ICT VIET NAM

229ngày kể từ khi
Quốc Khánh nước CHXHCN Việt Nam

Thống kê truy cập

10 Người đàn bà làm chấn động thế giới

đăng 01:00 25-10-2012 bởi Vu Tien Dat   [ đã cập nhật 01:33 25-10-2012 ]

10 Người đàn bà làm chấn động thế giới

Nữ thái giám - Bí ẩn trong cung đình Trung Hoa

đăng 02:51 18-04-2012 bởi Vu Tien Dat   [ đã cập nhật 02:53 18-04-2012 ]

Nữ thái giám - Bí ẩn trong cung đình Trung Hoa

Tóm tắt: Xưa nay người ta vẫn nghĩ, các Thái giám (hoạn quan) ở trong hoàng cung của triều đình phong kiến chỉ là những người đàn ông đã bị thiến (tịnh thân). Nhưng đó chỉ là hiểu theo nghĩa hẹp, còn trên thực tế thì có cả các nữ thái giám.

Xưa nay người ta vẫn nghĩ, các Thái giám (hoạn quan) ở trong hoàng cung của triều đình phong kiến chỉ là những người đàn ông đã bị thiến (tịnh thân). Nhưng đó chỉ là hiểu theo nghĩa hẹp, còn trên thực tế thì có cả các nữ thái giám.

Mặc dù, nam thái giám là chủ yếu và rất có thế lực, thậm chí các thái giám như An Đức Hải, Lý Liên Anh đã làm loạn cả hậu cung nhà Thanh, nhưng việc sử dụng nữ thái giám để quản lý hậu cung vẫn là một cách lựa chọn được coi là sáng suốt của các hoàng đế. Vì vậy, bên cạnh các nam hoạn quan như truyền thống, trong một số triều vua, người ta thấy xuất hiện cả các nữ thái giám.


Nếu như các nam thái giám phải chịu “tịnh thân”, tức là phải chịu đau đớn để cắt bỏ sinh thực khí trước khi vào cung, thì đối với các nữ thái giám, việc tác động làm họ trở thành một phụ nữ không hoàn chỉnh có vẻ phức tạp hơn nhiều.

Đã có một số giả thuyết về giải pháp “hoạn” họ như khâu hẹp hay làm biến dạng sinh thực khí... nhưng giả thuyết có vẻ hợp lý được nhà văn Lỗ Tấn gọi là “U bế” trong tác phẩm “Bệnh hậu tạp đàm”.

Đây là một biện pháp rất tàn bạo: người ta dùng gậy nhỏ đập vào bụng người phụ nữ để cho dạ con sa xuống, không thể thụ thai, mang thai và sinh đẻ được.


Trong xã hội phong kiến xưa kia, nhất là ở Trung Quốc - một xã hội nổi tiếng về trọng nam khinh nữ, thì việc phụ nữ làm quan rất hiếm. Việc trong hậu cung xuất hiện những nữ quan, rõ ràng là xuất phát từ việc các hoàng đế đề phòng những nam thái giám ở cạnh họ mà thôi. Nếu không thì đâu đến lượt phụ nữ được vào cung làm quan.

Nữ quan - tức nữ thái giám theo cách gọi của dân gian - đã có từ rất sớm. Đời Hán có tài nữ Ban Chiêu nổi tiếng, đến đời Tống thì có nữ Tiến sỹ Lâm Diệu Ngọc, đời Đường có nữ Hiệu thư Tiết Đào, đời Minh có “Nữ năng nhân” Vạn Quý Nhi. Họ đều là các nữ quan trong cung, đều là các nữ thái giám.

Lịch sử của nữ quan ở Trung Quốc có từ rất lâu. Trong quy định về chế độ quan chức đời Chu cách đây 3000 năm đã thấy ghi về nữ quan.

Trong sách “Chu lễ. Thiên quan” có mục “Nữ lại” trong đó ghi rõ: Nữ lại là chức lễ chủ quản vương hậu, nắm nội trị, nội chính trong cung. Nhà Chu đặt ra 8 chức nữ quan.

Đời Hán có các nữ quan: Ngự trưởng, Cung trưởng, Trung cung học sự lại; đời Đường hoàn thiện hơn, có tới 6 nữ Thượng quan, gồm: Thượng cung, Thượng nghi, Thượng phục, Thượng thực, Thượng tẩm, Thượng công, ngoài ra còn có Tư ký, Điển ký, Chưởng ký... tổng cộng có tới 200 nữ quan.


Đến đời Tống có Tư quan lệnh, 6 Thượng thư, 24 tư chính, châu lại...Sang triều Minh thì chế độ nữ quan còn hoàn thiện hơn cả đời Đường.

Nữ quan hoàn toàn khác với các cung phi, diện mạo, sắc đẹp không phải là thứ chủ yếu ở họ, họ vào cung không phải để làm phi tần cho hoàng đế, ban đầu cũng không có quan hệ tình dục với hoàng đế.

Như thời Minh, nhiều nữ quan khi được vào cung tuổi đã 30 - 40, đều sống độc thân. Nhiệm vụ của nữ quan rất tạp nham: người thì nắm văn ấn, chuyên ghi chép việc ăn ngủ nghỉ của hoàng đế theo giờ giấc, kể cả việc “lâm hạnh” với ai, tình hình thụ thai của phi tần; có người phụ trách việc dọn dẹp vệ sinh; có người lại chuyên phụ trách việc truyền thụ kỹ xảo giường chiếu cho hoàng đế, tiến hành dạy dỗ chuyện phòng the bằng cách tự lấy mình để dẫn dắt cho các hoàng thái tử.

Dĩ nhiên, khi các hoàng thái tử nổi hứng thì các nữ quan có thể trở thành công cụ tình dục cho họ, có người thậm chí trở thành hoàng phi...

Nhưng dù nữ quan nhiều đến mấy cũng không quản được hậu cung của hoàng đế. Những chuyện rắc rối, vượt rào của các cung phi thì triều nào cũng có, làm sao mà quản được trái tim của phụ nữ?

Hoàng đế Chu Nguyên Chương nhà Minh quản hậu cung rất nghiêm. Cung phi nào mà nghe nói có chuyện léng phéng là ông cho xử tử ngay.

Các bà phi Quách Ninh, Lý Hiền, Cát Lệ đều bị xử chết vì chuyện vượt rào tư tình đến tai hoàng đế. Họ bị nhét vào túi gai mang chôn ngoài đồng, thế nhưng sau đó trong hậu cung vẫn không dứt lan truyền những tin đồn về bà phi nọ kia “ăn vụng”.

Sau khi dưới cống nước có một xác hài nhi bị vứt, Hồ Phi, người rất được Chu Nguyên Chương sủng ái bị ông nghi ngờ và giết chết, về sau người ta đã chứng minh được là bà bị chết oan.

Hồ Thái Hậu thời Bắc Ngụy cưỡng bức đàn ông phải tư thông với mình. Sách “Lương thư. Dương Hoa truyện” ghi: Có một chàng trai trẻ là Dương Hoa đẹp trai khỏe mạnh, Hồ Thái Hậu nghe tin, sai bắt về để phục vụ, Dương Hoa sợ quá phải bỏ trốn. Thái Hậu tiếc quá, đặt ra một khúc ca gọi là “Dương Bạch Hoa ca từ”, bắt người trong cung ngày đêm ngâm nga, nghe rất não nề.

Những hành vi lăng loàn của cung phi như kiểu Hồ Thái Hậu hoàn toàn có thể hiểu được. Mấy chục, có khi cả trăm người phụ nữ đang kỳ thanh xuân hừng hực sinh lực mà chỉ có mỗi một người đàn ông là hoàng đế thì làm sao có thể làm họ thỏa mãn được. Chính vì vậy trong cung xuất hiện nhiều cung phi luyến ái đồng tính.

Đời Minh Hiến Tông, một cung nữ không chịu cảnh vò võ một mình đã bắt hai cung nữ ăn mặc giả trai, đêm đêm lên giường vày vò cho thỏa, không ngờ bị hoàng đế bắt gặp, hai cung nữ đáng thương kia đã bị lôi ra đánh đến chết.

Có cung phi dù biết rõ nam thái giám là người “vô dụng”, nhưng vẫn muốn cùng ăn, cùng uống như vợ chồng. Đời Minh, chuyện thái giám tư thông với cung phi không phải là điều hiếm.

Một lần, Minh Thành Tổ Chu Lệ nổi giận cho giết chết các cung nữ vì chuyện đó. Trước khi chết, một cung nữ lớn tiếng mắng vua: Ông là kẻ liệt dương, chúng tôi tư thông với thái giám thì có tội tình gì?

Một số nữ quan còn đóng vai trò quản lý đời sống tình dục trong cung. Tuy thế lực không mạnh như hoạn quan, nhưng một khi nữ quan và hoạn quan cấu kết với nhau thì lại có ảnh hưởng rất lớn, thậm chí gây nên họa trong cung.

Đời Minh, công chúa sau khi lấy chồng phải vào ở tại Thập vương phủ trong cung. Khi đó, hoàng đế cử đến cho con gái một nữ quan già luôn ở bên cạnh để hầu hạ. Nữ quan này gọi là “quản gia bà”, có quyền quản lý khá lớn.

Phò mã ở ngoài cung muốn vào vui vầy với vợ là công chúa ở trong cung, luôn phải đối mặt với một vật cản lớn là “quản gia bà”, phải hối lộ cho bà ta nhiều tiền bạc mới được vào, vì nếu không có lời truyền cho phép ra ngoài cổng thì phò mã không thể vào với vợ được.

Vì thế đã xảy ra nhiều chuyện bất hạnh. Người chồng của công chúa em gái hoàng đế Minh Thần Tôn, do hối lộ không đáp ứng yêu cầu của “quản gia bà” nên không được bà ta cho vào với vợ, kết cục mắc chứng suy nhược thần kinh mà chết khiến công chúa phải ở góa cả đời.

Nữ thái giám Một lần, công chúa yêu của Minh Thần Tôn cho gọi phò mã vào cung nhưng khi đó viên nữ quan quản lý lại đang mải uống rượu vui thú với tay hoạn quan mà bà ta đem lòng yêu.

Đợi mãi không thấy nữ quan truyền đạt cho vào, phò mã cứ vào với vợ. Sau đó, khi biết chuyện, nữ quan rất tức giận bèn giả cớ say rượu lôi phò mã khỏi giường đuổi cổ ra ngoài cung rồi mắng mỏ công chúa một hồi.

Công chúa rất tức, định sáng hôm sau sẽ bẩm báo với cha mẹ, nhưng không ngờ nữ quan lại cáo hơn, “kẻ ác đi cáo giác trước”, nên khi công chúa mới gặp mẹ chưa kịp mở miệng đã bị bà chửi cho một chặp.

Phò mã sau khi bị đuổi khỏi cung, định vào để thanh minh với nhạc phụ, nhạc mẫu, nào ngờ tay hoạn quan “bồ” của nữ quan đã cử người đợi sẵn đánh cho một trận tơi tả.

Vụ việc được làm to chuyện, phò mã bị buộc tội vô lễ, bắt đi học lại lễ nghi phép tắc và phạt 3 tháng không được vào cung với vợ. Bà nữ quan được điều đi giữ chức khác, còn gã hoạn quan thì chẳng hề hấn gì.

Còn có một loại nữ quan khác trong cung là những nữ y, gọi là “Y bà”. Trong cung cũng có các quan ngự y nam, nhưng họ chỉ khám bệnh cho cánh đàn ông là chính, khi khám bệnh cho phụ nữ họ phải khám gián tiếp. Vì vậy, các nữ lang y được tuyển chọn vào cung để khám bênh, điều trị cho hậu, phi, các công chúa...

Nhìn chung, những nữ y được tuyển chọn vào cung đều có tố chất cao, thái độ làm việc nghiêm túc. Họ dùng y thuật của mình để giúp điều trị những chứng bệnh khó nói cho cánh phụ nữ trong cung, giúp họ kìm nén chế áp tình dục, có khi lại giúp tăng cường dục tính, dưỡng thai thậm chí phá thai.

Tuy nhiên, xét trong sử sách Trung Quốc thì không thấy có ghi chép chuyện nữ y can thiệp chuyện chính trị cung đình hay gây nên đại loạn.

Nguồn lichsu.vn)

***

Về chuyên mục LỊCH SỬ

Về chuyên mục LỊCH SỬ THẾ GIỚI

Hiện tượng hoạn quan và những bí ẩn 4000 năm

đăng 07:06 08-10-2011 bởi Hoang Thi Hang Yen   [ cập nhật 07:11 08-10-2011 bởi Vu Tien Dat ]

Hiện tượng hoạn quan và những bí ẩn 4000 năm

Tóm tắt: Không chỉ tại các triều đình phong kiến Trung Hoa xưa mà ngay tại triều đình của các quốc gia phương tây và Châu Phi từ 4000 năm về trước, hình thức “tĩnh thân” ghê rợn hay còn được gọi thiến bộ phận sinh dục của nam giới đã được thực hiện nhằm giữ một hậu cung trong sạch.


Không chỉ tại các triều đình phong kiến Trung Hoa xưa mà ngay tại triều đình của các quốc gia phương tây và Châu Phi từ 4000 năm về trước, hình thức “tĩnh thân” ghê rợn hay còn được gọi thiến bộ phận sinh dục của nam giới đã được thực hiện nhằm giữ một hậu cung trong sạch.

Từ trước tới nay, khi nhắc tới cụm từ “hoạn quan” là ai cũng nghĩ tới những nam giới bị khiếm khuyết bộ phận sinh dục, được sử dụng để làm việc trong cung vua chúa tại Trung Quốc. Tuy nhiên, không chỉ tại các triều đình phong kiến Trung Hoa xưa mà ngay tại triều đình của các quốc gia phương tây và Châu Phi từ 4000 năm về trước, hình thức “tĩnh thân” ghê rợn này đã được thực hiện nhằm giữ một hậu cung trong sạch.

Châu Phi cũng có hoạn quan

Từ hoạn quan hay thái giám - eunuch vốn bắt nguồn từ Hy Lạp cổ eunouchos, nghĩa là “giữ giường”. Tại nhiều di tích ở Ai Cập còn lưu giữ đến ngày nay, người ta đã phát hiện được những hình ảnh về những người nô lệ bị hoạn nhằm phục vụ cho những phu nhân của các gia đình giàu có.

Những hoạn quan cuối cùng của triều đình phong kiến Trung Quốc

Những dấu tích từ những di tích này cho thấy hiện tượng hoạn quan đã từng tồn tại ở Ai Cập cách đây khoảng 4.000 năm. Những người trở thành hoạn quan thường là nô lệ hoặc là kẻ phạm tội. Theo hình luật của Vương quốc Assyrie - khu vực Lưỡng Hà (1450-1250 TCN), nếu người chồng bắt được vợ mình đang ngoại tình với kẻ khác, anh ta có thể trừng phạt kẻ tình địch bằng cách thiến để biến hắn trở thành hoạn quan.

Thời Ai Cập cổ đại, nam giới bị thiến lại khá được trọng dụng là vì ở một số nhà thờ, người ta sử dụng những chàng trai có giọng nam cao vút như con gái để hát trong dàn đồng ca. Những ca sinh này sẽ được tiến hành tĩnh thân từ khi còn nhỏ vì người ta tin rằng giọng trong trẻo của họ sẽ khiến cho Thiên Chúa vừa lòng hơn những ca sinh phái nữ. Cũng vì nguyên nhân trên mà trong thời Trung cổ phụ nữ không được gia nhập các ca đoàn đặc biệt này. Thậm chí, để hết lòng phục vụ Thiên Chúa, nhiều người trong họ đã không chờ ban phát hình thức tĩnh thân mà tự hoạn để giữ được giọng hát trong trẻo như con gái.
 

Trong một cuốn sách có tên “Bí mật hoạn quan” của một học giả Nhật Bản có viết, thời Ai Cập cổ đại, một số người được gọi là tăng lữ sống tại các đền chùa đã bỏ tiền ra để mua các trẻ em trai với giá rẻ, sau đó đem thiến và bán lại cho các gia đình quý tộc giàu có nhằm thu món lời lớn. Sở dĩ là ở thời này người ta chuộng mốt dùng nam giới bị thiến là vì những người đàn ông này sẽ làm việc một cách trung thành, tận tụy mà không hề có khả năng làm hại đến những người phụ nữ trong các gia đình quý tộc.
 

Hoạn quan ở Ấn Độ và Hy Lạp

Ở Ấn Độ, người ta gọi những người đàn ông bị hoạn với những cái tên khác nhau như tĩnh thân hay yêm hoạn. Thường thì dạng người này được chia làm ba loại: loại bẩm sinh lúc đẻ ra có dương vật nhưng không có dịch hoàn, loại không có cả dương vật lẫn dịch hoàn và loại trở thành yêm hoạn sau khi giải phẫu. Ở Ấn Độ trước đây có những người chu du khắp nơi với mục đích... thiến người khác để kiếm ăn. Phương pháp của họ rất giản dị là buộc chặt bộ phận sinh dục bằng một mảnh băng rồi cắt xoẹt đi bằng một con dao thật sắc.

Một số hình ảnh hoạn quan bằng tượng tại các bảo tàng lịch sử của Trung Quốc

Theo sử sách Ấn Độ còn ghi lại, đã có thời hoạn quan trở thành một thứ “mốt” phát triển đến cực thịnh tại đất nước này. Khi được thiến để trở thành các hoạn quan trong triều đình, những người này sẽ được nhận những ưu đãi mà người bình thường khác không thể có được. Ví như được cắt cử trông coi các kho báu tư nhân hoặc là hoạn quan toàn quyền về giáo dục, tài chính. Thậm chí khi xuất cung, họ có thể thoải mái ăn uống và đi lại mà không hề mất một đồng hào nào.


Tại một số địa phương ở Ấn Độ do tin vào truyền thuyết nên có nhiều nam giới quan niệm nếu giữ mình trong sạch thì sẽ dễ được lên thiên đàng. Vì thế nhiều nam nhân của Ấn Độ xưa đã tự nguyện được thiến để trở nên “tinh khiết” cho đến lúc chết. Không những thế, việc cắt dương vật còn mang một ý nghĩa Tôn giáo sâu xa khác. Ở một số vùng theo Thiên chúa giáo, nhiều đảng phái đã khuyến khích các giáo đồ tự nguyện cắt bỏ bộ phận sinh dục, coi đó như là một hành vi dâng hiến cho Thiên Chúa. Và những nam giới cắt bỏ hoàn toàn bộ phận sinh dục được mang nhãn hiệu "người mang dấu ấn của Vương triều".
 

Thời kỳ “cực thịnh” của hoạn quan Ấn Độ kéo dài tới những năm 90 của thế kỷ 20. Ở thời điểm đó, tại các thành phố lớn của Ấn Độ như Newdelhi, Mumbai… vẫn còn tới khoảng 1 vạn hoạn quan. Họ có một số đặc quyền để lại từ mấy thế kỷ trước, như có thể đi xe công cộng không phải trả tiền.
 

