15 công cụ nguồn mở hay để "quản" Windows

đăng 02:25 04-10-2011 bởi Vu Tien Dat   [ đã cập nhật 02:40 04-10-2011 ]

15 công cụ nguồn mở hay để "quản" Windows

Có lẽ rất nhiều người cho rằng với hệ điều hành Windows những phần mềm tính phí luôn là những phần mềm tốt nhất.

Tuy nhiên thực tế lại cho thấy không phải lúc nào cũng như vậy.

Có nhiều phần mềm mã nguồn mở cung cấp các tính năng tốt hơn cả những công cụ của Microsoft trong việc hỗ trợ Windows Server, Exchange, SQL, và SharePoint. Thậm chí chúng còn cung cấp nhiều tính năng vượt trội hơn cả những phần mềm của các hãng thứ 3. Bản thân Microsoft cũng đã thừa nhận thực tế này đồng thời đã tạo điều kiện cho việc phát triển của các ứng dụng nguồn mở trên nền tảng Windows bằng việc cho ra mắt trang web CodePlex.

Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu tới bạn đọc 15 công cụ nguồn mở hữu ích và cần thiết nhất đối với những người quản trị Windows.

1. Wireshark

Khắc phục các lỗi liên quan đến mạng luôn là một vấn đề khó đòi hỏi các nhà quản trị IT phải có kiến thức và kinh nghiệm thực tế. Tuy nhiên công cụ Wireshark sẽ giúp bạn dễ dàng phân tích các lưu lượng mạng với nhiều tính năng rất hữu ích. Giao diện dễ dùng với nhiều màu sắc minh họa cho các giao thức và dữ liệu thu thập sẽ giúp người dùng nhanh chóng làm chủ được công cụ.

Địa chỉ tải về: www.wireshark.org

2. AMANDA

Nếu bạn đang tìm giải pháp để sao lưu dễ dàng cho hệ thống Windows thì AMANDA ( viết tắt của Advanced Maryland Automatic Network Disk Archiver) chính là thứ bạn đang cần tìm. AMANDA cung cấp tính năng cho phép bạn tạo một máy chủ sao lưu hỗ trợ cả máy trạm và máy chủ. Phương thức sao lưu được thực hiện qua mạng và hỗ trợ nhiều thiết bị sao lưu khác nhau như ổ cứng, băng từ, đĩa quang …

Địa chỉ tải về: www.amanda.org

3. MailArchiva

Lưu trữ mail là tính năng quan trọng mới có trong Exchange 2010. Tuy nhiên với những ai chưa nâng cấp lên phiên bản mới nhất này thì có thể sử dụng tính năng này thông qua công cụ MailArchiva. MailArchiva tương thích với rất nhiều máy chủ email bao gồm Exchange 2000/2003 và nhiều máy chủ email khác như Postfix, Sendmail, Qmail, iMail, và Lotus Notes.

MailArchiva có cả phiên bản mã nguồn mở và phiên bản thương mại. Để biết thêm các tính năng của sản phẩm này bạn đọc có thể truy cập vào địa chỉ dưới đây.

Địa chỉ tải về: www.mailarchiva.com

4: Exchange 2010 RBAC Manager

Exchange 2010 RBAC Manager là một công cụ tuyệt dành cho những người quản trị Exchange. RBAC Manager (hay còn gọi là RBAC Editor GUI) giúp admin dễ dàng quản trị những vai trò (role) mới trong Exchange thông qua giao diện đồ họa. Công cụ này được viết bằng C# và sử dụng PowerShell để tạo và quản lý vai trò trong môi trường Exchange 2010.

Địa chỉ tải về: rbac.codeplex.com

5. Core Configurator 2.0

Cài đặt phiên bản dòng lệnh của Windows Server 2008 và Windows Server 2008 R2 đem lại rất nhiều lợi thế, tuy nhiên nó lại yêu cầu người quản trị phải nhớ và thuộc nhiều câu lệnh. Công cụ Core Configurator 2.0 cung cấp giao diện quản trị đồ họa giúp người quản trị dễ dàng hơn trong việc thực hiện các cấu hình.

Địa chỉ tải về: coreconfig.codeplex.com

6. AutoSPInstaller cho SharePoint 2010

Bất kỳ ai đã từng cài Sharepoint đều biết rằng cơ sở dữ liệu SQL được tạo ra hết sức lộn xộn trong việc đặt tên dẫn đến kết quả tên các cơ sở dữ liệu không đồng nhất. Công cụ AutoSPInstaller sử dụng nhiều script khác nhau để cài đặt Sharepoint và giúp cho tên các cơ sở dữ liệu được đồng nhất.

Địa chỉ tải về: autospinstaller.codeplex.com

7. OCS Inventory

Nếu bạn cần một công cụ để quản lý các thiết bị đang kết nối vào hệ thống mạng và các phần mềm cài đặt trên chúng thì OCS-NG sẽ là một lựa chọn tốt. Để thực hiện việc quản lý bạn chỉ cần cài đặt OCS client agent lên các máy và sau đó bạn có thể bắt đầu việc thu thập và lưu trữ thông tin về toàn bộ hệ thống của bạn.

Địa chỉ tải về: launchpad.net/ocsinventory

8: UltraDefrag

UltraDefrag là một công cụ cho Windows hỗ trợ việc chống phân mảnh ổ cứng, registry và paging file. UltraDefrag tương thích với tất cả các phiên bản Windows từ NT4.0, Windows 2000, XP, Windows Server 2003, 2008 đến Windows 7, Vista cả 32 và 64 bit.

Địa chỉ tải về: ultradefrag.sourceforge.net

9. Nmap cho Windows

Có nguồn gốc từ một công cụ dành riêng cho hệ điều hành Unix, Nmap cho Windows đã trở thành một công cụ bảo mật quan trọng cho Windows trong hơn 10 năm nay. Công cụ này cho phép bạn thực hiện rất nhiều thao tác liên quan đến hệ thống từ việc scan port đến việc giám sát theo dõi các dịch vụ.

Nmap hỗ trợ Windows 7, Windows Server 2008, 2003, Windows Vista, và Windows XP.

Địa chỉ tải về: nmap.org/book/inst-windows.html

10. Zenmap

Zenmap là một công cụ tuyệt với giúp bạn lập bản đồ các thiết bị trong hệ thống mạng của mình. Zenmap cung cấp các tính năng giống như Nmap nhưng với giao diện đồ họa dễ hiểu và giúp người dùng dễ dàng tương tác. Với Zenmap bạn sẽ dễ dàng phát hiện ra các lỗ hổng bảo mật trong các hệ thống router hay firewall của mình.

Địa chỉ tải về: nmap.org/zenmap

11. PowerGUI

Không thể phủ nhận rằng PowerShell đã đem lại một diện mạo mới cho Windows. Nhiều người quản trị lâu năm cảm thấy vui mừng khi được quay lại với giao diện quản trị bằng dòng lệnh. Tuy nhiên cũng không ít người cảm thấy vất vả với giao diện này.

Nếu bạn đang tìm kiếm một giao diện đồ họa để hỗ trợ trong việc quản trị Windows thì PowerGUI là một công cụ tuyệt vời. Không chỉ hữu ích ở công cụ, PowerGUI còn có một cộng đồng đông đảo với nhiều thư viện và script hỗ trợ cho việc quản lý hệ thống của bạn.

Địa chỉ tải về: powergui.org

12. Performance Analysis of Logs (PAL)

Nếu bạn đang có vấn đề về hiệu năng trong hệ thống nhưng lại không biết cần phải thu thập những thông số gì và phân tích chúng như thế nào thì PAL sẽ là một lựa chọn thích hợp. Phần mềm nguồn mở này sẽ giúp bạn đọc các thông số về hiệu năng và phân tích chúng giúp bạn. PAL cũng giúp bạn xây dựng các ngưỡng liên quan đến các sản phẩm của Microsoft như Exchange, SharePoint, Active Directory ...

PAL tương thích với hầu hết các phiên bản Windows bao gồm Windows 7,Windows XP, Windows Server 2003, Windows Vista, Windows Server 2008, và Windows Server 2008 R2.

Địa chỉ tải về: pal.codeplex.com

13: ClamWin Antivirus

Giải pháp antivirus mã nguồn mở này là một công cụ bảo mật rất hữu ích với các quản trị viên. ClamWin hỗ trợ hầu hết các phiên bản Windows và cung cấp các tính năng cơ bản của một chương trình antivirus như đặt lịch quét. Ngoài ra công cụ này còn có khả năng tích hợp với Windows Explorer và Outlook giúp người dùng dễ dàng thực hiện quét virus trong nhiều tình huống.

Địa chỉ tải về: www.clamwin.com

14. Virtual Router

Virtual Router là một công cụ tiện lợi giúp biến máy tính của bạn trở thành một điểm phát Wi-Fi. Sử dụng Virtual Router bạn có thể chia sẻ Internet thông qua card Wi-Fi và cho phép các thiết bị hỗ trợ Wi-Fi khác kết nối vào. Virtual Router hỗ trợ giao thức bảo mật WPA2, là giao thức bảo mật nhất hiện nay.

Địa chỉ tải về: virtualrouter.codeplex.com

15: VirtualBox

VirtualBox là giải pháp ảo hóa tuyệt vời hỗ trợ chạy các máy ảo với các hệ điều hành khác nhau trên Windows. Sử dụng VirtualBox người quản trị có thể chạy các hệ điều hành Windows, Linux, OpenSolaris, OS/2, OpenBSD, và thậm chí cả DOS. Để tìm hiểu thêm về các tính năng và các hệ điều hành mà VirtualBox hỗ trợ người dùng có thể truy cập vào địa chỉ dưới đây.

Địa chỉ tải về: www.virtualbox.org

(Theo ICTNews)

PHẦN MỀM MÃ NGUỒN MỞ

PHẦN MỀM ỨNG DỤNG

Phần mềm nguồn mở tốt nhất 2011

đăng 22:59 27-09-2011 bởi Vu Tien Dat   [ đã cập nhật 23:09 27-09-2011 ]

Phần mềm mã nguồn mở tốt nhất 2011

Kết quả thường niên bình chọn cho những phần mềm nguồn mở trên nền tảng PC và di động tốt nhất năm 2011 vừa được tạp chí InfoWorld công bố. Trong đó, nhiều phần mềm miễn phí sử dụng trong danh sách không hề kém cạnh phần mềm thương mại cao cấp.


Trình duyệt web Google Chrome là một trong những phần mềm nguồn mở tốt nhất năm 2011

7-zip: giải pháp nén dữ liệu

Phần mềm nén và giải nén tập tin 7-zip hiện đang được sử dụng rất phổ biến nhờ vào khả năng linh hoạt của nó. Ngoài khả năng nén tập tin với định dạng .7z đặc trưng, 7-zip có thể mở rất nhiều định dạng nén khác, từ .zip cho đến .rar, .tar hay .gz. Hơn nữa, 7-zip còn có thể giải nén từ các tập tin .ISO đến các tập tin đĩa cứng ảo. Tuy không thể tạo nhiều định dạng nén từ 7-zip nhưng chương trình này hỗ trợ hầu như tất cả các dạng nén dữ liệu.


Nhiều tùy chọn được cung cấp khi nén dữ liệu

7-zip hỗ trợ cả nền tảng 32-bit lẫn 64-bit, phiên bản mới đã có nhiều chức năng bảo mật cho dữ liệu nén như tạo mật khẩu và mã hóa. Bạn đọc có thể tải về tại đây.

CamStudio: quay phim màn hình

CamStudio có chức năng hoạt động tương tự phần mềm thương mại Camtasia Studio của hãng TechSmith: quay phim lại mọi thao tác và âm thanh của máy tính nhưng CamStudio miễn phí sử dụng.


