Địa lan

Địa lan Bắc Hà

Địa lan Bắc Hà là nhiều loài thuộc họ hoa lan (Orchidaceae), chi Huệ lan (Cymbidium spp.), phân bố rộng khắp trên các vùng rừng núi Việt Nam và tập trung nhiều nhất ở khu vực rừng núi Đông Bắc. Chia ra thành nhiều loại, xác định trên màu sắc, phân bổ hoa, hương thơm, địa lan Bắc Hà cũng rất đa dạng và phong phú về kiểu dáng hoa, lá, thân củ...

Địa lan Bắc Hà gồm nhiều loài có giá trị đặc biệt như: Thanh Lan, Hoàng Vũ, Hồng Ngọc, Huyền Lan, Nhất Điểm... Một số loài được tìm kiếm và thuần hóa lâu năm được gọi là "lan truyền thống", những loài mới sưu tầm và khai thác về được gọi là những "biến thể lan rừng".

Biến thể lan rừng

  • Hồng lan(I)

  •  
  • Hồng lan(II)

  •  
  • Thanh trường

  •  
  • Thanh lan(I)

  •  
  • Thanh điểm cánh tiên

  •  
  • Thanh điểm(I)

  •  
  • Phi điểu lan

  •  
  • Trần mộng

  •  
  • Tố trân

  •  
  • Thanh lan(II)

  •  
  • Thanh lan (III)

  •  
  • Lý lan(II)

  •  
  • Thanh vân

  •  
  • Trắng điểm thu lan

  •  
  • Mặc lan

  •  
  • Hồng lan(III)

  •  
  • Hồng lan(IV)

  •  
  • Mạc lan môi trơn

  •  
  • Tâm lan

  •  
  • Thanh lan(IV)

  •  
  • Hồng vân mỹ nữ


Những biến thể lan rừng mang nhiều hình thái đặc sắc, về kiểu dáng, màu sắc, mùa nở, hương thơm. Sự đa dạng này là do sự lai tự nhiên mà thành, từng phân khu sẽ có những chủng loại nhất định: xanh, vàng, nâu, đen... vùng đông bắc; trắng điểm, hồng pha, vân lý... vùng tây bắc và trung, cao nguyên.


Cách nhận biết

Những loài thu lan thường mang bộ lá khô xác, giả hành tròn, lá thuôn thẳng, ít phản kiếm, sắc hồng pha thường biểu hiện bằng chồi cây non tía đỏ. Trắng điểm hoặc trắng tuyền thường biểu hiện bằng chồi non xanh phấn. Những loài này ít thơm, hoặc nếu thơm thường thiếu vị nồng trầm hương đặc trưng.

Những loài đông và xuân lan với bộ lá mỡ mượt, giả hành lộ, dẹt, thi thoảng mới có thân củ tròn, lá phản kiếm hoặc xõa. Những dòng xanh vàng biểu hiện bằng chồi non xanh hoặc vàng nhạt, mỡ, trong. Những loài nâu, đen, thường pha sắc tía khi ra chồi mới, những loài hồng lan thường có màu đào. Hương vị đặc biệt, pha trầm, của hương nồng rêu mốc rừng, thoảng vị quế hồi...

Một số loài đột biến khó nhận dạng thì phải nhờ nhận dạng hoa.


Địa lan Bắc Hà truyền thống

Một số loại được khai thác từ rừng về được thuần hóa lâu ngày, nhờ nhận dạng về sắc hoa, kiểu phân bố hoa, thân, củ lá mà được gọi tên một cách nhất định theo từng loài ví dụ như thanh lan và hoàng vũ có xuất xứ từ vùng núi đông bắc bắc bộ, tập trung lớn nhất tại khu Vàng Danh, Yên Tử, Uông Bí, Quảng Ninh, được các nhà sưu tập và khi thác lan Thủy Nguyên, Hải Phòng tìm được và bán lại cho các nhà sưu tập lan toàn miền bắc.