Còn ở Hy Lạp, vào thời cổ đại, nhà lịch sử nổi tiếng đương thời Herodotus trong cuốn sách “Lịch sử” cũng nổi tiếng của mình đã ghi chép một số tình hình hoạn quan trong cung nhà vua. Heroditus còn chỉ ra, nguồn hoạn quan Hy Lạp lúc đó là từ đế quốc Ba Tư. Hơn nữa tại Hy Lạp lúc đó cũng đã xuất hiện những thương nhân chuyên buôn bán trẻ em. Bọn này đi khắp nơi dụ dỗ trẻ em vị thành niên, sau khi thiến các em liền truyền tay nhau bán cho nhà vua thu những món lợi kếch xù. Có lẽ đây cũng là những cuộc mua bán nô lệ sớm nhất trên thế giới.
 

Vào thế kỷ thứ 12 đến 15 trước công nguyên, lực lượng hoạn quan Hy Lạp đã trở nên rất đông đảo và phát triển một cách cực thịnh. Trong cuốn sách “Thông sử Ả Rập” của một học giả Mỹ được xuất bản trong thời gian gần đây cho biết: “Đến đầu thế kỷ 8, chế độ hoạn quan tại đế quốc Hy Lạp đã cùng hoàn thành với chế độ khuê phòng. Tại thời điểm phát triển cực thịnh, một phần ba thủ đô Athen được dành làm nơi ở cho họ hàng, thái giám và quan lại đặc biệt của vương triều sử dụng. Theo một số sách sử có liên quan, thái giám da trắng lúc đó được gọi là Selamlik, ngoài ra còn có khoảng 600-800 thái giám da đen, quản lý công việc thường ngày của các hậu phi trong cung, do họ đã mất công năng về giới tính, nên được phép trực tiếp tiếp xúc với các hậu phi”.
 

Hoạn quan như con thú nuôi trong cung cấm

Căn cứ vào ký hiệu, hình vẽ trên các hiện vật cổ đã khai quật được, giới 
sử học Trung Hoa phỏng đoán rằng từ thời tiền sử đã có hiện tượng thiến hoạn đàn ông. Vì người ta thấy gia súc bị thiến bao giờ cũng dễ nuôi và khỏe mạnh hơn nên đã quyết định đem thiến nô lệ, tù binh đàn ông để dùng họ vào các công việc trong nhà, cung điện, dinh thất... và thường là để canh gác số thê thiếp đông đảo của chủ nhân.


Sau này không còn tù binh, các ông hoàng bà chúa phong kiến đành phải dùng dân thường bị thiến. Sử sách Trung Hoa cuối đời Minh (1368-1644) chép rằng, trong cung lúc đó chứa gần 9.000 cung nữ nhưng có tới hơn 100.000 hoạn quan. Cho đến năm 1922, sau cách mạng Tân Hợi, khi Phổ Nghi còn giữ ngôi, số hoạn quan vẫn còn 1.137 người.

Ở Trung Quốc, ngay từ khi được vài tuổi, những đứa bé trai có ngoại hình “xinh xắn” đều được bố mẹ có nguyện vọng cho tĩnh thân để tiến cử vào hậu cung. Những đứa trẻ này vì đã tĩnh thân từ khi còn rất nhỏ nên được coi là rất trong sạch chưa vương vấn một ý niệm tính dục nào và thường được cung nhân, phi tần nuôi như người ta nuôi một con vật yêu thích. Chúng cũng được tự do hơn khi được phục vụ các cung nhân trong khuê phòng hay trong buồng tắm ở những khung cảnh kín đáo nhất. Tuy nhiên khi đã lớn, họ vẫn bị thay thế bằng những thái giám nhỏ tuổi hơn và được điều động ra làm công việc ở bên ngoài khu vực phụ nữ sinh sống.


Nhiệm vụ của hoạn quan là làm đủ thứ việc trong nội cung, như trà nước, xe kiệu, chợ búa, hầu hạ hoàng đế, thái hậu, phi tần, truyền mệnh lệnh vua, liên lạc thông tin và canh phòng, bảo vệ an ninh các cung điện. Thái giám hầu cận bên vua bao giờ cũng được tuyển chọn rất kỹ, còn lại là làm các việc vặt như quét tước nhà cửa, chăm sóc cây cối, cất giữ hóa phẩm... Như vậy, thái giám là một hệ thống nội quan chỉ phục vụ công việc hàng ngày trong cấm cung, không liên quan gì đến triều đình.
 

Trong 
lịch sử Trung Hoa, mặc dù những người bị hoạn đều mất khả năng sinh dục, tuy nhiên vẫn có những người thèm khát và đòi hỏi, nhất là những người bị thiến sau khi đã đến tuổi trưởng thành. Trong nhiều trường hợp, chính họ là nạn nhân của những cung phi lâu ngày không được gặp gỡ hoàng đế nên bị dồn nén, nhất là những thái giám còn nhỏ tuổi. Không những thế, trong một vài triều đại phong kiến, hoạn quan còn được phép ngủ chung với đàn bà trong cung để cho các phi tần có chút khí dương nhằm tránh lại bệnh tật(?)

(Nguồn lichsu.vn)

***

Về chuyên mục LỊCH SỬ

Về chuyên mục LỊCH SỬ THẾ GIỚI

Bí mật việc tuyển chọn mỹ nữ hậu cung Trung Quốc

đăng 01:17 04-10-2011 bởi Hoang Thi Hang Yen   [ cập nhật 01:26 04-10-2011 bởi Vu Tien Dat ]

Bí mật việc tuyển chọn mỹ nữ hậu cung Trung Quốc

Những người phụ nữ có thể vào được hậu cung của Hoàng đế rồi làm phi tần không nhiều. Trong các cuộc tuyển mỹ nữ được thực hiện trên khắp cả nước, những người được lựa chọn đều là những người đã trải qua những đợt kiểm tra cực kỳ nghiêm ngặt. Một hội đồng cấp hoàng gia được thành lập để tiến hành tìm hiểu, kiểm tra những cô gái này một cách toàn diện từ độ tuổi, sinh lý tới tâm lý....

1. Trong quá trình kiểm tra này, mỗi một bước đều được làm rất cẩn thận và tỉ mỉ. Tiêu chuẩn nói chung là dung mạo xinh đẹp, vóc dáng cao ráo, không được phép có bất cứ khuyết điểm nào về sinh lý. Chẳng hạn như chỉ cần một nốt ruồi nhỏ trên má thì cô gái đó coi như vĩnh viễn bị loại khỏi giấc mơ hoàng cung xa xỉ. Về độ tuổi thì đối tượng được lựa chọn tuyển vào cung là những cô gái trẻ tuổi dưới 20. Tuy nhiên, tùy từng mục đích, nhu cầu cũng như quy chế của các triều đại mà quy định về độ tuổi cũng có khác nhau.

Chẳng hạn triều nhà Hán khi tuyển mỹ nữ đều yêu cầu phải là những cô gái tuổi trên 13 và dưới 20. Đến thời Tam Quốc, vua nước Ngô là Tôn Hạo thì ra quy định, các mỹ nữ được chọn đưa vào cung thì tuổi nhất thiết phải là 15, không hơn không kém. Đến thời nhà Bắc Tề thời Nam Bắc Triều, yêu cầu các mỹ nữ phải có độ tuổi từ 14 trở lên, 20 trở xuống. Đến thời Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, độ tuổi được nâng lên một chút, từ 15 trở lên và 20 tuổi trở xuống.
 

Đàn ông Trung Quốc có tâm lý thích các cô gái còn trinh tiết, người Trung Quốc gọi đùa là tâm lý “trâu già thích ăn cỏ non”. Theo quy luật sinh lý thông thường, 13 tuổi là độ tuổi các cô gái dậy thì, cũng là độ tuổi đẹp nhất. Chính vì vậy, người Trung Quốc thời xưa mới cho rằng, đây là độ tuổi thích hợp nhất để lựa chọn các mỹ nữ cho Hoàng đế.
 

Tuy nhiên, cũng có trường hợp các Hoàng đế giới hạn tuổi của các mỹ nữ được đưa vào cung xuống chỉ còn 11 tuổi. Đó là chuyện xảy ra vào đời vua Minh Thế Tông Chu Hậu Thông. Mặc dù Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương khi lên ngôi đã xác lập quy chế tuyển mỹ nữ tuổi phải từ 15 trở lên, tuy nhiên, vốn là một Hoàng đế biến thái nổi tiếng trong 
lịch sử triều Minh, những quy chế của tổ tông nào có thể trở thành hòn đá ngáng đường với ông ta được. 

Theo ghi chép của “Minh Hội Yếu”, một bộ sách 80 quyển ghi chép về điển chương nhà Minh thì Hoàng đế Chu Hậu Thông từ khi lên ngôi cho tới khi từ giã cõi trần thực hiện rất nhiều lần tổ chức các đợt tuyển mỹ nữ. 


Các cô gái xinh đẹp trên khắp cả nước có độ tuổi từ thấp nhất là 11 tuổi và cao nhất không quá 16 đều phải tham gia các đợt tuyển này. Vì sao Chu Hậu Thông lại bất chấp quy chế của tổ tiên mình để tuyển chọn những thiếu nữ còn quá trẻ như vậy vào cung phục vụ? Nhiều người nói rằng, nguyên nhân là do Chu Hậu Thông tin vào các loại “xuân dược” và thuốc trường sinh bất lão của bọn đạo sỹ. 

Theo lời bọn đạo sỹ này thì kinh nguyệt lần đầu tiên của các cô gái có thể dùng làm nguyên liệu để luyện thuốc tráng dương. Vì vậy Chu Hậu Thông đã cho tuyển những cô gái có độ tuổi trước khi phát dục vào cung để các đạo sỹ có thể có một nguồn nguyên liệu luyện đan dồi dào. Nhiều cô gái chưa tới tuổi dậy thì còn bị bọn đạo sỹ hạ lệnh dùng thuật thúc kinh để có nguyên liệu làm thuốc. 


2. Từ trường hợp biến thái và bệnh hoạn của Chu Hậu Thông có thể thấy những tiêu chuẩn, quy định trong việc tuyển chọn mỹ nữ thực tế chỉ là mang tính tương đối. Trong những trường hợp cụ thể, độ tuổi không phải là thứ cần phải tính đến. Chỉ cần có nhan sắc và lọt vào mắt xanh của Hoàng đế thì đến gái góa cũng có thể vào cung. Xem như vậy thì độ tuổi là điều kiện cơ bản tuy nhiên không phải là điều kiện quan trọng nhất. 


Trong các tiêu chuẩn tuyển mỹ nữ của hậu cung Trung Quốc thời cổ đại thì dung mạo và nhân phẩm mới là hai thước đo quan trọng nhất. Trong đó, dung mạo là chỉ những điều kiện về sinh lý còn nhân phẩm là điều kiện mang cách nhìn chủ quan. Trong những tình huống thông thường, điều kiện được các Hoàng đế Trung Quốc quan tâm nhất chính là điều kiện về mặt sinh lý.
 

Các mỹ nữ được tuyển đưa vào hậu cung của Hoàng đế có cần kiểm tra cơ thể hay không? Câu trả lời đương nhiên là có. Sách “Hậu Hán Thư – Hoàng hậu kỷ”, quyển số 10 có chép về việc Đông Hán Quang Vũ Đế là Lưu Tú khi còn đương chính phái đại thần giúp mình lựa chọn mỹ nữ bổ sung vào hậu cung.
 

Trong quá trình này, một trong những công đoạn không thể thiếu chính là kiểm tra thân thể. Theo ghi chép trong sách này thì phàm là những cô gái có nhan sắc đều là đối tượng tham gia tuyển chọn. Sau khi đã lọc xong đối tượng, người ta dùng xe chở toàn bộ về hậu cung để tiến hành kiểm tra và chọn lựa. 


Lần tuyển chọn này chủ yếu dựa trên dung mạo. Sau đó lại tiếp tục chọn lọc một lần nữa. Mục tiêu là kiểm tra về mặt sinh lý, thực tế là xem các cô gái có còn là trinh nữ hay không, về mặt sinh lý có bị khuyết tật nào không. Sau nhiều lần chọn lọc như vậy, người ta mới tìm và chọn ra cô gái có dung mạo xinh đẹp nhất để dâng cho Hoàng đế “sủng hạnh”.
 

Việc kiểm tra cơ thể các mỹ nữ bao gồm kiểm tra những gì? Câu trả lời là toàn bộ. Tuy nhiên, theo những gì sử sách còn ghi chép lại thì có thể khẳng định rằng, việc kiểm tra cơ thể các mỹ nữ được thực hiện cực kỳ cẩn thận tỉ mỉ và nghiêm ngặt. Người được lựa chọn phải là một mỹ nữ thực sự hoàn mỹ, không hề có tỳ vết, chỉ một vết bớt nhỏ ở ngực hay một nốt ruồi thậm chí ở cánh tay cũng ngay lập tức bị loại. 


Với những cuộc kiểm tra “sát sao” như vậy đương nhiên người thực hiện phải là thái giám. Và còn để chắc chắn rằng, Hoàng đế là người đàn ông đầu tiên sở hữu cơ thể các mỹ nữ, các thái giám thực hiện việc kiểm tra này đều là các nữ thái giám, tức các nữ quan trong hậu cung. 


“Hán tạp sự bí tân” là một cuốn sách viết khá đầy đủ về chuyện bí sử trong hậu cung nhà Hán. Trong cuốn sách này có đoạn ghi chép về “kết quả” kiểm tra cơ thể của Hoàng hậu Lương Doanh, vợ Hán Hoàn Đế Lưu Chí khi lần đầu tiên được tuyển vào cung. Sách chép rằng, Lưu Chí nghe mọi người nói rằng con gái của đại tướng quân Lương Thương là Lương Doanh dung mạo vô cùng xinh đẹp, phẩm hạnh cũng tốt, hiền thục nết na vì vậy muốn lấy Lương Doanh, phong làm Hoàng hậu. 


Lưu Chí phái một nữ quan trong hậu cung của mình tên là Ngô Hử tới phủ họ Lương để tìm hiểu tình hình, quan sát dung mạo và dáng đi của Lương Doanh. Sau đó, Lưu Chí muốn kiểm tra toàn diện cơ thể Lương Doanh trước khi quyết định. Ban đầu, Lương Doanh không đồng ý, cho rằng đó là chuyện sỉ nhục đối với con gái nhà danh giá như cô. Mãi tới khi Ngô Hử lấy thánh chỉ của Lưu Chí ra, Lương Doanh mới đành phải miễn cưỡng chấp nhận. 


Sau khi Lương Doanh đã đồng ý, Ngô Hử theo tiểu thư họ Lương tới phòng ngủ của cô. Khi cửa phòng được đóng lại, Ngô Hử cởi bỏ toàn bộ quần áo trên người Lương Doanh bắt đầu kiểm tra. Theo ghi chép của “Hán tạp sự bí tân”, đầu tiên họ Ngô bắt Lương Doanh đi vài vòng xunh quanh phòng để quan sát dáng đi. 


Tiếp đó lại bắt Lương Doanh dùng tay giữ mái tóc lên cao để lộ cổ và tai. Lúc đó, Ngô Hử  mới lại gần sờ nắn, quan sát khắp toàn thân Lương Doanh để khẳng định Lương Doanh vẫn còn là trinh nữ. Cuối cùng, Ngô Hử bắt Lương Doanh hô to nhiều lần câu: “Hoàng đế vạn tuế!” để kiểm tra giọng nói. Lương Doanh khi đó tuổi còn rất nhỏ, lần đầu tiên bị người khác bắt cởi bỏ hết quần áo rồi sờ nắn khắp người nên cảm thấy xấu hổ vô cùng, liên tục lấy tay che hết chỗ này chỗ khác bị Ngô Hử trách mắng nhiều lần.
 

Thực tế thì việc tổ chức các cuộc tuyển chọn mỹ nữ vào hậu cung của các Hoàng đế diễn ra trên khắp thế giới theo nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, có lẽ chỉ có ở Trung Quốc với một nền thống trị của các 
triều đại phong kiến kéo dài hàng ngàn năm thì việc tuyển lựa mỹ nữ cho Hoàng đế mới hình thành những tiêu chuẩn, quy chế và quy trình một cách đầy đủ và chi tiết đến như vậy. 

Phi tần trong xã hội phong kiến Trung Quốc là một nhóm người đặc biệt, gần gũi với Vua chúa và mỗi vị thường có mối quan hệ khá thân thiết với một người hoặc một nhóm thế lực trong triều. Các phi tần đôi khi có ảnh hưởng rất lớn đến cục diện quyền lực triều chính.

Cách chọn phi tần vì thế có những giai đoạn rất phức tạp. Bài viết không có tham vọng trình bày vấn đề này một cách có hệ thống, vì không có đủ tài liệu và nhất là do trình độ hiểu biết còn rất hạn chế. Vì vậy chỉ dám “cưỡi ngựa xem hoa” lướt qua một vài triều đại phong kiến xem cách các vị Thiên Tử Trung Quốc xưa chọn phi tần ra sao.

Chế độ phi tần đời Chu

Theo sử sách, sau khi trải qua các triều đại Hoàng đế, Hạ, Thương đến đời nhà Chu (11 thế kỷ trước Công nguyên), Trung Quốc chính thức bước vào xã hội phong kiến. Khi nói tới có bao nhiêu thê thiếp của hoàng đế Trung Quốc qua các triều đại phong kiến, người Trung Quốc thường dùng câu “ba cung, sáu viện, bẩy mươi hai phi” hoặc “hậu cung xinh đẹp ba ngàn người” để hình dung.

Trong  “Lễ ký” ghi chế độ hậu phi của triều nhà Chu như sau: “Thiên tử đời xưa có sáu hậu cung, ba phu nhân, chín tần hai mươi bảy thị nữ tám mươi mốt thiếp”. Có nghĩa là hoàng đế có  6 cung nương nương, 3 phu nhân. 9 phi tần, 27 thị nữ, 81 vợ, cộng tất cả lại là 126 ngưòi với các cấp bậc khác nhau. Đây là những ghi chép bằng chữ sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc về “chế độ hậu phi”.

Tây Thi thời Xuân Thu và là một trong tứ đại mỹ nhân trong lịch sử Trung Quốc

Cửu hầu thời Trụ, dâng con gái đẹp của mình cho vua Trụ, người con gái này không ưa Trụ hoang dâm, kết quả bị Trụ giết, và ngay Cửu hầu cũng bị giết rồi lấy thịt chế thành tương để trừng phạt. Nhưng cũng có những phi tần như Muội Hỷ, lợi dụng tài sắc của mình lung lạc hoàng đế làm sụp đổ cả một triều đại và sau này không ít các hoàng cung công chúa đã trở thành “món hàng giao dịch” của các hoàng đế.

Đời Tần

Nguồn gốc chọn lựa phi tần đời Tần chưa chặt chẽ. Có người là con gái chư hầu hoặc đại thần, được cha mẹ hiến cho hoàng đế. Có người bị vua chúa cướp về cũng có người nằm trong cảnh vừa dùng lễ vừa dùng vũ lực đe doạ lấy về.

Đời Hán

Đến đời Hán, phi tần được tuyển chọn từ dân gian đã thành chế độ. Trong “Hán Nghi chú” có ghi: “Mỗi năm vào đầu tháng tám, triều đình thu thuế má… của thiên hạ, và cũng nhân dịp này trưng thu cả con gái đẹp trong nước bằng cách phái 3 loại quan tới các vùng quê xung quanh Lạc Dương (thủ đô) tìm kiếm những người đẹp nhất trong số thiếu nữ từ 13 đến 20 tuổi, mang về cung”.

