ĐĂNG NHẬP

1609ngày kể từ khi
sự kiện

Hoạt động gần đây của trang web

“LÀM THẾ NÀO ĐỂ TĂNG CƯỜNG TRÍ NHỚ CHO TRẺ?”

 

TRẢ LỜI CHO PHIM KHOA HỌC GIÁO DỤC  (HTV 7) :

“LÀM THẾ NÀO ĐỂ TĂNG CƯỜNG TRÍ NHỚ CHO TRẺ?”

 

I. Đặc điểm trí nhớ của trẻ tiểu học:

          Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở học sinh lứa tuổi này chiếm ưu thế(vỏ bán cầu đại não dễ tiếp nhận những tín hiệu hình ảnh, màu sắc, đồ vật cụ thể), nên trí nhớ trực quan – hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ – logic. Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hình ảnh, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng.

            Học sinh lớp 1 và lớp 2 có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiểu những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu học tập đó. Cho nên, cũng dễ hiểu các em thường học thuộc lòng tài liệu học tập theo đúng từng câu, từng chữ mà không sắp xếp lại, sửa đổi lại, diễn đạt lại bằng lời lẽ của mình. Đặc điểm này do 4 nguyên nhân sau:

-         Ghi nhớ máy móc của các em thường chiếm ưu thế.

-         Học sinh chưa hiểu cụ thể cần phải ghi nhớ cái gì, bao lâu?

-         Ngôn ngữ của các em học sinh lớp 1, lớp 2 còn bị hạn chế, đối với chúng việc nhớ lại từng câu, từng chữ dễ dàng hơn dùng lời lẽ của mình để diễn tả lại một sự kiện, hiện tượng nào đó.

-         Các em còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa ( hiểu nội dung, ý nghĩa của tài liệu khi học bài), chưa biết sử dụng sơ đồ lôgic và dựa vào các điểm tựa (ý chính) để ghi nhớ, chưa biết xây dựng dàn ý tài liệu cần ghi nhớ.

Dần dần cùng với quá trình học tập, ở học sinh các lớp cuối bậc tiểu học (lớp 4, lớp 5) hình thành và phát triển ghi nhớ có ý nghĩa, các em dần dần hiểu được những mối liên hệ có ý nghĩa bên trong các tài liệu cần ghi nhớ.

 

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến trí nhớ của trẻ

1.                  Các quá trình thần kinh trong vỏ bán cầu đại não

Hình ảnh trí nhớ được lưu lại trong vỏ bán cầu đại não là dấu vết của các quá trình thần kinh đã có trước đây. Vì khả năng hoạt động của các quá trình thần kinh ở mỗi người là khác nhau nên nói chung có 4 kiểu trí nhớ cơ bản:

n  Kiểu người nhớ nhanh và lâu quên (Trí nhớ tốt nhất)

n  Kiểu người nhớ nhanh nhưng chóng quên

n  Kiểu người nhớ chậm nhưng lâu quên

n  Kiểu người nhớ chậm và chóng quên.( Trí nhớ tồi nhất)

Vì thế, người ta thường nói trí nhớ của mỗi người là do thiên phú.

2.                  Chế độ dinh dưỡng trí nhớ

+ An đúng cách

Khả năng tái hiện (nhận lại và nhớ lại thông tin) của trẻ có thể bị suy yếu nếu chế độ dinh dưỡng của bé thiếu chất sắt, các chất khoáng, vitamin B12, B1, chất đạm và quá thừa chất đường. Vì thế, nên dành cho trẻ một chế độ ăn uống lành mạnh và quân bình – gồm ngũ cốc, rau quả tươi, hải sản, thịt, sữa và các sản phẩm từ sữa.

+ Uống nhiều nước

Thực phẩm chưa phải là phần quan trọng nhất của chế độ dinh dưỡng trí nhớ, sự thiếu hụt nước ở cơ thể có thể gây ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến trí nhớ, thiếu nước có thể gây ra sự lầm lẫn. Cho trẻ uống nước đầy đủ giúp củng cố quá trình ghi nhớ và tái hiện của trí nhớ.