Giao diện đơn giản, dễ dùng để ghi lại các hoạt động trên màn hình

CamStudio thường được dùng để tạo ra các bài hướng dẫn thao tác trên máy tính bằng cách ghi lại hoạt động màn hình. Nó cũng có thể được dùng để ghi lại những đoạn video phát trên internet khi xem qua trình duyệt. Người dùng có thể chọn phân vùng hay đối tượng trên giao diện màn hình để ghi hình.

Tải CamStudio tại đây.

Google Chrome: trình duyệt web

Nhịp Sống Số đã có rất nhiều bài viết về trình duyệt "ốc tiêu" này và chặng đường phát triển nhanh như vũ bão, chiếm lĩnh thị phần nhanh chóng từ tay các đối thủ và đe dọa được cả những ông lớn như IE và FireFox. Chrome ra mắt cũng làm thay đổi giao diện chủ đạo của trình duyệt web: tinh gọn. Lần lượt các phiên bản mới của FireFox hay Opera ra mắt đều có nét "hao hao" Chrome. 



Trình duyệt web Chrome


Sức mạnh của Chrome thực sự bùng nổ khi Google ra mắt Chrome Web Store, cung cấp rất nhiều tiện ích mở rộng cho Chrome, không hề thua kém mà thậm chí còn thuận tiện hơn vì tính năng "cài đặt và dùng ngay". Chrome còn có thể đồng bộ hóa dữ liệu cho nhiều máy tính khi dùng chung một tài khoản Google.

Cuộc đua "phiên bản mới" giữa Chrome và FireFox ngày càng gay cấn hơn trong thời điểm hiện tại. Chrome liên tục ra mắt các phiên bản thử nghiệm mới, dự kiến đưa cả chức năng "ra lệnh cho Chrome bằng giọng nói" thay vì gõ phím thông qua chuẩn web HTML5. Tuy nhiên, chức năng này vẫn còn trong giai đoạn hoàn thiện.

LibreOffice: ứng dụng văn phòng

LibreOffice là giải pháp miễn phí thay thế cho bộ ứng dụng văn phòng Microsoft Office. Nó bao gồm đầy đủ các ứng dụng như soạn thảo văn bản (Writer), bảng tính (Calc), trình diễn (Impress), đồ họa/biểu đồ (Draw), quản lý cơ sở dữ liệu (Base), bảng tính khoa học (Math). 


Bộ ứng dụng văn phòng nguồn mở LibreOffice


Phiên bản mới của LibreOffice cải thiện tốc độ xử lý, bổ sung thêm các chức năng hướng đến nhu cầu phục vụ cho doanh nghiệp. Mặc dù chưa thể sánh bằng bộ Microsoft Office nhưng với nhu cầu sử dụng không đòi hỏi ở mức cao cấp thì LibreOffice là một giải pháp tốt.

PDFCreator: tạo tập tin PDF miễn phí

PDF của Adobe là định dạng tập tin văn bản được sử dụng rất phổ biến để chia sẻ trên Internet, tuy nhiên, phần mềm Adobe Acrobat lại quá đắt so với nhu cầu đơn giản là tạo một tập tin PDF. Do đó, PDFCreator ra đời, cung cấp khả năng tạo tập tin PDF miễn phí.


Giao diện PDFCreator

PDFCreator hoạt động như một trình điều khiển máy in thông thường và có thể được cài đặt như là một máy in mạng để nhận các tác vụ thông qua mạng LAN. Những hình ảnh được PDFCreator xử lý theo dạng nhúng hay nén tùy người dùng chọn lựa và quan trọng là khả năng bảo vệ nội dung tập tin bằng mật khẩu cùng nhiều cấp độ mã hóa hay thông qua một chứng thư bảo mật số. Bạn đọc có thể tải phiên bản PDFCreator 1.2.3 mới nhất tại đây.

TrueCrypt: mã hóa dữ liệu

TrueCrypt là cái tên không còn xa lạ với người dùng máy tính, phần mềm này cung cấp khả năng bảo mật cho dữ liệu qua nhiều cấp độ mã hóa hoặc mã hóa qua cụm từ tùy chọn, thậm chí là tạo các phân vùng ảo để chứa dữ liệu nhạy cảm và mã hóa các ổ đĩa USB.

Giao diện mã hóa phân vùng từ TrueCrypt

TrueCrypt được người dùng tin tưởng sử dụng trong nhiều năm và hiện chưa có phần mềm nguồn mở miễn phí nào qua mặt được. Bạn đọc có thể tải về sử dụng tại đây http://www.truecrypt.org/downloads tùy thuộc vào hệ điều hành đang sử dụng (Windows/Mac OS X/Linux).

Pidgin: trình tin nhắn tức thời

Những mạng tin nhắn tức thời (IM) ngày nay đều có thể nối kết gói gọn trong một ứng dụng Pidgin. Pidgin hỗ trợ hàng loạt các mạng tin nhắn tức thời, từ AIM hay ICQ cũ kỹ cho đến Facebook Chat hay Google Talk. Pidgin còn được "bồi bổ" bằng nhiều plug-in để cải tiến thêm cho trình tin nhắn tức thời tất cả-trong-một này như: lưu lại nội dung chat, mã hóa nội dung, biểu tượng cảm xúc...



Không cần cài đặt nhiều ứng dụng IM-client, chỉ cần một Pidgin cho tất cả

Tải Pidgin phiên bản 2.10.0 cho Windows tại đây

VLC: trình media player

VLC là chọn lựa hàng đầu của nhiều cư dân mạng yêu thích phim HD, trình media player nguồn mở này có thể phát những bộ phim HD với định dạng mkv khá mượt mà. Ngoài MKV, VLC hỗ trợ rất nhiều định dạng đa phương tiện khác bao gồm video lẫn audio.


Giao diện đơn giản, VLC hỗ trợ hầu hết các định dạng media

Yếu điểm của VLC là thư viện đa phương tiện. Nó có thể tạo nên các thư viện bằng cách quét qua nhiều thư mục nhưng nó không tiếp tục theo dõi những thay đổi để cập nhật cho thư viện này. Hi vọng khuyết điểm này sẽ sớm được khắc phục trong phiên bản 1.2.

Bạn đọc có thể tải VLC 1.1.11 cho Windows tại đây.

Ngoài các phần mềm nguồn mở trên, InfoWorld còn PortableApps.com vào danh sách giải thưởng. Website này chuyên cung cấp những phiên bản portable (đóng gói và không cần cài đặt mà sử dụng ngay khi thực thi) của rất nhiều phần mềm ứng dụng thuộc nhiều lĩnh vực. Ngoài ra, phần mềm ảo hóa Oracle VM VirtualBox cũng có mặt trong danh sách. Cuối cùng là nền tảng nguồn mở dành cho thiết bị di động Google Android đang gặt hái được thành công vượt mức tưởng tượng.

(Theo Nhịp Sống Số - Tuổi Trẻ Online)


Trình duyệt Firefox 7 chính thức ra mắt

đăng 22:43 27-09-2011 bởi Vu Tien Dat   [ đã cập nhật 22:54 27-09-2011 ]

Trình duyệt Firefox 7 chính thức ra mắt

Mozilla đã chính thức tung ra chú “cáo lửa” FireFox 7 và bạn có thể tải ngay về máy của mình.


FireFox 7 bản hoàn thiện đã chính thức được ra mắt - Ảnh: Tech.

Đúng như lời hứa hẹn trước đó, Mozilla tuyên bố FireFox 7 sẽ tốn ít bộ nhớ hơn từ 20-30% và có thể lên tới 50% yêu cầu bộ nhớ.

Trước đó, phiên bản beta đầu tiên của trình duyệt web Firefox 7 đã được đánh giá cao khi có khả năng duyệt web giảm đáng kể dung lượng RAM so với phiên bản tiền nhiệm.

Trong bản hoàn thiện FireFox 7, hiện tượng rò rỉ bộ nhớ, lỗi bộ nhớ khi đóng các tab đã được giải quyết.

Cải tiến khác trong Firefox 7 được Mozilla đưa ra bao gồm khả năng đồng bộ hóa các mật khẩu và đánh dấu giữa các bản sao của trình duyệt được nhanh hơn, tăng cường khả năng hỗ trợ HTML5 trên máy tính Windows cũng như một tùy chọn mới tăng cường hiệu suất tải các gói dữ liệu.

Mozilla cũng tiết lộ kế hoạch “bảo dưỡng” đầu tiên cho phiên bản mới này sẽ vào khoảng 6 tuần tới. Mặc dù đây là một khoảng thời gian khá dài nhưng nó vẫn sẽ diễn ra trước khi FireFox 8 xuất hiện.


Phần mềm: Mozilla Firefox
Tác giả: Mozilla
Phiên bản: 7.0. Giấy phép: Tự do, Miễn phí
HĐH: Windows 2000/XP/Vista/7, OS X, Linux/Unix , HĐH khác
Trang chủ: www.mozilla.com
Thông tin cập nhật lần cuối ngày 28/9/2011 9:53


(Theo Thongtincongnghe)

Hướng dẫn sử dụng firefox

đăng 06:44 15-09-2011 bởi Vu Tien Dat   [ đã cập nhật 09:41 30-09-2011 ]

Hướng dẫn sử dụng firefox

Cách sử dụng Firefox hiệu quả...
1. Giảm nhiệt bộ nhớ

Firefox lúc hoạt động cũng như khi ở trạng thái minimize (thu nhỏ xuống System tray) đều chiếm dung lượng bộ nhớ rất nhiều. Nhưng nó có một đặc điểm ít được biết đến là cho phép Windows sử dụng lại bộ nhớ khi nó không hoạt động, hay nói cách khác là windows sẽ lấy lại RAM khi Firefox ở trạng thái minimize. Tuy nhiên tính năng này bình thường không hoạt động, để kick hoạt bạn mở Firefox, gõ lệnh about:config vào trong khung Address vàbấm Enter.



Sau đó bấm chuột lên khoảng trống ở bất kỳ đâu trong cửa sổ mở ra, bạn chọn New > Boolean. Tiếp theo điền đoạn mã config.trim_on_minimize ->bấm OK rồi chọn giá trị cho nó là true. Bấm OK lần nữa để xác định lạiviệc tạo giá trị mới cho Firefox.




Bâygiờ khởi động lại Firefox bạn sẽ thấy nó không lấy nhiều RAM nữa khibạn thu nhỏ cửa sổ trình duyệt, dung lượng RAM sử dụng sẽ giảm đi hẳn.



2. Tinh chỉnh Cache

Firefoxthương lưu các cache của mỗi trang web vào bộ nhớ của nó,mục đích là đểbạn có thể mở nhanh trang web trong lần đăng nhập sau hay phục hồi lạitrang cũ khi bạn bấm các phím Back / Forward trong trình duyệt. Theomặc định, giá trị cache được thành lập để có thể lưu lại trong bộ nhớcủa Firefox, một cache có thể đạt dung lượng 4 MB hoặc tăng lên tới 8MB. Nếu bạn duyệt nhiều trang web thì máy sẽ cần dung lượng RAM rất lớn- mà lượng tài nguyên này chỉ dùng duy nhất cho 2 phím Back / Forward,đó là một điều hết sức lãng phí.

Để tăng tốc Firefox bằng cáchhạ cache của nó xuống, bạn gõ lệnh about:config vào trong khung Addressvà Enter để mở cửa sổ điều chỉnh. Trong khung Filter, gõbrowser.sessionhistory.max_total_viewers rồi bấm Enter. Sau đó bạnclick đúp chuột lên giá trị Value rồi đổi sang 0



Tiếptục với giá trị với giá trị browser.cache.memory.enable -> click đúplên chữ true để đổi nó sang giá trị false -> Sau đó bấm chuột lênkhoảng trắng bất kỳ đâu trong cửa sổ mới mở ra, chọn New -> Boolean-> điền đoạn mã browser.cache.memory.capacity -> Bấm OK rồi chọngiá trị cho nó là true -> Bấm OK lần nữa để xác nhận lại việc tạogiá trị mới cho Firefox.