Những người đó phải qua một quá trình lựa chọ vô cùng khắt khe về cơ thể con người, dáng đi…  ngoài các bộ phận lộ ra ngoài như mặt mũi tay chân răng miệng, làn da, làn tóc… mà còn kiểm tra kỹ cả các bộ phận bí mật trên cơ thể xem có nở nang, đầy đặn, đảm bảo sinh con đẻ cái hay không? Thậm chí cả hơi thở, mùi nách… cũng bị soi xét rất kỹ, ai không đạt yêu cầu sẽ bị loại không thương tiếc

Phi tần lúc này đã có cấp bậc rạch ròi và  được đãi ngộ rất  cao. Ví dụ chức Nữ Thánh Nga được hưởng lương tương đương chức Quan nội hầu với 2000 thạch năm, Bát tử tương đương Trọng Tiện, 1000 thạch, Thất tử tương đương Hữu Lê trưởng 800 thạch, Trưởng tử tương đương Ngũ đại phu, 600 thạch v.v.

Hậu cung phi tần càng nhiều, công tác quản lý càng thêm khó, riêng việc bảo toàn nòi giống đích thực, việc chống tệ thông dâm, loạn dâm.. đã phát sinh bao thủ tục phiền hà.. Chế độ thái giám được sinh ra từ đó.

Đời Tây Tấn

Vũ đế Tây Tấn, Tư Mã Viêm năm 273 đã ra lệnh, khi nhà vua tuyển cung phi nhà nào đem giấu con gái sẽ phạm tội “khi quân” bị xử tử, trước khi ông ta chọn phi tần cấm dân chúng cưới vợ gả chồng… Đến năm thứ hai đã có tới hơn 5000 mỹ nữ được gọi vào cung để nhà vua lựa chọn. Ngoài ra ông ta còn tuỳ ý lùng sục các nhà dân hễ thấy cô gái nào vừa ý là xông vào nhà chiếm đoạt.

Do số cung tần mỹ nữ ngày một đông, nên mới thành lệ hoàng đế cưỡi xe dê luân phiên ngự giá mỗi đêm, và một số phi tần khôn ngoan, để được huởng ân sủng của hoàng đế đã tìm cách để lá xoan cành trúc, rắc rượu trước nhà để lôi kéo xe dê dừng lại cửa phòng, hoàng đế vào nghỉ.

Đời Đường

Những năm Khai Nguyên đời Đường, thiên hạ thái bình triều Đường cực thịnh, Huyền Tôn bắt đầu sống truỵ lạc, hàng năm đều cho tìm kiếm lựa chọn gái đẹp vào cung, những người được tuyển vào cung nhưng không được vua yêu dần biến thành một loại nô bộc trong cung. Theo “Tân Đường thư quan giả truyện” những năm đó đã có khoảng 40.000 cung nữ tại các cung vua, cung thái tử, hoàng tử…

Đời Nguyên

Người Mông Cổ vào thống trị trung nguyên, theo truyền thống dân tộc gọi hoàng hậu là “khả đôn”, giữ chế độ cung của ngưòi Hán, mỗi cung cũng có một hoàng hậu, dưới có một số phi tần, cho nên một hoàng đế có thể có một hoàng hậu, hai hoàng hậu, thậm chí một số hoàng hậu, như Hốt Tấ Liệt có tới 4 hoàng hậu. Cháu trưởng Thành Cát Tư Hãn có tới 26 vợ. Các hạng phi tần tuỳ theo cấp bậc mỗi người ở trong một số lều quây quần cạnh nhau họp thành một thị trấn sầm uất.

Đời Minh

Năm Hồng Vũ thứ 14 (1381) nhà vua ra lệnh chọ các con gái trong độ tuổi 13-19 tại Tô Châu, Hàng Châu, Gia Lăng.. thuộc hai tỉnh Chiết Giang, Giang Tây về làm nữ tử hậu bị cung. Năm 1621, hoàng đế Hy Tôn đã tập hợp được hơn 5000 người để lựa chọn, qua những qui tắc lựa chọn nghiêm ngặt như đã nói trên, cứ từng đợt, từng đợt loại bớt người xuống còn 1000, rồi xuống còn 300 cuối cùng chỉ được 50 người đủ tiêu chuẩn phi tần.

Đời Thanh

Đầu đời Thanh chưa lập qui chế hậu cung, mãi tới năm Thuận Trị thứ 15 (1658) mới có. Theo “Thanh sử cảo Hậu phi truyện” ghi: “từ sau đời Khang Hy chế độ tuyển phi mới đầy đủ. Hoàng hậu ở cung giữa, hoàng quí phi một người, quí phi hai người, phi bốn người, quí nhân, thường tại không định số miễn là đủ đáp ứng đòi hỏi, chia nhau ra ở trong 12 cung đông tây”.

Đời nhà Thanh yêu cầu hậu cung rất cao, nói chung con gái đẹp đều phải thuộc người trong bát kỳ (đất gốc của tộc Mãn) rất ít chọn trong Hán tộc, Hàm Phong chỉ chọn được 4 gái đẹp người Hán, gọi họ là Tứ xuân nương nương. Nữ 13 tuổi được gọi là “vừa tuổi” quá 16 tuổi đã bị gọi là “quá tuổi” đã quá tuổi nói chung không được tham dự lựa chọn cho các cấp bậc cao hơn. Ở độ tuổi còn thích hợp thì được quyền tham dự đợt lựa chọn lần sau, nếu không khi quá 20 tuổi không được về nhà, nếu bị tàn tật qua phê chuẩn của hoàng đế có thể được miễn lựa chọn. Phàm những người đã được hoàng đế phong danh hiệu thì cho đến chết vẫn không được ra khỏi cung, lấy chồng.

(Nguồn lichsuvn)

Về chuyên mục LỊCH SỬ THẾ GIỚI

Sự thật về thân thế của vua Càn Long

đăng 00:43 04-10-2011 bởi Vu Tien Dat   [ đã cập nhật 00:56 04-10-2011 ]

Sự thật về thân thế của vua Càn Long

Cho tới nay, sự thật về thân thế của vua Càn Long, ông vua nổi tiếng và cũng lắm tai tiếng trong lịch sử Thanh triều, triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Quốc vẫn còn gây ra những tranh cãi không ngừng. Các truyền thuyết dân gian, các bộ dã sử, tiểu thuyết “chúng khẩu đồng từ” khẳng định, Càn Long không phải là con của Ung Chính, cũng không phải dòng dõi Mãn Thanh mà là người Hán. Còn việc Càn Long ngồi được lên ngai vàng là nhờ một âm mưu tráo đổi diễn ra từ 25 năm trước đó.

Trong khi đó, các nhà sử học thì lại tuyên bố rằng, những câu chuyện về thân thế của Càn Long thực tế chỉ là một cách tự thỏa mãn của người Hán, những người vốn bị họ coi là “man di” nay lại đang thống trị họ…

Những truyền thuyết ly kỳ

Một trong những truyền thuyết phổ biến nhất về thân thế của Càn Long lưu truyền trong các câu chuyện dân gian, các bộ tiểu thuyết, dã sử chính là giả thuyết Càn Long là con cháu dòng họ Trần ở Hải Ninh, Chiết Giang. Chuyện kể rằng, vào ngày 13 tháng 8 năm Khang Hy thứ 50, tức năm 1711, phủ của Ung Thân Vương, người sau này trở thành Hoàng đế Ung Chính, trở nên nhộn nhịp vui vẻ lạ thường. Hôm đó, Hoàng tử Ung Chính có thêm một đứa con.
 

Cùng trong ngày hôm đó, nhà họ Trần ở Hải Ninh cũng có thêm một đứa trẻ. Nhà họ Trần ở đây chính là chỉ Trần Thế Quán, hay còn gọi là Trần Các Lão, một người từng làm quan dưới thời Khang Hy và có quan hệ cực kỳ mật thiết với hoàng tử thứ 4, Ung thân vương Ung Chính. 

Lúc bấy giờ, Vương phi của hoàng tử Ung Chính và vợ của Trần Các Lão đều mang thai. Không lâu sau đó, cả hai người cùng sinh vào một ngày, Vương phi của Ung Chính sinh ra một công chúa còn vợ của Trần thì sinh ra một đứa con trai. Ung Chính nghe nói con trai của Trần Các Lão sinh cùng ngày với công chúa của mình mới lệnh cho Trần mang con con vào vương phủ của mình để xem mặt. Lệnh của vương gia không thể không nghe, Trần Các Lão không còn cách nào khác đành phải mang con của mình đưa vào vương phủ. 


Tuy nhiên, khi đứa bé được trả về cho nhà họ Trần thì ban đầu là con trai giờ lại hóa thành con gái. Làm quan đã nhiều năm, hiểu được rằng nếu nói ra chuyện này thì cả họ có thể bị giết sạch, Trần Các Lão đành phải im lặng, “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Ít lâu sau đó, Trần Các Lão chán nản, cáo lão về quê. Đứa con trai nhà họ Trần bị đánh tráo vào phủ Ung Chính sau này chính là Hoàng đế Càn Long.
 

Chuyện vua Càn Long là con trai của Trần Các Lão chứ không phải là con của Hoàng đế Ung Chính ngày càng được nhiều bộ dã sử và tiểu thuyết sử dụng như một tư liệu “chính thống”. Năm 1925, bộ sách “Thanh cung thập tam triều diễn nghĩa” của Hứa Tiếu Thiên khi viết về thân thế của vua Càn Long có chép: Càn Long vốn là con trai của Trần Các Lão ở Hải Ninh, Chiết Giang. 


Sau bị Ung Chính dùng kế đánh tráo về làm con trai của mình. Càn Long lớn lên, biết được sự thực này từ miệng người vú nuôi của mình. Vì vậy, sau đó Càn Long mới mượn cớ vi hành phía Nam để đi Hải Ninh thăm cha mẹ đẻ của mình. Do vợ chồng Trần Các Lão đã qua đời từ lâu nên Càn Long chỉ còn cách đến trước mộ của hai người, dùng màn vàng che lại rồi làm lễ bái lạy tổ tiên.
 

Cho tới những năm gần đây, Kim Dung lại một lần nữa đưa truyền thuyết này vào bộ tiểu thuyết nổi tiếng “Thư kiếm ân cừu lục” của mình. Toàn bộ câu chuyện xảy ra trong bộ tiểu thuyết này đều xoay quanh thân thế thực sự của vua Càn Long. Không chỉ có vậy, trong tác phẩm Kim Dung còn sáng tạo nên nhân vật công tử thứ 3 của Trần Các Lão, cũng tức là người em ruột của Càn Long trong dân gian – Trần Gia Lạc. Theo những gì Kim Dung viết trong tác phẩm của mình thì đứa em trai của Càn Long sau này đã trở thành Tổng đàn chủ của Hồng Hoa Hội, tổ chức lấy mục tiêu chống lại nhà Thanh phục hồi nhà Hán. 


Để củng cố cho giả thuyết Càn Long không phải là con của Ung Chính mà cũng không thuộc dòng dõi người Mãn, các truyền thuyết dân gian, các bộ dã sử, tiểu thuyết còn đưa ra những bằng chứng được cho là “cực kỳ thuyết phục”. Đầu tiên là việc Càn Long 6 lần tuần du Giang Nam thì có tới 4 lần tới Hải Ninh, Chiết Giang và cả 4 lần đó đều ở trong khu vườn riêng của gia đình Trần Các Lão gọi là Ngung Viên. Càn Long còn đổi tên Ngung Viên của khu vườn này thành An Lan Viên (nghĩa là khu vườn yên bình). 


Người ta cho rằng nếu như không phải có một mối liên hệ đặc biệt với nhà họ Trần thì việc Càn Long liên tục tìm đến nơi đây rất khó giải thích.
 

Thứ hai là trong phủ của họ Trần ở Hải Ninh có hai tấm hoành phi do các vua nhà Thanh chính tay ban tặng. Trên hai tấm hoành phi này lần lượt viết 5 chữ: “Ái nhật” và “Xuân Huy Đường”. Cả năm chữ này đều có nguồn gốc từ điển tích trong bài thơ “Du tử ngâm” của một nhà thơ đời Đường thể hiện tình yêu thương dành cho mẹ. Trong văn chương, hai từ “xuân huy” cũng nhằm để chỉ cha mẹ. Vì vậy, nếu như Càn Long không phải là con của Trần gia, vì sao lại tặng cho nhà họ Trần bức hoành phi với ba chữ “Xuân Huy Đường”. 


Một chứng cứ khác là việc Ung Chính khi còn làm hoàng tử không có nhiều con. Khi đó, ngôi vị thái tử đã bị Khang Hy hai lần phế bỏ và vẫn chưa quyết định chọn ai. Để tranh thủ ngôi vị thái tử, Ung Chính đã không từ thủ đoạn nào để đem đứa con gái của mình đổi thành một hoàng tử. Việc Ung Chính sau này lên được ngôi thái tử, trở thành Hoàng đế nhà Thanh chính là nhờ việc Khang Hy nhìn thấy Càn Long mặt mũi sáng sủa, cho rằng có thể trở thành người kế thừa xuất sắc ngai báu của mình mới truyền ngôi lại cho cha của Càn Long là Ung Chính.
 

Bằng chứng thứ 4 là việc cô công chúa bị Ung Chính đưa trả về cho Trần Các Lão sau này lớn lên đã được gả cho gia đình một trọng thần trong triều đình, Tưởng Phổ, con trai của đại học sỹ Tưởng Đình Tích. Tưởng Phổ nhờ vậy cũng rất được hoàng đế sủng ái, phong tới chức Đại học sỹ. Sau này, những người dân địa phương còn đặt tên cho tòa lầu nơi vợ chồng Tưởng Phổ chung sống là “Lầu Công Chúa”.
 

Càn Long

Một bằng chứng nữa là việc dòng họ Trần trong suốt triều đại nhà Thanh tồn tại là dòng họ nổi tiếng về khoa bảng và được các Hoàng đế triều Thanh sủng ái vô cùng. Từ thời Trần Các Lão đã làm quan to cực phẩm. Nhiều người nói rằng là vì Ung Chính muốn “bù đắp” cho ông ta. Rồi đến thời con cháu của Trần Các Lão là Trần Sùng Lễ đỗ tiến sỹ được vua Quang Tự cho gọi vào cung gặp mặt. Biết rằng Trần Sùng Lễ là con cháu họ Trần, Quang Tự cười mỉm nói: “Người đã làm vững thêm danh tiếng của nhà họ Trần”. Và chẳng bao lâu sau đó, Trần Sùng Lễ đã được phong tới chức Diêm Vận Sứ, chức quan chuyên lo việc buôn bán muối trong cả nước dù tuổi còn rất trẻ. Nếu như không có mối quan hệ đặc biệt giữa Ung Chính, Càn Long và Trần gia thì làm sao Trần Sùng Lễ lại nhận được nhiều đặc ân như vậy?

Trong rất nhiều giả sử và truyền thuyết còn nói, Càn Long tự biết rằng mình là người Hán chứ không phải là người Mãn vì vậy khi ở hậu cung thường thích mặc quần áo theo phong tục của người Hán. Càn Long còn rất thích hỏi những người hầu cận xung quanh mình xem mình có giống như một người Hán hay không? Có lần khi Càn Long hỏi như vậy, một cận thần của Càn Long vội vàng quỳ xuống nói: “Đối với người Hán, Hoàng thượng giống như người Hán còn đối với người Mãn thì lại không giống”. Càn Long nghe câu nói ấy của vị đại thần trầm ngâm rất lâu sau đó vẫn không nói gì. Từ đó về sau Càn Long không bao giờ đề cập đến việc này nữa. 


Lý lẽ của các nhà sử học

Mặc dù từ các truyền thuyết lưu hành trong dân gian cho tới các tiểu thuyết dã sử đều đưa ra rất nhiều bằng chứng khẳng định rằng Càn Long không phải là con ruột của Ung Chính và cũng không phải là dòng dõi người Mãn, tuy nhiên, các sử gia lại khẳng định rằng đó là chuyện rất khó có thể xảy ra.
 

Đầu tiên là về lai lịch gia tộc họ Trần ở Hải Ninh, Chiết Giang. Dòng họ Trần ở Hải Ninh vốn có nguồn gốc từ họ Cao ở Bột Hải thuộc miền bắc về sau mới di cư tới vùng Giang Nam. Họ Trần bắt đầu thịnh lên vào những năm Vạn Lịch (1573-1620) dưới thời nhà Minh.
 

Trong đó, chi của Trần Nguyên Thành có mối quan hệ mật thiết với dòng họ Trần ở Hải Ninh mà người ta vẫn thường nhắc tới. Cháu của Trần Nguyên Thành là Trần Sằn làm quan tới chức Hình bộ Thượng thư. Con trai của Trần Sằn chính là Trần Thế Quán từng nhậm chức tuần phủ dưới triều Ung Chính rồi đến thời Càn Long năm thứ 6 thì được thăng chức thành Công bộ Thượng thư, rồi Văn Uyên các Đại học sỹ. Trần Thế Quán chính là Trần Các Lão người được các câu chuyện truyền thuyết và dã sử cho rằng chính là cha đẻ của Càn Long.
 

Việc cháu của Trần Thế Quán là Trần Dụng Phu làm quan tới chức Tuần phủ nhưng đó là việc xảy ra ở cuối thời kỳ Càn Long trị vì. Như vậy thì việc dòng họ Trần ở Hải Ninh liên tục được phong các chức vụ quan trọng trong triều đình bắt đầu từ cuối thời nhà Minh cho tới thời Khang Hy và Ung Chính thì đạt đến đỉnh cao. Cho tới trước khi Càn Long lên ngôi, rất nhiều người làm quan to của dòng họ Trần đã qua đời, Trần Các Lão còn sống, song không hề nhận được sự quan tâm đặc biệt của Càn Long. 


Vào năm Càn Long thứ 6, tức năm 1741, Trần Các Lão được thăng chức làm Nội các Đại học sỹ. Tuy nhiên không lâu sau đó do việc soạn thảo chỉ dụ bị sai nên bị cách chức. Không chỉ có vậy, ngay trước mặt họ Trần lẫn các quần thần, Càn Long đã trách mắng ông ta rằng: “Không có năng lực, kém phẩm chất, không xứng đáng với chức vụ của mình”.
 

 Trước mặt một quan đại thần mà trách mắng đến như vậy thì có thể thấy Càn Long chẳng coi trọng Trần Các Lão bao nhiêu, vì rằng đến một vị đại thần bình thường của triều vua trước cũng không tới mức bị đối xử thậm tệ như vậy. Vì vậy, không thể có chuyện Trần Các Lão là cha đẻ của Càn Long như lời người ta đồn đoán.

Về việc dòng họ Trần được trọng dụng có lẽ là do chính sách trọng dụng nhân tài người Hán của nhà Thanh kể từ thời Khang Hy trở đi. Khi nhà Thanh dẫn quân vào Trung Nguyên, họ đã tiến hành một cuộc thảm sát đẫm máu đối với những người Hán ở Giang Nam có thái độ chống đối quyết liệt đối với sự xâm lược của nhà Thanh. Vì vậy, tinh thần phản Thanh ở khu vực Giang Nam quyết liệt hơn hẳn những khu vực khác. 