+ Không ăn uống quá no

An quá no sẽ làm suy yếu khả năng suy nghĩ, thiếu tập trung khi phải ghi nhớ, tái hiện thông tin và làm trẻ dễ buồn ngủ. Do vậy, không nên bắt buộc trẻ học bài ngay sau khi ăn no, trước khi trẻ đi thi nên chỉ cho ăn nhẹ.

3.                  Môi trường  giáo dục và phương pháp rèn luyện trí nhớ

a) Chế độ học tập và nghỉ ngơi

Học sinh tiểu học thường chỉ tập trung và duy trì sự chú ý liên tục trong khoảng từ 30 đến 35 phút. Vì vậy, sau khi trẻ học bài từ 30-35 phút, nên cho trẻ nghỉ giải lao rồi mới học tiếp. Không nên bắt trẻ học bài liên tục trong vài giờ đồng hồ liền.

Nhằm giữ cho trí nhớ của trẻ được bén nhạy, trẻ cần phải ngủ đủ giấc và để cho não bộ được ngơi nghỉ. Nên cho trẻ ngủ đủ 8 tiếng / đêm. Nên cho trẻ ngủ trước 10 giờ đêm. Vì bắt đầu từ 12 giờ đêm đến 3 giờ sáng cơ thể chìm vào giấc ngủ sâu, lúc này trí não xử lý, duyệt lại, củng cố và lưu giữ thông tin, và hôm sau thức dậy tinh thần trẻ sẽ thoải mái.

b) Chỗ học bài, cách học bài

- Chỗ học bài

Nên tập cho trẻ ngồi học ngay ngắn tại góc học tập của mình, không nên nằm học, hay ngồi trên giường khi học bài.

Sự chú ý của trẻ tiểu học dễ bị phân tán, vì quá trình ức chế ở bộ não của các em còn yếu. Do vậy, chỗ trẻ học bài cần được giữ yên tĩnh.

- Cách học bài

* Học xen kẽ các môn học:

Khi trẻ ôn bài, nhiều phụ huynh thường bắt con mình học mãi một môn học trong thời gian dài, khảo bài trẻ cho đến khi thật thuộc thì mới thôi, làm cho trẻ bị choáng đầu, mắt hoa, học mãi mà không thuộc. Để tránh tình trạng này, nên dạy trẻ cách học xen kẽ: Sau một khoảng thời gian tập trung chú ý học bài môn này (không quá 35 phút), nên cho trẻ nghỉ giải lao chút ít (5-10 phút), rồi chuyển sang học bài môn khác. Học theo lối đan xen như thế, trẻ sẽ thấy đầu óc tỉnh táo hơn, dễ thuộc hơn. Vì ” học đi học lại mãi một bài” gây ra hiện tượng ức chế những dấu vết đã ghi nhớ được.

* Cách học thuộc bài:

Khi dạy trẻ học một đoạn văn hay đoạn thơ nên dạy trẻ học khoảng1- 2 câu/ lần cho đến hết đoạn văn, đoạn thơ. Để trẻ học nhanh và nhớ lâu, không nên bắt trẻ đọc to nhiều lần (như cuốc kêu) để nhớ mà nên tuân theo các bước sau:

-         Đọc to thành tiếng 2-3 lần

-         Đọc thầm (đọc không mấp máy môi, đọc trong óc, mắt lướt trên hàng chữ mà vẫn nhận biết được nội dung câu vừa đọc) 2-3 lần.

-         Để trẻ tự đọc thuộc lòng lại cả đoạn văn, đoạn thơ.

Ø  Các bước trên giúp cho trẻ quen miệng mà nhớ, hiểu nội dung mà nhớ.