3. Tăng tốc load web

Tốcđộ load một trang web ngoài việc phụ thuộc đường truyền còn phụ thuộcvào trình duyệt, vì vậy mới có nhưng trình duyệt nhanh như tên bắn cỡK-Ninja hay rùa bò như SpaceTime 3D. Trong trình duyệt, ngoài vấn đềvới các cách hiển thị hình ảnh, âm thanh và các hiệu ứng còn có cách màtrình duyệt tương tác với máy chủ nữa, và đây là cái khiến cho cả trămtrình duyệt không cái nào giống cái nào.

Firefox đôi lúc nhanhkhông thể tưởng tượng nổi nhưng cũng có lúc nó chậm đến dễ sợ, đơn giảnchỉ vì gặp những trang web dễ tính thì nó load rất nhanh còn với nhữngtrang khó tính, đòi hỏi nhiều cái thì nó lại load rất chậm. Các cáchdưới đây sẽ giúp Firefox của bạn mở một trang web nhanh hơn bằng cáchtăng các kết nối với trang web đó.

- Giảm thời gian chờ: bấmchuột phải lên khoảng trống, chọn New > Integer, tạo một filter mớivới nội dung là nglayout.initialpaint.delay và đặt value cho nó là 0-> Lựa chọn này sẽ cho phép Firefox load ngay website mà không cầnchờ 0,25 giây như trước nữa. Vào New > Boolean và tạo filter mới tênlà content.notify.ontimer sau đó chọn value là true -> Tạo mộtInteger có tên content.notify.interval và đặt giá trị là 1000000



Tănglượng data tải về: bình thường thì Firefox sẽ tải trang web về theotừng gói dữ liệu. Bạn hãy tăng tốc load web bằng cách tăng dung lượnggói data tải về. Tạo một Integer với tên content.max.tokenizing.time vàđặt value là 9000000 -> Sau đó tại thêm một Boolean với têncontent.interrupt.parsing và đặt giá trị cho nó là true

- Giảmthời gian tương tác với người dùng: tức là khoảng thời gian Firefoxhiển thị các thông tin load web cho bạn, nếu giảm thời gian này xuống,tốc độ mở trang web sẽ nhanh hơn. Tạo một Integer têncontent.switch.threshold và đặt value là 3000000

4. Tăng tốc server

Đểload nhanh một trang web bạn cần phải tăng tốc kết nối Firefox vớitrang web lên con số cao nhất có thể được. Theo mặc định, con số kếtnối này của Firefox là 24, tuy nhiên chúng ta có thể tăng lên mức tốiđa mà Firefox cho phép để việc mở trang web nhanh nhất.

Trongkhung Filter -> bạn gõ từ khóa network.http.max-connections ->sau đó bạn tăng value lên 64. Tiếp tục tìmnetwork.http.max-persistent-connections-per-server vànetwork.http.max-persistent-connections-per-proxy rồi đổi giá trị củanó lên thành 8

5. Giảm thời gian trương tác

KhiFirefox load một trang web, nó thường tạo ra một loạt các liên kết đểtải dữ liệu từ trang web đó và trang web của bạn sẽ được tải về bằngnhiều đường truyền, mỗi đường truyền thường được đặt một giới hạn thờigian tương tác. Vì vậy muốn Firefox nhanh hơn, bạn có thể giảm thờigian tương tác này xuống.

Tìm từ khóanetwork.http.request.max-start-delay rồi hạ giá trị của nó từ 10 cònxuống 0. Tạo tiếp một Integer với tênnetwork.http.pipelining.maxrequests và đặt value là 128. Cuối cùng tìmtừ khóa network.http.proxy-pipelining và network.hppt.pipelining rồiđổi giá trị thành true.

6. Xóa các config

Theo mặcđịnh, khi tạo một config cho Firefox thì bạn không thể xóa nó được. Đểkhắc phục, nếu có một config nào mà bạn lỡ tay tạo sai thì để xóa nóđi, bạn bấm chuột phải lên nó rồi chọn Reset. Khởi động lại Firefox thìconfig đó sẽ bị xóa.

7. Hạn chế dùng addon

Cácphần mở rộng là tác nhân chính làm Firefox trở nên nặng nề và chậmchạp. Gỡ bỏ các addon không dùng đến hoặc tạm thời tắt nó đi. Tốt nhấtnên chọn cài đặt từ 5-10 addon cần thiết, đồng thời luôn cập nhật phiênbản mới nhất để tránh lỗi.

8. Xóa Download History

DownloadHistory là công cụ ghi lại toàn bộ quá trình tải file. Thường xuyên làmsạch thành phần này sẽ giúp bạn phần nào, nhấn Ctrl+J và nhấp Clean Up.Hoặc có thể thiết lập để nó tự động xóa, vào Tools > Options >Privacy bỏ chọn ở dòng Remember what I've downloaded

9. Khởi động lại trình duyệt

Nếuchú ý, bạn sẽ thấy thời gian mở càng lâu Firefox sẽ càng chiếm dụngnhiều bộ nhớ. Chỉ cần tắt đi và khởi động lại để trình duyệt khôi phụctrạng thái bộ nhớ như ban đầu. Bạn nên bật tính năng mở lại các trangđang xem vào lần dùng trước, vào Tools > Options > Main chọn Showmy windows and tabs from last time ở ô When FireFox Starts.

10. Sử dụng Firefox Ultimate Optimizer

Trongtrường hợp các thủ thuật trên không đem lại hiệu quả như mong muốn, bạnhãy dùng thử phần mềm Firefox Ultimate Optimizer (FUO) của tác giảFelipex. Đây là một giải pháp cực mạnh giúp khắc phục triệt để lỗichiếm dụng bộ nhớ cho “Cáo lửa”. Thử nghiệm trước và sau khi tối ưubằng FUO đem lại hiệu quả rõ rệt. Bạn có thể tải miễn phí tại địa chỉ :http://firefox-ultimate-optimizer.en.softonic.com/

Tuychương trình chỉ hỗ trợ ngôn ngữ Tây Ban Nha nhưng cách dùng FUO kháđơn giản và không phải thiết lập gì cả. Mỗi khi sử dụng Firefox duyệtweb bạn chạy FUO song song bằng cách kích hoạt trực tiếp fileFirefoxUltimateOptimizer.exe. Nhấp chuột phải vào biểu tượng FUO (hìnhFirefox nhỏ) trên khay hệ thống chọn: Iniciar con Windows (chạy khikhởi động Windows), Salir (tắt FUO). Hiện tại đã có phiên bản tiếng Anh.

11. Tối ưu hóa băng thông

Mặcđịnh Firefox đã tối ưu hóa tốc độ truyền dành cho kết nối dial-up nhưngvới các kết nối băng rộng như ADSL, cáp quang bạn phải tinh chỉnh mộtvài thông số:

Sao lưu toàn bộ registry của Firefox --> trênthanh Address bar gõ about:config và nhấn Enter --> tìm đến giá trịnetwork.http.pipelining, đổi lại thành true --> tìm giá trịnetwork.http.pipelining.maxrequests, nhập một số bất kỳ lớn hơn 4--> tìm network.http.proxy.pipelining, thiết lập thành true

Tạomột giá trị mới bằng cách click phải chuột --> chọn New -->Integer --> nhập chuỗi nglayout.initialpaint.delay và thiết lập giátrị 0








MẸO VẶT SỬ DỤNG

1. Tận hưởng cùng "Tab"

Mộttrong những đặc điểm đáng giá của Firefox là cho phép người dùng hiểnthị nhiều trang web khác nhau trong cùng một cửa sổ nhờ chức năng duyệtweb bằng tab. Nhưng bạn không cần thông qua menu File --> New Tab đểmở một tab mới, bạn chỉ việc nhấn tổ hợp phím Ctrl-T là một trang trắngsẽ tự động mở trên tab mới với con nháy đã sẵn sàng ở thanh Address.

Đểmở một liên kết trong một tab mới, thông thường bạn phải nhấp phảichuột và chọn "Open Link in New Tab" nhưng có một cách đơn giản hơn làbạn chỉ cần di chuyển con trỏ lên liên kết sau đó bấm vào nút cuộn củachuột.

Nếu bạn muốn mở liên kết trong một tab mới hoặc trong mộtcửa sổ mới, bạn chọn menu Tools --> Options --> nhấn biểu tượngTabs --> chọn "a new window" hay "a new tab"



Đểđóng tất cả các tab khác ngoại trừ tab đang hiển thị, bạn nhấn phảichuột, chọn "Close Other Tabs" . Trong trường hợp đóng nhầm một tab,bạn có thể nhấn tổ hợp phím Ctrl-Shift-T để mở trở lại.



2. Tiết kiệm thời gian với phím tắt

Việcsử dụng bàn phím thay cho chuột trong việc thao tác luôn luôn đem lạihiệu quả cao về mặt tiết kiệm thời gian. Phần này sẽ cung cấp cho bạndanh sách một loạt phím tắt tiêu chuẩn trong Firefox. Có nhiều thànhphần mở rộng với các phím tổ hợp.

Nhiều tổ hợp phím tắt ởFirefox khá giống trong Internet Explorer. Ví dụ chọn các menu cũng gồmphím Alt + phím ký tự tương ứng, chương trình soạn thảo văn bản cũng hỗtrợ kiểu gõ phím giống như hầu hết trình soạn thảo ở Windows (VD: Ctrl+ phím chuyển sang trái: chuyển sang từ bên trái), hay các phím cuộnnhư Page Up, Page Down cũng có chức năng tương tự.

Ctrl - L : di chuyển trỏ chuột đến thanh Address nhằm gõ địa chỉ trang web)
Bạnchỉ cần gõ "thongtincongnghe" và nhấn Ctrl-Enter để điền tên miền".com" hoặc Ctrl-Shift-Enter để điền tên miền ".org" và Shift-Enter đềđiền ".net"
Ctrl - K : di chuyển trỏ chuột đên khung tìm kiếm của Google
Ctrl - F : để thực hiện tìm kiếm trong trang web đang hiển thị
F11 : Để bật tắt chế độ xem toàn màn hình

Dướiđây là bảng danh sách phím tắt chủ yếu dùng cho cả hai trình duyệt IEvà Firefox (Trên Macintosh, Command thay thế cho Ctrl và tuỳ chọn choAlt)

Ctrl+A: Chọn tất cả nội dung
Ctrl+C: Copy nội dung chọn
Ctrl+D: Thêm một bookmark
Ctrl+H: Thể hiện thanh nách History
Ctrl+I hay Ctrl+B: Mở thanh nách Bookmarks
Ctrl+N: Mở cửa sổ mới
Ctrl+O: Mở file
Ctrl+P: In trang hiện tại
Ctrl+R hay F5: Load lại trang hiện tại
Ctrl+Shift+R hay Ctrl+F5: Load lại trang hiện tại từ trang gốc
Ctrl+V: Dán nội dung copy hiện tại
Ctrl+W hay Ctrl+F4: Đóng tab hiện tại
Ctrl+X: Cắt nội dung chọn hiện tại
Ctrl+Y hay Ctrl+Shift+Z: Thực hiện lại hoạt động cuối
Ctrl+Z: Khôi phục lại hoạt động cuối
Alt: Bắt đầu cho sự lựa chọn menu
Alt+D hay F6: Tập trung và làm nổi bật thanh lựa chọn
Alt+F4 hay Ctrl+Shift+W: Đóng cửa sổ hiện tại
Alt+Home: Trở lại trang chủ
Alt+mũi tên sang trái hay Backspace: Trở lại trang trước
Alt+mũi tên sang phải hay Shift+Backspace: Tới trang sau
Delete: Xoá lựa chọn hiện thời
End: Chuyển xuống cuối trang
Esc: Ngừng hoạt động hiện tại
F11: Xem nội dung ở màn hình lớn
Home: Chuyển tới đầu trang