Cho tới thời Khang Hy, triều đình nhà Thanh bắt đầu tìm mọi cách để lôi kéo sự ủng hộ của các sỹ phu trí thức ở khu vực Giang Nam. Vì vậy, rất nhiều người dòng dõi họ Trần ở Hải Ninh được trọng dụng dù là sự thực nhưng nguyên nhân chính có lẽ là do chính sách trọng dụng nhân tài người Hán, đặc biệt là những sỹ phu trí thức xuất thân từ khu vực Giang Nam để giảm bớt tinh thần chống đối nhà Thanh của nhân dân ở khu vực này chứ không phải là do mối quan hệ mật thiết với Càn Long như người ta tưởng tượng. 


Điều này càng rõ ràng khi đến thời 
Càn Long trị vì thì dòng họ Trần đã không còn thịnh vượng như trước nữa. Vì vậy không thể có chuyện Càn Long đã trọng dụng những người thuộc họ Trần vì phát hiện ra mối quan hệ đặc biệt giữa họ Trần và bản thân mình.

Về hai bức hoành phi “Ái Nhật” và “Xuân Huy Đường” đặt tại phủ của họ Trần ở Hải Ninh mặc dù là có thật, tuy nhiên không phải là do Càn Long tự tay viết. Người viết hai bức hoành phi ấy, theo khảo chứng của các nhà sử học chính là ông của Càn Long tức Hoàng đế Khang Hy. Vì vậy, có thể nói rằng, hai bức hoành phi này chẳng có liên quan gì tới Càn Long cả. Do vậy, nó không thể là chứng cứ cho việc Càn Long là con trai của Trần gia.
 

Ngoài ra, việc Ung Chính tìm cách để tráo đổi con gái của mình lấy con trai của Trần Các Lão cũng là chuyện không hợp tình hợp lý. Điều này, theo các nhà sử học có thể thấy rất rõ nếu như ta xem xét kỹ lưỡng thời gian sinh của Càn Long cũng như bối cảnh lúc bấy giờ.
 

Theo ghi chép của cuốn “Ngọc điệp”, cuốn gia phả của hoàng thất triều Thanh thì Càn Long sinh vào tháng 8 năm Khang Hy thứ 50. Lúc bấy giờ Ung Thân Vương Dận Chân, tức Hoàng đế Ung Chính sau này đã 34 tuổi. Vào thời điểm đó, hoàng tử Dận Chân đã có bốn người con trai là Hoằng Huy, Hoằng Phán, Hoằng Vân, Hoằng Thời, tuy nhiên ba người con trai đầu đều sớm qua đời. 


Năm Càn Long sinh ra thì Hoằng Thời đã 8 tuổi, hơn nữa trước khi Càn Long ra đời chỉ 3 tháng, Dận Chân đã có thêm một đứa con trai khác là Hoằng Trú. Sau khi Càn Long ra đời, Dận Chân tiếp tục sinh thêm 4 người con trai khác. Với rất nhiều con như vậy mà một hoàng tử người Mãn lại phải vụng trộm tráo con gái của mình lấy con trai của một người Hán là chuyện rất khó xảy ra. Mặt khác, lúc đó, ngôi vị thái tử đã hai lần bị phế và từ đó về sau ngôi vị này liên tục bị bỏ trống. Điều này đã gây ra một cuộc chiến ngấm ngầm giữa các những người con vốn rất đông đúc của Khang Hy. 


Là một người vô cùng cẩn trọng và mưu mô, người sau này đã dùng chính mưu mô của mình để giành được ngôi báu như Ung Chính thì làm sao có thể sơ suất tới mức đi đổi một đứa con trai người Hán về làm con trai của mình, một hành động có thể khiến ông ta mất mạng như chơi. Thêm nữa, dù cho là có đổi được một đứa con trai mang dòng máu Hán về làm con thì lý do vì sao Ung Chính lại biết được rằng chính đứa con trai họ Trần này sẽ giúp mình giành được ngôi báu như lời người ta đồn đại? Theo các sử gia, trong thời khắc chỉ cần sai một ly sẽ hoàn toàn tay trắng, vị hoàng tử mưu lược Dận Chân sẽ không đời nào quyết định một cách mạo hiểm như vậy. 


Ngoài ra, trong sách “Hoàng đế kiến văn lục” cũng có ghi lại lời một người Mãn nói: “Với sự minh mẫn và tính toán của Ung Chính thì làm sao có chuyện đổi nữ thành nam trong hậu cung được?”. Bởi lẽ, theo quy định của hoàng thất triều Thanh, mỗi khi con của hoàng tử sinh ra thì hoàng tử đó lập tức phải phái thái giám trong vương phủ tới hoàng cung báo với Hoàng đế.
 

 Sau đó, phải nhờ một người ở phủ Tông Nhân chuyên viết tấu sớ viết một bản tấu dâng lên Hoàng đế để Hoàng đế đặt tên. Nếu như Ung Thân Vương lúc đó theo đúng quy định báo tin vương phi đã sinh con gái thì làm sao sau đó mấy ngày, khi nghe tin con của Trần Các Lão sinh con trai vào cùng ngày ấy giờ ấy lại tìm cách đánh tráo được. Vì vậy, chuyện tráo đổi chắc chắn là không thể có thực. 

Nếu như những gì trong truyền thuyết là có thực, rằng Ung Chính đã đem đổi con gái của mình lấy con trai của Trần Các Lão thì chắc chắn cô con gái “cành vàng lá ngọc” của Ung Chính phải được theo dõi rất sát sao. Theo như truyền thuyết thì cô công chúa này sau đó được gả cho Tưởng Phổ, con trai của trọng thần trong triều đình là Trưởng Đình Tích. Rồi sau đó, để nhắc mọi người ghi nhớ về nguồn gốc của công chúa, người ta đã đặt tên cho nơi ở của vợ chồng Tưởng Tích là “Lầu Công Chúa”.

Tranh vẽ Càn Long
Tranh vẽ Càn Long du hành Giang Nam


Tuy nhiên, ngay cả những người nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử giai đoạn này cũng không ai biết tòa lầu mang tên “Công Chúa” nằm ở nơi đâu. Ngay cả con cháu của dòng họ Tưởng cũng khẳng định chưa từng nghe nhắc tới chuyện này. Vì vậy, có thể khẳng định chắc chắn rằng việc lấy tòa lầu Công Chúa làm căn cứ để khẳng định Càn Long không phải là con trai của Ung Chính là việc hoàn toàn không có giá trị.

Như vậy, những chứng cứ minh chứng cho dòng dõi người Hán của Càn Long chỉ còn lại một, và cũng là bằng cứ được cho là quan trọng nhất. Đó chính là việc Càn Long 6 lần tuần du Giang Nam thì có tới 4 lần đến ở trong vườn riêng của gia tộc họ Trần ở Giang Nam. Tuy nhiên, nguyên nhân thực sự của việc này lại không phải bắt nguồn từ mối quan hệ huyết thống giữa Càn Long và dòng họ Trần như người ta vẫn tưởng tượng.
 

Trước Càn Long, Khang Hy cũng từng 6 lần tuần du Giang Nam. Càn Long luôn muốn bắt chước người ông nội nổi tiếng của mình nên cũng thực hiện 6 chuyến tuần du phía nam. Và trong hai lần đầu tiên của những chuyến tuần du ấy, điểm dừng chân cuối cùng của Càn Long cũng là Hàng Châu của Chiết Giang giống hệt với Khang Hy. Từ lần thứ 3 trở đi, lần nào Càn Long cũng dừng chân tại nhà họ Trần ở Hải Ninh. Theo các sử gia, mục đích chính của Càn Long là vì muốn khảo sát công trình đê biển ở trên sông Tiền Đường. 


Tuyến đê biển trên sông Tiền Đường có một vai trò cực kỳ quan trọng đối với toàn bộ khu vực giàu có của Trung Quốc lúc bấy giờ là Tô Châu, Hàng Châu, Gia Hưng, Hồ Châu,… Vì vậy, Càn Long rất coi trọng tuyến đê này. Vào năm Càn Long thứ 27, trong lần thứ 3 tuần du phía Nam, Càn Long đã tới Hải Ninh để giám sát. Điều này được ghi rõ trong chính sử. Thêm vào đó, địa chất ở Hải Ninh rất kém, việc đắp đê nơi đây gặp phải rất nhiều khó khăn vì vậy các quan phụ trách việc đắp đê ý kiến rất bất đồng. Do đó, mỗi lần tuần du Giang Nam, Càn Long đều phải tới Hải Ninh để xem xét tiến độ công việc rồi đưa ra quyết sách cuối cùng. 


Từ đó có thể thấy rằng, việc Càn Long 4 lần tuần du đều đến Hải Ninh hoàn toàn không phải vì thăm cha mẹ đẻ của mình mà là vì muốn tự thân giám sát công trình đê biển ở Hải Ninh. Vấn đề là ở chỗ, vậy vì sao Càn Long cả 4 lần lại đều ở nhà họ Trần mà không phải là ở một nơi nào khác? 


Theo sử sách ghi chép, khu vườn riêng của nhà họ Trần có tên là Ngung Viên nằm ở phía Bắc huyện Hải Ninh, là một khu vườn vô cùng rộng lớn, phong cảnh tuyệt đẹp. Chỉ với một dòng họ có cả ba triều đều làm tể tướng như dòng họ Trần mới có thể sở hữu một khu vườn đẹp đến như vậy. Và cũng chỉ có khu vườn đẹp như thế tại một huyện thành bé nhỏ như Hải Ninh mới xứng đáng để đón tiếp một Hoàng đế Càn Long.
 

 Thêm nữa, nếu như xem xét kỹ sử sách thì có thể thấy rằng, mặc dù cả 4 lần Càn Long đều ở trong vườn riêng của nhà họ Trần tuy nhiên không có lần nào ông vua này cho gọi con cháu họ Trần tới gặp mặt. Vì vậy không thể có chuyện nhận tổ tiên hay quây vải vàng rồi làm lễ bái lạy tổ tiên trước mộ cha mẹ như trong truyền thuyết được.

Từ những căn cứ nói trên, các sử gia kết luận, chuyện Càn Long là người Hán chỉ là sản phẩm thêu dệt nhằm thỏa mãn tâm lý của người Hán – đường đường là một dân tộc lớn mà phải chịu sự cai trị của tộc Mãn, vốn bị coi là man di với trình độ văn hóa thấp hơn hẳn. Ý nghĩ có một ông vua người Hán ngồi trên ngai vàng (dù phải mạo nhận là tộc Mãn) cũng giúp xoa dịu phần nào lòng tự ái dân tộc này.
 

(Nguồn lichsuvn)

Độc chiêu tham nhũng của "đệ nhất quan tham" Hoà Thân

đăng 06:00 24-09-2011 bởi Hoang Thi Hang Yen   [ đã cập nhật 00:57 20-04-2012 ]

Độc chiêu tham nhũng của "đệ nhất quan tham" Hoà Thân

Tóm tắt: Hoà Thân là viên quan đại thần được hoàng đế Càn Long, triều đại nhà Thanh (Trung Quốc) sủng ái bậc nhất. Sự sủng ái đặc biệt của Càn Long cộng với năng lực bản thân, Hòa Thân sau đó đã được thăng các chức hàm quan trọng như: Đại học sĩ, Quân cơ đại thần, Cửu môn đề đốc.


Hoà Thân là viên quan đại thần được hoàng đế Càn Long, triều đại nhà Thanh (Trung Quốc) sủng ái bậc nhất. Sự  sủng ái đặc biệt của Càn Long cộng với năng lực bản thân, Hòa Thân sau đó đã được thăng các chức hàm quan trọng như: Đại học sĩ, Quân cơ đại thần, Cửu môn đề đốc.

 

Đồng hành với những chức hàm trọng yếu đó, Hoà Thân còn khét tiếng bởi danh xưng "đệ nhất quan tham" cùng những độc chiêu tham nhũng ghê gớm.

Mua quan bán tước

Hoa Than
Hình ảnh Hòa Thân trong một bộ phim

Khi là viên đại thần đứng đầu các bộ như Bộ Hộ, Phủ Nội vụ - nơi có quyền hạn phụ trách các vấn đề điều phối lương thực, vũ trang trong quân đội, Hòa Thân đã luôn đánh tiếng để các quan lại dưới quyền hối lộ khi muốn thăng quan tiến chức. Không những thế, bất kỳ việc chi tiêu nào cho triều đình muốn được thông qua nhanh chóng, giới quan lại đều phải  "qua cửa" Hòa Thân  thì mọi việc mới được diễn ra thông suốt.

Ngoài việc ăn hối lộ và ăn chặn tiền bạc của triều đình, tài sản của Hòa Thân còn được nhân lên hàng ngày nhờ việc mua quan bán tước. Được hoàng đế Càn Long sủng ái và lần lượt giữ những ngôi vị cao nhất trong hàng ngũ đại thần, Hòa Thân luôn nắm trong tay danh sách quan lại trong toàn quốc. Những ai muốn thăng chức nhanh hoặc muốn mua một chức vị quan nào đó dù nhỏ hay to cũng đều phải qua tay Hòa Thân. Có những viên quan liêm khiết không muốn thăng tiến bằng con đường hối lộ thì sẽ bị Hòa Thân gây khó dễ. Trong 24 năm đương quyền, Hòa Thân đã đút túi khoảng 40 triệu lạng bạc với riêng việc mua quan bán tước này.
Lạm dụng quyền lực

Theo quy định của triều đình nhà Thanh, các quan lại không được tham gia vào việc kinh doanh và thu lợi nhuận từ những dịch vụ như cầm đồ, buôn bán... Tuy nhiên, điều này đã không làm khó được kẻ ham tiền và ưa lũng đoạn như Hòa Thân. Trong khi đương chức, viên quan này đã tự mình mở hàng loạt những ngành nghề kinh doanh hái ra tiền như cửa hàng lương thực, cửa hàng buôn bán vũ khí, nhà hàng, quán rượu, ngân hàng. Trong chốn thương trường, Hòa Thân luôn tỏ ra là một người ngang ngược, ngạo mạn, trắng trợn chụp giật. Ngay trong xử lý mối quan hệ xã hội, y cũng mượn oai, trịch thượng hiếp đáp kẻ khác. Trong lĩnh vực kinh doanh, dựa vào thân thế cùng với quyền lực của mình, Hòa Thân đã thâu tóm hầu hết những cửa hàng buôn bán cùng nhiều mặt hàng tại kinh thành và nhiều tỉnh lớn khác tại Trung Quốc vào thời điểm đó. Tất cả chuỗi cửa hàng của Hòa Thân tại kinh thành đều có những kẻ có máu mặt cầm đầu và sẵn sàng trừ khử những đối thủ không thích nằm dưới trướng của đại thần họ Hòa.

Không chỉ dừng lại ở đó, để kiếm thêm tiền bạc vào túi của mình, Hoà Thân còn nghĩ ra mọi biện pháp để vơ vét tài sản từ quốc khố. Vì quá sủng ái Hòa Thân, vào năm 1788 trong 3000 vạn lạng bạc tiền thu thuế, Càn Long đã để Hòa Thân tự do chi phí cho mọi hoạt động của triều đình. Trong lần này, với tài biến hóa sổ sách kế toán, Hòa Thân đã đút túi không dưới vài vạn lạng.

Không hối lộ nhiều không gặp mặt

q
Chân dung đời thực của Hòa Thân.
Hòa Thân  xuất thân là một công tử Mãn Châu. Khi mới gia  nhập triều đình, Hòa Thân giữ chức vị Thị vệ. Tuy còn trẻ nhưng Hòa Thân đã sớm có năng lực làm việc cũng như các đóng góp cho triều đình, vì thế Hòa Thân được Càn Long rất tín nhiệm, trọng dụng. Theo như lời đồn đại, Càn Long có một ấn tượng rất đặc biệt với vẻ ngoài của Hòa Thân. Vẻ ngoài ấy hao hao giống với một người tì thiếp đã bị thất sủng và qua đời do lỗi của Càn Long khi ông còn nhỏ. Vì vậy Càn Long luôn có một sự ưu ái đặc biệt với Hòa Thân, thường bỏ qua các sai sót và nuông chiều ông ta.

Một điều đặc biệt nữa trong cách thức nhận hối lộ của Hòa Thân chính là ở "đẳng cấp": Không hối lộ nhiều không gặp mặt. Không phải ai Hòa Thân cũng tiếp,  vì thế muốn gặp được vị đại thần này, các quan lại cũng phải đưa ra một mức giá hợp lý.
Chuyện kể rằng, có  vị quan tuần phủ trong dịp ngao du đến kinh đô đã nghe người nói đến cái tên Hòa Thân. Vì muốn được thăng chức sau nhiều năm phải giữ chân tèm nhèm trong tỉnh, vị này đã mang số tiền 5000 lạng bạc để làm lộ phí. Kết quả là viên quan này chỉ được một tên hầu trong phủ họ Hòa ra tiếp kiến. Trong buổi gặp gỡ này, tên hầu đã đánh tiếng rằng muốn gặp được Hòa Thân ít nhất phải mang 20 vạn lạng, còn dưới mức đó thì đừng bao giờ bước chân tới phủ.

Cũng có viên quan biết được sở thích sưu tập ngọc trai của Hòa Thân nên đã nghĩ ra một cách để được tiếp kiến vị quan tham này. Viên quan trên đã mua rất nhiều ngọc trai cao cấp về rồi sai người bọc vàng xung quanh nhằm tăng giá trị quà tặng. Kết quả là trong lần đầu bước chân vào phủ họ Hòa, viên quan này đã được đích thân Hòa Thân đón tiếp.

"Núi" tài sản không cứu nổi mạng sống

Trong những năm tháng trên đỉnh cao của quyền lực, số của cải mà Hòa Thân đã tham ô, nhận hối lộ thì không cóỏ bất kỳ một vị quan tham nhũng nào trong lịch sử Trung Quốc cổ đại và hiện đại vượt qua được. Lòng tham vô đáy của Hòa Thân tựa nạn đại dịch hoành hành khắp nơi khiến quan bé, quan lớn, quan thấp, quan cao đều bị "lây nhiễm" và ra sức tham nhũng.

Những vụ tham ô của Hòa Thân dần hé mở khi vua Càn Long thoái vị vào tháng 1/1796. Trong 24 năm từ khi Hòa Thân bắt đầu được hoàng đế Càn Long để mắt và sủng ái, vị đại thần này đã thâu tóm, vơ  vét được một số tài sản lớn tới khó tin. Sự giàu sang của ông ta được thể hiện qua số tài sản bị tịch thu khi hoàng đế Gia Khánh lên ngôi gồm có: Những dinh thự, đất đai có tổng cộng 3.000 phòng, 8.000 mẫu (32 km2) đất; 42 ngân hàng; 75 hiệu cầm đồ.

