Ngay từ bây giờ, độc giả có thể đặt câu hỏi cho đại diện của FPT Polytechnic tại đây.
 
Thông tin khách mời:
 
TS Đàm Quang Minh, Giám đốc FPT Polytechnic Việt Nam.
TS Đàm Quang Minh, Giám đốc FPT Polytechnic Việt Nam.
 
TS Đàm Quang Minh, Giám đốc FPT Polytechnic Việt Nam. Bảo vệ Tiến sĩ tại CHLB Đức, khi về nước, ông từng công tác tại vị trí Trợ lý TGĐ FPT và Giám đốc chương trình hợp tác quốc tế giữa ĐH FPT và Đại học Greenwich (Anh) và hơn 5 năm kinh nghiệm làm việc tại khối giáo dục FPT. Ông cũng có nhiều ý kiến đóng góp, phản biện về các vấn đề giáo dục và xã hội trên các tạp chí của Việt Nam.
ThS Vũ Chí Thành, Giám đốc FPT Polytechnic Hà Nội.
ThS Vũ Chí Thành, Giám đốc FPT Polytechnic Hà Nội.

ThS Vũ Chí Thành, Giám đốc FPT Polytechnic Hà Nội. Học xong Thạc sĩ kinh tế tại Đại học Missouri, Hoa Kỳ, anh có một thời gian công tác tại Ngân hàng thế giới World Bank tại Washington DC, và trở về công tác tại vị trí Trưởng ban Tuyển sinh và Công tác Sinh viên - FPT Polytechnic và sau đó được bổ nhiệm vào vị trí Giám đốc FPT Polytechnic Hà Nội từ năm 2011.

Tấm gương hai anh em vượt khó học giỏi

posted Nov 21, 2011, 9:21 AM by Trung cấp xây dựng số 4 Trường

 Lần lượt mồ côi cả cha, mẹ và sống trong khó khăn chồng chất, nhiều khi thiếu ăn. Nhưng nhiều năm qua hai anh Nhữ Tiến Trình và em Nhữ Thị Hồng (Hải Dương) vẫn đùm bọc nhau vượt qua mọi khó khăn, đạt thành tích đang nể trong học tập.

8 năm trước, cuộc sống gia đình của hai anh em Nhữ Tiến Trình và em Nhữ Thị Hồng (xã Hồng Quang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương) không đến nỗi quá thiếu thốn vì cả nhà luôn lăn lộn quanh năm với  mấy sào ruộng. Nhưng tai họa đã giáng xuống khi người cha khỏe mạnh Nhữ Tiến Quỳnh bỗng mắc liền hai căn bệnh hiểm nghèo: ung thư xương và ung thư dạ dày. Gánh nặng đè xuống đôi vai người vợ, người mẹ trẻ Nguyễn Thị Nhuận. Dù biết căn bệnh của chồng khó qua khỏi nhưng chị Nhuận vẫn không ngừng nuôi hy vọng cứu chồng. Chị chấp nhận bán hết ruộng nương lấy tiền chữa chạy, thuốc thang cho chồng. Nhưng rồi bệnh nặng khiến ba năm sau, người cha của hai đứa trẻ mất đi, để lại một khối nợ lớn cho gia đình. Lúc này chị Nhuận chỉ còn cách gồng mình đi làm trả nợ. Dù không muốn xa con, chị Nhuận vẫn phải gạt nước mắt tìm ra Quảng Ninh đi nhặt than thuê.

Hai anh em Trình và Hồng đùm bọc nhau trong căn nhà thiếu bàn tay  bố mẹ chăm sóc.
 
Sau ba năm làm lụng vất vả ở Quảng Ninh, chị Nhuận đã trả hết số nợ cũ. Quyết định đi làm thêm 10 ngày nữa để có tiền về sắm tết cho các con thì ngày cuối cùng chị đi cũng là cái lần cuối cùng hai anh em Trình và Hồng được gặp mẹ. Chị Nhuận leo lên 1 quả đồi nhặt than, không may bị hai bị hòn đá lớn từ trên đồi lăn xuống đè vào người.

Kể từ ngày mẹ mất, cuộc sống của hai em Trình và Hồng càng trở nên khó khăn hơn, ruộng vườn đã bán hết. Không có tiền, hai em về sống cùng với người chú. Khổ nỗi, nhà chú vốn đông con lại chật chội. Lên ở với chú được gần một năm, hai anh em lại phải quay về nhà cũ. Từ năm 2009 tới nay, Trình và Hồng sống nương tựa vào nhau trong ngôi nhà trống trải, không có đồ vật nào giá trị. Hàng tháng mọi chi tiêu hai anh em chỉ trông chờ vào số tiền ít ỏi 600.000 đồng trợ cấp của nhà nước. Với số tiền này các em phải dè sẻn từng bữa cơm đạm bạc, nhiều khi không đủ no.

Em Hồng tự trồng rau - món ăn chính của  các em trong bữa cơm hàng ngày.
 
“Bây giờ em sợ Tết lắm mỗi khi gần đến Tết thì em càng cảm thấy nhớ bố mẹ nhiều hơn. Nhiều đêm em vẫn mơ thấy mẹ về căn dặn hai anh em, mẹ dặn em dù có khó khăn thế nào thì hai anh em cũng phải cố gắng học thật tốt và biết vươn lên”- rưng rưng nước mắt em Trình tâm sự.

Khó khăn là thế, hai anh em vẫn gắng gượng bảo ban nhau học hành. 8 năm liền Trình đều đạt thành tích khá, giỏi. Ngoài việc học, Trình còn tham gia vào đội bóng đá của huyện Thanh Miện đi thi đấu ở nhiều giải, từng đoạt giải khi tham gia hội thi múa dành cho thiếu nhi do huyện tổ chức và đặc biệt. Hiện em đang chuẩn bị kiến thức để tham gia kỳ thi học sinh giỏi tỉnh Hải Dương.

Nói về cậu học trò có hoàn cảnh đặc biệt, thầy Nguyễn Văn Hà - giáo viên chủ nhiệm lớp em Trình cho biết: “Tuy có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhưng em Trình luôn là tấm gương sáng của trường. Dù không có tiền đi học thêm nhưng kết quả học tập mà em đạt được khiến tất cả các thầy cô vui mừng”.
 
Không thua kém anh trai, em Hồng hiện là học sinh lớp 6 cũng đạt thành tích tốt trong học tập. Có lẽ, vì cuộc sống quá khó khăn nên điều mong muốn lớn nhất hiện nay của em Hồng là có đủ cơm ăn no mỗi bữa. Còn Trình mơ ước sẽ học tập tốt và có thêm tiền để cho em gái đi học thêm.
( theo Dân trí)

KHÔNG CẤP LẠI VĂN BẰNG CHỨNG CHỈ

posted Mar 22, 2011, 10:04 AM by Trung cấp xây dựng số 4 Trường

 Bộ GD-ĐT vừa có văn bản hướng dẫn một số nội dung về văn bằng, chứng chỉ của giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp. Theo đó, bản chính văn bằng, chứng chỉ trong bất cứ trường hợp nào cũng không được cấp lại.
Bộ GD-ĐT cũng cho biết, cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ có trách nhiệm chỉnh sửa nội dung ghi trên văn bằng, chứng chỉ đã cấp cho người học trong các trường hợp: Sau khi được cấp văn bằng, chứng chỉ, người học được cơ quan có thẩm quyền cải chính hộ tịch theo quy định của pháp luật về cải chính hộ tịch; Các nội dung ghi trên văn bằng, chứng chỉ bị ghi sai do lỗi của cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ.
 

Bản gốc văn bằng chứng chỉ cấp một lần duy nhất. (Ảnh minh họa)

Ngoài hai trường hợp này, người có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ không được phép chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ đã cấp cho người học.

Cũng theo Bộ GD-ĐT thì giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính, dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó. Do đó, khi làm các thủ tục cấp văn bằng, chứng chỉ cho người học, người có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ có trách nhiệm xác định chính xác các nội dung liên quan đến nhân thân ghi trên văn bằng, chứng chỉ căn cứ vào giấy khai sinh của người học.

Người học có trách nhiệm cung cấp chính xác các thông tin để ghi trên văn bằng, chứng chỉ. Trước khi cấp phát văn bằng, chứng chỉ, người có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ cần đưa thông tin sẽ ghi trên văn bằng, chứng chỉ cho người học để người học kiểm tra tính chính xác của thông tin.

Trong trường hợp nội dung về nhân thân của người học đã ghi trên văn bằng, chứng chỉ không khớp với bản chính giấy khai sinh do lỗi của người học như cung cấp bản sao chứng thực giấy khai sinh sai so với bản chính; mượn giấy khai sinh của người khác để đi học, có nhiều giấy khai sinh khác nhau,... thì người có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ không có trách nhiệm chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ.