Firefox cũng có một số tổ hợp phím riêng. Sau đây là các tổ hợp phím thông thường đó (không có trong Internet Explorer):

Ctrl + - (dấu trừ) -> Giảm kích thước văn bản
Ctrl + + (dấu cộng) -> Tăng kích thước văn bản
Ctrl+0 (Ctrl+số không) -> Phục hồi văn bản theo kích thước thông thường
Ctrl + phím xuống -> Chọn công cụ tiếp theo trong thanh cục bộ
Ctrl+F hay / -> Tìm nội dung theo xâu ký tự
Ctrl+G hay F3 -> Lặp lại hoạt động tìm kiếm
Ctrl+J (Ctrl+Y trên Linux) -> Mở cửa sổ quản lý download
Ctrl+K -> Tìm kiếm web sử dụng công cụ tìm kiếm hiện tại và từ khoá
Ctrl+n (n là một số) -> Tới tab thứ n
Ctrl+S -> Ghi lại trang hiện tại như một file
Ctrl+T -> Mở tab mới
Ctrl+Tab hoặc Ctrl+Page Down -> Chuyển tới tab tiếp theo
Ctrl+Shift+Tab hoặc Ctrl+Page Up -> Chuyển lại tab trước đó
Ctrl+U -> Xem mã nguồn của trang
Alt+Enter -> Mở đường dẫn URL trong tab mới
F6 -> Chuyển sang khung tiếp theo
F7 -> Đường dẫn Toggle caret
Shift+F3 -> Lặp lại hoạt động tìm kiếm cuối cùng

Cuốicùng là một số tài nguyên chi tiết về phím trong Firefox. Trước hết làdanh sách trong hệ thống trợ giúp Firefox Help. Bạn có thể xem bằngcách vào Help > Help Contents > Keyboard Shortcuts. Nếu không bạncó thể xem tại: http://www.mozilla.org/support/firefox/keyboard và cập nhật những thay đổi mới nhất gần đây. Để kỹ thuật hơn, một số cuộc thảo luận về thay đổi phím tắt đã được tổ chức: http://www.mozilla.org/access/keyboard/proposal Và cuối cùng, trang: http://www.mozilla.org/access/ cung cấp thông tin truy cập chung của Mozilla.

3. Quản lý Bookmark

Bookmarklà chức năng rất hay trong các trình duyệt web, nó cho phép người dùnglưu lại những trang web yêu thích để tiện việc truy cập sau này. Nhưngđôi khi số lượng bookmark quá lớn, nếu bạn không sắp xếp, phân loạichúng thì việc gặp khó khăn trong tìm kiếm là điều sẽ xảy ra. Để quảnlý Bookmark, bạn vào menu Bookmarks --> chọn Organize BookmarksManager. Tại đây bạn có thể tạo ra các thư mục tương ứng với từng thểloại sau đó di chuyển các bookmark đến vị trí mới.



Đểđánh dấu một trang web bạn có thể nhấn tổ hợp phím Ctrl - D. Trong cửasổ Add Bookmark bạn chọn thư mục chứa trang web tương ứng trong mục"Create in". Nếu không thấy thư mục cần tìm bạn nhấn vào nút mũi tênchỉ xuống để hiện danh sách đầy đủ các thư mục.



Saumột thời gian sử dụng sẽ có một số trang web trong danh sách bookmarkkhông tồn tại. Để xác định trang web không hoạt động, bạn nhấn phảichuột lên thư mục bookmark tương ứng và chọn "Open All in Tabs". Nhữngtab nào hiển thị "404 Not Found" bạn nên xóa khỏi danh sách vì cáctrang web này đã không còn tồn tại.

4. Sao lưu registry của Firefox

Cũnggiống như Registry của Windows, Firefox Registry cũng bao gồm các thôngtin cấu hình quan trọng của trình duyệt này. Trước khi có những thayđổi về cấu hình, bạn nên tạo một bản dự phòng registry trước. Để làmviệc này, bạn đóng Firefox lại

Nhấn nút Start --> chọn Run--> gõ %appdata%\mozilla\firefox\profiles và nhấn Enter --> Kếtquả xuất ra là một thư mục có tên dạng như 4hw0enat.default. Mở thư mụcnày ra và sao chép tập tin prefs.is đến một nơi an toàn dùng để phụchồi sau này



5. Hiệu chỉnh bộ máy tìm kiếm mặc định

Khibạn gõ một từ trong thanh Address bar thì bộ máy tìm kiếm (searchengine) mặc định sẽ hiển thị các kết quả tìm kiếm. Bộ máy tìm kiếm cóthể là Yahoo hay MSN. Để thiết lập bộ máy tìm kiếm mặc định là Googleta thực hiện như sau.

Sao lưu toàn bộ registry của Firefox--> trên thanh Address bar gõ about:config và nhấn Enter -->trong hộp thoại Filter, gõ chuỗi ký tự sau keyword.URL --> Nhấp đôichuột lên giá trị keyword.URL, nhập đường dẫn http://www.google.com/search?btnG=Google+Search&q= và chọn OK



6. Thêm thanh công cụ tìm kiếm

Bạncó thể thêm, xóa và tổ chức lại các dịch vụ tìm kiếm xuất hiện ở góctrên bên phải. Ta nhấn vào mũi tên hướng xuống ở bên trái thanh công cụtìm kiếm --> Chọn Manage Search Engines --> Để xem toàn bộ cácsearch engine hiện có nhấn vào liên kết Get more search engines



Đểthêm một bộ máy tìm kiếm đơn giản chỉ việc chọn và nhấn nút Add. Nếubạn muốn Firefox sử dụng nó là công cụ tìm kiếm mặc định thì đánh dấuvào ô Start using it right away



7. Sử dụng thanh công cụ của các trang web

Bạncó thể sử dụng các thanh công cụ tìm kiếm thường xuất hiện trong cáctrang web để tìm tài liệu trên trang web đó mà không cần phải truy cậpvào. Ví dụ thực hiện với trang web www.pcworld.com



Nhấnphải chuột lên thanh tìm kiếm của trang web PCWorld, và chọn Add aKeyword for this Search --> trong cửa sổ bookmark xuất hiện bạn điềnnhư hình với pcw là từ khóa dùng để gọi công cụ tìm kiếm của trangPCWorld



Đểkiểm tra, trên thanh Address bar bạn gõ pcw laptop kết quả xuất hiện làtất cả các bài viết liên quan đến máy tính xách tay có trên trangPCWorld.

8. Bảo mật mọi thông tin lướt web

Bạnkhông muốn người khác biết mình vào trang web nào, gõ mật khẩu gì haybạn muốn những thông tin đó được xóa ngay khi đóng trình duyệt. Để cấuhình bạn vào menu Tools --> Options --> biểu tượng Privacy -->đánh dấu vào mục Always clear my private data when I close Firefox



9. Làm việc với History

Đểxóa các trang web được lưu trong History ta chọn trong danh sách ởthanh Address bar và nhấn nút Delete. Hoặc bạn có thể nhấn tổ hợp phímCtrl - H để mở phần quản lý History, tại đây bạn sẽ có thể xóa cùng lúcnhiều trang web hoặc xem lại các trang được duyệt ở tùân trước.

10. Bảo mật việc lưu trữ mật mã

Firefoxcó tính năng quản lý mật mã giúp tự động điền mật mã vào các trang webkhác nhau mà người dùng không cần phải nhớ. Điều này sẽ là hết sức nguyhiểm nếu không được bảo vệ bởi Master Password

Để bật tính năngnày, chọn Tools --> Options --> nhấn vào biểu tượng Security--> đánh dấu chọn Remember Passwords for sites và Use a masterpassword --> Trong hộp thoại Change Master Password, nhập mật mãdùng để quản lý việc điền mật mã vào các trang web.



Kểtừ bây giờ trong mỗi phiên làm việc với Firefox, trước khi tự điền mậtkhẩu trong một trang web hệ thống sẽ yêu cầu bạn nhập vào mật mã quảnlý.

11. Di chuyển các thiết lập Bookmark sang một máy tính khác

Bước1 : Ở máy tính cũ, đóng trình duyệt Firefox --> nhấn nút Start, chọnRun --> gõ %appdata%\mozilla và nhấn Enter --> Chép thư mục cótên Firefox vừa được tạo đến máy tính mới

Bước 2 : Trên máy tínhmới, cài đặt và mở Firefox. Khi phần Import Wizard xuất hiện, nhấn nútCancel. Chọn Start --> Run --> gõ %appdata%\mozilla --> Đổitên thư mục Firefox cho giống lúc cài đặt --> Chép thư mục Firefoxcủa máy tính cũ vào đây --> Mở lại Firefox, mọi thiết lập đã y nhưcũ.

12. Các liên kết từ ứng dụng khác

Khi một liênkết được gửi đến từ ứng dụng khác, như một đường dẫn URL trong e-mailchẳng hạn, trình duyệt sẽ làm gì? Có 3 tuỳ chọn: mở trang liên kếttrong cửa sổ mới, mở trang liên kết trong tab mới ở cửa sổ cũ hoặc thaythế trang hiện tại trong cửa sổ cũ.

Các tuỳ chọn này nằm ở phầnđầu của ô Tabbed Browsing trong cửa sổ Preferences. Nếu bạn cảm thấycần thiết lập tham chiếu này qua About.config hãy tìm thư mụcbrowser.link.open_external. Thành phần này cho phép bạn thực hiện được3 tuỳ chọn:

1. Mở liên kết ở tab và cửa sổ hiện tại. (Opens the link in the current tab and window)
2. Mở liên kết ở cửa sổ mới. (Opens it in a new window)
3. Mở liên kết ở tab mới trong cửa sổ cũ. (Opens it in a new tab in the front window)

13. Load tab ở trang trước hay trang sau

Có3 tham chiếu cho phép bạn điều khiển hoạt động load tab trước hay sautab hiện tại. Các tham chiếu này tương ứng theo 3 kiểu sự kiện mở tabmới. Trong đó 2 sự kiện có thể thiết lập trong cửa sổ Preferences (đượcđánh dấu hay để ở chế độ true nghĩa là load ở trang trước; không đượcđánh dấu hay để ở chế độ false nghĩa là load ở trang sau). Sự kiện thứba đòi hỏi phải dùng trang About.config, đã được nói đến ở trên:

-Control-cliking (hay Command-clicking): điều khiển click một liên kếttrong trình duyệt để mở một tab mới. Thiết lập điều khiển này trong cửasổ Preferences với hộp check box có tên Select new tabs opened fromlinks hoặc trong about:config bằng cách thay đổi thành phần:browser.tabs.loadInBackground

- Mở một tab từ bookmark haybrowser history: Trong cửa sổ Preferences, sự kiện này có tên là Selectnew tabs opened from bookmarks or history. Trong about:config là:browser.tabs.opentabfor.bookmarks

- Mở một tab từ liên kết doứng dụng khác gửi: Không có hộp check box trong cửa sổ Preferences chothiết lập này. Trong about:config bạn có thể thay đổi ở:browser.tabs.loadDivertedInBackground

- Ẩn thanh tab khi chỉ cómột tab tồn tại: Tham chiếu này sẽ ẩn thanh tab khi chỉ có một tab tồntại. Trong about:config bạn thiết lập ở browser.tabs.autoHide (để chếđộ true nếu muốn cho phép ẩn tự động)

- Mô hình cửa sổ đơn: Bạncó ghét mở nhiều liên kết web trong cửa sổ mới (chúng thiết lập thuộctính đích trên liên kết)? Giờ đây, bạn có thể ép Firefox mở liên kếttrong tab mới thay vì cửa sổ mới. Người ta gọi đó là mô hình “cửa sổđơn” (Single Window). Mô hình này không chặn đươc tất cả, nhưng nắm bắtđược hầu hết cửa sổ mới. Các nút raido dùng để thiết lập tham chiếu nàynằm trong cửa sổ Preferences, nhưng chỉ xuất hiện khi Firefox biết bạnmuốn xem chúng. Hãy vào About.config và thiết lậpbrowser.tabs.showSingleWindowModePrefs thành true

14. Các tính năng mở rộng chỉnh sửa Tabbed-browsing

Cómột số tính năng mở rộng trong Firefox tương tác với tabbed - browsing.Hai trong số đó được thiết kế đơn giản, giúp bạn dễ dàng thiết lập thamchiếu một cách chính xác như mong muốn. Còn có một thiết lập khác bổsung thành phần mới hữu ích qua việc sử dụng sáng tạo tab và phím bấm.Các tính năng mới vẫn luôn được tạo ra tại mọi thời điểm. Bạn đọc nênkiểm tra trên website Mozilla Updates: http://addons.update.mozilla.org/ để có các tính năng mới nhất.