Ngoài ra, còn có: 60.000 lạng vàng bọc đồng, 100 thỏi vàng lớn nguyên chất (1.000 lạng mỗi thỏi), 56.600 thỏi bạc cỡ vừa (100 lạng mỗi thỏi), 9 triệu thỏi bạc nhỏ (10 lạng mỗi thỏi), 58.000 cân tiền ngoại, 1.500.000 đồng tiền xu, 600 cân nhân sâm Cát Lâm thượng hạng, 1.200 miếng ngọc bội, 230 chuỗi ngọc trai (mỗi viên ngọc trai có cỡ gần tương đương quả anh đào lớn), 10 viên ngọc trai lớn (cỡ tương đương quả mơ), 10 viên hồng ngọc, 40 viên ngọc bích lớn, 40 bàn đựng bộ đồ ăn bằng bạc (10 bộ mỗi bàn), 40 bàn đựng bộ đồ ăn bằng vàng (10 bộ mỗi bàn), 11 tảng san hô (mỗi tảng cao hơn 1m), 14.300 xấp lụa tốt, 20.000 tấm len lông cừu loại tốt, 550 tấm da cáo, 850 tấm da gấu, 56.000 tấm da cừu và da gia súc độ dày khác nhau, 7.000 bộ quần áo tốt (mặc trong cả bốn mùa), 361.000 bình bằng đồng và thiếc, 100.000 đồ sứ được làm bởi các nghệ nhân có tiếng, 24 giường bằng vàng ròng có trang trí tinh xảo (mỗi giường có cẩn 8 loại đá quý khác nhau), 460 đồng hồ tốt của châu âu cùng với 606 gia nhân, 600 tì thiếp trong phủ...

Tổng cộng gia sản của Hòa Thân ước lượng vào khoảng 1.100 triệu lạng bạc, nhiều lời đồn cho rằng nó còn tương đương số tiền mà quốc khố nhà Thanh phải mất 15 năm mới thu được. Tuy nhiên, sau khi hoàng đế Càn Long băng hà chỉ có 15 ngày, Hòa Thân đã phải phụng chỉ tự thắt cổ chết trong ngục thất, kết thúc cuộc đời khét tiếng gian tham của mình.          

 


Sử sách Trung Quốc còn ghi lại rằng vào cuối đời Càn Long, trong các cống phẩm và vật dụng các tỉnh cống nạp triều đình thì chỉ có 12% được đưa vào ngân khố. Còn 88% còn lại "bị hút" về phủ Hòa Thân.

Theo ước tính vào những năm đó, số châu báu quý hiếm trong phủ của viên đại thần họ Hòa này còn lớn gấp 3 đến 4 lần so với triều đình. Có những viên ngọc hoặc trân châu quý hiếm đến nỗi, đến hoàng đế còn chưa được nhìn thấy thì trong tay Hòa Thân lại có … vài viên. Vậy nên, thời đó dân gian đã lưu truyền câu nói nổi tiếng: "Cái Càn Long có Hòa Thân có, cái Càn Long không có chưa chắc Hòa Thân không có".

Theo Đời Sống & Pháp Luật

Chuyện thâm cung tai tiếng ít người biết của Đại đế Khang Hy

đăng 05:53 24-09-2011 bởi Hoang Thi Hang Yen   [ đã cập nhật 00:55 20-04-2012 ]

Chuyện thâm cung tai tiếng ít người biết của Đại đế Khang Hy

Tóm tắt: Là ông vua sở hữu nhiều mỹ nữ nhất, có nhiều con nhất và ở ngôi Hoàng đế lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc những tưởng vị “đại đế” của triều Thanh Khang Hy cũng sẽ là vị Hoàng đế mãn nguyện nhất trong lịch sử của xứ sở này.

Lâu nay người Trung Quốc vẫn coi Khang Hy như một “đại đế” anh minh lỗi lạc, người đã sáng tạo nên “thời thịnh trị Khang - Càn” trong lịch sử gần 300 năm của triều đại nhà Thanh (1644 - 1911). Tuy nhiên, lần giở những trang bí sử của triều đại này, người ta lại phát hiện ra rằng, hóa ra, phía sau ánh hào quang của một “đại đế”, Khang Hy cũng gây ra không ít những vụ lùm xùm tai tiếng…

Lấy cô ruột làm vợ

Chuyện lùm xùm khiến các sử gia bất bình với Khang Hy chính là việc vị “đại đế” vì tư thù đã ngấm ngầm sai người phóng hỏa, đốt chùa giết chết Công chúa Hòa Thạc. Hòa Thạc vốn là con gái của Hiếu Trang Thái hậu, về danh phận tức là cô ruột của Khang Hy.

Sau khi nhà Thanh dẫn quân vào Trung Nguyên, để lôi kéo Ngô Tam Quế, người được coi là có công lớn giúp quân Mãn Thanh chiếm được Trung Nguyên, Hiếu Trang Thái hậu đã quyết định gả Công chúa Hòa Thạc cho con trai của Ngô Tam Quế là Ngô Ứng Hùng. Mặc dù là cuộc hôn nhân mang tính đãi bôi chính trị, tuy nhiên, cuộc sống giữa công tử họ Ngô và công chúa Mãn Thanh tại kinh thành vẫn có thể nói là hạnh phúc. Hai người còn sinh được một cậu con trai kháu khỉnh.

Tuy nhiên, việc đời thay đổi thất thường khó ai có thể lường trước được. Tới năm Khang Hy thứ 12, tức năm 1673, Ngô Tam Quế từ chỗ là liên minh, phục tùng quay ra làm phản. Khang Hy ngay lập tức cho bắt Ngô Ứng Hùng và con trai giam vào ngục làm con tin. Trong thời gian đầu khởi binh chống Thanh, thế lực của Ngô Tam Quế khá mạnh, có những lúc chiếm gần một nửa lãnh thổ Trung Quốc lúc bấy giờ.

 Chính vì vậy, một thời gian sau đó, Ngô Tam Quế đã đề nghị với Khang Hy rằng, nếu như Khang Hy thả con trai và cháu của mình ra, ông ta sẽ không đem quân đánh nhà Thanh nữa, hai bên chia đôi giang sơn để cùng cai trị. Khang Hy nhận được tin báo nổi giận đùng đùng, lập tức ra lệnh giờ Ngọ ngày hôm sau chém đầu Ngô Ứng Hùng và con trai giữa chợ, thông báo cho toàn bộ dân chúng trong cả nước, thể hiện quyết tâm sẽ tiêu diệt lực lượng chống đối của Ngô Tam Quế tới cùng.

Khi biết được thông tin này, Công chúa Hòa Thạc lập tức trở nên hoảng loạn. Nghĩ tới việc chồng và con mình ngay ngày mai sẽ đầu lìa khỏi cổ, Hòa Thạc không khỏi đau xót. Để cứu mạng chồng và con mình, Hòa Thạc công chúa vội vàng mặc quần áo tang màu đen vừa khóc vừa chạy vào trong vườn Sướng Xuân của cung Từ Ninh, quỳ gối trước mặt Hiếu Trang Thái hậu xin bà vì đứa cháu ngoại còn non dại của mình mà đến nói với Khang Hy tha cho cha con Ngô Ứng Hùng.

 Hiếu Trang Thái hậu nhìn Hòa Thạc quỳ dưới đất khóc lóc nhất định không chịu đứng dậy cũng nước mắt lưng tròng, trong lòng vô cùng khó xử. Một bên là cô con gái mà chính tay bà nuôi lớn cùng đứa cháu ngoại kháu khỉnh, một bên lại là cháu nội và sự uy nghiêm của triều đình. Đương lúc thái hậu còn đang băn khoăn chưa biết quyết định ra sao thì Khang Hy vốn đến thỉnh an thái hậu đã đứng bên ngoài nhìn thấy tất cả những gì vừa diễn ra.

Khang Hy không nói gì, đến khi bước vào phòng thì quỳ xuống trước mặt thái hậu nói: “Thưa thái hậu, giờ đây ngoài chiến trường, binh lính đang ngày đêm đổ máu, thanh thế Ngô Tam Quế ngày một lớn hơn, không giết Ngô Ứng Hùng không thể khích lệ tinh thần quân sỹ. Việc này con e rằng khó có thể nghe theo ý thái hậu được”. Sau đó, với vẻ mặt đau khổ, Khang Hy quay sang nói với cô ruột của mình: “Nỗi khổ của cô cháu không phải không biết, nhưng nếu như không giết Ngô Ứng Hùng, Ngô Tam Quế sẽ còn điên loạn hơn nữa, tới lúc đó, sẽ càng có nhiều người chết hơn. Đứa cháu này không thể hiếu nghĩa vẹn toàn, chỉ mong cô có thể rộng lượng!”.

Tử Cấm Thành
Tử Cấm Thành

Trưa ngày hôm sau, Ngô Ứng Hùng và con trai bị xử chết đồng thời thông báo khắp cả nước. Cũng may là nhờ thân phận quốc thích, lại có sự cầu xin của thái hậu, hai người mới được chết toàn thây. Nhìn thấy chồng và con trở thành vật hy sinh cho cuộc tranh giành quyền lực, Hòa Thạc khóc ròng nhiều ngày vẫn không nguôi ngoai.

Sau lần đại họa ấy, Hòa Thạc một lòng hướng Phật. Sau đó, một lần tới chùa Thù Tượng trên núi Ngũ Đài, thấy trong chùa có một căn nhà nằm khuất nẻo ở góc Tây Bắc của chùa, bèn đổi tên thành Thiện Tình Thất rồi ở lại đó, ngày đêm tụng kinh niệm Phật. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau đó, có người mật báo rằng, Hòa Thạc và một hòa thượng trong chùa thường xuyên cùng nhau bàn luận kinh sách, giữa hai người dường như có tình cảm đặc biệt, e rằng một ngày thông tin này lộ ra ngoài thì không hay cho hoàng thất chút nào.

Với Khang Hy, bảo vệ sự thống trị của Mãn tộc là điều quan trọng nhất, vì vậy, nghe tin này Khang Hy vô cùng tức giận. Ngay lập tức, vị “đại đế” sai người bí mật đến chùa Thù Tượng phóng hỏa, định đốt cháy toàn bộ chùa nhân đó giết luôn cả Hòa Thạc Công chúa và vị hòa thượng kia. Tuy nhiên, điều đáng kinh ngạc chính là, trong đám cháy ngùn ngùn kéo dài suốt 3 ngày ở chùa Thù Tượng, mọi thứ đều cháy rụi, chỉ riêng có một Thiện Tịnh Thất là vẫn y nguyên, Công chúa Hòa Thạc và vị hòa thượng nọ vẫn bình yên vô sự.

Không chỉ sẵn sàng ra lệnh thiêu sống một người cô ruột vì sợ làm hủy hoại thanh danh của hoàng tộc, với bản tính háo sắc Khang Hy còn chiếm đoạt một người cô khác làm vợ của mình, bất chấp các quy định của tổ tiên. Người Mãn vốn là một dân tộc du mục, khi tiến vào Trung Nguyên vẫn đang ở giai đoạn cuối của xã hội nô lệ. Vì vậy, mặc dù Hoàng Thái Cực, ông vua đầu tiên xây dựng nên sự lớn mạnh của nhà Thanh đã ban bố lệnh cấm không cho người trong cùng một họ được lấy nhau.

Coi đó là tội loạn luân, không thể chấp nhận. Tuy nhiên, việc thay đổi tập tục không phải là ngày một ngày hai có thể thay đổi được. Ngay như việc xảy ra sau khi Hoàng Thái Cực chết, em trai ông ta là Đa Nhĩ Cổn được phong làm nhiếp chính đã lấy Hoàng hậu Hiếu Trang, chính cung của Hoàng Thái Cực làm vợ. Khi đó, cả Hoàng tộc Mãn triều coi đó là chuyện hoàn toàn bình thường, không có gì đáng phải bàn cãi.

Cho tới thời kỳ Khang Hy, cũng từng xảy ra một chuyện tương tự. Trong sách “Thanh đại ngoại sử” có chép rằng, vào thời kỳ Khang Hy có một công chúa là con gái nhỏ của Hoàng Thái Cực, tức là em gái của vua Thuận Trị và là cô ruột của Khang Hy. Khi Thuận Trị chết, cô công chúa này vẫn còn nhỏ nên chưa đi lấy chồng. Sau khi Khang Hy lên ngôi, cô công chúa này vẫn lưu lại sống trong hậu cung. Sau đó, có đại thần xin Khang Hy lo chuyện “trăm năm” cho công chúa này. Khang Hy nghe xong thản nhiên nói: “Giờ còn bàn chuyện cưới hỏi gì nữa, ta đã nạp làm phi tần từ lâu rồi”.

Các quan nghe Khang Hy nói vậy thì giật mình, nói: “Nơi hậu cung cũng là nơi cần phải có sự vương hóa, luân thường không thể đảo loạn. Nay công chúa về vai vế là cô ruột của hoàng thượng, hoàng thượng không thể nạp cô của mình làm thiếp được”.

Khang Hy bình thản nói: “Chưa chắc. Cái gọi là không được kết hôn cùng họ là chỉ mẹ, em gái và con gái do chính mình sinh ra. Đằng này cô thì chẳng phải mẹ cũng chẳng phải con gái ta, cũng chẳng phải là em gái ruột của ta, có nạp làm thiếp thì đã làm sao”. Các đại thần nghe xong cực kỳ kinh hãi, hết sức khuyên can nhưng Khang Hy nhất định không chịu nghe, vẫn nạp công chúa vốn là cô ruột của mình làm phi tử.

Cướp vợ đại thần

Khang Hy là ông vua có nhiều phi tần nhất và cũng là người có nhiều con nhất trong lịch sử các vị Hoàng đế của Trung Quốc. Cho tới tận cuối đời, khả năng chăn gối cũng như sự háo sắc của Khang Hy vẫn không hề giảm. Vì vậy, người đương thời vẫn còn lưu truyền rất nhiều câu chuyện về sự háo sắc bất chấp tất cả của vị “đại đế” này.

Chuyện kể rằng, dưới thời Khang Hy có một vị đại thần họ Trương, vốn là em trai của Trương Đình Ngọc, một trọng thần nổi tiếng dưới thời Khang Hy. Gia đình họ Trương nhiều đời làm thông gia với họ Diêu, thuộc hàng danh gia vọng tộc. Vợ của họ Trương vốn cũng mang họ Diêu, lúc bấy giờ được coi là bậc quốc sắc thiên hương, sắc đẹp khó ai bì kịp. Trong số những người Hán làm quan trong triều đình, họ Diêu là vị phu nhân xinh đẹp và hiền thục nhất. Họ Trương vì vậy, cảm thấy đắc ý vô cùng.

Không ngờ, một lần trong dịp mừng thọ Hoàng Thái hậu, triều đình ra lệnh, các vị phu nhân người Hán cùng với các phu nhân người Mãn phải vào cung để chúc thọ thái hậu. Những người phụ nữ thuộc hai phủ họ Trương và họ Diêu theo lệnh, trang điểm ăn vận thật đẹp để vào cung chúc thọ thái hậu. Đến khi vào cung thái hậu, Khang Hy cũng đang có mặt ở đó. Hoàng Thái hậu vui lắm mới mở tiệc khoản đãi, cho mọi người ở lại trong cung ăn uống vui chơi thoải mái, một ngày sau mới cho về.

Sau khi rời khỏi cung, những người phụ nữ này vẫn như cũ lên kiệu ai về nhà nấy. Tuy nhiên, trong khi tất cả mọi người đều bình yên vô sự thì chỉ có một gia đình gặp chuyện chẳng lành, đó chính là gia đình vị đại thần họ Trương nọ.

Người ta nói rằng, khi Trương phu nhân họ Diêu trở về thì mặc dù quần áo giống hệt lúc rời khỏi nhà nhưng khuôn mặt thì đã hoàn toàn khác. Cả gia đình họ Trương và họ Diêu đều biết là chuyện gì, tuy nhiên, vì không muốn chuốc họa vào thân nên không dám hé ra nửa lời. Cũng từ đó, các vị phu nhân người Hán không ai dám “vâng mệnh” vào trong hậu cung của Khang Hy nữa.

Giết cả con trai

Cả đời Khang Hy có tổng cộng 52 người con, 32 con trai, 20 cô con gái trong đó có 12 người con trai và 9 người con gái mắc bệnh chết khi còn nhỏ. Với con số kỷ lục này, Khang Hy là ông vua đông con nhất trong lịch sử Trung Quốc. Mặc dù thời bấy giờ, hoàng đế không phải thực hiện “sinh đẻ có kế hoạch”, tuy nhiên, việc sinh con quá nhiều đã khiến Khang Hy gặp phải không ít rắc rối.

Vào thời kỳ đầu, nhà Thanh thực hiện “người có đức sẽ được làm chức vụ lớn” chứ không phải theo quy chế “con trưởng kế thừa” như sau này. Tuy nhiên, tiêu chuẩn “có đức” lại rất khó áp dụng trong thực tế, không thể đáng tin như dựa vào quan hệ huyết thống được. Cũng chính vì lý do này, giữa những đứa con của Khang Hy đã nổ ra một cuộc đấu tranh tranh giành ngôi vị thái tử trong suốt một thời gian dài.

Vào năm Khang Hy thứ 14, đứa con trai thứ do hoàng hậu sinh ra là Dận Nhưng được phong làm Hoàng thái tử. Thực tế, trên Dận Nhưng còn có một người anh là con cả Dận Đề, tuy nhiên, do mẹ của Dận Đề chỉ là một thứ phi, thêm nữa, hoàng hậu mẹ của Dận Nhưng sau khi sinh con được ít lâu thì mất sớm. Khi hoàng hậu lâm chung, Khang Hy vô cùng thương tiếc, vì vậy để thỏa mãn ước nguyện của hoàng hậu bèn quyết định phong cho Dận Nhưng làm thái tử, dù Dận Nhưng chỉ là con thứ.

Tuy nhiên, tới năm Khang Hy thứ 47, do Dận Nhưng “có lối sống xa hoa”, “dâm loạn”, “ngôn ngữ lộn xộn, có triệu chứng của người điên” nên bị Khang Hy phế bỏ. Một năm sau đó, lại nói, Dận Nhưng “do bị ma nhập, nhưng đã chữa khỏi” vì vậy khôi phục lại ngôi vị hoàng thái tử cho Dận Nhưng.

 Song, chỉ 2 năm sau đó, Khang Hy lại mượn cớ “bệnh điên” của Dận Nhưng để phế bỏ ngôi vị thái tử rồi đem bắt giam vào ngục tối. Trên các văn bản triều đình, Dận Nhưng do mắc bệnh điên mà bị phế truất, tuy vậy, người ta nói rằng, thực tế không hề diễn ra như thế.

Vào năm đó, Khang Hy đi du hành ở phía Bắc Trường Thành, rất có hứng thú nên mang theo đứa con nhỏ mà ông ta yêu mến nhất là Dận Giới. Tuy nhiên, vùng biên giới phía Bắc không giống như những căn phòng được sưởi ấm ở trong cung, nên trên đường đi, hoàng tử Dận Giới đã nhiễm gió lạnh rồi bệnh rất nặng.

Khang Hy vốn rất yêu mến vị hoàng tử này, nay thấy con bị bệnh không biết làm cách nào, vội vàng cho gọi thái y tới chẩn trị. Người ta nói rằng, trong suốt thời gian Dận Giới bị bệnh, Khang Hy ngày đêm ở cạnh, còn thường xuyên ôm Dận Giới vào lòng sưởi ấm. Tuy nhiên, cuối cùng vị hoàng tử bất hạnh này vẫn không thể qua khỏi.

Sau khi Dận Giới chết, Khang Hy vô cùng đau khổ. Điều khiến Khang Hy  đau lòng hơn chính là các vị hoàng tử khác, những người anh em của Dận Giới dường như không hề quan tâm chút gì đến cái chết của Dận Giới, đặc biệt là Thái tử Dận Nhưng. Trong suốt thời gian Dận Giới mắc bệnh nặng, Dận Nhưng không hề hỏi thăm lấy một lần. Đến khi Dận Giới chết, Dận Nhưng cũng không tỏ vẻ gì là đau thương. Vì vậy, Khang Hy vô cùng thất vọng với những đứa con của mình, đặc biệt là đối với thái tử Dận Nhưng.