Về hình thức ghi văn bằng, Bộ GD-ĐT cũng nhấn mạnh: “Nếu người học theo học chương trình giáo dục chính quy thì ghi “Hình thức đào tạo” là “Chính quy”, nếu theo học chương trình giáo dục thường xuyên thì chỉ ghi một trong ba hình thức: “Vừa làm vừa học”; “Học từ xa”; “Tự học có hướng dẫn”. Người học theo học chương trình giáo dục thường xuyên theo hình thức đào tạo nào thì trên văn bằng ghi hình thức đào tạo đó”

(Theo báo Dân trí) 

500 SUẤT HỌC BỔNG CHO HỌC SINH HIẾU HỌC

posted Mar 22, 2011, 9:19 AM by Trung cấp xây dựng số 4 Trường

 
Miền Trung: Trao 500 suất học bổng cho HS, SV nghèo hiếu học
(Dân trí) - Sáng 16/7, Công ty TNHH SX HTD Bình Tiên (Biti’s) phối hợp với TW Hội Khuyến học Việt Nam, Quỹ Khuyến học VN trao 500 suất học bổng “Biti’s - Nâng niu tài năng Việt” cho các HS, SV nghèo hiếu học của 9 tỉnh miền Trung và các HS nhiễm chất độc da cam.

Theo đó, có 400 suất học bổng được trao cho các em HS, SV nghèo hiếu học của 9 tỉnh miền Trung (gồm Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình) và 100 suất học bổng cho các em học sinh nhiễm chất độc da cam.  

Trao học bổng cho các em học sinh, sinh viên nghèo hiếu học của 9 tỉnh miền Trung.

Mỗi suất học bổng trị giá: 500.000 đồng (học sinh tiểu học), 600.000 đồng (học sinh THCS), 800.000 đồng (học sinh THPT), 1.200.000 đồng (sinh viên đại học, cao đẳng). Ngoài ra, mỗi HS, SV còn được nhận thêm 10 tập vở, 1 cây bút và 1 đôi giày Biti’s.

Trong suốt 5 năm qua (từ năm 2006-2010), Công ty Biti’s đã đồng hành cùng Hội Khuyến học Việt Nam tổ chức trao học bổng “Biti’s - Nâng niu tài năng Việt”  cho những HS, SV nghèo hiếu học trên khắp cả nước với tổng giá trị gần 10 tỷ đồng.

Được biết, ngày 24/7 tại TPHCM, Công ty Biti’s sẽ trao 600 suất học bổng cho HS, SV học giỏi, có hoàn cảnh khó khăn, là con em của cán bộ công nhân viên đang làm việc tại Công ty Biti’s.

Tin, ảnh: Khánh Hồng

TƯ VẤN MÙA THI: “Liệu cơm gắp mắm”

posted Mar 22, 2011, 9:17 AM by Trung cấp xây dựng số 4 Trường

 

 

 

 

( Nguồn: Website Sở GD&ĐT Hải Phòng)

 

Trước khi nộp hồ sơ đăng ký dự thi đại học, cao đẳng năm 2010, Em Vũ Thị Linh, học sinh lớp 12A15 Trường THPT Lê Quý Đôn nhớ đến “bài học” của  chị gái tại kỳ thi đại học năm 2007. Sức học trung bình nhưng gia đình lại khuyên  chị của Linh thi vào Đại học quốc gia Hà Nội. Kết quả, chị của Linh thiếu 1,5 điểm. Hiện, Linh  đang cân nhắc giữa hai Trường đại học Văn hóa Hà Nội và đại học Hải Phòng. Nhưng có thể em sẽ thi vào Đại học Hải Phòng, vì điều kiện ăn ở, sinh hoạt, đi lại thuận tiện, gần gia đình hơn so với các trường đại học khác ở Thủ đô Hà Nội.

 

Tuy  lực học khá nhưng em Lê Vũ Hoàng Anh, lớp 12A2 Trường THPT Kiến An thấy mình không đủ tự tin khi nộp hồ sơ thi vào một số trường kinh tế đầu bảng ở phía Bắc hiện nay. Em chọn giải pháp “an toàn” khi nộp hồ sơ vào 2 Trường: đại học Giao thông TP Hồ Chí Minh và cao đẳng Điện lực TP Hồ Chí Minh. Em phân tích, năm 2009, điểm đầu vào khoa thiết kế thân tàu, Đại học Giao thông TP Hồ Chí Minh chỉ bằng điểm sàn. Năm nay có thể tăng một hai điểm. Em xác định, nếu trượt đại học sẽ học cao đẳng.

 

  Học sinh khối 12 Trường THPT Lê Quý Đôn nghe tư vấn, hướng nghiệp

Lựa chọn con đường nào để lập thân, lập nghiệp?

 

Không phải trường THPT  tốp đầu thành phố, nên khoảng 1/3 số học sinh Trường THPT Kiến An bằng lòng với việc đăng ký dự thi vào các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố. Việc này là kết quả tư vấn, định hướng của các thầy, cô giáo chủ nhiệm và Ban giám hiệu nhà trường khi sớm tổ chức ngày hội hướng nghiệp cho học sinh. Đến đầu tháng 4, có 680 học sinh lớp 12 đã nộp hơn 1500 hồ sơ dự thi vào đại học, cao đẳng, trung bình mỗi học sinh nộp gần 3 bộ. Thầy Phạm Trung Diện, Phó hiệu trưởng nhà trường cho biết, giáo viên của trường, nhất là giáo viên chủ nhiệm khối 12 luôn nói với  học sinh rằng “ Trường đại học không phải là con đường duy nhất để lập thân, lập nghiệp. Việc lựa chọn ngành, nghề không chỉ phụ thuộc vào lực học và điều kiện mỗi gia đình, mà  phải có sự đam mê, yêu thích công việc đó thì mới thành công. Thành phố và đất nước cần những trí thức giỏi, nhưng cũng rất cần những người thợ có tay nghề cao”. Được biết, những năm học trước, học sinh Trường THPT Kiến An đỗ đại học đợt 1 từ 50-55%. Một nửa số này tiếp tục dùi mài kinh sử thi tiếp, tìm đường vào đại học, cao đẳng. Nửa còn lại ghi tên theo học các trường dạy nghề để trở thành những người thợ.

 

Trường THPT chuyên Trần Phú tuy có tỷ lệ học sinh giỏi cao nhất thành phố nhưng không vì thế mà nhà trường xem nhẹ công tác tư vấn, hướng nghiệp cho học sinh. Ngoài 2 chuyên đề về hướng nghiệp trong khuôn khổ họat động ngoài giờ lên lớp vào tháng 3, lồng ghép nội dung hướng nghiệp vào môn giáo dục công dân, nhà trường  tổ chức 3 buổi tư vấn hướng nghiệp với sự tham gia của một số trường đại học đầu tốp ở thủ đô Hà Nội. Song song với công tác hướng nghiệp, nhà trường còn tổ chức 3 đợt thi thử đại học để đánh giá chất lượng học sinh, qua đó, tiếp tục góp ý, tư vấn việc chọn trường cho các con.

 

Theo cô giáo Phạm Thị Dừa, Phó hiệu trưởng nhà trường, thực tế qua các kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng cho thấy, tự tin ở học lực chưa đủ mà còn phải biết đánh giá, phân tích khả năng thi đỗ và những rủi ro có thể xảy ra. Các giáo viên nhà trường không thể nào quên năm  1998 khi tỷ lệ học sinh nhà trường đỗ đại học chỉ đạt gần 90%, năm 2003 có tới 4 lớp trưởng các lớp chuyên thi trượt vào đại học. Nguyên nhân là  một số học sinh thi vào những trường quá sức như Đại học Dược Hà Nội, Đại học Y Hà Nội với  đầu vào 27 điểm trở lên. Việc 20% số học sinh nhà trường nộp hồ sơ thi vào Trường đại học Hàng hải và đại học Hải Phòng năm nay cho thấy các em đã có sự cân nhắc khi  chọn trường.

“Quy QUY CHẾ ĐÀO TẠO TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP HỆ CHÍNH QUY CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

posted Feb 11, 2011, 12:16 AM by Trung cấp xây dựng số 4 Trường


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

––––

Số: 40/2007/QĐ-BGD&ĐT

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––––––––––

Hà Nội, ngày 28 tháng 6  năm 2007

QUYẾT ĐỊNH

Về việc ban hành “Quy chế đào tạo trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy”

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Căn cứ Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ;

Căn cứ Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

Căn cứ Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;

Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế đào tạo trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Quyết định này thay thế Quyết định số 29/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 14/5/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế kiểm tra, thi, xét lên lớp và công nhận tốt nghiệp THCN hệ chính quy và Quyết định số 21/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 28/5/2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc sửa đổi, bổ sung Quy chế kiểm tra, thi, xét lên lớp và công nhận tốt nghiệp THCN hệ chính quy.

Điều 3. Các Ông (Bà) Chánh Văn phòng, Chánh Thanh tra, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Chuyên nghiệp, Thủ trưởng các đơn vị liên quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thủ trưởng các cơ quan quản lý trường có đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, Giám đốc các sở giáo dục và đào tạo, Hiệu trưởng các trường trung cấp chuyên nghiệp, Thủ trưởng các đơn vị có đào tạo trung cấp chuyên nghiệp chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

Bành Tiến Long – Đã ký


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
––––

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––––––––––––

QUY CHẾ

Đào tạo trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy

(Ban hành kèm theo Quyết định số 40/2007/QĐ-BGDĐT

ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

–––––

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

         1. Quy chế này quy định đào tạo trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy bao gồm: tổ chức đào tạo; đánh giá học phần, thi kết thúc học phần và thi tốt nghiệp; điều kiện công nhận, xếp loại và cấp bằng tốt nghiệp.