Ø  Cũng có thể tạo một chỗ dựa trí nhớ cho trẻ bằng cách ghi bảng, hay ra giấy, hay nhắc một vài từ đầu của đoạn thơ, đoạn văn để trẻ dễ nhớ khi đọc lại cả đoạn văn, đoạn thơ.  Khi trẻ đã đọc tương đối thuộc, xóa dần các từ dùng để nhắc, để trẻ tự nhớ và đọc thuộc lòng.

c) Phương pháp rèn luyện trí nhớ

v Rèn luyện ghi nhớ ý nghĩa (học thuộc lòng hiểu ý nghĩa)

Những nghiên cứu của các nhà tâm lý học lứa tuổi cho thấy rằng, sự học thuộc lòng máy móc ( thuộc mà không hiểu), ở trẻ em (cũng như người lớn) là kém hiệu quả hơn so với sự học thuộc lòng hiểu ý nghĩa. Để trẻ có sự phát triển ghi nhớ có ý nghĩa ngay từ những lớp đầu cấp tiểu học, người lớn (phụ huynh, giáo viên) phải hình thành ở trẻ những biện pháp ghi nhớ ý nghĩa:

-         Biện pháp ghi nhớ ý nghĩa khi học một đoạn văn, tài liệu gồm các bước:

·        Đọc đoạn văn nhiều lần, vừa đọc vừa nhận biết ý nghĩa của đoạn văn.

·        Chia đoạn văn ra thành những bộ phận ý nghĩa, nêu bật những điểm tựa (ý chính, điểm quan trọng) của đoạn văn.

·        Dựa vào điểm tựa của đoạn văn, dùng lời lẽ của mình để kể lại đoạn văn.

-         Biện pháp ghi nhớ ý nghĩa khi giải bài tập toán (số học) gồm các bước:

* Đọc kỹ đầu bài

* Viết tóm tắt đầu bài

* Trả lời câu hỏi, mỗi số biểu thị cái gì? Tìm ra câu hỏi chính của bài.

* Hãy hình dung xem trong bài toán nói cái gì (nếu cần hãy vẽ sơ đồ) và nói xem em đã hình dung cái gì.

* Hãy suy nghĩ xem, em có thể nói được điều gì về con số thu được trong lời đáp: số đó sẽ lớn hơn hay nhỏ hơn số đã cho trong bài tập?

* Hãy trình bày kế hoạch giải của em.

* Hãy giải bài tập này.

* Hãy suy nghĩ xem có giải được bài tập đó bằng phương pháp khác hay không? Nếu được thì em giải đi.

* Kiểm tra cách giải và viết trả lời.

v Dùng hình ảnh, sơ đồ trực quan

Dựa vào hình vẽ minh họa nội dung văn bản có trong sách giáo khoa để kể lại đoạn văn, câu chuyện.

Giúp trẻ cuối cấp tiểu học vẽ sơ đồ trực quan(sơ đồ tia), hay lập dàn ý của nội dung văn bản, rồi dựa vào đó để học thuộc.

v Đặt thơ, vần điệu cho tài liệu cần học

Vần và nhịp điệu của thơ ca, vè, tục ngữ, ca dao để lại trong não những ấn tượng, cảm xúc , và rung động hơn bất kỳ văn tự, hoặc số liệu nào. Vì thế để trẻ nhớ về những đức tính tốt đẹp của mỗi bài học môn Đạo Đức, cuối bài học đạo đức trong sách giáo khoa tiểu học đều có những câu tục ngữ, ca dao để răn dạy trẻ.Thí dụ bài 6: Kính trọng người già cả (Đạo Đức, lớp 5), cuối bài có câu Tục ngữ : Kính già, già để tuổi cho (Kính lão đắc thọ)

Do đó, những tài liệu khó học thuộc, phụ huynh nên giúp trẻ làm thành bài thơ, vè hay những câu có vần điệu để trẻ dễ học thuộc.

 

TP. Hồ Chí Minh ngày 24/03/2004

Thạc sĩ Trần Thị Thu Mai

 

 

Comments