Sau đó, một sự việc khác lại xảy ra, giống như lửa đổ thêm dầu. Sau khi Dận Giới chết, Khang Hy liên tục nổi giận với các hoàng tử, tính tình rất bất thường. Điều này khiến các hoàng tử cảm thấy sợ hãi vô cùng. Thái tử Dận Nhưng bị chửi mắng, càng cảm thấy lo lắng vì sợ ngôi vị thái tử của mình bị lung lay. Do quá lo sợ, Dận Nhưng đã sai người bí mật tới thám thính tại phòng ngủ của Khang Hy. Không may, thông tin này bị lộ ra, các vị hoàng tử khác nhân cơ hội đã báo với Khang Hy rằng thái tử Dận Nhưng cho người bí mật theo dõi ông ta.

Khang Hy nghe xong nổi giận đùng đùng cho gọi toàn bộ các đại thần, tướng lĩnh cùng toàn bộ các hoàng tử tới. Trước mặt các đại thần, Khang Hy mắng chửi những đứa con vô tình vô nghĩa của mình, đặc biệt là thái tử Dận Nhưng: “Ngươi thực là quá tệ hại rồi! Bình thường ngươi sống còn xa hoa hơn cả ta, thôi thế cũng cho xong. Đến khi ta phái ngươi đi tuần phía Nam, ngươi lại bắt quan địa phương cống nạp hết thứ này tới thứ khác. Gan ngươi to hơn trời rồi! Đến cả những lễ vật của nước khác cống nạp ngươi cũng tự chiếm riêng cho mình!”.

Nghĩ tới sự việc vừa diễn ra, Khang Hy càng thêm giận dữ: “Em trai ngươi lâm bệnh, ta ngày đêm chăm sóc, trong khi ngươi thân là anh trai mà không hề có một chút quan tâm đau xót. Một người không biết hiếu lễ như ngươi làm sao xứng làm thái tử? Ngươi còn dám đêm tối phái người tới thám thính phòng ngủ của ta, chẳng lẽ ngươi muốn xem ta chết hay chưa? Ngươi phái người ngày đêm theo dõi nhất cử nhất động của ta, mục đích của ngươi là gì?”.

Nói tới đây, vị đại đế triều Thanh không khỏi nước mắt lưng tròng, cảm thấy thất vọng vô cùng vì những đứa con của mình. Cuối cùng, Khang Hy tuyến bố: “Phế bỏ ngôi vị thái tử của Dận Nhưng, những người như thế không thể kế thừa cơ nghiệp của tổ tông được”.

Tuy nhiên, nói đi nói lại thì Dận Nhưng cũng không phải hoàn toàn có lỗi. Khang Hy có quá nhiều con, vì vậy, tình thân giữa các hoàng tử rất ít cho dù là anh em cùng một mẹ. Nguyên nhân chính là vì các vị hoàng tử này ai cũng ngấp nghé vào ngôi vị thái tử. Việc Dận Nhưng phái người theo dõi Khang Hy cũng là vì tâm trạng quá lo lắng cho địa vị của mình.

Mặc dù hai lần phế lập thái tử, song ngôi vị thái tử vẫn chưa thể định đoạt. Khi Khang Hy già và kém minh mẫn, các hoàng tử bắt đầu kéo bè kết cánh, tranh giành nhau ngôi vị thái tử. Cho đến tận khi chết, Khang Hy vẫn chưa công bố người sẽ kế vị mình. Đây cũng chính là lý do vì sao việc Ung Chính, hoàng tử thứ 4 lên ngôi cho tới nay vẫn còn gây ra tranh cãi.

Người ta vẫn nói thái tử Dận Nhưng vì mắc bệnh điên nên mới bị phế truất khỏi ngôi vị thái tử. Tuy nhiên, sách “Thập Diệp dã sử” lại ghi chép một câu chuyện hoàn toàn khác. Chuyện kể rằng, hoàng tử thứ 4 là Dận Chân (tức hoàng đế Ung Chính sau này) khi còn nhỏ thích giao du với các nhân sỹ giang hồ. Có lần Dận Chân tới thiếu lâm, xin học võ. Sư phụ ở đây thấy Dận Chân không phải là người học võ nên dạy cho Dận Chân vài chiêu thiết trường rồi cho phép Dận Chân xuống núi. Trên đường trở về kinh thành, Dận Chân gặp một người trong cung của thái tử ỷ thế ép người. Vì vậy đã dùng thiết trượng đánh cho một trận.

Những người trong phe thái tử biết chuyện, đêm đó phái thích khách tới phủ Ung Chính Vương ám sát Dận Chân. Đêm đó, Dận Chân đang cùng một lạt ma tụng kinh trong phòng thì thấy ngoài cửa sổ có ánh sáng loang loáng, cảm thấy kỳ lạ mới phái vị lạt ma này ra xem có việc gì. Lạt ma nói: “Không cần, ta đã phái lực sỹ đi xem rồi”. Đến sáng hôm sau, Dận Chân ra vườn dạo chơi, thấy trên thân cây có rất nhiều vết đao kiếm, những con chó nuôi trong nhà đều bị chém mất đầu, bên trong vườn có đến 10 xác võ sỹ. Đang lúc Dận Chân còn kinh hãi thì vị lạt ma bước đến nói: “Đây là những thích khách tối qua tìm đến. Võ công của chúng không hề tệ. Tối nay có thể chúng còn tìm tới, mong điện hạ phải cẩn thận”. Dận Chân nghe xong, lập tức sai thủ hạ canh phòng cẩn mật. Đêm đó, người ta chỉ nghe thấy tiếng đao kiếm vang rền trên các mái nhà. Tuy nhiên, không ai dám ra xem vì sợ vạ lây.

Sáng ngày hôm sau, người trong cung thái tử vội vàng chạy ra ngoài mua mấy chục chiếc quan tài. Trong khi đó, phủ Ung Chính Vương cũng hệt như vậy, người ra người vào như có việc gì tấp nập lắm. Lúc đó, cả cung thái tử lẫn phủ Ung Chính vương đều cho người tới gọi vị lạt ma trong triều đến tụng kinh cầu siêu cho những người đã chết.

Người của Ung Chính Vương tới trước nhưng vị lạt ma vừa bước ra thì lại gặp người của thái tử tới gọi. Vị lạt ma vì là chỗ thân tình với Ung Chính nên nói rằng không thể phụng mệnh thái tử. Khi thái tử Dận Nhưng nghe nói như vậy, lập tức nổi giận, nói rằng muốn bắt giết ngay vị lạt ma này. Cũng từ đó, Dận Nhưng đem lòng oán hận Ung Chính.

Lúc đó, có một đạo sỹ từ vùng Tứ Xuyên tìm tới Ung Vương phủ gặp Dận Chân. Hai người vừa gặp, Dận Chân đã phát hiện ra vị đạo sỹ nọ vốn là người bạn mà mình kết giao khi còn du ngoạn giang hồ. Hai người đàm đạo một hồi về võ nghệ, bỗng nhiên, vị đạo sỹ nói: “Điện hạ có nạn, sao không nói cho ta biết?” Dận Chân giật mình hỏi: “Làm sao ông biết?”.

Vị đạo sỹ nói: “Ta nghe nói trong cung thái tử có một đạo sỹ có thể dùng chiếc mũ sắt lấy đầu người khác trong vòng cả trăm dặm. Đêm nay, y sẽ tìm cách làm hại điện hạ. May là ông trời không bạc với điện hạ, ta biết được việc này nên mới đến báo với điện hạ”. Ung Chính nói: “Vậy làm cách nào để đối phó?”.

Vị đạo sỹ cười nói: “Tên đạo sỹ kia dùng mật chú lạt ma để sử dụng ma thuật. Tối nay ta sẽ làm cho ma thuật của hắn phản ngược lại. Điện hạ nên căng một chiếc áo cà sa ở ngoài sân. Chiếc mũ sắt sẽ bị rơi vào chiếc áo cà sa này. Chúng ta giữ lấy, sau này sẽ có lúc dùng”.

Ung Chính nghe theo, quả nhiên thu được chiếc mũ sắt. Thái tử Dận Nhưng nghe nói chiếc mũ sắt bị biến mất, tức giận lắm nên mới thành bệnh, nằm liệt giường không dậy được. Ung Chính nghe vậy, phái lạt ma tìm tới cung thái tử nói: “Ta có một viên tiên đan có thể trị bệnh cho thái tử”.

Dận Nhưng nói: “Lần trước ngươi giúp cho Dận Chân, giờ làm sao ta dám uống thuốc của ngươi”. Lạt ma nói: “Không phải như vậy. Dận Chân bạo ngược, ta lầm tưởng y là bậc minh chủ mới theo y. Nay thấy thái tử gặp nạn, không thể không cứu”. Thái tử Dận Nhưng nghe vậy, liền tin lạt ma, uống viên tiên đan mà y đưa cho.

Viên tiên đan mà thái tử Dận Nhưng uống vào vốn là thuốc kích thích, không thể lạm dụng. Nhưng Dận Nhưng không biết, vẫn uống thuốc theo chỉ dẫn của lạt ma, cuối cùng thần kinh bị kích thích quá độ nên hóa điên, suốt ngày la hét đập vỡ hết đồ đạc xung quanh mình, đến cả việc đại tiểu tiện cũng không thể tự làm được. Thái tử phi thấy vậy, sợ hãi chạy tới tìm Khang Hy.

Khang Hy sai người tới xem xét bệnh tình của thái tử. Sứ giả đi rồi về báo thái tử đã trở nên điên loạn, giống như một con thú điên, không còn nhận ra ai nữa. Khang Hy không còn cách nào khác, đành phải ra lệnh phế bỏ ngôi vị thái tử của Dận Nhưng, rồi đem nhốt vào phòng tối. Vị thái tử Thanh Triều ít lâu sau đó đã chết vì bệnh tật và đói rách trong chốn thâm cung lạnh lẽo.

(Nguồn Wikipedia)

Ai đã giết chết Đại đế Khang Hy?

đăng 05:44 24-09-2011 bởi Hoang Thi Hang Yen   [ đã cập nhật 00:53 20-04-2012 ]

Ai đã giết chết Đại đế Khang Hy?

Tóm tắt: Là ông vua sở hữu nhiều mỹ nữ nhất, có nhiều con nhất và ở ngôi Hoàng đế lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc những tưởng vị “đại đế” của triều Thanh Khang Hy cũng sẽ là vị Hoàng đế mãn nguyện nhất trong lịch sử của xứ sở này. Thế nhưng, những cái nhất ấy lại là nguyên nhân khiến Khang Hy phải chết trong uất giận…


Là ông Vua sở hữu nhiều mỹ nữ nhất, có nhiều con nhất và ở ngôi Hoàng đế lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc những tưởng vị “đại đế” của triều Thanh Khang Hy cũng sẽ là vị Hoàng đế mãn nguyện nhất trong lịch sử của xứ sở này.

Ấy thế nhưng, những cái nhất ấy lại là nguyên nhân khiến Khang Hy phải chết trong uất giận khi chính đứa con trai của ông ta đã bí mật chuẩn bị cho cái chết của cha mình nhằm giành cho được ngôi báu…
1. Nhờ sự nỗ lực của Hiếu Trang Hoàng Thái hậu và giáo sỹ đến từ nước Đức Schall von Bell, sau khi Hoàng đế Thuận Trị băng hà, Thái tử Huyền Diệp mới 8 tuổi đã trở thành người kế vị, lập nên vương triều Khang Hy đình đám trong lịch sử Trung Quốc.

Tuy nhiên, vì sợ Huyền Diệp nhỏ tuổi, không đủ sức cai trị đất nước, Thuận Trị giao quyền nhiếp chính cho Hoàng thái hậu Hiếu Trang và bốn vị Tứ mệnh đại thần. Năm Khang Hy thứ 6, tức năm 1673, mới 14 tuổi, Huyền Diệp tuyên bố tự nắm quyền. Nếu như nói rằng những năm trước khi tự nắm quyền cai trị đất nước, Khang Hy được coi là một Hoàng đế “vứt đi” thì nguyên nhân chính là do tuổi tác của Khang Hy còn quá nhỏ cũng như sự kiềm chế của bốn vị đại thần nhiếp chính.

Ung Chính
Ung Chính

 Vì thế, ngay sau khi tự mình chấp chính, Khang Hy nhanh chóng bộc lộ rõ bản lĩnh của một Đại đế tham vọng và tàn bạo. Ngay khi mới 14 tuổi, Khang Hy đã dùng kế trừ khử cố mệnh đại thần Ngao Bái cùng thế lực của y trong triều đình, đoạt lại quyền lực trong triều đình.
Tiếp đó, Khang Hy phái Tĩnh Hải tướng quân Thi Lang dẫn quân tấn công Đài Loan, thu hàng Trịnh Khắc, thống nhất khu vực Đài Loan. Vào năm Khang Hy thứ 28, nhờ chiến thắng trong cuộc chiến tranh với Nga, Khang Hy đã ký với Nga Hòa ước Trung – Nga, xác định đường biên giới phía giữa hai nước.

Trong những năm Khang Hy thứ 35 và 36, chính Khang Hy đã tự dẫn quân tấn công Gaklan, thống nhất vùng sa mạc phía Bắc cũng như khu vực phía Đông của Tân Cương vào lãnh thổ nhà Thanh. Tới năm Khang Hy 59, Khang Hy cho quân tấn công An Tạng, đánh đuổi thế lực của Tsewang Rapten, rồi phái đại thần trấn giữ Tây Tạng đồng thời phong cho Đạt Lai Lạt Ma làm lãnh tụ tôn giáo ở vùng này… Có thể nói, dưới thời của Khang Hy, bản đồ của Trung Quốc được mở rộng nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến.

Không chỉ có những chiến tích về quân sự, trong thời gian ngồi trên ngai vàng, Khang Hy được coi là người đã xây dựng nền móng cho “thời thịnh trị Khang – Càn” (Khang Hy và Càn Long) mà sử sách Trung Quốc ca ngợi. Chính vì những thành tích rực rỡ ấy, các sử gia Trung Quốc đời sau đều nhất loạt gọi Khang Hy bằng hai chữ: “Đại đế”.

Tuy nhiên, ngoài những thành tích được gọi là “kiệt xuất” về chính trị cũng như võ công, vị “đại đế” của triều Thanh còn có 3 “cái nhất” khác. Thứ nhất là hậu phi nhiều nhất trong lịch sử các Hoàng đế Trung Hoa. Chỉ riêng những người chính thức được gọi là hậu phi trong hậu cung của Khang Hy cũng đã 55 người. Còn lại những phụ nữ được vị “Đại đế” này sủng hạnh nhưng không hề có danh phận thì không ai có thể đếm hết. Thứ hai là con cái nhiều nhất.

Cả đời Khang Hy có tới 35 người con trai, 20 người con gái, tổng cộng là 55 người. Tính ra, cứ mỗi bà vợ chính thức của Khang Hy lại đều đặn sinh cho ông ta một đứa con. Một cái nhất nữa của Khang Hy chính là thời gian tại vị lâu nhất. Lên ngôi năm Thuận Trị thứ 18, tức năm 1611, cho tới năm Khang Hy thứ 61 tức năm 1772 khi Khang Hy băng hà, tính ra, vị “Đại đế” này đã ngồi trên ngài vàng tới 61 năm.

Trong quan niệm của người Trung Quốc, đông con và sống lâu chính là hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời mỗi người. Tuy nhiên, với Khang Hy cả hai điều đó lại đều trở thành một thứ tai họa. Khi Khang Hy hãy còn sống, số con trai đã trưởng thành lên tới 20 người mà đứa con nào cũng mang cái “gen trội” của Khang Hy, đầy những tham vọng và toan tính. Vì vậy, ai cũng ôm hy vọng một ngày kia mình sẽ trở thành người kế thừa ngôi báu và điều khốn khổ hơn, ai cũng nghĩ rằng mình là người có khả năng và cơ hội.

Trong khi đó, Khang Hy vẫn cứ thản nhiên ngồi lì trên ngai vàng suốt 61 năm không chịu xuống. Điều này khiến các vị Hoàng tử của Khang Hy thực sự cảm thấy nôn nóng, bực bội thậm chí là sự oán hận âm thầm người cha của mình. Đã thế, trong việc chọn lập Thái tử kế nghiệp, Khang Hy lại rất “sớm nắng chiều mưa”, cứ lập rồi lại phế, phế rồi lại lập khiến những đứa con của ông ta luôn ở trong hai trạng thái hy vọng rồi tuyệt vọng.

Cũng chính vì thế mà mối quan hệ giữa các Hoàng tử của vị Đại đế Thanh triều ngày càng có nhiều mâu thuẫn, thậm chí còn dẫn đến các cuộc chiến loạn “huynh đệ tương tàn”. Trước tình cảnh đó, một “Đại đế” như Khang Hy cũng chẳng còn biết làm gì khác ngoài việc dậm chân mà kêu trời.

2. Sau hơn nửa thế kỷ diễn ra những cuộc mâu thuẫn tranh giành, thậm chí là chiến loạn giữa các Hoàng tử, cuối cùng vương triều Khang Hy cũng có được một điềm báo sáng sủa cho một khả năng điều hòa các mâu thuẫn. Đó là sự kiện xảy ra vào năm Khang Hy thứ 57, tức năm 1718, khi Hoàng tử thứ 14 là Dận Đề được phong là Phủ Viễn Đại tướng quân.

Từ khi Khang Hy lên ngôi, thế lực của bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ ở Mông Cổ ngày càng phát triển lớn mạnh rồi dần trở thành một lực lượng chống đối lại nhà Thanh. Cho tới những năm Khang Hy thứ 50 trở về sau, bộ tộc này đã khống chế một khu vực cực kỳ rộng lớn bao gồm phía tây Nội Mông Cổ, Thanh Hải, Tân Cương, Tây Tạng đồng thời uy hiếp vùng đất thuộc Thiểm Tây, Cam Túc, Tứ Xuyên, Vân Nam… Đem quân đánh dẹp thế lực của bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ, bảo vệ sự “tôn nghiêm” của vương triều Mãn Thanh trở thành nhiệm vụ chính trị và quân sự quan trọng nhất của vua tôi Khang Hy vào thời điểm lúc bấy giờ.

Đối với triều đình nhà Thanh, đây là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, vô cùng phức tạp và không thể coi thường, do vậy nhất định phải cử một người thực sự lão luyện và có tài năng trên cả lĩnh vực chính trị lẫn quân sự trấn giữ tiền tuyến để có thể nắm bắt được toàn bộ thế cục. Lúc bấy giờ, Khang Hy vẫn chưa chính thức lập Thái tử, vì vậy, việc một Hoàng tử nào được lựa chọn đảm nhiệm trọng trách này sẽ mang một ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

Ý nghĩa ấy không chỉ biểu hiện sự “tín nhiệm” của Hoàng đế đối với vị Hoàng tử mà quan trọng hơn, đó là cơ hội để vị Hoàng tử ấy lập được chiến công hiển hách, từ đó có thể vượt hẳn lên trên những người anh em khác đang tranh giành ngôi báu, trở thành người kế thừa ngai báu. Điều này càng quan trọng đối với một bộ tộc giành được thiên hạ trên mình ngựa như bộ tộc Mãn Thanh.