2. Quy chế này áp dụng cho các trường trung cấp chuyên nghiệp, các trường đại học, cao đẳng và các cơ sở giáo dục có đào tạo trung cấp chuyên nghiệp (sau đây gọi tắt là các trường) thực hiện chương trình giáo dục trung cấp chuyên nghiệp theo niên chế kết hợp với học phần.

3. Đào tạo trung cấp chuyên nghiệp theo hình thức tích luỹ tín chỉ thực hiện theo quy định của Quy chế đào tạo theo tín chỉ do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. 

Điều 2. Chương trình giáo dục trung cấp chuyên nghiệp

1. Chương trình giáo dục trung cấp chuyên nghiệp (sau đây gọi tắt là chương trình) thể hiện mục tiêu giáo dục trung cấp chuyên nghiệp; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục trung cấp chuyên nghiệp, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục trung cấp chuyên nghiệp trong toàn khoá học; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác.

2. Chương trình được các trường xây dựng trên cơ sở chương trình khung trung cấp chuyên nghiệp do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Mỗi chương trình khung tương ứng với một ngành đào tạo cụ thể. 

3. Chương trình được cấu trúc từ các học phần thuộc các khối kiến thức, kỹ năng: khối kiến thức các môn văn hóa (đối với đối tượng tốt nghiệp trung học cơ sở); khối kiến thức các môn chung; khối kiến thức, kỹ năng các môn cơ sở và chuyên môn.

Điều 3. Đơn vị học trình và học phần

1. Đơn vị học trình là đơn vị được dùng để tính khối lượng học tập của học sinh. Một đơn vị học trình được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; bằng  30 - 45 tiết thực hành, thảo luận, thí nghiệm; bằng 45 - 60 giờ thực tập, thực tập tốt nghiệp. Một tiết học lý thuyết, thực hành có thời lượng 45 phút.

2. Học phần là khối lượng kiến thức, kỹ năng tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho người học tích luỹ kiến thức trong quá trình học tập. Học phần có khối lượng từ 2 đến 5 đơn vị học trình, được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần tương ứng với một mức trình độ và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc các phần trong tổ hợp của nhiều môn học.

3. Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn.

a) Học phần bắt buộc là những học phần chứa đựng nội dung kiến thức chủ yếu của mỗi chương trình, bắt buộc học sinh phải tích lũy;

b) Học phần tự chọn là những học phần chứa đựng nội dung kiến thức cần thiết, học sinh được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp để tích lũy đủ số học phần quy định cho mỗi chương trình;

Hiệu trưởng các trường hoặc Thủ trưởng các cơ sở giáo dục có đào tạo trung cấp chuyên nghiệp (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng) quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần phù hợp với đặc điểm của trường.

Chương II

TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Điều 4. Khối lượng kiến thức, kỹ năng và thời gian đào tạo

1. Khối lượng kiến thức, kỹ năng và thời gian đào tạo trung cấp chuyên nghiệp tuỳ thuộc vào đối tượng tuyển sinh và ngành đào tạo, cụ thể:

a) Thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, với khối lượng kiến thức, kỹ năng đào tạo từ 160 đến 190 đơn vị học trình, trong đó phần nội dung giáo dục chuyên nghiệp có tỷ lệ thời lượng dành cho dạy thực hành, thực tập chiếm từ 50 % đến 75 %;

b) Thực hiện trong hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tương đương, với khối lượng kiến thức, kỹ năng đào tạo từ 95 đến 105 đơn vị học trình, trong đó phần nội dung giáo dục chuyên nghiệp có tỷ lệ thời lượng dành cho dạy thực hành, thực tập chiếm từ 50 % đến 75 %;

c) Thực hiện từ một đến một năm rưỡi đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông (hoặc tương đương) đồng thời có bằng tốt nghiệp ngành khác, trình độ trung cấp chuyên nghiệp trở lên, hoặc có chứng chỉ tốt nghiệp sơ cấp trở lên của giáo dục nghề nghiệp (có thời gian đào tạo từ một năm trở lên và cùng nhóm ngành học), với khối lượng kiến thức, kỹ năng đào tạo từ 50 đến 75 đơn vị học trình, trong đó phần nội dung giáo dục chuyên nghiệp có tỷ lệ thời lượng dành cho dạy thực hành, thực tập chiếm từ 50 % đến 75 %.

d) Thời gian tối đa hoàn thành chương trình bao gồm thời gian quy định cho chương trình giáo dục quy định tại mục a, b, c điều này cộng với thời gian tối đa học sinh được phép tạm ngừng học quy định tại khoản 3 Điều 5 và khoản 2 Điều 6 của quy chế này.

2. Tổ chức đào tạo

 Các trường tổ chức đào tạo theo khóa học, năm học và học kỳ.

a) Thời gian của một khoá học được tính từ khi nhập học đến khi hoàn thành chương trình đào tạo. Khóa học được thiết kế theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

       b) Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần thực học và từ 2 đến 3 tuần thi. Mỗi tuần không bố trí quá 30 tiết lý thuyết. Thời gian thực hành, thực tập, thực tập tốt nghiệp được tính theo giờ, mỗi ngày không bố trí quá 8 giờ. Ngoài hai học kỳ chính, Hiệu trưởng có thể tổ chức thêm một học kỳ phụ để học sinh có các học phần bị đánh giá không đạt ở trong năm học được học lại và thi lại.

c) Căn cứ các chương trình đào tạo, hiệu trưởng lập kế hoạch phân bổ số học phần cho từng năm học, từng học kỳ.

Đầu khoá học, nhà trường phải thông báo cho học sinh về quy chế đào tạo; nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình đào tạo; nội dung chương trình đào tạo cho từng học kỳ; danh sách các học phần bắt buộc và học phần tự chọn, lịch thi, hình thức thi các học phần; quyền lợi và nghĩa vụ của học sinh;

Trước khi bắt đầu một kỳ học, học sinh phải đăng ký với nhà trường các học phần tự chọn trong học kỳ này. Những học sinh không đăng ký học các học phần tự chọn thì phải học theo các học phần do nhà trường bố trí.

Điều 5. Điều kiện để học sinh được học tiếp, được nghỉ học tạm thời, được tạm ngừng tiến độ học tập hoặc bị buộc thôi học.

Cuối mỗi năm học, nhà trường căn cứ vào số học phần đã học, điểm trung bình chung học tập của học sinh trong năm học đó, điểm của tất cả các học phần đã học tính từ đầu khóa học và kết quả rèn luyện của học sinh trong năm học đó để xét việc cho học sinh được học tiếp, được nghỉ học tạm thời, tạm ngừng tiến độ học hoặc bị buộc thôi học.

 1. Học sinh được học tiếp lên năm học sau nếu có đủ các điều kiện dưới đây:

a) Có điểm trung bình chung học tập của năm học đạt từ 5,0 trở lên;

b) Có khối lượng các học phần bị điểm dưới 5 tính từ đầu khoá học đến thời điểm xét không quá 20 đơn vị học trình;

c) Không bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập có thời hạn hoặc bị buộc thôi học.

2. Học sinh có thể làm đơn đề nghị nhà trường cho phép được nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả đã học trong các trường hợp sau:

a) Bị ốm đau hoặc bị tai nạn buộc phải điều trị thời gian dài có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;

b) Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, học sinh phải học ít nhất một học kỳ ở trường và phải đạt điểm trung bình chung các học phần tính từ đầu khóa học đến thời điểm xét không dưới 5,0. Thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học chính thức tại trường của học sinh quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 của Quy chế này.

Các trường hợp nghỉ học tạm thời khi muốn được trở lại tiếp tục học tập phải gửi đơn tới Hiệu trưởng nhà trường ít nhất một tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới hoặc năm học mới.

3. Học sinh không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 4 của Điều này được quyền tạm ngừng tiến độ học tập để có thời gian củng cố kiến thức, cải thiện kết quả học tập.

a) Học sinh không thuộc đối tượng ưu tiên trong đào tạo được quyền tạm ngừng tiến độ học để củng cố kiến thức không quá hai năm trong toàn khoá học đối với các chương trình có thời gian đào tạo từ ba đến bốn năm học, không quá một năm đối với các chương trình có thời gian đào tạo từ một đến hai năm học.

b) Trong thời gian ngừng học, học sinh phải đăng ký học lại các học phần chưa đạt yêu cầu nếu là học phần bắt buộc; đăng ký học lại hoặc có thể đăng ký học chuyển qua học phần mới nếu là học phần tự chọn và đảm bảo điều kiện tiên quyết theo quy định tại chương trình khung trung cấp chuyên nghiệp do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Hiệu trưởng xem xét bố trí cho các học sinh này được học một số học phần của năm học tiếp theo nếu họ đề nghị.

4. Học sinh bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường hợp dưới đây:

a) Có điểm trung bình chung học tập của năm học dưới 4,0;

b) Có điểm trung bình chung tất cả các học phần tính từ đầu khoá học dưới 4,5;

 c) Đã hết thời gian tối đa được phép học tại trường theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 của Quy chế này;

d) Vi phạm kỷ luật ở mức buộc thôi học.