Một số loại khác được cấy mô hoặc gieo hạt nhân tạo từ các vườn lan và trung tâm nghiên cứu lan Vân Nam Trung Quốc xuất sang theo đường tiểu ngạch, được các nhà vườn nuôi dưỡng và thuần hóa nhiều năm. Một số loại phẩm chất cao được đánh giá bằng độ thuần chủng, phân bố hoa đẹp, hương vị thơm đặc trưng, thân củ và hoa cân đối, có tính thẩm mĩ. Ví dụ như một số loài thanh lan và hoàng lan.

  • Hoangvu.jpg
  •  
  • Hoangvu1.jpg
  •  
  • Hoangvu2.jpg
  •  
  • Hoangvu3.jpg

Loại hoàng vũ này có xuất xứ thuần hóa từ các nhà vườn Nam Định, tính ổn định cao, siêng hoa, thơm. Thích nghi tốt với các tiểu khí hậu, kháng bệnh tốt. Lá phản kiếm ôm thân, thân củ trung bình, cánh đài dài, cong cớn, tam thế, xuôi vai. Cánh hoa lớn, khoe nhụy. Sắc vàng chanh. Một loài Hoàng Vũ khác có xuất xứ từ Yên Tử, được thuần hóa ở Hải Phòng nhưng ít thấy và rất hiếm. Loại khác được các nhà vườn Hà Nội sưu tập, cũng rất hiếm. Người ta cho rằng khi hoa Hoàng Vũ nở, ngày hướng về hướng ánh sáng như múa, đấy là một ý kiến khó kiểm chứng. Điều giải thích mang tính hiện tượng nhất là khi Hoàng Vũ phát ngồng vẫn còn giữ nụ, ngồng nụ quay theo hướng ánh sáng trong ngày, người ta gọi là múa. Một số ý kiến khác thì cho rằng, cánh hoa cong, thon như bàn tay vũ công, hoa màu vàng gọi là Hoàng Vũ.



Trong số các loài hoa mà người xưa trồng thưởng thức thì Hoa lan được coi là Vương giả chi hương - Loài hoa vương giả. Hoa lan đẹp có lẽ lý do lớn nhất là mùi hương của nó và thưởng lan đã là một thú chơi tao nhã của người xưa. Khổng Tử đã lấy tiết khí của hoa lan, dù ở nơi thâm sơn cùng cốc mà vẫn toả hương khoe sắc để răn dạy các bậc quân tử phải cố gắng tu thân tích đức. 

Người nổi danh nhất trong giới chơi lan Việt Nam tự xưa đến nay có lẽ vẫn là vua Trần Anh Tông (thế kỷ thứ XIII) đã có "Ngũ Bách Lan Viên", kế đến phật hoàng Trần Nhân Tông với huyền thoại về loài lan Trần Mộng - Giấc mộng vua Trần - để nói đến tích rũ sạch bụi trần để bước vào cõi thiền thuần khiết của ngài. Địa lan là một loài hoa vương giả với vẻ đẹp đến mê đắm lòng người của nó, và có thể nói, không ở đâu có sự kết hợp hài hoà giữa cái đẹp trong tự nhiên với bản tính hướng thiện với cái đẹp trong tâm hồn của người yêu lan.

Trồng và chăm sóc cây địa lan Bắc Hà là mối quan tâm của nhiều người, nhân giống nó để có nhiều chậu lan đẹp chia sẻ cùng với mọi người là cái thú của người trồng và thưởng thức địa lan.

Khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại, người ta có thể nhân giống địa lan bằng cách cấy mô, gieo hạt,... để cho số lượng lớn cây con trong một thời gian ngắn. Nhưng, đối với những người chơi địa lan Bắc Hà, thì có lẽ, phương pháp nhân giống cơ bản nhất và phổ biến nhất vẫn là tách nhánh cây.

Bài viết này xin chia sẻ cách thức cơ bản để tách nhánh địa lan, trồng và chăm sóc nó theo cách truyền thống Bắc Hà.