Khang Hy
Khang Hy

Và trách nhiệm không chỉ liên quan tới vận mệnh quốc gia mà còn gắn liền với vận mệnh tương lai của cá nhân ấy một cách may mắn và ngẫu nhiên rơi vào tay vị Hoàng tử thứ 14 khi ấy vừa tròn 30 tuổi: Dận Đề.

Trên thực tế, trước khi Dận Đề dẫn quân dẹp loạn, Khang Hy đã ban bố một chỉ dụ nhằm giải quyết những mâu thuẫn cũng như những âm mưu tranh giành ngôi báu đang diễn ra giữa những đứa con của mình. Trong chỉ dụ được công bố cho toàn bộ triều thần này, Khang Hy có nói: “Ta nhất định sẽ chọn một người đáng tin cậy xứng đáng làm chủ các ngươi, đồng thời khiến các ngươi tâm phục khẩu phục”. Chưa đầy một năm sau đó, khi phải chọn lựa người cầm quân xuất chinh, Khang Hy đã lựa chọn Dận Đề. Nếu như hai sự kiện này được nối liền với nhau, có thể thấy rõ ý định của Khang Hy trong việc lựa chọn Thái tử kế vị.
Không chỉ có như vậy, trước khi Dận Đề lên đường xuất chinh, Khang Hy đã tự mình đứng ra tổ chức một bữa tiệc tiễn đưa cực kỳ long trọng với sự góp mặt của tất cả các quan viên trong triều đình. Tại bữa tiệc hôm đó, Khang Hy đã phong cho Dận Đề làm “Đại tướng quân vương” đồng thời cho phép Dận Đề sử dụng cờ hiệu của một Thân vương.

Từ khi nhà Mãn Thanh thành lập, các Hoàng tử được phân thành bốn cấp từ Thân vương, Quận vương, Bối cần, Bối tử, trong đó Thân vương là cao nhất, Bối tử là cấp bậc thấp nhất. Vào thời điểm lúc bấy giờ, Dận Đề mới 30 tuổi, còn rất trẻ so với những người anh em khác, vì vậy, cấp bậc của Dận Đề chắc chắn ở mức thấp nhất là Bối tử. Tuy nhiên, trước khi xuất chinh, Ung Chinh lại phong cho Dận Đề danh hiệu “Đại tướng quân vương”, đối xử như một Thân vương.

Dường như Khang Hy muốn tuyên bố với triều đình rằng, Dận Đề giờ đây đã là một Thân vương hoặc chí ít được đối xử như một Thân vương, vì vậy, sau này nếu có lập một “Bối tử” như Dận Đề lên làm Thái tử cũng không phải vội vàng tấn thăng tước vị. Tất cả mọi việc đều phù hợp với những quy định của triều đình.

 Một loạt những việc làm của Khang Hy đều cho thấy, Dận Đề là người sẽ được Khang Hy lựa chọn lên làm Thái tử, ngôi vị mà những người anh em của ông ta đã tranh giành trong suốt gần nửa thế kỷ qua. Chính vì vậy, Dận Đề dẫn quân hăm hở xuất chinh ôm theo mộng ước một ngày kia trở về và được ngồi lên ngai vàng thay thế Khang Hy.

Cũng có lẽ vì cái hy vọng mà Khang Hy nhóm lên trong đầu Dận Đề mà vị Hoàng tử trẻ tuổi không hề làm hổ danh cha mình. Sau bốn năm không quản hiểm nguy xông pha trận mạc, cuối cùng, Dận Đề cũng giành lại được vùng đất Tây Tạng. Sau đó, dưới sự chỉ đạo của Khang Hy, Dận Đề tiến hành đàm phán với bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ và nhanh chóng có được một hiệp ước hòa bình với bộ tộc này.

Cho tới năm Khang Hy thứ 61, cuộc chiến tranh ở phía Tây của vương triều Mãn Thanh coi như đã được dập tắt. Ca khúc khải hoàn trở về, Dận Đề tràn đầy hy vọng sẽ trở thành người kế thừa ngôi báu của vua cha. Thế nhưng, khi Dận Đề chưa kịp trở về đến kinh thành thì một sự việc bất ngờ đã xảy ra khiến mộng ước của Hoàng tử Dận Đề tan như bong bóng: Khang Hy Hoàng đế đột ngột qua đời, Hoàng tử thứ 4 là Dận Chân, tức anh trai ruột của Dận Đề trở thành người kế vị một cách thần bí, tức là Hoàng đế Ung Chính.

3. Vào ngày 7 tháng 11 năm Khang Hy thứ 61, tức năm 1722, Khang Hy ra chơi tại vườn Sướng Xuân nằm ở ngoại ô kinh thành. Đến ngày mùng 8, có chỉ dụ rằng: Hoàng đế bị trúng gió lạnh, hôm đó đã ra mồ hôi. Do “long thể” bất an nên từ ngày 10 đến ngày 15 sẽ thực hiện trai giới chay tịnh để chuẩn bị cho lễ tế diễn ra vào ngày Đông chí. Trong thời gian này, toàn bộ các tấu chương không nhất thiết đều phải đưa tới cho Hoàng đế. Việc các Hoàng đế “trai giới” ở một mình để nghỉ ngơi, dưỡng thể là một chuyện hoàn toàn bình thường vì vậy không có nhiều người đặc biệt để ý tới chuyện đó. Tuy nhiên, có một người đã cực kỳ tinh nhạy đã từ một chuyện rất thường xảy ra trong chốn cấm cung ấy tìm ra một cơ hội có thể thay đổi cả triều đại. Người đó chính là Dận Chân.

Trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn quyết liệt giữa các Hoàng tử của Khang Hy thì Dận Chân, vị Hoàng tử thứ 4 rõ ràng là một người cực kỳ lão luyện và kín đáo. Tất cả những lời nói cũng như việc làm của Dận Chân chưa bao giờ khiến những người anh em của ông ta cũng như Khang Hy cảm thấy nghi ngờ.

Trong mắt các Hoàng tử, triều thần cho tới chính vị “Đại đế” Khang Hy, vị “tứ Bối tử” Dận Chân này dường như là một người “an phận thủ thường” và không hề có hứng thú gì đối với ngôi báu mà các anh em của ông ta sẵn sàng đổ máu để tranh giành.

Tuy nhiên, sự thực sau đó đã chứng minh, tất cả mọi người đều nhìn nhầm. Việc tỏ ra an phận, không có chí tiến thủ của Dận Chân thực tế là để thực hiện theo lời của Đới Đạc, mưu sĩ rất được Dận Chân trọng dụng. Đới Đạc từng nói với Dận Chân rằng: “Vua cha sáng suốt thì làm Hoàng tử sẽ rất khó. Nếu như quá phô trương, khoe mẽ thì chắc chắn sẽ gây ra sự nghi kỵ của Hoàng đế. Ngược lại, nếu như một chút cũng không lộ ra thì Hoàng đế và những người anh em của mình sẽ coi thường, từ đó không chú ý tới nữa. Như vậy, nếu như giữ được vị thế ở giữa hai điều này, thì có thể an tâm chờ đợi thời cơ đến”.

Một kẻ cực kỳ tinh ranh như Dận Chân ngay lập tức đã nhận ra sự hữu hiệu trong kế sách của Đới Đạc, vì thế Dận Chân kiên quyết thực hiện theo kế sách này. Một mặt đối với Hoàng đế Khang Hy và các Hoàng tử khác, Dận Chân tỏ ra là một người an phận thủ thường, không có ý định tranh giành ngôi vị Thái tử. Mặt khác, Dận Chân lại ngấm ngầm kết giao với hai nhân vật cực kỳ quan trọng là Long Khoa Đa và Niên Canh Nghiêu.

Long Khoa Đa là anh ruột của Hoàng hậu đương triều, làm chức Thống lĩnh bộ binh, nắm giữ nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho kinh thành. Còn Niên Canh Nghiêu là tuần phủ Tứ Xuyên. Trong cuộc chiến đánh dẹp bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ ở chiến trường phía Tây, Niên Canh Nghiêu nắm giữ một cánh quân tinh nhuệ.

Mục đích của Dận Chân khi kết thân với hai người này chính là, nếu một ngày nào đó kinh thành xảy ra sự biến thì sẽ có Long Khoa Đa khống chế. Còn nếu như cánh quân Tây chinh của Dận Đề có biến thì Niên Canh Nghiêu có thể phái quân chống chọi lại với Dận Đề, không để cho Dận Đề có thể sử dụng vũ lực để tranh giành ngôi báu. Dận Chân có thể nói là một thiên tài trong việc áp dụng những nguyên tắc tranh đấu trong chính trị. Vì vậy, đúng vào thời điểm Khang Hy bị ốm tại vườn Sướng Xuân và các vị Hoàng tử khác thì vẫn đang chìm đắm trong mộng tưởng thì Dận Chân đã ra tay.

4. Từ ngày 9 tới ngày 12, Dận Chân vừa ngấm ngầm vừa công khai cử người vào cung thám thính bệnh tình của Khang Hy. Khi đã chắc chắn rằng, bệnh tình của Khang Hy ngày một thêm nặng, Dận Chân đã bí mật gấp rút chuẩn bị mọi thứ cho việc đoạt ngôi Hoàng đế.

 Tới sáng sớm ngày 13, bệnh tình của Khang Hy đã bước sang giai đoạn nguy kịch. Long Khoa Đa, người đảm nhiệm vai trò hộ vệ bên cạnh Khang Hy đã vội vàng sai người truyền chỉ lệnh cho 7 vị Hoàng tử ngay lập tức phải đến vườn Sướng Xuân. Là con thứ 4, Dận Chân cũng là một trong số 7 Hoàng tử được gọi đến để chứng kiến giây phút “phụ hoàng” lâm chung. Tuy nhiên, chẳng hiểu vì lý do gì cho mãi tới gần trưa, Dận Chân mới vội vã tới vườn Sướng Xuân.

Vào thời điểm lúc bấy giờ, không khí tại vườn Sướng Xuân vô cùng căng thẳng. Hoàng đế Khang Hy đã rơi vào trạng thái hôn mê, các Hoàng tử được triệu đến chẳng ai kịp nói lời nào với Vua cha của mình. Trước cơn nguy kịch của Khang Hy, tất cả các Hoàng tử đều cảm thấy đột ngột, sợ hãi thậm chí là lo lắng.

Cho đến tận giây phút đó, ngôi Thái tử vẫn chưa được lập, trong khi đó, người đã được Khang Hy ngấm ngầm “nhắm” trước là Hoàng tử thứ 14 Dận Đề vẫn còn chinh chiến ở miền Tây xa xôi chưa kịp trở về. Vì thế, nếu như Khang Hy đột ngột băng hà mà chưa kịp nói lời nào thì một cuộc chiến đẫm máu huynh đệ tương tàn tranh giành quyền lực giữa các vị Hoàng tử là khó có thể tránh khỏi.

Khi mặt trời xuống núi, màn đêm bao trùm vườn Sướng Xuân. Mặc dù các cung nữ đã thắp đèn khắp trong ngoài cung nhưng những người đang lo lắng đứng đợi bên ngoài phòng bệnh của Hoàng đế Khang Hy vẫn không hề cảm thấy ấm áp bởi những con gió đông liên tục thổi. Cho đến 10 giờ tối hôm đó, một tiểu thái giám được giao nhiệm vụ chầu chực bên cạnh Khang Hy chạy hộc tốc từ trong phòng ra bên ngoài, nơi các Hoàng tử, Hậu phi đang đứng lên ngồi xuống trong sự căng thẳng tột độ. Viên thái giám mặt tái xanh, lắp bắp nói không ra lời.

 Ngay lập tức những người có mặt vội vã chạy vào phòng của Khang Hy. Vị “Đại đế” triều Thanh đã chết, khuôn miệng hơi hé ra dường như vẫn còn muốn nói điều gì đó. Đúng trong giây phút bàng hoàng ấy, Long Khoa Đa tuyên bố với các Hoàng tử có mặt tại vườn Sướng Xuân cái thông tin còn bàng hoàng hơn: “Hoàng thượng di chiếu, lệnh cho Hoàng tử thứ 4 là Dận Chân kế thừa ngôi báu!”.

Các vị Hoàng tử có mặt đều nhảy dựng dậy, mắt long sòng sọc nhìn Long Khoa Đa như muốn hỏi: “Di chiếu ở đâu?”. Long Khoa Đa bình thản nhìn những Hoàng tử đang vây quanh mình, nói: “Là khẩu chiếu” (chiếu chỉ bằng lời nói). Các Hoàng tử lúc này mới té ngửa, “khẩu chiếu” tức là chẳng chiếu chỉ, chẳng có gì làm bằng cớ, muốn nói sao thì là như vậy. Tuy nhiên, tất cả đều đã quá muộn, số phận của họ đã được quyết định tại vườn Sướng Xuân. Nắm trong tay toàn bộ cấm vệ quân bảo vệ kinh thành, Long Khoa Đa đã bí mật khống chế toàn bộ Bắc Kinh.

 Tất cả những Hoàng tử cũng như vương công đại thần có khả năng chống đối với Dận Chân đều được đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt của cấm vệ quân. Cũng vào thời điểm đó, Dận Chân đã viết một bức mật thư sai người hỏa tốc gửi cho tuần phủ Tứ Xuyên Niên Canh Nghiêu, lệnh cho ông ta dẫn đội quân tinh nhuệ của mình tiến gần tới doanh trại quân của Dận Đề dưới danh nghĩa phụng mật chiếu của Hoàng đế Khang Hy.

Mục đích của Dận Chân là muốn đề phòng người em Dận Đề của mình. Một khi thấy Dận Đề manh động, quân của Niên Canh Nghiêu sẽ lập tức ra tay, nếu giết được thì giết, không giết được cũng giam chân Dận Đề ngoà i biên ải, không cho ông ta trở về kinh thành tranh giành ngôi báu.

Sau khi đã sắp xếp mọi việc, Dận Chân và Long Khoa Đa đã đưa di thể của Khang Hy về kinh ngay trong đêm. Tiếp đó, Dận Chân cho phong tỏa Hoàng cung, không cho phép bất cứ Hoàng tử nào vào cho tới khi tang lễ của Khang Hy chính thức được cử hành. Cuối cùng, sau 7 ngày bí mật chuẩn bị và lên kế hoạch, Hoàng tử thứ 4 Dận Chân, m
ột người chưa bao giờ được Khang Hy để ý tới đã chính thức lên ngôi, tức Hoàng đế Ung Chính nổi tiếng trong lịch sử triều Thanh.


(Nguồn Wikipedia)


Trận cổ chiến Xích Bích xảy ra ở đâu?

đăng 18:50 11-09-2011 bởi Vu Tien Dat   [ cập nhật 00:57 20-04-2012 bởi Hoang Thi Hang Yen ]

Trận cổ chiến Xích Bích xảy ra ở đâu?

Tóm tắt: Xem ra chiến trường cổ Xích Bích rút cục nằm ở đâu vẫn còn rất khó để đưa ra được lời phán đoán cuối cùng, bởi vì lịch sử thì đã qua đi, Trận Xích Bích ác liệt năm nào cũng đã bị chôn vùi trong bụi mờ của lịch sử từ lâu.



Xem ra chiến trường cổ Xích Bích rút cục nằm ở đâu vẫn còn rất khó để đưa ra được lời phán đoán cuối cùng, bởi vì lịch sử thì đã qua đi, Trận Xích Bích ác liệt năm nào cũng đã bị chôn vùi trong bụi mờ của lịch sử từ lâu.

Nhà văn nổi tiếng đời Tống là Tô Thức bị giáng chức đưa đến Hoàng Châu (nay là Hoàng Cương, tỉnh Hồ Bắc) nhậm chức Đoàn luyện phó sứ. Một hôm, ông ngồi trên một con thuyền nhỏ, ôm theo một hũ rượu, đến Trường Giang chơi.

Con thuyền đưa ông đến một nơi có cảnh sắc thật là đẹp, những vách đá dựng đứng ở đó cao xuyên mây, những con sóng lớn đập vào bờ sông  hiến người ta phải khiếp vía kinh hồn. Hoa nước bắn tứ tung, cứ như cuộn lên hàng ngàn hàng vạn đống tuyết trắng. Tô Thức bị cảnh sắc tuyệt diệu nơi đây làm mê đắm. Hỏi dân ở đó, người ta bảo ông là nơi ấy chính là chiến trường cổ Xích Bích mà Tào Tháo đã bị vậy hãm và đánh bại năm nào.

c
Lâu thuyền trong trận chiến Xích Bích

Đứng trước cảnh sắc tuyệt vời này, Tô Thức không nén được mối u tình hoài cổ, liền vung bút viết nên bài từ bất hủ “Niệm Nô Kiều Xích Bích hoài cổ”: “Đại giang đông khứ, Lãng đào tận, thiên cổ phong lưu nhân vật...”  

Trong bài từ, Tô Thức tuy có tưởng nhớ lại Chu Du tư thế oai hùng, khăn đai quạt lông và Trận Xích Bích khiến cho giặc ngoại tộc hùng mạnh phải tan tác vào năm nào, nhưng ông lại cảm thấy dường như Hoàng Châu không xứng danh với lịch sử Trận Xích Bích thời Tam Quốc, cho nên ông đã viết một cách hết sức khéo léo trong bài từ: “Cổ luỹ tây biên, Nhân đạo thị, Tam Quốc Chu Du Xích Bích”. Có nghĩa là nghe người ta nói, ở đó chính là Xích Bích thời Tam Quốc, thì tôi cũng nghe vậy thôi.

Ông còn viết trong một bài khác: Bên Tây Sơn ở Hoàng Châu có nơi có rất nhiều đá đỏ, có người bảo đó là Xích Bích nơi Tào Tháo bị chiến bại, có người lại bảo là không phải. Sau khi Tào Tháo bại trận, phải tháo chạy khỏi Hoa Dung Đạo. Như ngày nay ở Tây Biên được người ta gọi là Xích Bích, bên kia bờ có thị trấn Hoa Dung, mà ở Nhạc Châu (nay là Nhạc Dương, tỉnh Hồ Nam) lại có huyện Hoa Dung. Không biết rút cục nơi nào mới là Xích Bích thực sự . Nghi vấn của Tô Thức từ năm ấy còn lưu truyền mãi đến bây giờ.

Ngày nay nếu mọi người đi ngược dòng từ Hoàng Cương lên, trừ hai chữ “Xích Bích” được khắc trên núi ở nơi Tô Thức từng đi qua ra, những nơi khác như bờ nam Trường Giang ở đông bắc huyện Gia Ngư, bờ nam Trường Giang ở Tây Biên huyện Vũ Xương, núi Lâm Chướng huyện Hán Dương, thôn Xích Bích huyện Bồ Kì, đều có những nơi mà dân địa phương gọi là di chỉ chiến trường cổ Xích Bích. Đó mới chỉ là thuộc địa phận tỉnh Hồ Bắc, còn một vùng huyện Hoa Dung ở tỉnh Hồ Nam nữa, cũng có những người cho là chiến trường cổ Xích Bích lẽ ra phải ở nơi họ.

Một chiến trường cổ Xích Bích mà có đến năm sáu nơi tranh chấp, vậy thì rút cục nơi nào mới là Xích Bích thực sự đây? Kêu to hơn cả hiện giờ là hai nơi bờ nam Trường Giang ở đông bắc huyện Gia Ngư và thôn Xích Bích huyện Bồ Kì.