Nếu nhà trường có các chương trình đào tạo ở các trình độ thấp hơn và  học sinh có nguyện vọng thì Hiệu trưởng xem xét quyết định cho những học sinh này được chuyển sang học các chương trình đó và được bảo lưu kết quả học tập đối với những học phần có thời lượng và nội dung tương đương, đồng thời có kết quả điểm học phần đạt từ 5,0 trở lên khi học ở các chương trình mới. Hiệu trưởng quyết định việc bảo lưu kết quả học tập trong từng trường hợp cụ thể.

Những trường hợp học sinh bị buộc thôi học, nhà trường phải thông báo về địa phương (nơi học sinh có hộ khẩu thường trú) và gia đình chậm nhất 15 ngày kể từ ngày ký quyết định.

5. Hiệu trưởng quyết định thành lập Hội đồng để xét cho học sinh được học tiếp, nghỉ học tạm thời, tạm ngừng tiến độ học hoặc bị buộc thôi học. Số lượng, thành phần của Hội đồng do Hiệu trưởng quy định.

Điều 6. Ưu tiên trong đào tạo

1. Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo đối tượng quy định tại Quy chế tuyển sinh trung cấp chuyên nghiệp hiện hành được hưởng chế độ ưu tiên trong đào tạo.

2. Học sinh thuộc đối tượng ưu tiên trong đào tạo được tạm ngừng tiến độ học không quá ba năm trong toàn khóa học đối với các chương trình có thời gian đào tạo từ ba đến bốn năm học; không quá hai năm cho toàn khoá học đối với các chương trình có thời gian đào tạo từ một đến hai năm học.

3. Trong thời gian tạm ngừng tiến độ học tập để học lại các học phần chưa đạt yêu cầu, học sinh thuộc đối tượng ưu tiên trong đào tạo vẫn được hưởng các chế độ ưu đãi của Nhà nước.

Điều 7.  Điều kiện, thủ tục chuyển trường

1. Học sinh được chuyển trường nếu có các điều kiện dưới đây: 

a) Trường xin chuyển đến có đào tạo ngành học mà học sinh đang theo học ở trường xin chuyển đi và có cùng hình thức tuyển sinh;

b) Điểm thi tuyển sinh hoặc điểm xét tuyển đầu vào không thấp hơn điểm chuẩn (thi tuyển hoặc xét tuyển) của trường chuyển đến;

c) Đã hoàn thành ít nhất một kỳ học;

d) Có đơn xin chuyển trường và được hiệu trưởng trường xin chuyển đi và trường xin chuyển đến đồng ý.

2. Học sinh bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên đang trong thời gian rèn luyện thử thách không được chuyển trường.

3. Học sinh chuyển trường được chứng nhận và bảo lưu kết quả học tập đã đạt được ở trường cũ.

4. Thủ tục chuyển trường:

a) Học sinh xin chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo quy định của nhà trường;

b) Hiệu trưởng trường có học sinh xin chuyển đến quyết định tiếp nhận hoặc không tiếp nhận, quyết định việc học tiếp tục của học sinh như: năm học, số học phần mà học sinh chuyển đến trường phải học bổ sung, trên cơ sở so sánh chương trình ở trường xin chuyển đi và trường xin chuyển đến.

Chương III

ĐÁNH GIÁ HỌC PHẦN,

THI KẾT THÚC HỌC PHẦN VÀ THI TỐT NGHIỆP

Điều 8. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần

1. Cuối mỗi học kỳ, nhà trường tổ chức 2 lần thi để kết thúc các học phần. Những học sinh không tham dự lần thi thứ nhất hoặc có điểm học phần dưới 5 ở lần thi thứ nhất sẽ được dự thi lần thứ hai. Lần thi thứ hai trong học kỳ đó được tổ chức sớm nhất là 2 tuần sau lần thi thứ nhất.

Học sinh nghỉ học quá 20% số tiết quy định cho mỗi học phần thì không được dự thi kết thúc học phần lần thứ nhất. Những học sinh này sau khi tham gia học bổ sung đủ nội dung kiến thức còn thiếu của học phần đó thì được dự thi kết thúc học phần ở lần thi thứ hai, trong đó những học sinh nghỉ học có lý do chính đáng thì Hiệu trưởng xem xét quyết định tính là thi lần đầu. Học sinh không tham gia học bổ sung nội dung kiến thức còn thiếu của học phần do nghỉ học quá thời gian theo quy định mà không có lý do chính đáng phải nhận điểm 0 để tính là điểm thi kết thúc học phần của học phần đó.

Những học sinh nghỉ học quá 20% số tiết quy định cho mỗi học phần nói  trên chỉ còn được dự thi kết thúc học phần một lần nữa (nếu có) tại các kỳ thi kết thúc học phần tổ chức cho học sinh lớp khác hoặc các khóa học sau.

2. Học sinh vắng mặt trong buổi thi kết thúc học phần lần thứ nhất nếu không có lý do chính đáng thì phải nhận điểm 0 để tính là điểm thi kết thúc học phần ở lần thi đó và chỉ được dự thi kết thúc học phần một lần nữa do nhà trường tổ chức ở lần thi thứ hai. Nếu vắng mặt có lý do chính đáng thì Hiệu trưởng xem xét quyết định cho dự thi khi nhà trường tổ chức thi lần thứ hai nhưng vẫn tính là thi lần thứ nhất và còn được dự thi một lần nữa (nếu có) tại các kỳ thi kết thúc học phần tổ chức cho học sinh lớp khác hoặc các khóa học sau.

3. Trường hợp sau hai lần thi mà vẫn đạt điểm dưới 5,0 thì học sinh phải đăng ký học lại học phần này và số lần được dự thi kết thúc học phần được áp dụng như quy định tại khoản 1 Điều này. Hiệu trưởng bố trí thời gian học lại và hoàn thành việc thi lại cho học sinh trước khi xét điều kiện dự thi tốt nghiệp.

4. Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần phụ thuộc vào số đơn vị học trình của học phần đó. Hiệu trưởng quy định cụ thể thời gian ôn thi và thi trong kế hoạch thời gian dành cho thi ở mỗi học kỳ. Thời gian làm bài thi kết thúc học phần đối với mỗi bài thi viết tự luận từ 90 phút đến 120 phút, đối với mỗi bài thi trắc nghiệm từ 45 phút đến 60 phút. Đối với các môn học đặc thù, thời gian thi kết thúc học phần do Hiệu trưởng quy định.

Điều 9. Đánh giá học phần

1. Tùy theo từng học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần (gọi tắt là điểm học phần) được tính căn cứ vào các điểm kiểm tra thường xuyên, điểm kiểm tra định kỳ và điểm thi kết thúc học phần.

Điểm kiểm tra thường xuyên là điểm kiểm tra đầu giờ hoặc trong giờ lên lớp, kiểm tra thực hành hoặc kiểm tra viết với thời gian dưới 45 phút.

Điểm kiểm tra định kỳ là điểm kiểm tra hết chương, kiểm tra bài thực hành, thực tập hoặc từng phần chính của học phần, thời gian từ 45 phút trở lên.

Điểm thi kết thúc học phần là điểm thi để kết thúc học phần do nhà trường tổ chức vào cuối mỗi học kỳ.

2. Điểm học phần là trung bình cộng của điểm thi kết thúc học phần và điểm trung bình các điểm kiểm tra.

Điểm trung bình các điểm kiểm tra là trung bình cộng của các điểm kiểm tra thường xuyên, điểm kiểm tra định kỳ theo hệ số của từng loại điểm, trong đó  điểm kiểm tra thường xuyên tính hệ số 1, điểm kiểm tra định kỳ tính hệ số 2.

 3. Việc lựa chọn hình thức kiểm tra, số lần kiểm tra do Hiệu trưởng quy định và phải được công bố công khai cho học sinh biết trước khi vào học học phần nhưng phải đảm bảo cứ từ hai đến ba đơn vị học trình của mỗi học phần phải có ít nhất 1 điểm kiểm tra thường xuyên và 1 điểm kiểm tra định kỳ cho mỗi học sinh. Học sinh vắng mặt trong các lần kiểm tra mà không có lý do chính đáng thì phải nhận điểm 0 (không) ở lần kiểm tra đó.

4. Giáo viên giảng dạy trực tiếp ra đề, tổ chức kiểm tra và chấm các bài kiểm tra của học phần.

Điều 10. Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi kết thúc học phần

1. Nội dung đề thi phải phù hợp với nội dung kiến thức cơ bản của học phần đã quy định trong chương trình. Quy trình ra đề thi kết thúc học phần do Hiệu trưởng quy định.

2. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, thực hành, hoặc kết hợp giữa các hình thức trên. Hiệu trưởng quyết định các hình thức thi thích hợp cho từng học phần và thông báo công khai cho học sinh biết từ đầu năm học.

3. Việc chấm thi kết thúc các học phần đối với các bài thi viết chỉ được thực hiện sau khi đã rọc phách bài thi. Kết quả chấm thi viết phải được công bố chậm nhất là 10 ngày sau khi thi.

Hiệu trưởng quy định quy trình chấm thi, thống nhất cách cho điểm bài thi, bảo quản và lưu giữ các bài thi viết sau khi chấm. Thời gian lưu giữ các bài thi viết sau khi chấm ít nhất là sau khi kết thúc khoá học.