- Các tham chiếu Tabbrowser: Tính năng mở rộng Tabbrowser Preferences: http://www.pryan.org/mozilla/site/TheOneKEA/tabprefs/(TBP) do Bradley Chapman xây dựng, gom tất cả tham chiếu liên quan đếntabbed-browsing vào một khung đơn trong cửa sổ Preferences. Bạn có thểthiết lập các thành phần giống như vậy qua trang About.config. Nhưngdùng TBP, bạn sẽ không phải nhớ ý nghĩa tên của nhiều tham chiếu khácnhau hay nhớ giá trị thiết lập để có hoạt động như ý muốn.

- Quick Tab Pref Toggle: Tính năng mở rộng Quick Tab Pref Toggle: http://jedbrown.net/mozilla/extensions/%23QuickTabPrefToggle(QTPT) cho phép bạn duy trì hai thiết lập của tham chiếutabbed-browsing. Bạn thường xuyên chuyển đổi tất cả cửa sổ mới thànhcác tab mới? Nhưng đôi khi bạn lại phải làm việc với một trang web nàođó thực sự nên chuyển sang một cửa sổ khác. Tính năng này cho phép bạnđặt một nút nhỏ (một toogle) trong toolbar để chuyển đổi qua lại giữahai thiết lập tham chiếu chỉ với một cú click chuột.

- Magpie: Magpie: http://www.bengoodger.com/software/tabloader/do chuyên gia phát triển hàng đầu của Firefox, Ben Goodger xây dựng. Nókhông phải là tính năng mở rộng tabbed-browsing, nhưng nó có thành phầnliên quan chứng minh cách dùng tab hoàn toàn khác. Magpie có thể ghilại tất cả tab vào bên phải của tab bạn đang xem file trên đĩa. (thườnglà các file media như file ảnh). Ví dụ, nếu đang mở một trang web albumcó các khung hình nhỏ của khoảng 12 ảnh, bạn có thể sử dụng điều khiểnControl-click (hay Command-click) trên từng ảnh để xem theo kích thướclớn nhất trong từng tab phân tách. Sau đó sử dụng tổ hợp phímCtrl+Shift+S trong Maggpie có thể ghi lại tất cả ảnh vào đĩa trong vàotrong một thư mục và đóng các tab lại. Điều này nhanh hơn nhiều so vớiviệc mỗi lần chỉ có thể ghi một ảnh vào đĩa.

15. Tính năng mở rộng Tabbrowser Extension: chương trình kiểm tra tổng thể hoạt động tab hoá hoàn chỉnh

Tính năng mở rộng Tabbrowser Extension: http://piro.sakura.ne.jp/xul/_tabextensions.html.en(TBE) do Shimoda “Piro” Hiroshi xây dựng, là một công cụ mạnh cho ngườidùng. Đó là hệ thống tabbing siêu lọc cho mọi thành phần bạn có thểtưởng tượng ra và ngay cả một vài thành phần bạn không nghĩ đến. TBE cóthế hoàn toàn thay thế tab trình duyệt xây dựng sẵn bằng tab của chínhnó. Các bạn nên xem xét lại các phần cài đặt và tình trạng mới nhất củacác tab, TBE vấn luôn tự đánh bóng và sửa chữa các tab của mình để cóthể đưa chúng ra.

Các tab của TBE trông giống như tab thôngthường của Firefox (được đặt mặc định). Nhưng chúng cung cấp nhiềuthành phần mà bạn không có cách nào có được từ chương trình khác. Thựctế, TBE linh động đến mức cửa sổ Preferences để ngắt hoạt động của nócũng có nhiều tuỳ chọn như của sổ Preferences riêng của Firefox. TBEcho phép bạn thực hiện các công việc sau:

* Sắp xếp lại tab bằng cách kéo chúng sang bên trái hoặc bên phải
* Nhân bản tab trong cùng một cửa sổ hoặc vào một cửa sổ mới
* Tạo màu sắc cho tab
* Thể hiện tab trên bất kỳ mặt nào của cửa sổ trình duyệt (không chỉ ở đầu)
* Tự động load các nhóm tab giống nhau sử dụng trong lần mở Firefox cuối cùng
* Undo một tab đã đóng (mở lại nó đúng trong trang trước khi tắt tab)
* Khoá một tab để tất cả các liên kết bên trong nó tự động mở trong một tab mới
* Block trang trong một tab cụ thể theo danh sách ở Referer: lập tiêu đề khi bạn click vào một link.
* Tự động load lại một tab trong n giây, phút, hay ngày
* Bổ sung nút Close trên mọi tab
* Load nhiều hơn…

16. Faviconize Tab - Thu nhỏ các Tab trong Firefox thành biểu tượng

Nếu bạn là người sử dụng Mozilla Firefox chắc hẳn có lúc bạn gặp trường hợpdo mở quá nhiều tab (thẻ duyệt Web) nên rất khó tìm và di chuyển giữacác tab (do bề ngang tab hơi dài). Tuy nhiên, nếu bạn cài đặt phần mởrộng Faviconize Tab thì điều này sẽ dễ dàng hơn vì các tab sẽ được thugọn vừa đủ hiển thị cho biểu tượng của trang Web. Và bạn cũng có thểthay đổi các xác lập trong menu Options để lựa chọn thu hẹp hay mở rộngcác tab bằng cách nhấp đôi chuột hoặc bấm giữ phím Alt, Ctrl hoặc Shifttrong khi bấm chuột. Một phần nữa rất hay mà các nhà phát triển đã đưavào là lựa chọn đưa ra một danh sách các URL mà phần mở rộng sẽ tự độngthu nhỏ khi các URL này được mở lên. Với phần mở rộng này và tính năngcuộn các tab của Firefox 2.0 sẽ có thêm nhiều không gian cho việc dichuyển các tab. Bạn có thể tải về phần mở rộng Faviconize Tab tại địachỉ https://addons.mozilla.org/firefox/3780/.


Hai phần mở rộng không thể thiếu cho Firefox

1. MỞ NHỮNG TRANG WEB KHÔNG MỞ ĐƯỢC

Cónhiều trang web chỉ giới hạn cho một số thành viên nội bộ sử dụng,trong khi nó lại chứa rất nhiều tài liệu quan trọng mà bạn thèm muốn.Vậy phải làm sao để xem những tài liệu này? Câu trả lời là ResurrectPages, một trong những phần mở rộng hay nhất cho Firefox mà bạn khôngnên bỏ qua.

Sau khi cài đặt tại địa chỉ http://tinyurl.com/386dljvà khởi động lại Firefox, mỗi khi vào một trang web báo lỗi không truycập được, trong khung Resurrect this page phía dưới, bạn hãy bấm chuộtvào một trong 6 mục: CoraICDN, Google Cache, Google Cache (text only),Yahoo! Cache, The Internet Archive hay MSN Cache để xem trang web đódưới dạng bản sao lưu trong máy chủ của CoraICDN, Google, Yahoo!, TheInternet Archive hay MSN. Nếu gặp một trang web load chậm, bạn cũng cóthể dùng cách này để mở trang web nhanh hơn, bằng cách nhấn chuột phảilên link rồi chọn Resurect this page.

2. KIỂM SOÁT TRANG WEB CÁ NHÂN

UpdateScanner tích hợp nhiều tính năng hay và một trong số đó là giúp bạnkiểm tra những thay đổi xảy ra trong trang web của mình, để nhận biếtđược ngay khi có người thêm bình luận vào blog, khi ai đó đưa bài viếtmới vào forum bạn tham gia hoặc có người trả lời câu hỏi mà bạn vừapost lên. Cài đặt extension này từ địa chỉ http://tinyurl.com/332gfv và cho Firefox khởi động lại.
Khimuốn tạo một ghi nhớ cho một trang web, bạn vào menu Tools > UpdateScanner. Trong khung hiện ra, bạn bấm nút New Entry ở phía ngoài cùng.Ở hộp thoại mở ra, bạn nhập tiêu đề của trang web vào ô Title và địachỉ trang web vào ô URL. Xong, bấm OK. Sau này, cứ mỗi giờ hoặc mộtthời gian xác định do bạn điều chỉnh tại mục Autoscan, Update Scannersẽ quét qua trang web đã chỉ định một lần và nếu có gì mới, nó sẽ thôngbáo cho bạn biết. Nếu muốn kiểm tra ngay một trang web, bạn bấm nútScan để quét.


Những phần mở rộng nâng cao khả năng upload/download cho Firefox

1. Tìm kiếm và tải dữ liệu bằng giao thức Bittorent

* Tìm kiếm dữ liệu với TorrentBar:

Cài đặt tại https://addons.mozilla.org/en-US/firefox/addon/864.

Càixong và khởi động lại Firefox, trên thanh trạng thái của Firefox sẽxuất hiện một hộp thoại tìm kiếm mới. Chỉ cần nhập từ khóa liên quanđến thông tin cần tìm và nhấn Enter là bạn sẽ có ngay danh sách nhữngliên kết dẫn đến file torrent trên những trang web phổ dụng nhất.
* Tải dữ liệu bằng giao thức Bittorent với FoxTorrent: Cài đặt tại www.foxtorrent.com.
Khibạn nhấn vào liên kết trực tiếp đến một file torrent, FoxTorrent sẽ tựđộng kích hoạt và download dữ liệu bạn cần về máy (thư mục lưu dữ liệulà Program Files\RSSoft\Cache\Torrents). Một tiện ích rất đáng để càithêm cho Firefox đấy chứ.

2. Sử dụng trình download của hãng thứ ba

Cài đặt tại https://addons.mozilla.org/en-US/firefox/addon/220.

Tiệních tải file có sẵn của Firefox được thiết kế quá chân phương và không thật sự đáp ứng được yêu cầu của người dùng. FlashGot là một giải pháptốt vì nó cho phép bạn liên kết với trình tải file của hãng thứ ba đểtăng tốc tải file. Chỉ cần nhấp click phải chuột vào liên kết cần tảivà chọn FlashGot Link để gọi một trình tải file nào đó có sẵn trong máy.

3. Upload và tải dữ liệu trong hộp thư Gmail

Cài đặt tại https://addons.mozilla.org/en-US/firefox/addon/1593.

Gspacetốt hơn Gdrive (ổ cứng trực tuyến dành cho Gmail) vì nó có tốc độdownload, upload dữ liệu cao hơn, thông báo chi tiết về tác vụ bạn đangthực hiện cũng như có nhiều sự lựa chọn hơn. Cài xong, biểu tượng củaGspace sẽ nằm phía dưới góc phải giao diện của Firefox.

4. Upload và download dữ liệu tại các site nổi tiếng

Cài đặt tại https://addons.mozilla.org/en-US/firefox/addon/4724.