Căn cứ để nói Xích Bích ở huyện Gia Ngư là trong sách cổ có câu “Xích Bích tại Gia Ngư”. Không ít các tác phẩm văn học và tác phẩm sử học ở người thời nay khi nhắc đến Xích Bích là phần lớn cũng đều đưa vào lời chú thích “Gia Ngư ở tỉnh Hồ Bắc ngày nay”. Còn căn cứ để nói Xích Bích ở Bồ Kì cũng là xuất phát từ sách cổ. Trong tác phẩm “Kinh Châu kí” của Lưu Tống Thịnh Hoằng đời Nam Triều có nói: “Huyện Bồ Kì men theo 100 dặm bờ nam sông tên là Xích Bích, Chu Du Hoàng Cái đáp thuyền lớn từ nơi đây đi công phá võ binh nước Ngụy ở Ô Lâm. Ô Lâm nằm cách Xích Bích 160 dặm theo hướng đông tây”. Nói Xích Bích cách Ô Lâm 160 dặm (80 000 m) theo hướng đông tây về cơ bản là phù hợp với những ghi chép trong sử tịch.

Đại thi nhân nhà Đường là Lý Bạch còn dựa vào đó để viết một bài thơ có tên “Xích Bích Sơn”, nói: “Nhị long tranh chiến quyết sống mái, Xích Bích lâu thuyền quét địa không. Lửa ngụt ngút trời rọi Ngân hán, Chu Du (ở) nơi đây (công) phá Tào Công”. Căn cứ về Bồ Kì dường như đầy đủ hơn căn cứ về Gia Ngư một chút, cho nên mấy năm gần đây rất nhiều người đã đồng ý là Xích Bích ở Bồ Kì.

d
Chữ khắc trên vách núi được cho là
 nơi diễn ra trận Xích Bích tại
Hoàng Cương

Song người Hoàng Cương nhất quyết không đồng ý với giải thuyết Xích Bích ở Gia Ngư hoặc Bồ Kì, bởi vì Tô Thức đã viết bài từ “Niệm Nô Kiều Xích Bích hoài cổ” và hai bài phú “Tiền Xích Bích phú”, “Hậu Xích Bích phú”, đều viết về Xích Bích Cơ (mỏm Xích Bích – ND) ở Hoàng Cương. Người bản địa nơi  đây lâu nay vẫn truyền nhau rằng Trận Xích Bích đã xảy ra ở nơi họ.

Các bài từ, phú mà Tô Thức viết lại đã góp thêm chứng cứ cho họ. Cho nên bắt đầu từ đời Tống, người Hoàng Cương đã dựng lên các cảnh điểm ở đó như hai Phú đường, Loại Giang Đình, Vấn Hạc Đình, Ấp Sảng Lâu..., ngoài ra còn khắc lên trên vách núi ở bên sông hai chữ lớn “Xích Bích”.

Nếu như nói chiến trường cổ Xích Bích không nằm ở Hoàng Cương mà là ở Gia Ngư hoặc Bồ Kì, vậy thì trước Tô Thức, nơi đây lại lưu truyền truyền thuyết lâu như vậy thì biết giải thích sao đây?  

Xem ra chiến trường cổ Xích Bích rút cục nằm ở đâu vẫn còn rất khó để đưa ra được lời phán đoán cuối cùng, bởi vì lịch sử thì đã qua đi, Trận Xích Bích ác liệt năm nào cũng đã bị chôn vùi trong bụi mờ của lịch sử từ lâu. Ẩn số ngàn đời này đành phải để cho người đời sau tiếp tục tìm tòi, tiếp tục phỏng đoán, bình thuyết.


Quốc Trung
(Theo tài liệu tiếng Trung) 

Bí mật việc bảo vệ thi hài và lăng Lenin

đăng 09:10 11-09-2011 bởi Vu Tien Dat   [ cập nhật 00:54 20-04-2012 bởi Hoang Thi Hang Yen ]

Bí mật việc bảo vệ thi hài và lăng Lenin

Tóm tắt: Năm 2006 đúng vào dịp kỷ niệm 135 năm ngày sinh Vladimia Ilich Lenin, Nga đã công bố nhiều tài liệu xưa nay vẫn được coi là tuyệt mật, trong đó có các tài liệu về việc bảo vệ thi hài và lăng Lenin trong suốt gần một thế kỷ.



Năm 2006 đúng vào dịp kỷ niệm 135 năm ngày sinh Vladimia Ilich Lenin, Nga đã công bố nhiều tài liệu xưa nay vẫn được coi là tuyệt mật, trong đó có các tài liệu về việc bảo vệ thi hài và lăng Lenin trong suốt gần một thế kỷ.


Nguyên nhân nào dẫn đến cái chết của Lenin?

Sau khi Cách mạng Tháng Mười thành công, Lenin trở thành chủ tịch đầu tiên của nhà nước Xô viết. Vì vậy, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách ám sát Lenin. Chỉ tính từ tháng 1/1918 cho tới tháng 8/1918 đã có ít nhất 4 vụ ám sát nhằm vào Lenin, mà vụ nghiêm trọng nhất xảy ra vào buổi tối ngày 30/8/1918 ở Moscow khiến ông bị thương nặng. Rất may, các chiến sĩ bảo vệ đã đưa Lenin đi cấp cứu kịp thời nên không nguy hiểm tới tính mạng. Tuy vậy lần ám sát này đã ảnh hưởng rất nghiêm trọng tới sức khỏe của Lenin.

Thi hài Lenin

Ngày 22/10/1922, sau khi rời khỏi trụ sở làm việc tại điện Kremli thì sức khỏe của Lenin đột ngột trở nên rất xấu. Chỉ trong vòng gần 2 tháng, ông đã viết tổng cộng tới 224 tài liệu, bao gồm các công hàm ngoại giao, các chỉ thị của chính phủ, thư từ. Ngoài ra, Lenin còn trực tiếp gặp gỡ 171 đại biểu bao gồm các thành viên của chính phủ, các ủy viên Hội đồng Quốc phòng, các ủy viên Bộ Chính trị, các đại biểu của công nhân, nông dân, binh sĩ. Đây cũng là một trong những lý do khiến sức khỏe của Lenin ngày càng giảm sút trầm trọng.

Sáng sớm ngày 21/1/1924, sau khi bóc tờ lịch bỗng nhiên Lenin cảm thấy 2 bên thái dương đau dữ dội và bị ngã ra giường. Tới 17h30’ cùng ngày, huyết áp của Lenin bị giảm đột ngột, và tới 18h45’, trái tim của ông ngừng đập.

Ngày hôm đó, 5 triệu tờ Sự thật (Cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Liên Xô) đã được truyền tới tay những người dân Liên Xô báo tin đau buồn. Hơn 500 người, bao gồm các ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô, các thành viên Hội đồng Bộ trưởng đã tới Gorki để vĩnh biệt Lenin mặc cho cái rét cắt da. Cùng với hơn 50 vạn người tham gia trên quãng đường dài 4 km, Họ đã khênh quan tài Lenin đi bộ trong vòng hơn 6 giờ, ra ga xe lửa để chuyển về Moscow.

Cùng thời gian trên, văn phòng chính phủ đã nhận được tới hơn 12.000 bức điện và thư của các tầng lớp nhân dân từ khắp nơi trên toàn lãnh thổ Liên Xô đề nghị có biện pháp bảo quản vĩnh viễn thi hài Lenin.

Phải bảo vệ bằng được thi hài Lenin

Trước yêu cầu đó, Bộ Chính trị đã nhất trí và quyết định thành lập tổ công tác đặc biệt gồm một số các chuyên gia học hàng đầu có nhiệm vụ khẩn cấp trong vòng 3 tháng phải bảo vệ bằng được thi hài Lenin một cách lâu dài. Đây là công việc xưa nay chưa từng có ở nước Nga nói chung và trong giới y học Nga nói riêng, hơn nữa mức độ rủi ro là rất cao, vì vậy nhiều người đã không dám đảm nhận. Cuối cùng chỉ có duy nhất Sibarski, một nhà bác học chuyên ngành hóa sinh người Do Thái đã dũng cảm nhận công việc khó khăn này.

Để có được phương án tốt nhất, Sibarski đã ngay lập tức tiến hành vô số các thí nghiệm, nhưng đều thất bại. Một tháng đã trôi qua, làn da của thi hài đã bắt đầu xuất hiện những vết nhăn, dấu hiệu của sự hoại tử. Nghe được tin này nhà giải phẫu học Valuabov, giáo sư trường đại học Halikoe đã tự nguyện tới giúp đỡ. Valuabov đã từng thành công trong việc bảo vệ màu sắc, chống sự xuống cấp do mục nát của một loại lụa tơ tằm quý hiếm trưng bày tại viện Bác cổ của Sa hoàng.

Do sự thỉnh cầu của Sibarski, Valuabov đã đồng ý cùng Sibarski gánh vác trách nhiệm bảo quản bằng được thi hài Lenin. Họ đã sáng chế thành công một loại dung dịch có thể đáp ứng rất tốt cho công việc. Sau đó cả hai lập tức bắt tay vào việc giải phẫu thi hài, làm sạch các cơ quan nội tạng rồi truyền dung dịch nói trên vào hệ thống tuần hoàn. Đồng thời với việc ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn, hai nhà bác học cũng tiến hành dùng dung dịch để rửa sạch tất cả các bộ phận khác.

Toàn cảnh lăng Lenin

Hai nhà khoa học này cũng đề nghị chế tạo quan tài và xây dựng lăng Lenin sao cho phù hợp với yêu cầu bảo quản thi hài một cách lâu dài. Theo thiết kế ban đầu thì lăng sẽ được xây dựng như một lễ đường lớn có kết cấu toàn bằng gỗ màu trắng. Cuối năm 1925, BCH TW ĐCS Liên Xô đã phát động một cuộc lấy ý kiến rộng rãi trong toàn dân về mẫu thiết kế nói trên. Theo tài liệu còn lưu trữ, thì đã có hơn 100.000 ý kiến đề xuất và mẫu thiết kế được gửi tới ban tổ chức.

Có phương án đề nghị xây dựng lăng có 26 tầng, trong đó có một phòng họp lớn dành cho các cuộc họp có tính quan trọng nhất của BCH TW hoặc chính phủ. Trên đỉnh tháp bố trí một ngọn đèn cháy sáng suốt ngày đêm tượng trưng cho tư tưởng Lenin sống mãi. Toàn bộ lăng sẽ mang dáng dấp của một quả cầu, bởi Lenin là người thuộc về toàn thế giới.

Cũng có đề án xây dựng lăng giống như tháp Eiffel của Paris để biểu trưng cho sự thắng lợi cuối cùng của cách mạng vô sản trên toàn thế giới. Cuối cùng, ban tổ chức đã chọn mẫu thiết kế của kiến trúc sư Sizenov vì đáp ứng tốt nhất tất cả những yêu cầu đã được đề ra. Đó chính là Lăng Lenin mà chúng ta đuợc thấy ngày nay.

Trong lăng, thi hài Lênin được quàn trong một quan tài làm bằng pha lê trong suốt, một tay nắm, còn tay kia để lên ngực một cách tự nhiên, hai mắt nhắm hờ.

V. Putin không muốn thi hài Lenin bị hỏa táng

Để đảm bảo việc giữ gìn thi hài Lenin không bị biến dạng, hơn 70 năm dưới chính thể Xô viết đã có tới 3 thế hệ các nhà khoa học Liên Xô nối tiếp nhau đảm nhiệm nhiệm vụ này.

Một trong 3 sự nghiệp quan trọng nhất

Đảng Cộng sản và chính phủ Liên Xô luôn coi công việc này như là một trong 3 sự nghiệp quan trọng nhất, đó là: bảo quản tốt thi hài Lenin, phát triển ngành hàng không vũ trụ, nghiên cứu và phát triển năng lượng hạt nhân.

Việc bảo vệ thi hài Lenin là công việc hết sức phức tạp, thí dụ việc duy trì nhiệt độ trong phòng đặt quan tài Lenin luôn luôn phải ở 16 độ C với sai số không được vượt quá 0,7 độC. Để thực hiện công việc này luôn phải có 12 kỹ sư, bác sĩ chuyên ngành làm việc trong mỗi ca trực, và các ca phải trực liên tục 24/24 giờ. Còn kỹ thuật chống sự hoại tử thi hài thì được coi là một trong những bí mật trọng điểm của quốc gia.

Nhưng kỳ tích lớn nhất trong việc bảo vệ thi hài Lenin là việc di chuyển thi hài ra khỏi lăng vào năm 1941 khi Moscow bị Đức tấn công. Dưới sự chỉ đạo của Stalin, chỉ sau hai ngày nhận được lệnh di chuyển, Sibarski cùng các cộng sự chỉ kịp mang theo những máy móc và thuốc men cần thiết nhất cùng thi hài Lenin rời khỏi thủ đô.

Lăng Lenin


Trong hồi ký của mình, khi nhớ lại sự kiện này, Sibarski đã viết: “Nhằm đảm bảo bí mật, chúng tôi đã xuất phát khỏi lăng vào nửa đêm 3/7/1941 và được một ủy viên Bộ Chính trị dùng xe tăng đón tại nhà ga Orkovsk. Sau khi thi hài và toàn bộ nhân viên cùng những người thân trong gia đình Lenin lên tàu, đoàn được hộ tống bởi 410 binh lính và sĩ quan Hồng quân".

Những ngày đó lại đặc biệt nóng. Để bảo vệ thi hài, họ đã phải dùng tới phương pháp rất thủ công, đó là xếp những thanh nước đá xung quanh quan tài, đồng thời phải dùng rượu cồn thường xuyên sát trùng để tránh hiện tượng hoại tử. Sau 5 ngày đoàn mới tới được Sumin (Uran) trong bối cảnh bí mật tuyệt đối.

Ngay cả Bí thư thứ nhất Khu ủy vùng đó cũng không được biết thực chất người ta đã đưa đoàn người này đến đây làm gì. Sau đó tất cả những người theo đoàn, trong đó có cả những người trong gia đình  giáo sư Sibarski đều phải lưu lại Xumin và được bố trí ở ký túc xá của Học viện Nông nghiệp, hoàn toàn cách ly với bên ngoài. Còn chiếc quan tài pha lê quàn thi hài Lênin thì được đặt tại phòng họp ở tầng hai của tòa nhà, và được gọi là “Phòng trắng” (Bạch cung).

Tại địa điểm mới, nhóm của giáo sư Sibarski gặp muôn vàn khó khăn trong công việc. Do chiến tranh mỗi ngày một ác liệt nên ngay cả khẩu phần lương thực cũng không đủ, thì cũng dễ hình dung ra những dụng cụ, thuốc men và những điều kiện khác phục vụ cho việc bảo quản thi hài thiếu thốn đến mức nào.

Nhưng chính tại nơi đây nhóm bảo quản do Sibarski đứng đầu đã phát minh ra những phương pháp bảo quản thi hài hoàn toàn mới. Thí dụ như Valuabov đã tìm ra phương pháp có tính đột phá trong công tác bảo vệ thi hài: khắc phục mỹ mãn toàn bộ những nốt tàn nhang trên khuôn mặt, đồng thời nâng cao được độ cao của mũi và con mắt như lúc Lênin còn sống.

Tuy nhiên, do hoàn cảnh khó khăn và thiếu thốn kéo dài, nhất là việc không thể duy trì được một nhiệt độ thích hợp, nên vào tháng 12/1943, thi hài bắt đầu xuất hiện hiện tượng hoại tử. Để khắc phục, các nhà bác học đành phải di chuyển thi hài xuống một căn hầm sâu dưới lòng đất với hy vọng lợi dụng được nhiệt độ thấp ở đây. Cho tới tháng 3/1945, khi mối đe dọa của quân phát xít đã bị đẩy lùi thì thi hài Lenin lại được đưa về Moscow để phục vụ nhân dân vào viếng.

Kể từ đó thi hài Lenin càng được bảo vệ hết sức cẩn trọng. Theo Giáo sư Delsunov, người trực tiếp lãnh đạo nhóm bảo quản thi hài, cho biết: mỗi tuần 2 lần vào thứ hai và thứ sáu, thi hài lại được tiến hành bảo dưỡng. Đầu tiên là thay bộ quần áo, sau đó thi hài được xử lý bằng chất liệu thơm rồi đưa vào phòng vô trùng để tiến hành kiểm tra một cách toàn diện.

Vẫn theo giáo sư Delsunov thì khi kiểm tra nếu phát hiện thấy bất kỳ một sự thay đổi nào, dù là nhỏ nhất, đều phải lập tức báo cáo lên Bộ Y tế Liên bang, và sau khi được Bộ chuẩn y mới được phép tiến hành các biện pháp khắc phục. Riêng người phụ trách phòng bảo ôn cứ 10 phút một lần phải báo cáo đầy đủ các thông số của phòng như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và phải chịu trách nhiệm duy trì các thông số cần thiết. Sau khi đã hoàn tất mọi công đoạn trên thì mới chỉnh sửa y phục, tư thế thi hài. Ngoài việc bảo dưỡng thường xuyên như trên, thì cứ nửa năm một lần thi hài được ngâm trong một loại dung dịch đặc biệt với thời gian kéo dài hai tuần liền.

V. Putin không muốn thi hài Lenin bị hỏa táng

"Sau khi Liên Xô sụp đổ, do rất nhiều nguyên nhân, chính quyền Nga khi đó đã không cấp kinh phí cho việc tiếp tục bảo quản thi hài Lenin. Phòng thí nghiệm lăng Lenin bị đổi tên thành “Trung tâm nghiên cứu y học kết hợp sử dụng thuốc thực vật toàn Nga”, khiến cho sự bảo quản thi hài ngày một khó khăn.

Trong suốt thập niên 90 của thế kỷ trước, việc bảo quản thi hài vẫn được tiếp tục, song hoàn toàn dựa vào sự tự nguyện của các cán bộ, nhân viên và các nhà khoa học, trong đó bao gồm cả con trai của Sibarski.

Cũng cần nói thêm rằng trong thời gian nói trên, nước Nga dưới quyền của Tổng thống Eltsin đã rộ lên cuộc tranh luận dai dẳng xung quanh việc di chuyển lăng và xử lý thi hài Lenin như thế nào.

Chỉ từ sau khi Putin trở thành tổng thống, thì cuộc tranh luận trên mới dần dần im hơi lặng tiếng. Cá nhân Tổng thống Putin không hề giấu giếm lòng tôn kính của mình đối với Lenin, hơn nữa ông còn cổ vũ người dân Nga “hãy tự hào với tinh thần cách mạng của giai cấp vô sản Nga”. Chưa đầy một năm sau trên cương vị tổng thống Nga, Putin đã phát biểu: ông không muốn thi hài Lenin bị mang đi hỏa táng, mà “cần phải bảo vệ sự yên tĩnh của Người”.

Cuối năm 2003, các nhân viên bảo vệ và các nhà khoa học đã tạm đóng cửa lăng để tiến hành bảo dưỡng thi hài và thay y phục của Lenin. Bakesov, người phụ trách lăng đã ra ra tuyên bố nhấn mạnh: “Thi hài Lenin vẫn được bảo quản rất tốt, ít nhất trong vòng hơn 100 năm nữa vẫn không có chuyện gì xảy ra”.


(Theo ANTG)

1-10 of 14