4. Việc chấm thi vấn đáp và chấm thi thực hành phải thực hiện theo mẫu phiếu chấm thi quy định, trong đó tương ứng với mỗi nội dung đánh giá, giáo viên phải ghi ý kiến nhận xét, điểm từng phần và điểm tổng vào phiếu chấm thi. Điểm thi vấn đáp được công bố sau mỗi buổi thi khi hai giáo viên chấm thi thống nhất được điểm chấm. Hiệu trưởng quy định nội dung, hình thức các mẫu phiếu chấm thi đối với các môn thi vấn đáp, thực hành.

5. Các điểm thi kết thúc học phần phải ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của trường, có chữ ký của hai giáo viên chấm thi và có xác nhận của trưởng bộ môn hoặc trưởng khoa. Bảng điểm thi kết thúc học phần và điểm học phần phải được quản lý và lưu giữ tại bộ môn và gửi về văn phòng khoa, phòng đào tạo chậm nhất là một tuần sau khi kết thúc chấm thi học phần.

6. Học sinh được quyền làm đơn xin phúc khảo về điểm thi kết thúc học phần đối với những môn thi viết tự luận, thời gian xin phúc khảo sau 15 ngày kể từ ngày công bố kết quả thi kết thúc học phần. Hiệu trưởng có trách nhiệm tổ chức phúc khảo và công bố kết quả phúc khảo cho học sinh.

Điều 11. Cách tính điểm kiểm tra, điểm thi, điểm trung bình chung và xếp loại kết quả học tập

1. Điểm đánh giá bộ phận (bao gồm điểm kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ), điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 và làm tròn đến phần nguyên.

2. Điểm đánh giá học phần được làm tròn đến một chữ số thập phân.

3. Điểm trung bình chung học tập của mỗi học kỳ, mỗi năm học, khoá học là trung bình cộng các điểm học phần trong mỗi học kỳ, mỗi năm học và cả khoá học theo hệ số của từng học phần và được lấy đến một chữ số thập phân sau khi đã làm tròn.

Hệ số của học phần tùy thuộc số học trình của mỗi học phần. Mỗi đơn vị học trình tương ứng với một hệ số.

4. Điểm học phần, điểm trung bình chung học tập để xét cấp học bổng, xét khen thưởng cho học sinh chỉ được tính kết quả điểm thi kết thúc học phần lần thứ nhất. Điểm học phần và điểm trung bình chung học tập để xét học sinh được học tiếp, tạm ngừng tiến độ học, bị buộc thôi học và xét tốt nghiệp được tính theo điểm cao nhất trong các lần thi kết thúc học phần.

5. Xếp loại kết quả học tập:

a) Điểm trung bình chung học tập là căn cứ để xếp loại học tập của học sinh, cụ thể:

- Loại Xuất sắc: từ 9,0 đến 10

- Loại Giỏi: từ 8,0 đến 8,9

- Loại Khá: từ 7,0 đến 7,9

- Loại Trung bình khá: từ 6,0 đến 6,9

- Loại Trung bình: từ 5,0 đến 5,9

- Loại Yếu: từ 4,0 đến 4,9

     - Loại Kém: dưới 4,0

   b) Học sinh có điểm trung bình chung học tập xếp từ loại khá trở lên bị hạ xuống một bậc nếu có từ 20% trở lên số học phần có điểm dưới 5,0 ở lần thi thứ nhất.

   Điều 12. Điều kiện dự thi tốt nghiệp

   1. Học sinh được dự thi tốt nghiệp nếu có các điều kiện sau đây:

a) Đã tích lũy đủ số học phần quy định cho chương trình đào tạo, không còn học phần bị điểm dưới 5,0;

b) Không đang trong thời gian bị kỷ luật từ mức đình chỉ học tập có thời hạn trở lên hoặc đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tính ở thời điểm xét điều kiện dự thi tốt nghiệp.

2. Học sinh không được dự thi tốt nghiệp do không đảm bảo điều kiện quy định tại điểm a, khoản 1 của Điều này, nếu có điểm trung bình chung học tập của năm học cuối khoá không nhỏ hơn 4.0, điểm trung bình chung học tập toàn khoá không nhỏ hơn 4.5 và thời gian học tập tại trường của học sinh vẫn đảm bảo theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 của quy chế này thì Hiệu trưởng xem xét, quyết định cho học sinh được học lại các học phần chưa đạt yêu cầu rồi xét điều kiện dự thi tốt nghiệp. Nếu học sinh đủ điều kiện dự thi tốt nghiệp thì được dự thi trong các kỳ thi tốt nghiệp tiếp sau. Thời gian và kế hoạch học lại, xét điều kiện dự thi tốt nghiệp và thi tốt nghiệp do Hiệu trưởng quyết định.

3. Trước khi tổ chức thi tốt nghiệp, Hiệu trưởng thành lập hội đồng xét điều kiện dự thi tốt nghiệp cho học sinh cuối khóa. Thành phần, số lượng của hội đồng do Hiệu trưởng quy định.

Điều 13. Các môn thi tốt nghiệp

1. Môn thi tốt nghiệp bao gồm: Chính trị, Lý thuyết tổng hợp nghề nghiệp, Thực hành nghề nghiệp.

2. Đối với hệ đào tạo mà đối tượng tuyển sinh là học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở thì ngoài ba môn thi tốt nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này, học sinh phải thi thêm ba môn văn hóa. Hiệu trưởng nhà trường quy định các môn thi, thời gian tổ chức thi các môn văn hóa và thông báo công khai từ đầu khóa học.

3. Nội dung các môn thi tốt nghiệp:

a) Nội dung thi tốt nghiệp môn chính trị là những kiến thức trong nội dung chương trình môn chính trị theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

b) Nội dung thi tốt nghiệp môn lý thuyết tổng hợp nghề nghiệp là những kiến thức được tổng hợp từ một số học phần bắt buộc thuộc phần kiến thức cơ sở và chuyên môn trong chương trình đào tạo;

c) Nội dung thi tốt nghiệp môn thực hành nghề nghiệp là những kỹ năng thực hành nghề nghiệp cơ bản, chuyên sâu được tổng hợp từ một số học phần bắt buộc thuộc phần kỹ năng chuyên môn trong chương trình đào tạo;

d) Nội dung thi tốt nghiệp các môn văn hóa là những kiến thức cơ bản được tổng hợp từ một số học phần bắt buộc thuộc phần kiến thức các môn văn hóa trong chương trình theo quy định.

4. Hiệu trưởng quy định cụ thể nội dung và khối lượng (tính bằng đơn vị học trình) của các nội dung ôn tập, thời gian ôn tập, thời gian thi đối với từng môn thi tốt nghiệp phù hợp với chương trình đào tạo và công bố vào đầu học kỳ cuối cùng của khoá học.

Điều 14. Hội đồng thi tốt nghiệp

1. Trước kỳ thi tốt nghiệp ít nhất là hai tuần, Hiệu trưởng phải lập xong kế hoạch tổ chức thi tốt nghiệp, quyết định thành lập hội đồng thi tốt nghiệp và gửi báo cáo kèm theo quyết định nói trên cho cơ quan quản lý trường, sở giáo dục và đào tạo địa phương.

2. Thành phần của hội đồng thi tốt nghiệp bao gồm:

a) Chủ tịch hội đồng là Hiệu trưởng hoặc phó Hiệu trưởng phụ trách đào tạo ;

b) Phó chủ tịch hội đồng là phó Hiệu trưởng hoặc trưởng phòng đào tạo;

c) Ủy viên thư ký là trưởng phòng hoặc phó trưởng phòng đào tạo;

d) Các ủy viên gồm các trưởng khoa, trưởng phòng, tổ trưởng bộ môn và các thành phần khác do Hiệu trưởng quyết định.

3. Nhiệm vụ của Hội đồng thi tốt nghiệp:

a) Giúp Hiệu trưởng tổ chức, chỉ đạo kỳ thi tốt nghiệp theo các quy định tại Quy chế này và kế hoạch của Hiệu trưởng;

b) Quyết định thành lập các ban giúp việc cho hội đồng thi tốt nghiệp, gồm ban thư ký, ban đề thi, ban coi thi, ban chấm thi. Các ban này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của chủ tịch Hội đồng thi tốt nghiệp.

- Ban thư ký do ủy viên thư ký hội đồng làm trưởng ban;

- Ban đề thi do chủ tịch hoặc phó chủ tịch hội đồng kiêm nhiệm làm trưởng ban. Ban đề thi gồm các tiểu ban, mỗi môn thi do một tiểu ban phụ trách. Số lượng mỗi tiểu ban không quá 3 người, trong đó có một người làm trưởng tiểu ban;

- Ban coi thi do chủ tịch hoặc phó chủ tịch hội đồng kiêm nhiệm làm trưởng ban;

- Ban chấm thi do chủ tịch hoặc phó chủ tịch hội đồng kiêm nhiệm làm trưởng ban. Ban chấm thi gồm các tiểu ban, mỗi tiểu ban phụ trách chấm một môn thi tốt nghiệp. Số lượng người trong mỗi tiểu ban tùy theo số lượng bài thi của môn thi và Chủ tịch hội đồng thi tốt nghiệp quyết định. Mỗi tiểu ban có tối thiểu 3 người, trong đó có một người làm trưởng tiểu ban;

c) Phân công tổ chức và theo dõi kỳ thi, bảo đảm thực hiện nội quy và xử lý các trường hợp vi phạm nội quy theo quy định tại Điều 20 của Quy chế này.

d) Xét duyệt kết quả thi tốt nghiệp và giải quyết các đơn khiếu nại (nếu có); trình Hiệu trưởng danh sách học sinh được công nhận tốt nghiệp, danh sách học sinh không được công nhận tốt nghiệp.