Bài viết này hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm non kém của bản thân người viết, nên chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự phê bình, góp ý để bài viết được hoàn thiện hơn.

1. Thời Điểm Tách Nhánh Địa Lan

Xưa các cụ có câu "Cửu nguyệt phân lan", theo cách hiểu thông thường nghĩa là Tháng Chín (Âm lịch) là thời điểm tách nhánh địa lan phù hợp nhất. Có thể giải thích nôm na rằng: vào thời điểm này, mầm mới của cây địa lan đã phát triển hoàn thiện, củ địa lan đã hình thành, lá đã phân chia đầy đủ và tích lũy dinh dưỡng chuẩn bị cho hoa. Cây bắt đầu vào mùa nghỉ. Nói văn vẻ ví von thì người ta ví củ địa lan lúc này như đứa trẻ con bú căng bầu sữa mẹ, lúc nó đi ngủ thì muốn vần kiểu gì thì vần...

Một lợi điểm nữa của việc tách nhánh lan vào tháng Chín, đó là, tách nhánh vào lúc này, tỉ lệ ra hoa thấp, cây sẽ phát triển mầm cao hơn, do đó, đối với mục đích nhân giống nhanh, ta sẽ có thể có củ địa lan sinh sôi nảy nở 2 lần trong 1 năm. Tuy nhiên, ngược lại, phải chấp nhận bỏ chơi hoa trong lần tách chiết này.

Hiện nay, do nhu cầu sưu tầm và thưởng thức địa lan của người Bắc Hà khá phổ biến, trong khi giống cây không có quá nhiều nên việc tách nhánh cây có thể diễn ra quanh năm.

Khi chậu lan đã phát triển quá chật chội hoặc cây kém phát triển do giá thể trồng đã hư mục... cũng có thể là lúc nghĩ đến việc tách nhánh và trồng lại chậu địa lan của mình.

Mùa Xuân, sau khi hoa địa lan đã tàn cũng là thời điểm tách nhánh cây địa lan thích hợp nhất. Mùa này vạn vật thăng hoa, cây cối đâm chồi nảy lộc nên tỉ lệ cây tách nhánh sống sót rất cao.

2. Chuẩn Bị

2.1. Cây giống

Chậu lan cần tách chiết hoặc có thể là các khóm lan mới khai thác về, lan mới mua từ các vườn lan.
Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc HàKinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà

2.2. Chậu trồng lan

Yêu cầu đối với chậu trồng địa lan cần đảm bảo một số yếu tố:

- Phù hợp: chậu trồng cây gì thì phải phù hợp với dạng cây đó, sao cho cân đối hài hòa với tổng thể cây trồng. Chậu trồng cây cũng phải phù hợp với diện tích vườn lan, không nên lựa chọn chậu quá to trong khi diện tích quá nhỏ, không nên dùng chậu quá to để trồng một khóm lan nhỏ,...

Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà
Chậu mặt dàn
- Tính thẩm mỹ: Vẻ đẹp của cây địa lan Bắc Hà thể hiện cả ở dáng cây, dáng lá, hình thái hoa và hương thơm. Do vậy, chậu trồng nó cũng phải đảm bảo sao cho tôn vinh vẻ đẹp của cây địa lan thêm bội phần.

- Đảm bảo cho sự phát triển của cây: chậu gì thì cũng phải đảm bảo độ thoát nước, và chứa đủ giá thể để cho cây có thể phát triển một cách tốt nhất. Nếu chậu có lỗ thoát nước nhỏ, có thể khoan thêm lỗ dưới đáy chậu hoặc thành chậu để nước có thể thoát dễ dàng sau khi tưới, tránh gây úng cho cây lan.

- Các yếu tố khác: Tùy theo mục đích của việc trồng lan mà lựa chọn loại chậu trồng sao cho phù hợp, trồng lan thương mại thì nên chọn chậu có giá thành vừa phải, hợp lý, trồng lan thưởng thức có thể lựa chọn các loại chậu thật đẹp...