Côngviệc đòi hỏi bạn phải thường xuyên chia sẻ dữ liệu có dung lượng lớnqua Internet, vì thế bạn thường xuyên phải download và upload dữ liệutại các website lưu trữ trực tuyến. FireUploader là một tiện ích miễn phí nhưng đáng giá dành cho bạn. Tiện ích nhỏ này giúp bạn dễ dàng upload và download các tập tin hình ảnh, tài liệu, video... từ cácwebsite nổi tiếng như Flickr, Picasa, Youtube và Box.net và trong tươnglai sẽ hỗ trợ thêm Google Videos, Webshots...

5. Quản lý dữ liệu tại các máy chủ FTP

Cài đặt tại https://addons.mozilla.org/en-US/firefox/addon/684.

FireFTPcó giao diện đơn giản, dễ sử dụng, hỗ trợ tốt trong việc truy cập vàocác máy chủ sử dụng giao thức FTP để trao đổi dữ liệu. Bạn không cầncài thêm tiện ích nào nữa, vì giờ đây nó đã nằm sẵn trong trình duyệt Firefox của bạn.


(Nguồn kienthucweb.net)

Khái niệm về phân vùng đĩa cứng trong Linux

đăng 07:16 14-09-2011 bởi Hoang Thi Hang Yen   [ cập nhật 09:42 30-09-2011 bởi Vu Tien Dat ]

Khái niệm về phân vùng đĩa cứng trong Linux

Bài viết dưới đây sẽ cho bạn một cái nhìn tổng quát về cấu tổ chức đĩa cứng trong Windows và trong Linux.

1. Lý thuyết tổng quát:

            Quá trình khởi động: khi bật công tắc, BIOS sẽ làm công việc đầu tiên là “chạy đôn chạy đáo” tìm những phần cứng cơ bản (gồm đĩa cứng, đĩa mềm, bàn phím) đã được nối vào máy tính. Những phần cứng này sẽ lần lượt được nạp driver (trình điều khiển –BIOS đã có sẵn driver rồi) để có thể sử dụng được ngay khi khởi động xong, đồng thời BIOS cũng đi tìm một đoạn chương trình bé xíu được đặt tại phần đầu của đĩa mềm (Boot Sector), đĩa cứng (MBR - master boot record) để “đùn đẩy trách nhiệm” khởi động tiếp.

            Riêng đối với đĩa cứng, ngoài MBR còn có thêm Boot Sector nữa, Boot Sector này “tạm trú” ngay đầu của mỗi phân vùng Primary (sẽ nói sau) và Boot Sector của Primary đầu tiên sẽ nằm sau MBR. Tại đây, ta không nói đến đĩa mềm vì quá đơn giản, chỉ cần nạp xong Boot Sector là ok. Đĩa cứng thì phức tạp hơn, MBR không nạp ngay hệ điều hành mà còn bận phải xác định xem trong đĩa cứng hiện có bao nhiêu phân vùng và phân vùng nào sẽ được ưu tiên khởi động. Mỗi phân vùng Primary sẽ cầm một cái cờ tên Active, trong một thời điểm chỉ có một phân vùng Primary được phất cờ thôi, và khi MBR nhận ra được “em” nào phất thì thì tức khắc “tống” ngay tiến trình khởi động sang cho Boot Sector của Primary đó làm tiếp. Lúc này, Boot Sector mới tìm những tập tin khởi động của hệ điều hành (nếu có) để “chuyển giao công đoạn” và chấm dứt khởi động, phận ai nấy lo mà.

            Số lượng phân vùng: đối với mỗi ổ đĩa cứng, có hai loại phân vùng là Primary (phân vùng chính) và Extended (phân vùng mở rộng). Primary là phân vùng có khả năng khởi động (đã nói ở trên đó). Về mặt vật lý, ổ đĩa cứng chỉ có thể chia được 4 phân vùng, tức là chỉ cài tối đa được 4 hệ điều hành trên một đĩa cứng mà thôi. Tuy nhiên, nếu không có “ham muốn” dùng nhiều hệ điều hành mà chỉ có ý định chia nhiều ổ đĩa thì có thể dùng phân vùng Extended, phân vùng này cho phép chia bên trong nó nhiều phân vùng con gọi là Logical.

2. Lý thuyết của DOS/ Windows:

            Những đề cập bên dưới chỉ tập trung vào cấu trúc Basic Disk (tức là những gì ta thấy, hiểu và cảm nhận từ trước đến giờ trên nền DOS, Windows), còn Dynamic Disk của cơ chế RAID thì miễn bàn.

-     Tên phân vùng: hệ điều hành DOS/ Windows gọi phân vùng phất cờ Active là C:, các ký tự tiếp theo (D:, E:, F:…) lần lượt được gán cho các phân vùng Logical của phân vùng Extended đầu tiên, khi hết Extended đầu tiên sẽ chuyển qua Extended thứ hai (nếu có), và khi hết Extended thì mới “ân huệ” cho các phân vùng Primary tiếp theo, dù vị trí có nằm trước Extended đi chăng nữa.

-     Ẩn phân vùng Primary: DOS và windows 9x không cho phép hai phân vùng Primary “chường mặt” ra đồng thời, tuy nhiên nếu cố ép thì vẫn được. Vì thể, nếu đã đặt Active cho một Primary thì các Primary khác sẽ tự động “mất tích”.

3. Lý thuyết của Linux:

            Tên phân vùng: hạt nhân Linux/Unix xây dựng cơ chế truy xuất tất cả các loại đĩa và thiết bị đều ở dạng tập tin. “Chú chim cánh cụt” đặt tên cho bé ổ đĩa mềm là fd (floppy disk), ổ đĩa mềm thứ nhất là fd0, ổ đĩa mềm thứ hai là fd1 (hết rồi, chỉ có tối đa hai ổ đĩa mềm thôi). Tiếp theo là đến ổ đĩa cứng, nếu là ổ đĩa IDE thì có tên hd (hard disk), còn nếu là ổ đĩa SCSI thì có tên sd (SCSI disk). Bây giờ bàn về ổ đĩa cứng IDE thôi nhé. Ỗ đĩa cứng vật lý thứ nhất “làm khai sinh” với tên hda, thứ hai là hdb, thứ ba là hdc, nếu còn nữa thì tiếp tục. Trên từng ổ đĩa cứng, mỗi phân vùng cũng có tên riêng, điển hình là bốn phân vùng sếp (Primary và Extended) chiếm lấy các tên từ hda0, đến hda4 (hdd gì gì không nhất thiết chỉ có a đâu nhé, phải linh hoạt chứ, chỉ là ví dụ thôi). Các số từ 5 trở lên (như hda5, hda6…) được đặt tên cho phân vùng Logical bên trong phân vùng Extended. Điều này khác với DOS/Windows, vì trên DOS/Windows thì Extended không có tên, nhưng trên Linux thì Extended có tên hẳn hoi. Dù bạn không chia đủ 4 phân vùng “sếp” thì các “bé” Logical cũng vẫn đi từ 5 trở lên, không “bàn cãi, trả giá gì hết”.

            Phân vùng tráo đổi SWAP: nếu windows sử dụng tập tin tráo đổi swap để lưu tạm bộ nhớ thì Linux dùng ngay cả một phân vùng swap hẳn hoi để làm việc này (quá sang), phân vùng swap phải nằm trên Extended, tức là Logical í, và phải có kích thước gấp hai lần kích thước bộ nhớ RAM trên máy. Tuy vậy, đối với những máy có dung lượng bộ nhớ RAM từ 32MB trở lên thì Linux khuyến khích đặt kích thước phân vùng swap bằng với dung lượng RAM. Dù thế, bạn vẫn được toàn quyền đặt kích thước phân vùng swap mà.

            Giải phân mảnh: khi dùng windows, bạn thường xuyên làm công việc “dồn đĩa” giải phân mảnh để tăng tốc hệ thống. Thế nhưng ở Linux, ta không cần vì kiểu phân vùng EXT2 (hoặc EXT3) đã có đoạn chương trình tự động chống phân mảnh trong khi làm việc. Đây là một đặc tính rất hay của Linux, nhưng bạn phải trả cho Linux với giá 10% dung lượng phân vùng. Thực ra, đây là cái giá không cao, và bạn được hưởng tính ổn định và hiệu năng tối ưu.


Lịch sử Unix, Linux và phần mềm mã nguồn mở

đăng 07:07 14-09-2011 bởi Hoang Thi Hang Yen   [ cập nhật 09:45 30-09-2011 bởi Vu Tien Dat ]

Lịch sử Unix, Linux và phần mềm mã nguồn mở

Giữa năm 1969 - 1970, Kenneth Thompson, Dennis Ritchie và những người khác của phòng thí nghiệm AT&T Bell Labs bắt đầu phát triển một hệ điều hành nhỏ dựa trên PDP-7. Hệ điều hành này sớm mang tên Unix, một sự chơi chữ từ một dự án hệ điều hành có từ trước đó mang tên MULTICS.

        Vào khoảng 1972 - 1973, hệ thống được viết lại bằng ngôn ngữ C và thông qua quyết định này, Unix đã trở thành hệ điều hành được sử dụng rộng rãi nhất có thể chuyển đổi được và không cần phần cứng ban đầu cho nó. Các cải tiến khác cũng được thêm vào Unix trong một phần của sự thoả thuận giữa AT&T Bell Labs và cộng đồng các trường đại học và học viện. Vào năm 1979, phiên bản thứ 7 của Unix được phát hành, đó chính là hệ điều hành gốc cho tất cả các hệ thống Unix có hiện nay.
       
Sau thời điểm đó, lịch sử Unix bắt đầu trở nên hơi phức tạp. Cộng đồng các trường đại học và học viện, đứng đầu là Berkeley, phát triển một nhánh khác gọi là Berkeley Software Distribution (BSD), trong khi AT&T tiếp tục phát triển Unix dưới tên gọi là “Hệ thống III” và sau đó là “Hệ thống V”. Vào những năm cuối của thập kỷ 1980 cho đến các năm đầu thập kỷ 1990, một “cuộc chiến tranh” giữa hai hệ thống chính này đã diễn ra hết sức căng thẳng. Sau nhiều năm, mỗi hệ thống đi theo những đặc điểm khác nhau. Trong thị trường thương mại, “Hệ thống V” đã giành thắng lợi (có hầu hết các giao tiếp theo một chuẩn thông dụng) và nhiều nhà cung cấp phần cứng đã chuyển sang “Hệ thống V” của AT&T. Tuy nhiên, “Hệ thống V” cuối cùng đã kết hợp các cải tiến BSD, và kết quả là hệ thống đã trở thành sự pha trộn của 2 nhánh Unix. Nhánh BSD không chết, thay vào đó, nó đã được sử dụng rộng rãi trong mục đích nghiên cứu, cho các phần cứng PC, và cho các server đơn mục đích (vd: nhiều website sử dụng một nguồn BSD).

        Kết quả là có nhiều phiên bản Unix khác nhau, nhưng tất cả đều dựa trên phiên bản thứ bảy ban đầu. Hầu hết các phiên bản Unix đều thuộc quyền sở hữu và được bảo vệ bởi từng nhà cung cấp phần cứng tương ứng, ví dụ Sun Solaris là một phiên bản của “Hệ thống V”. Ba phiên bản của BSD của nhánh Unix cuối cùng đã trở thành mã nguồn mở: FreeBSD (tập trung vào sự cài đặt dễ dàng trên phần cứng của dòng máy PC), NetBSD (tập trung vào nhiều kiến trúc CPU khác nhau) và một bản khác của NetBSD, OpenBSD (tập trung vào bảo mật).