đ) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Hiệu trưởng.

4. Thường trực hội đồng thi tốt nghiệp gồm chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng và ủy viên thư ký. Thường trực hội đồng có các nhiệm vụ sau:

a) Chuẩn bị các hồ sơ, tài liệu cần thiết cho các phiên họp toàn thể hội đồng;

b) Giải quyết các công việc giữa hai kỳ họp của hội đồng theo đúng quy chế, và báo cáo kết quả công việc với hội đồng trong phiên họp tiếp theo;

c) Tập hợp và phân loại kết quả thi tốt nghiệp và trình bày trước hội đồng để xét công nhận tốt nghiệp.

5. Hội đồng phải có lịch họp toàn thể trong thời gian chỉ đạo và tổ chức kỳ thi, quy định rõ nội dung từng phiên họp, mỗi phiên họp đều phải có biên bản. Các kiến nghị của hội đồng và biên bản trong các phiên họp đều phải có chữ ký của chủ tịch hội đồng và ủy viên thư ký để trình Hiệu trưởng.

6. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các ban giúp việc cho hội đồng thi tốt nghiệp do chủ tịch hội đồng quy định.

Điều 15. Coi thi tốt nghiệp

1. Hội đồng thi tốt nghiệp xây dựng kế hoạch và tổ chức phương án coi thi, chuẩn bị chu đáo mọi điều kiện cho công tác coi thi, đảm bảo sự quản lý chặt chẽ, nghiêm túc ở tất cả các khâu trong quá trình coi thi.

2. Phổ biến nội quy thi đến từng cán bộ coi thi và thí sinh dự thi. Niêm yết đầy đủ, công khai những thông tin cần thiết về thi tốt nghiệp.

3. Đảm bảo mỗi phòng thi phải có hai cán bộ coi thi. Tùy điều kiện về phòng thi, bố trí số lượng cán bộ giám sát phòng thi cho phù hợp đồng thời đảm bảo được yêu cầu của nhiệm vụ coi thi.

Điều 16. Chấm thi tốt nghiệp

1. Thang điểm chấm thi tốt nghiệp là thang điểm 10, các ý nhỏ được chấm đến 0.25 điểm. Nếu điểm toàn bài có điểm lẻ là 0.25 thì quy tròn thành 0.5, có điểm lẻ là 0.75 thì quy tròn là 1.0. Nếu chấm theo thang điểm khác với thang điểm 10 thì sau khi chấm xong phải quy đổi về thang điểm 10. Việc quy đổi phải được Hiệu trưởng quyết định và thông báo công khai từ trước khi chấm thi.

2. Hiệu trưởng quy định quy trình chấm thi theo nguyên tắc:

a) Tất cả các bài thi viết phải được rọc phách trước khi chấm;

b) Chấm thi viết (tự luận) phải do hai giáo viên thực hiện theo quy trình chấm hai vòng độc lập, sau đó thống nhất kết quả chấm cho từng bài thi;

c) Chấm thi vấn đáp và thực hành phải đảm bảo có hai giáo viên tham gia đối với mỗi bài thi. Sau khi chấm phải thống nhất điểm từng bài thi. Trường hợp hai người chấm không thống nhất được điểm bài thi phải lập biên bản báo cáo với trưởng tiểu ban, trưởng ban chấm thi quyết định biện pháp xử lý.

3. Học sinh có quyền làm đơn xin phúc khảo về điểm thi tốt nghiệp đối với những môn thi viết tự luận, thời gian xin phúc khảo sau 15 ngày kể từ ngày công bố kết quả thi tốt nghiệp. Hiệu trưởng có trách nhiệm tổ chức phúc khảo và công bố kết quả phúc khảo cho học sinh. 

Trường hợp có đơn xin phúc khảo thì việc tổ chức chấm phúc khảo phải tiến hành quy trình chấm phúc khảo theo quy định của Quy chế  tuyển sinh trung cấp chuyên nghiệp hiện hành do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Chương IV

ĐIỀU KIỆN CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP,

XẾP LOẠI VÀ CẤP BẲNG TỐT NGHIỆP

Điều 17. Điều kiện công nhận tốt nghiệp

1. Những học sinh có các điều kiện sau thì được công nhận tốt nghiệp:

a) Điểm trung bình các môn thi tốt nghiệp (ĐTBTN) đạt từ 5,0 trở lên (Điểm trung bình các môn thi tốt nghiệp là trung bình cộng các điểm thi tốt nghiệp);

b) Tối đa chỉ một môn thi tốt nghiệp có điểm thi dưới 5,0 nhưng không được thấp hơn 4,5;

c) Cho đến thời điểm xét công nhận tốt nghiệp, học sinh không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không bị kỷ luật từ mức đình chỉ học tập trở lên.

2. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những học sinh đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Những học sinh không đủ điều kiện công nhận tốt nghiệp do không đạt các yêu cầu về điểm thi tốt nghiệp quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này hoặc vì lý do đặc biệt không dự thi đủ các môn học, được nhà trường tổ chức thi lại những môn chưa đạt yêu cầu trong thời gian từ 3 đến 6 tháng kể từ ngày trường công bố kết quả thi tốt nghiệp. Nội dung thi, hình thức thi, ra đề thi, tổ chức thi, chấm thi, xét và công nhận tốt nghiệp cho những học sinh này được thực hiện như kỳ thi tốt nghiệp chính thức và do Hiệu trưởng quy định.

4. Những học sinh không đủ điều kiện công nhận tốt nghiệp do bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức đình chỉ học tập trở lên, tính đến thời điểm xét công nhận tốt nghiệp thì hoãn công nhận tốt nghiệp. Tuỳ theo mức độ vi phạm, thời gian hoãn công nhận tốt nghiệp ít nhất từ 6 tháng trở lên và do Hiệu trưởng quyết định. Trong khoảng thời gian đó, nếu học sinh được chính quyền địa phương nơi cư trú và cơ quan, tổ chức nơi làm việc (nếu có) xác nhận có ý thức tu dưỡng rèn luyện tốt thì được xét công nhận tốt nghiệp.

Điều 18. Xếp loại tốt nghiệp

1. Điểm xếp loại tốt nghiệp (ĐXLTN ) là trung bình cộng của điểm trung bình chung toàn khóa (ĐTBCTK) và điểm trung bình các môn thi tốt nghiệp (ĐTBTN).

ĐXLTN

=

ĐTBCTK + ĐTBTN
–––––––––––––––
2

Điểm xếp loại tốt nghiệp lấy đến một chữ số thập phân sau khi đã làm tròn.

2. Xếp loại tốt nghiệp được thực hiện như sau:

TT

Điểm xếp loại tốt nghiệp

Xếp loại tốt nghiệp

1

Từ 9,0 đến 10 điểm

Xuất sắc

2

Từ 8,0 đến 8,9 điểm

Giỏi

3

Từ 7,0 đến 7,9 điểm

Khá

4

Từ 6,0 đến 6,9 điểm

Trung bình khá

5

Từ 5,0 đến 5,9 điểm

Trung bình

3. Những học sinh xếp loại tốt nghiệp từ loại khá trở lên sẽ bị giảm đi một mức nếu vi phạm một trong các trường hợp sau:

a) Có tổng số học trình của các học phần phải thi lại vượt quá 10% so với tổng số đơn vị học trình quy định cho toàn khoá học;

b) Đã bị kỷ luật trong thời gian học từ mức cảnh cáo trở lên.

4. Những học sinh thi lại tốt nghiệp nếu đạt yêu cầu chỉ được xếp loại trung bình.

Điều  19. Cấp bằng tốt nghiệp, quản lý và lưu trữ hồ sơ tốt nghiệp

1. Bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp được cấp theo ngành đào tạo. Bằng tốt nghiệp chỉ được cấp cho học sinh khi đã ghi đầy đủ, chính xác các nội dung trên phôi bằng theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

2. Học sinh chưa tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận kết quả học tập các học phần đã học trong chương trình đào tạo của trường.

3. Hiệu trưởng chịu trách nhiệm tổ chức lễ trao bằng tốt nghiệp cho học sinh được công nhận tốt nghiệp. Lễ trao bằng tốt nghiệp được tổ chức chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp.

4. Hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản lý, lưu trữ hồ sơ tốt nghiệp, gửi quyết định kèm theo danh sách công nhận tốt nghiệp về cơ quan quản lý trường và Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thời gian gửi chậm nhất là sau 15 ngày kể từ ngày ký quyết định công nhận tốt nghiệp.

5. Hồ sơ lưu trữ bao gồm:

a) Quyết định công nhận tốt nghiệp;

b) Danh sách học sinh dự thi tốt nghiệp (những học sinh chưa tốt nghiệp từ các khoá trước về dự thi lại thì lập thành danh sách riêng);

c) Danh sách học sinh không được dự thi tốt nghiệp ;

d) Danh sách học sinh được công nhận tốt nghiệp và xếp loại tốt nghiệp, trong đó có các cột ghi kết quả điểm các môn thi tốt nghiệp, điểm trung bình chung toàn khóa (ĐTBCTK), điểm trung bình các môn thi tốt nghiệp (ĐTBTN) và điểm xếp loại tốt nghiệp (ĐXLTN );

đ) Danh sách học sinh chưa tốt nghiệp (kể cả hoãn công nhận tốt nghiệp);

Các tài liệu quy định tại khoản 5 Điều này phải được lưu trữ, bảo quản theo quy định hiện hành.

Chương V

XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 20. Xử lý kỷ luật đối với học sinh vi phạm các quy định về thi, kiểm tra

1. Trong khi kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, thi kết thúc học phần, thi tốt nghiệp (sau đây gọi tắt là thi, kiểm tra) nếu vi phạm quy chế, học sinh sẽ bị xử lý kỷ luật đối với từng học phần đã vi phạm.

2. Học sinh thi hộ hoặc nhờ người thi hộ sẽ bị đình chỉ học tập một năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và bị buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.

3. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, mức độ sai phạm và khung xử lý kỷ luật đối với học sinh vi phạm như sau:

a) Khiển trách và cho tiếp tục làm bài nhưng trừ 25% điểm bài thi hoặc bài kiểm tra.

b) Cảnh cáo và cho tiếp tục làm bài nhưng trừ 50% điểm bài thi hoặc bài kiểm tra.

c) Đình chỉ làm bài thi, bài kiểm tra và bài thi, bài kiểm tra buổi đó phải nhận điểm 0.

d) Riêng đối với thi tốt nghiệp, ngoài các hình thức xử lý nêu trên, tuỳ theo mức độ vị phạm có thể xử lý ở mức đình chỉ thi đối với môn thi đã vi phạm và các môn thi còn lại. Những môn thi bị đình chỉ đều phải nhận điểm 0.

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

Bành Tiến Long – Đã ký

Tự học VB6: BÀI THỨ NHẤT

posted Aug 29, 2010, 10:23 AM by Trung cấp xây dựng số 4 Trường

Chương Một - Hoan nghênh đến với VB6

Chào mừng bạn đến với Visual Basic 6

Dùng VB6 là cách nhanh và tốt nhất để lập trình cho Microsoft Windows. Cho dù bạn là chuyên nghiệp hay mới mẻ đối với chương trình Windows, VB6 sẽ cung cấp cho bạn một bộ công cụ hoàn chỉnh để đơn giản hóa việc triển khai lập trình ứng dụng cho MSWindows.

Visual Basic là gì? Phần "Visual" đề cập đến phương phàp được sử dụng để tạo giao diện đồ họa người dùng (Graphical User Interface hay viết tắc là GUI) . Có sẵn những bộ phận hình ảnh, gọi là controls, bạn tha hồ sắp đặt vị trí và quyết định các đặc tính của chúng trên một khung màn hình, gọi là form. Nếu bạn đã từng sử dụng chương trình vẽ chẳng hạn như Paint, bạn đã có sẵn các kỹ năng cần thiết để tạo một GUI cho VB6.

Phần "Basic" đề cập đến ngôn ngữ BASIC (Beginners All-Purpose Symbolic Instruction Code), một ngôn ngữ lập trình đơn giản, dễ học, được chế ra cho các khoa học gia (những người không có thì giờ để học lập trình điện toán) dùng.

Visual Basic đã được ra từ MSBasic, do Bill Gates viết từ thời dùng cho máy tính 8 bits 8080 hay Z80. Hiện nay nó chứa đến hàng trăm câu lệnh (commands), hàm (functions) và từ khóa (keywords). Rất nhiều commands, functions liên hệ trực tiếp đến MSWindows GUI. Những người mới bắt đầu có thể viết chương trình bằng cách học chỉ một vài commands, functions và keywords. Khả năng của ngôn ngữ này cho phép những người chuyên nghiệp hoàn thành bất kỳ điều gì nhờ sử dụng ngôn ngữ lập trình MSWindows nào khác.

Người mang lại phần "Visual" cho VB là ông Alan Cooper. Ông đã gói môi trường hoạt động của Basic trong một phạm vi dễ hiểu, dễ dùng, không cần phải chú ý đến sự tinh xảo của MSWindows, nhưng vẫn dùng các chức năng của MSWindows một cách hiệu quả. Do đó, nhiều người xem ông Alan Cooper là cha già của Visual Basic.

Visual Basic còn có hai dạng khác: Visual Basic for Application (VBA)VBScript. VBA là ngôn ngữ nằm phía sau các chương trình Word, Excel, MSAccess, MSProject, .v.v.. còn gọi là Macros. Dùng VBA trong MSOffice, ta có thể làm tăng chức năng bằng cách tự động hóa các chương trình.
VBScript được dùng cho Internet và chính Operating System.

Dù cho mục đích của bạn là tạo một tiện ích nhỏ cho riêng bạn, trong một nhóm làm việc của bạn, trong một công ty lớn, hay cần phân bố chương trình ứng dụng rộng rãi trên thế giới qua Internet, VB6 cũng sẽ có các công cụ lập trình mà bạn cần thiết.

Các ấn bản Visual Basic 6

Có ba ấn bản VB6: Learning, Professional và Enterprise. Chúng ta hãy gát qua ấn bản Learning. Bạn có thể dùng ấn bản Professional hay Enterprise.

Ấn bản Professional cung cấp đầy đủ những gì bạn cần để học và triển khai một chương trình VB6, nhất là các control ActiveX, những bộ phận lập trình tiền chế và rất hữu dụng cho các chương trình ứng dụng (application programs) của bạn trong tương lai. Ngoài đĩa compact chính cho VB6, tài liệu đính kèm gồm có sách Visual Studio Professional Features và hai đĩa CD Microsoft Developer Network (MSDN).

Ấn bản Enterprise là ấn bản Professional cộng thêm các công cụ Back Office chẳng hạn như SQL Server, Microsoft Transaction Server, Internet Information Server.

Cài đặt VB6

Để cài đặt VB6, máy tính của bạn cần phải có một ổ đĩa CD-ROM (CD drive) . Bạn cần ít nhất 32 MB RAM, 2 GB hard disk và CPU Pentium II. Khi bỏ VB6 CD vào CD drive, nó sẽ tự khởi động để display menu cho bạn chọn những thứ gì cần Setup, hãy click Install Visual Basic 6.0 để cài VB6. Ngoại trừ các file hệ điều hành (Operating System) trong thư mục (folder) \Os, các file trong đĩa compact đều không bị nén. Vì thế, bạn có thể sử dụng chúng trực tiếp từ đĩa. Ví dụ, có nhiều công cụ và thành phần trong folder \Tools vốn có thể được cài đặt trực tiếp từ CD-ROM.
Ngoài ra, bạn có thể chạy Setup khi nào cần thiết. Ví dụ, bạn có thể chạy Setup để cài đặt lại Visual Basic trong folder khác, hoặc để cài đặt thêm bớt các phần của VB6.
Nếu vì lý do gì hệ thống không install các đĩa compact MSDN (bạn sẽ khám phá ra điều nầy khi thấy Help không có mặt lúc chạy VB6), bạn có thể cài đặt chúng trực tiếp từ đĩa số 1 của bộ MSDN.

Để bổ xung và xóa các thành phần VB:

1.      Bỏ đĩa compact vào CD drive.

2.      Nếu menu không tự động hiện lên thì chạy chương trình Setup có sẵn tong folder gốc trên đĩa compact.

3.      Chọn nút Custom trong hộp thoại (dialog) Microsoft Visual Basic 6.0 Setup.

4.      Chọn hay xóa các thành phần bằng cách check hay uncheck các hộp danh sách Options của dialog Custom.

5.      Thực hiện các chỉ dẫn Setup trên màn hình.

Ghi chú: Trong lúc cài VB6, nhớ chọn Graphics nếu không bạn sẽ thiếu một số hình ảnh như icons, bitmaps v.v... Đáng lẽ Microsoft cho tự động cài đặt Graphics, tức là Default (không có nói gì) thì cài đặt Graphics.

Integrated Development Environment (IDE) của VB6

Khi khởi động VB6 bạn sẽ thấy mở ra nhiều cửa sổ (windows), scrollbars, v.v.. và nằm chồng lên là New Project dialog. Ở đây VB6 cho bạn chọn một trong nhiều loại công trình.
 

Chọn Standard EXE. Một lát sau trên màn ảnh sẽ hiện ra giao diện của môi trường phát triển tích hợp (Integrated Development Environment - IDE ) giống như dưới đây:



IDE của VB6 bao gồm các yếu tố sau:

Menu Bar

Chứa đầy đủ các commands mà bạn sử dụng để làm việc với VB6, kể cả các menu để truy cập các chức năng đặc biệt dành cho việc lập trình chẳng hạn như Project, Format, hoặc Debug. Trong Menu Add-Ins có Add-Ins Manager cho phép bạn gắn thêm những menu con nhiệm ý để chạy các chương trình lợi ích cho việc lập trình.
Trong Add-Ins Manager dialog bạn chọn một Add-In rồi check một hay nhiều hộp trong khung Load behavior:

Toolbars (Debug, Edit, form Editor, Standard)

Các toolbars có hình các icons cho phép bạn click để thực hiện công việc tương đương với dùng một menu command, nhưng nhanh và tiện hơn. Bạn dùng menu command View | Toolbars (click lên menu command View cho popupmenu hiện ra rồi click command con Toolbars) để làm cho các toolbars hiện ra hay biến mất đi. Bạn có thể thay đổi vị trí một toolbar bằng cách nắm vào hai gạch vertical nằm bên trái toolbar rồi dời toolbar đi chỗ khác (nắm ở đây nghĩa là để pointer của mouse lên chỗ chấm đỏ trong hình phía dưới rồi bấm xuống và giữ nút bên trái của mouse, trong khi kéo pointer đi nơi khác).