Tổ chức phần mềm miễn phí (Free Software Foundation)

        Vào năm 1984, Tổ chức phần mềm miễn phí (FSF) của Richard Stallman bắt đầu dự án GNU, một dự án tạo ra một phiên bản miễn phí của hệ điều hành Unix. Miễn phí, theo Richard Stallman nghĩa là tự do sử dụng, đọc, chỉnh sửa và phân phối lại. FSF đã thành công trong việc xây dựng một lượng khổng lồ các thành phần hữu ích, bao gồm một trình biên dịch C (gcc), một trình hiệu chỉnh văn bản khá ấn tượng (emacs) và một loạt các công cụ cơ bản. Tuy nhiên, vào những năm 1990, FSF đã gặp khó khăn trong việc phát triển kernel hệ điều hành [FSF 1998] mà nếu không có kernel này thì giấc mơ hoàn thành một hệ điều hành miễn phí của họ sẽ không thể hoàn tất.

Linux

        Vào năm 1991, Linus Tovalds bắt đầu phát triển một kernel hệ điều hành, lấy tên của anh ta “Linux” [Tovalds 1999]. Kernel này có thể kết hợp với các tài liệu của FSF và các thành phần khác (cụ thể là một vài thành phần của BSD và phần mềm MIT của X-Windows) để có thể giới thiệu một hệ điều hành vô cùng hữu ích và có thể tự do chỉnh sửa.

        Trong cộng đồng Linux, nhiều tổ chức khác nhau đã kết hợp các thành phần khác có sẵn. Mỗi một sự kết hợp đó được gọi là một bản phân phối (distribution) và các tổ chức phát triển các bản phân phối đó gọi là các nhà phân phối (distributors). Các bản phân phối thông dụng gồm có Linux Red Hat, Mandrake, SuSE, Caldera, Corel và Debian. Có những sự khác nhau giữa các bản phân phối đó, nhưng tất cả các bản phân phối đó đều dựa trên cùng nền tảng: kernel của Linux và các thư viện của GNU. Cả hai thứ đã kết hợp lại tạo thành một giấy phép kiểu “copyleft”, thay đổi những nền tảng cơ bản này phải được làm sẵn cho tất cả, một sự bắt buộc thống nhất giữa các bản phân phối Linux mà điều này không hề có trên BSD và các hệ thống Unix kế thừa từ AT&T.

       Linux là tên gọi của một hệ điều hành máy tính và cũng là tên hạt nhân của hệ điều hành. Nó có lẽ là một ví dụ nổi tiếng nhất của phần mềm tự do và của việc phát triển mã nguồn mở.

       Phiên bản Linux đầu tiên do Linus Torvalds viết vào năm 1991, lúc ông còn là một sinh viên của Đại học Helsinki tại Phần Lan. Ông làm việc một cách hăng say trong vòng 3 năm liên tục và cho ra đời phiên bản Linux 1.0 vào năm 1994. Bộ phận chủ yếu này được phát triển và tung ra trên thị trường dưới bản quyền GNU General Public License. Do đó mà bất cứ ai cũng có thể tải và xem mã nguồn của Linux.
  
       Một cách chính xác, thuật ngữ "Linux" được sử dụng để chỉ Nhân Linux, nhưng tên này được sử dụng một cách rộng rãi để miêu tả tổng thể một hệ điều hành giống Unix (còn được biết đến dưới tên GNU/Linux) được tạo ra bởi việc đóng gói nhân Linux cùng với các thư viện và công cụ GNU, cũng như là các bản phân phối Linux. Thực tế thì đó là tập hợp một số lượng lớn các phần mềm như máy chủ web, các ngôn ngữ lập trình, các hệ quản trị cơ sở dữ liệu, các môi trường làm việc desktop như GNOME và KDE, và các ứng thích hợp cho công việc văn phòng như OpenOffice.

       Khởi đầu, Linux được phát triển cho dòng vi xử lý 386, hiện tại hệ điều hành này hỗ trợ một số lượng lớn các kiến trúc vi xử lý, và được sử dụng trong nhiều ứng dụng khác nhau từ máy tính cá nhân cho tới các siêu máy tính và các thiết bị nhúng như là các máy điện thoại di động.
    
       Ban đầu, Linux được phát triển và sử dụng bởi những người say mê. Tuy nhiên, hiện nay Linux đã có được sự hỗ trợ bởi các công ty lớn như IBM và Hewlett-Packard, đồng thời nó cũng bắt kịp được các phiên bản Unix độc quyền và thậm chí là một thách thức đối với sự thống trị của Microsoft Windows trong một số lĩnh vực. Sở dĩ Linux đạt được những thành công một cách nhanh chóng là nhờ vào các đặc tính nổi bật so với các hệ thống khác: chi phí phần cứng thấp, tốc độ cao (khi so sánh với các phiên bản Unix độc quyền) và khả năng bảo mật tốt, độ tin cậy cao (khi so sánh với Windows) cũng như là các đặc điểm về giá thành rẻ, không bị phụ thuộc vào nhà cung cấp. Một đặc tính nổi trội của nó là được phát triển bởi một mô hình phát triển phần mềm nguồn mở hiệu quả.

      Tuy nhiên, hiện tại số lượng phần cứng được hỗ trợ bởi Linux vẫn còn rất khiêm tốn so với Windows vì các trình điều khiển thiết bị tương thích với Windows nhiều hơn là Linux. Nhưng trong tương lai số lượng phần cứng được hỗ trợ cho Linux sẽ tăng lên.

      Linux hiện nay có nhiều bản phân phối khác nhau, một phần bởi tính chất nguồn mở của nó. Sau đây là một số bản phân phối chủ yếu: Debian GNU/Linux, Red Hat, Fedora Core, SuSE, Ubuntu, Mandrake/Mandriva, Gentoo, Slackware, Hacao.

      Chim cánh cụt Tux, dựa trên một hình ảnh do Larry Ewing tạo ra vào năm 1996, biểu trưng và vật may mắn của Linux.

Phần mềm miễn phí - Phần mềm tự do mã nguồn mở

       Sự quan tâm đến các phần mềm miễn phí được chia sẻ ngày càng tăng đã làm tăng sự cần thiết phải chỉnh sửa nó. Điều kiện được sử dụng rộng rãi là “Phần mềm mã nguồn mở” đã được định nghĩa trước đó. Phần mềm mã nguồn mở là những phần mềm được sử dụng mà mã nguồn được cung cấp nhưng không có sự giới hạn về bản quyền: người dùng có quyền sử dụng, xem, sửa đổi hay phân phối mã nguồn. Nó khác với những điều kiện của “Phần mềm miễn phí”. Phần mềm miễn phí thường gây rắc rối với những chương trình chỉ thực thi theo cách cho trước và không thay đổi được, cũng như mã nguồn không được xem, không được chỉnh sửa cũng như không được phân phối. Các bạn có thể đọc thêm về định nghĩa phần mềm miễn phí ở http://www.opensource.org/osd.html.


(Nguồn: sưu tầm)

Tìm hiểu bản thử nghiệm Ubuntu 11.10 Beta 1

đăng 19:53 11-09-2011 bởi Vu Tien Dat   [ đã cập nhật 09:48 30-09-2011 ]

Tìm hiểu bản thử nghiệm Ubuntu 11.10 Beta 1

Hãng Canonical đã chính thức ra phiên bản thử nghiệm Ubuntu 11.10 Beta 1 với tên mã Oneiric Ocelot, bổ sung hàng loạt tính năng, đặc biệt là sự cải tiến trong Ubuntu Software Center và việc sử dụng Thunderbird thay thế cho Evolution.

ubuntu_11_10_oneiric_Ocelot.jpg


Hãy cùng chúng tôi điểm qua những nét cải tiến và những hình ảnh mới nhất về phiên bản 11.10 đang được chờ đón này.

Nền tảng

Trước hết hãy cùng điểm qua một vài thông tin về kỹ thuật. Ubuntu 11.10 Oneiric Beta 1 sử dụng Ubuntu kernel 3.0.0-9.15, được phát triển dựa trên Linux Kernel v3.03. Môi trường đồ họa được nâng cấp lên Gnome 3.2

Giao diện người dùng

1. Giao diện đăng nhập LightDM

ubuntu-1.jpg

Khác biệt đầu tiên mà người dùng cảm nhận được sau khi khởi động Ubuntu chính là giao diện đăng nhập. Ubuntu 11.10 sử dụng giao diện đăng nhập nhỏ gọn LightDM thay thế cho giao diện cũ GDM.

Với lợi thế nhỏ gọn, LightDM giúp Ubuntu khởi động nhanh hơn so với trước kia (bởi nó không cần GNOME để chạy), bên cạnh đó LightDM còn có thể dễ dàng tùy biến hơn so với GDM.

2. Unity Desktop

ubuntu-2.jpg

Giống như phiên bản trước, giao diện người dùng mặc định được sử dụng trong Ubuntu 11.10 là Unity 3D. Trong trường hợp phần cứng không hỗ trợ Compiz (cần thiết để chạy Unity 3D), thay bằng chuyển hẳn xuống giao diện Ubuntu Classic (giao diện GNOME với thanh công cụ), hệ thống sẽ chuyển xuống dùng giao diện Unity 2D với các tính năng gần giống với Unity 3D.

Giao diện GNOME cũ và GNOME Shell sẽ không được cài mặc định trong phiên bản này. Tuy nhiên bạn có thể dễ dàng cài đặt chúng bằng dòng lệnh dưới đây:

sudo apt-get install gnome-session-fallback #for Gnome classic with panel

sudo apt-get install gnome-shell #for Gnome shell

3. Giao diện chuyển giữa các cửa sổ “Alt-Tab” mới

ubuntu-3.jpg

Phím tắt Alt-Tab cho phép di chuyển qua lại giữa các cửa sổ đang mở giờ đây được bổ sung thêm tính năng xem trước nội dung trong từng cửa sổ.

4. “Places” được đổi tên sang “Lenses”

Unity Place (nơi người dùng có thể tìm kiếm file và ứng dụng) trong phiên bản cũ đã được đổi tên thành Lenses nhằm đem đến một trải nghiệm thống nhất cho người dùng. Unity Dash cũng đã được chuyển lên vị trí đầu tiên trong thanh công cụ Unity. Unity Dash trong phiên bản mới này cung cấp một tính năng khá toàn diện, vừa cho phép người dùng tìm kiếm file, ứng dụng và sắp xếp kết quả theo xếp hạng, phạm vi, loại .. lại vừa cho phép tìm kiếm nhạc theo các thể loại hay các dòng nhạc khác nhau.

Ứng dụng mới

1. Thunderbird

Ứng dụng email client Evolution đã bị loại bỏ trong phiên bản Ubuntu mới này, thay vào đó là Thunderbird, một ứng dụng email client rất phổ biến trên cả Windows và Linux. Mặc dù Evolution vẫn đáp ứng được đầy đủ các tính năng cơ bản, tuy nhiên việc thay thế phần mềm này bẳng Thunderbird là rất đáng hoan nghênh, bởi Thunderbird có khả năng tùy biến cao với rất nhiều tiện ích mở rộng.

2. Déjà Dup

Đây là lần đầu tiên Canonical tích hợp một công cụ sao lưu vào Ubuntu, và tiện ích sao lưu được lựa chọn là Déjà Dup. Đây là một công cụ đơn giản với giao diện dễ dùng cho phép bạn sao lưu dữ liệu trên máy.

Ubuntu Software Center

ubuntu-4.jpg

Ubuntu Software Center được thiết kế lại với giao diện bắt mắt giống như App Store của Apple. Tốc độ tải về cũng nhanh hơn khá nhiều so với phiên bản trước trên Ubuntu 11.04. Và có vẻ như Canonical muốn sử dụng ứng dụng này để thay thế cho Synaptic Package Manager, chính vì vậy mà Synaptic Package Manager đã không còn được cài mặc định. Với những ai vẫn muốn tiếp tục sử dụng Synaptic có thể cài đặt bằng lệnh dưới đây:

sudo apt-get install synaptic

Kết luận

Ubuntu Oneiric có thực sự tốt hơn phiên bản trước Natty? Câu trả lời chắc chắn là có. Việc chuyển sang sử dụng LightDM cùng với GNOME 3 đã làm cho giao diện của phiên bản mới trở nên gọn gàng và nhã hơn. Bên cạnh đó các ứng dụng (đặc biệt là Ubuntu Software Center) cũng khởi động nhanh hơn, Dash và Lenses được bổ sung nhiều tính năng hữu ích hơn.