Ngoài ra bạn cũng có thể sửa đổi các toolbars theo ý thích bằng cách dùng Menu command View | Toolbars | Customize...

Toolbox

Đây là hộp đồ nghề với các công cụ, gọi là controls, mà bạn có thể đặt lên các form trong lúc thiết kế (design). Nếu Toolbox biến mất, bạn có thể display nó trở lại bằng cách dùng menu command View | Toolbox. Bạn có thể khiến toolbox display nhiều controls hơn bằng cách chọn Components... từ context menu (chọn Toolbox rồi bấm nút phải của mouse để display context menu) hay dùng menu command Project | Components. Ngoài việc trình bày Toolbox mặc định, bạn có thể tạo cách trình bày khác bằng cách chọn Add Tab... từ context menu và bổ sung các control cho tab từ kết quả.

Project Explorer

Sẽ liệt kê các forms và các modules trong project hiện hành của bạn. Một project là sự tập hợp các files mà bạn sử dụng để tạo một trình ứng dụng. Tức là, trong VB6, khi nói viết một program có nghĩa là triển khai một project.

Properties window

Liệt kê các đặc tính của các forms hoặc controls được chọn. Một property là một đặc tính của một object chẳng hạn như size, caption, hoặc color. Khi bạn sửa đổi một property bạn sẽ thấy hiệu quả ngay lập tức, thí dụ thay đổi property Font của một Label sẽ thấy Label ấy được display bằng Font chữ mới. Khi bạn chọn một Property của control hay form trong Properties window, phía bên phải ở chỗ value của property có thể display ba chấm (. . .) hay một tam giác chỉa xuống. Bấm vào đó để display một dialog cho bạn chọn value. Thí dụ dưới đây là dialog để chọn màu cho property ForeColor của control Label1.

 

Form Layout

Bạn dùng form Layout để chỉnh vị trí của các forms khi form hiện ra lần đầu lúc chương trình chạy. Dùng context command Resolution Guides để thấy nếu dùng một màn ảnh với độ mịn (resolution) tệ hơn, thí dụ như 640 X 480, thì nó sẽ nhỏ như thế nào.

 

Form Designer

Dùng để thiết kế giao diện lập trình. Bạn bổ sung các controls, các đồ họa (graphics), các hình ảnh và một form để tạo sự ma sát mà bạn muốn. Mỗi form trong trình ứng dụng của bạn có designer form riêng của nó. Khi bạn maximise một form designer, nó chiếm cả khu làm việc. Muốn làm cho nó trở lại cở bình thường và đồng thời để thấy các form designers khác, click nút Restore Window ở góc bên phải, phía trên.



Immediate Window

Dùng để gở rối (debug) trình ứng dụng của bạn. Bạn có thể display dữ kiện trong khi chạy chương trình ứng dụng. Khi chương trình đang tạm ngừng ở một break point, bạn có thể thay đổi giá trị các variables hay chạy một dòng chương trình.

View Code button

Click lên nút nầy để xem code của một form mà bạn đã chọn. Window của code giống như dưới đây:

Trong Code window bạn có thể chọn display tất cả Sub của code cùng một lúc như trong hình hay display mỗi lần chỉ một Sub bằng cách click button có hình ba dòng nằm ở góc bên trái phía dưới.

View form button

Click lên nút nầy để xem form của một form mà bạn đã chọn.


Ghi chú: Nhiều windows trong IDE như Toolbars, Toolbox, Project Explorer .v.v..có thể trôi lình bình (floating) hay đậu ở bến (docked). Bạn có thể thay đổi vị trí chúng bằng cách nắm vào Title Bar của window rồi dời đi. Dĩ nhiên bạn cũng có thể mở rộng hay làm nhỏ một window bằng cách dời một cạnh vertical hay horizontal của nó. Khi để một window lên trên một window khác chúng có thể tìm cách dính nhau.


Trong hình dưới đây, Properties Window và Form Layout đã được kéo ra ngoài cho floating.

Nhận trợ giúp trong khi đang làm việc

Trong khi lập trình bạn có thể cần tìm hiểu các thông tin liên quan đến các commands, functions .v.v.. của VB6. Bạn có thể khởi động Microsoft Developer Network | MSDN Library Visual Studio 6.0 từ nút Start, hay click Help | Contents từ Menu Bar của VB6, hay chọn một keyword (highlight keyword) rồi ấn F1 để đọc Help.

Nội dung Help bao gồm nhiều đặc điểm được thiết kế để thực hiện việc tìm kiếm thông tin dễ dàng hơn. Bạn có thể dựa trên Contents để đọc tài liệu như một quyễn sách, Index để đọc những đoạn có nhắc đến một keyword hay Search để tìm một tài liệu nhanh hơn. Ví dụ, việc gở rối thông tin bắt nguồn từ nhiều đặc tính khác nhau phụ thuộc vào loại đề án mà bạn đang làm việc. Các liên kết được mô tả trong phần nầy thực hiện việc tìm kiếm dễ dàng hơn.
Ngoài ra, bạn cũng có thể click See Also dưới tiêu đề của chủ điểm để xem các tiêu đề của các chủ điểm mà bạn có thể đi đến hoặc liên hệ đến nhiều thông tin.

Context Sensitive Help (trợ giúp trong đúng tình huống)

Nhiều phần của VB6 là context sensitive, có nghĩa là lúc bối rối chỉ cần ấn nút F1 hoặc highlight keyword rồi nhấn F1 là được thông tin những gì liên hệ trực tiếp với tình huống hiện giờ của bạn.
Bạn có thể nhấn F1 từ bất kỳ phần context sensitive nào của giao diện VB6 để display thông tin Help về phần đó. Các phần context sensitive là:

·         Các Windows của VB6 như Properties, Code .v.v..

·         Các control trong Toolbox.

·         Các Object trên một form hoặc Object tài liệu.

·         Các đặc tính trong Window Properties.

·         Các keywords của VB6

·         Các thông báo lỗi (error messages)

Ngoài ra, trong Help thường có Example. Bạn click lên chữ Example để display một thí dụ minh họa cách dùng một function hay property.

Microsoft on the Web

Web site của Microsoft chứa nhiều thông tin cập nhật cho những người lập trình VB6. Trang chủ Visual Basic đặt tại URL http://www.microsoft.com/vbasic/. Thông tin có sẵn tại địa chỉ nầy bao gồm:

·         Cập nhật các đặc tính mới, các phiên bản sản phẩm, các sản phẩm liên hệ, các thuyết trình (seminar) và các hoạt động (event) đặc biệt.

·         Thông tin bổ sung trên các đặc tính VB6 chứa trong các bài viết gọi là White Papers, các mách nước (tips) và các trình trợ giáo, nguồn đào tạo.

·         Sản phẩm mới tải xuống (download) bao gồm sự cập nhật đến các file chương trình, các cập nhật trợ giúp, các trình điều khiển, và các file liên hệ khác của VB6.

Để truy cập Web site của Microsoft, từ menu Help chọn Microsoft on the Web rồi chọn menu con tùy thích như dưới đây.

Ghi chú: Một số nội dung trên Web site của Microsoft được tối ưu hóa dành cho Microsoft Internet Explorer và không thể display đầy đủ trong một bộ trình duyệt (browser) khác. Do đó bạn nên chỉ dùng Internet Explorer làm browser trên máy bạn mà thôi.

 

THÔNG BÁO PHÁT CHỨNG CHỈ LỚP NGHIỆP VỤ GIÁM SÁT THI CÔNG KHOÁ 1 (THÁNG 6/2010)

posted Aug 7, 2010, 10:31 AM by Trung cấp xây dựng số 4 Trường   [ updated Aug 7, 2010, 10:46 AM ]

Lớp BDNV Giám sát thi công xây dựng công trình khai giảng này 05/6/2010 và kết thúc ngày 27/06/2010. Do quá trình in ấn chứng chỉ có một số sai sót. Nhà trường đã thu hồi chứng chỉ sai sót và tiến hành chỉnh sửa. Nay Thông báo tới các anh chị học viên chưa nhận chứng chỉ đến Phòng Đào tạo để nhận chứng chỉ.
Những anh chị học viên chưa nhận chứng chỉ:
 
 TT  Họ và tên     Sinh ngày      Quê Quán
 01  Trần Thị Ngọc  23/9/1990  Hà tĩnh
 02  Ma Thị Chiêm  10/10/1983  Tuyên Quang
 03  Nguyễn Tiên Phương  14/05/1974  Hà Giang
 04

 Đoàn Thu Hường

 23/12/1983  Hải Hưng
 05  Nguyễn Văn Hiền          30/10/1978  Vĩnh Phúc
 
Xin trân trọng thông báo!

1-10 of 13