Hiện tại người dùng có thể tải về dùng thử phiên bản beta 1 tại đây http://cdimage.ubuntu.com/releases/oneiric/beta-1/. Dự kiến phiên bản beta 2 sẽ được ra mắt vào ngày 22 tháng 9, và sau đó không lâu vào ngày 13 tháng 10 phiên bản chính thức sẽ được cho ra.


(Theo ICTnews)


5 tính năng 'ít ai biết' của Firefox

đăng 19:09 11-09-2011 bởi Vu Tien Dat   [ đã cập nhật 09:38 30-09-2011 ]

5 tính năng 'ít ai biết' của Firefox

Bên cạnh những điểm mạnh về tốc độ, các tiện ích hữu ích, Firefox còn rất nhiều tính năng tuyệt vời khác.  Sau đây là 5 tính năng cực kì tiện lợi nhưng lại ít biết đến.

Firefox-Support-live_chat-lc_open-en.jpg


1. Tìm kiếm với các từ khóa thông minh (Smart Keywords)

Tính năng ít được biết đến này cho phép bạn tìm kiếm bên trong “within” bất cứ một trang Web nào ngay trên thanh địa chỉ. Ví dụ bạn muốn tìm kiếm “TouchPad” trong Amazon.com, bạn chỉ cần gõ "amazon touchpad" trên thanh địa chỉ của Firefox.


FF_Slide1_540x386.png

Nếu bạn muốn tạo ra một từ khóa thông minh, bạn hãy vào hộp tìm kiếm của một trang web. Sau đó, click chuột phải vào đó và chọn “Add Keyword for this search…” (Tạo một từ khóa cho cách tìm kiếm này…), ghi từ khóa vào ô từ khóa. Sau đó bạn lưu nó vào thanh/trình đơn đánh dấu hoặc một thư mục nào đó. Khi nào cần tìm kiếm bạn chỉ cần gõ từ khóa đó và thông tin muốn tìm, bạn sẽ có ngay kết quả trên trang đó.

Ví dụ, bạn muốn tạo một từ khóa tìm kiếm trên trang ICTnews.vn. Bạn click chuột phải vào ô tìm kiếm, chọn “Tạo một từ khóa cho cách tìm kiếm này”. Sau đó sẽ có một cửa sổ đánh dấu hiện lên, bạn chọn thư mục lưu lại và ghi từ khóa vào ô từ khóa ví dụ: ICT sau đó nhấn Lưu (Save). Khi cần tìm thông tin gì đó trên trang này bạn chỉ cần gõ “ICT thông tin cần tìm”, ví dụ: ICT iphone, bạn sẽ có kết quả về iPhone trên onenews.vn.

2. Mở nhiều trang Web khi khởi động

Bạn sẽ có thể tạo nhiều trang chủ “Homepage” với tính năng này vì nó cho phép mở nhiều trang web mà bạn thích ngay khi mở trình duyệt.

FF_Slide2_540x386.png

Để cài đặt, bạn vào Options > General. Trong phần homepage, bạn nhập địa chỉ các trang và ngăn cách chúng bằng dấu gạch đứng “|”. Ví dụ http://www.cnet.com | http://www.facebook.com | http://..... Sau đó bạn click OK. Khi bật lại Firefox bạn sẽ thấy rất nhiều cửa sổ mở ra, mỗi cửa sổ hiển thị một trang chủ.

3. Đánh dấu một RSS feed

Nếu bạn thường xuyên đọc một trang Web, đặc biệt là các trang tin tức, bạn có thể tạo một đánh dấu (Bookmark) có thể tự động cập nhật các câu chuyện mới từ feed đó.

FF_Slide3_540x386.png

Bạn kích chuột phải vào thanh công cụ và chọn "Customize...".. Sau đó bạn kéo và thả biểu tượng RSS ra thanh công cụ. Sau đó, bạn tới trang Web mà bạn muốn và click vào nút RSS trên thanh công cụ. Sau đó, nhập tên cho bookmark và click “Add”.

4. Chuyển các cài đặt sang máy mới

FF_Slide4_540x386.png

Thay vì phải điều chỉnh lại các bookmarks, mật khẩu và nhiều cài đặt khác mỗi khi bạn sử dụng một máy tính khác, thì với tính năng này bạn có thể chuyển tài khoản và cài đặt của bạn sang máy mới. Bạn chỉ cần cài Firefox vào USB và cắm vào chiếc máy tính khác mà bạn sử dụng. Màn hình cài đặt sẽ hướng dẫn bạn cách chuyển những cài đặt của bạn sang máy tính mới.

5. Sử dụng phím tắt và chuột

Firefox xây dựng rất nhiều những phím tắt giúp bạn thao tác nhanh hơn. Ví dụ, phím tắt chuyển các tab, mở lại một tab đã bị đóng…Bạn có thể vào trang http://support.mozilla.com/en-US/kb/Keyboard%20shortcuts để xem danh sách các phím tắt.

FF_Slide5_540x386.png

Fire fox cũng có các cách dùng chuột rất hữu ích. Ví dụ, Shift + lăn chuột xuống để quay lại trang trước, và alt + lăn để cuộn từng dòng. Những động tác dùng chuột cải tiến hơn như tải lại trang bằng cách vẽ một đường tròn bằng chuột. Bạn có thể xem thêm về cách dùng chuột ở trang http://support.mozilla.com/en-US/kb/Mouse%20shortcuts.


(Theo Cnet)


4 lí do nên nâng cấp Firefox 6

đăng 22:19 10-09-2011 bởi Hoang Thi Hang Yen   [ cập nhật 09:37 30-09-2011 bởi Vu Tien Dat ]

4 lí do nên nâng cấp Firefox 6


Firefox 6 có rất nhiều thay đổi và đây là một vài lí do nổi bật nhất khiến người dùng nhanh chóng nâng cấp phiên bản trình duyệt mới được ra mắt này.

Tốc độ tải trang nhanh hơn

Lí do đầu tiên là tốc độ trình duyệt. Mozilla cho biết Firefox 6 khởi động nhanh hơn so với những phiên bản trước đó, đặc biệt khi sử dụng tính năng Panorama. Tính năng cho phép tổ chức các thẻ tab theo nhóm, giúp thời gian mở trình duyệt nhanh lên đáng kể.

Tuy nhiên, hoạt động nói chung của Firefox vẫn có nhiều vấn đề. Dan Howley đã chỉ ra trên tạp chí Laptop rằng Firefox 6 còn chậm hơn so với phiên bản trước theo kết quả thử nghiệm chương trình Peacemaker.

Chương trình này đánh giá hoạt động của trình duyệt sử dụng Java. Điểm càng cao thể hiện hoạt động càng cao. Firefox 6 đạt 4.572 điểm thấp hơn so với trình duyệt Firefox 5 (4.733 điểm). Trong khi đó Internet Explorer 9 được 4830 điểm còn Chrome 8.400 điểm.

Phương pháp tính điểm này vẫn chưa thật chính xác, do vậy có thể Firefox 6 có điểm thấp hơn so với phiên bản trước, nhưng người dùng lại cảm thấy nhanh hơn.

Nổi bật tên miền của URL

Lí do tiếp theo để nâng cấp lên Firefox 6 là cách hiển thị URL trong thanh địa chỉ. Phần tên miền gốc của trang web sẽ nổi bật hơn so với với phần địa chỉ còn lại. Ví dụ, trong đường dẫn http://www.mozilla.com/en-US/firefox/6.0/releasenotes/, phần www.mozilla.com sẽ hiển thị đậm hơn để người dùng dễ phân biệt.

Đây là một tính năng đã từng có trong Chrome và IE 9. Cải tiến này có thể là rất đơn giản nhưng nó chỉ cho người sử dụng xác định được các tên miền hợp pháp.

Tính năng bảo mật linh hoạt hơn

Bảo mật Firefox 6 là tính năng yêu cầu sự cho phép từ người sử dụng. Nó cho phép người dùng xác lập sự cho phép cho các trang web cụ thể bằng cách gõ "about:permissions" vào thanh địa chỉ. Sau đó, họ sẽ thiết lập các chấp nhận cookie, chia sẻ địa điểm, pop-up, mật khẩu và dung lượng lưu trữ.

Tính năng này cho phép người dùng quản lí bảo mật đối với một trình duyệt, cũng như cho phép họ gỡ bỏ những giới hạn cho những trang web mà họ thấy tin cậy. Người sử dụng có thể đưa ra những giới hạn như một cài đặt bảo mật mặc định để tránh bị tấn công từ các trang mạng có mã độc mà không cần phải lo lắng sẽ ảnh hưởng đến những trang tin cậy khác.

Miễn phí

Lí do thứ 4 để nâng cấp lên Firefox 6 là nó miễn phí, ít thuyết phục nhất nhưng cũng khó bỏ qua nhất.


(Theo ICTNews)

Foxit Reader ra mắt phiên bản 5.0

đăng 22:08 10-09-2011 bởi Hoang Thi Hang Yen   [ cập nhật 09:40 30-09-2011 bởi Vu Tien Dat ]

Foxit Reader ra mắt phiên bản 5.0

Foxit Reader, được biết đến là phần mềm hỗ trợ đọc file PDF tốt thứ hai hiện nay sau Adobe Reader, đang nỗ lực cải thiện vị trí của mình trên thị trường bằng việc cung cấp nhiều cải tiến mới trong phiên bản 5.0.


Phiên bản mới này được trang bị thêm tính năng XFA form-filling cho phép người sử dụng có thể hoàn chỉnh một khuôn mẫu PDF mà không cần phải in ra và điền bằng tay. Ngoài ra Foxit 5.0 còn có những cải tiến về giao diện người dùng khi có 2 lựa chọn giao diện ribbon hoặc menu sổ drop-down truyền thống cho khác hàng. Bạn cũng có thể tùy chỉnh phím tắt, chế độ xem trước preview trong Outlook và thumbnail trong IE hoặc chế độ Split View.

Nhìn chung, chương trình cung cấp các tính năng một cách linh hoạt và hữu ích. Tính năng bảo mật cũng được chú trọng, việc mở các tài liệu được bảo vệ bởi Active Directory Rights Management Service.

Trong khi đó, Foxit cũng đã cập nhật phiên bản thương mại PhantomPDF Suite 5.0 với 3 phiên bản khác nhau. Một điểm chung là các phiên bản này đều cung cấp chức năng tạo file PDF nhanh hơn các phiên bản trước đó.




Foxit PhantomPDF Express cung cấp các chức năng cơ bản nhất cho việc chú thích chứng thực chữ kí số, mã hóa mật khẩu. Foxit Phantom Standard cho phép bạn sửa nội dung các file PDF. Trong khi đó với phiên bản Finally Foxit PhantomPDF Business người dùng được cung cấp khả năng chỉnh sửa tốt hơn và tạo bản quyền cho file với Microsoft Active Directory RMS. Cả 3 phiên bản trên đều cho phép người dùng tạo file PDF trực tiếp từ Microsoft Office.




Khách hàng doanh nghiệp cũng có thể sử dụng Foxit PhantomPDF Plug-in SDK mới được phát hành, cho phép họ phát triển các công cụ của riêng mình dựa trên nền tảng Reader và Phantom.

Tải phần mềm tại đây

Phần mềm: Foxit Reader

Tác giả: Foxit Software
Phiên bản: 5. Giấy phép: Miễn phí, Thương mại
HĐH: Windows 2000/XP/Vista/7
Trang chủ: www.foxitsoftware.com
Thông tin cập nhật lần cuối ngày 29/5/2011 1:01




(Theo CNet)

1-10 of 13