Sau đây là một số loại chậu thường dùng để trồng và thưởng thức địa lan:

Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà
Chậu hoa muống
Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà
Chậu gốm Trung Quốc

2.3. Giá thể trồng địa lan

Có thể trồng địa lan bằng rất nhiều loại giá thể khác nhau như : đất cục, xỉ than, than củi, trấu, đá, vỏ lạc, vỏ thông, dớn cọng, dớn mềm,... Tuy nhiên, giá thể phải đảm bảo yêu cầu sao cho luôn "ẩm nhưng không được ướt" là nguyên tắc quan trọng nhất. Ngoài ra, chọn loại giá thể gì để trồng lan cần phù hợp với khí hậu vườn lan của mình. Dưới đây xin giới thiệu cách trồng sử dụng đất luyện theo cách truyền thống.

Đất trồng lan phải là loại đất bùn ao, đất sú, đã phơi khô nỏ qua nhiều nắng, phơi được càng lâu càng tốt. Yêu cầu của đất trồng lan phải không được phân rã khi gặp nước tưới. Muốn biết đất có dùng để trồng địa lan được hay không, có thể chặt ra 1 cục nhỏ cỡ đầu ngón tay, ngâm vào nước vài giờ, nếu đất không bị phân rã ra là được.

Nếu công phu hơn thì phải luyện đất, luyện theo cách "Cửu tẩm, cửu trưng" (chín lần tẩm, chín lần phơi) của các cụ, tức là đất bùn ao sau khi lấy về phơi nỏ, đập nát ra, nhào trộn với lông lợn, tóc rối... đóng bánh, phơi khô cho cứng lại, tiếp tục tẩm nước ốc, nước hến, nước giải pha loãng... cứ tẩm rồi lại phơi đủ chín lần là dùng được.

Tuy nhiên, trong điều kiện cuộc sống đô thị ngày nay, khó có thể làm được theo phương pháp này, thường dùng đất bùn ao đã luyện 1-2 lần, phơi nỏ 1-2 năm là dùng được.

Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc HàKinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà

2.4. Mùn hoặc phân ủ mục

Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc HàKinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà

2.5. Để đảm bảo đáy chậu có thể thoát nước dễ dàng nên lót 1 phần lõi keo của xỉ than tổ ong đập cục to cỡ nắm tay, hoặc mút xốp, hoặc vỏ ốc.

2.6. Dụng cụ tách nhánh: dao, kéo nhọn, keo bôi vết cắt (hoặc vôi, sơn móng tay, nhựa thông, keo 502)

2.7. Rêu nước giữ ẩm bề mặt

3. Tiến Hành Tách Nhánh

3.1. Gỡ bỏ một phần chất trồng trên bề mặt chậu lan

Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc HàKinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà

3.2. Hơi nghiêng chậu, dùng tay vỗ mạnh xung quanh thành chậu cho chất trồng bong ra khỏi thành chậu

Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc HàKinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà

3.3. Khi bộ rễ đã long ra khỏi chậu và chất trồng nhẹ nhàng rút cả cụm lan ra khỏi chậu

Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc HàKinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà

3.4. Dùng kéo nhọn, cắt bỏ các rễ đã hư thối, cắt sâu vào phần đã thối 3-4 cm, cố gắng giữ lại các rễ vẫn còn tươi

3.5. Nếu chất trồng bị nấm trắng hoặc có mùi mốc thì cần phải rửa sơ bộ rễ của cây, tuyệt đối không rửa quá sạch làm mất vi khuẩn cộng sinh trên rễ lan.

3.6. Xác định hướng phát triển của cây để tách nhánh, thường tách mỗi cụm lan 3 đơn vị để cây có thể phát triển mạnh nhất, tuy nhiên, nếu muốn nhân giống nhanh có thể tách rời từng thân một, với điều kiện các thân một tách rời phải hoàn toàn khỏe mạnh, không sâu bệnh và còn rễ sống.

Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà3.7. Bôi keo hoặc vôi vào tất cả các vết cắt.

3.8. Để cây lan mới tách vào chỗ râm mát trong vòng nửa ngày đến 1 ngày là có thể trồng lại được

3.9. Nếu chậu lan đang phát triển bình thường, giá thể vẫn tốt mà muốn tách nhánh để nhân giống nhanh, những người trồng lan có kinh nghiệm thường sử dụng phương pháp tách ngầm, tách ngay trên chậu mà không phải đổ cây ra trồng lại bằng cách: Xác định điểm cần tách nhánh, dùng tay đẩy các nhánh hơi tách nhau ra, dùng lưỡi dao thật mỏng, dài và sắc (thường dùng loại dao mổ có cán, và loại lưỡi dao dùng 1 lần bán tại các hiệu thuốc Tây Y) cắt giao điểm của các nhánh lan, sau đó, dùng lưỡi dao vừa cắt đó, nhúng vào dung dịch keo bôi liền vết cắt, bôi vào chỗ vừa cắt. Ngưng tưới nước, tránh mưa trong vòng vài ngày cho vết cắt liền sẹo, sau đó chăm bón trở lại.

3.10. Trong trường hợp nếu phát hiện cây bị nấm bệnh, cần xử lý nấm bệnh trước khi trồng lại bằng cách: cắt toàn bộ phần rễ, lá bị nấm bệnh, loại bỏ củ già bị thối, ngâm toàn bộ cây lan vào dung dịch thuốc trừ nấm như Ridomil (3g/1 lít nước) trong vòng 15 phút, sau đó mang hong khô vài giờ, ngâm lại bằng dung dịch kích thích sinh trưởng loãng như B1, Atonic,... trong vòng 15 phút, lại hong khô, sang hôm sau có thể trồng lại được.

Cách làm này được áp dụng cả với những cây địa lan mới khai thác ở rừng về hoặc cây mua từ các vườn lan khác 

4. Trồng Lại:

- Cây lan tách nhánh sau khi xử lý và hong khô cho se vết cắt, đem ra trồng lại.

- Chậu trồng lan, nếu là chậu dùng lại nên rửa sạch bằng xà phòng, để ráo nuớc. Nếu trồng bằng chậu đất nung hoặc chậu gốm nên ngâm nước trong 1 ngày rồi mới đem ra trồng, để tránh việc chậu đất nung hoặc gốm khô hút nước ngược từ giá thể, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lan.

- Lót dưới đáy chậu khoảng ¼ chiều cao chậu là lõi xỉ than, hoặc than củi to, hoặc mút xốp, hoặc vỏ ốc,... chú ý không được bít vào lỗ thoát nước của chậu, nếu lỗ thoát nước của chậu nhỏ quá có thể khoan rộng ra và khoan thêm lỗ bên đáy và 2 bên hông

- Dùng dao chặt nhỏ đất cục ra cỡ bao diêm, xếp đất vào chậu theo thứ tự to trước, nhỏ sau, và đất to được xếp sát xung quanh thành chậu lên sát mép chậu.

Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc HàKinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà

- Đặt khóm lan vào chính giữa chậu, chú ý hướng phát triển của khóm lan quay ra thành chậu.

- Nếu trồng nhiều nhánh nhỏ trong 1 chậu để có được 1 chậu lan xum xuê thì khi đặt lan vào chậu nên cố định cho từng khóm nhỏ hoặc từng nhánh lan bằng cách cắm que tre, và cột nhánh lan vào que đó, phân bố đều các khóm lan trên mặt chậu.

Nếu khóm lan có nhiều rễ thì chỉ cần gác 1 chiếc que nhỏ ngang miệng chậu, đặt khóm lan lên trên chiếc que rồi cho giá thể trồng vào giữa là cây có thể đứng vững. Hoặc có thể dùng 1 cục đất dài, cho đặt khóm lan ngồi lên trên cục đất và xếp giá thể nhỏ xung quanh.

Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc HàKinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà

- Cho đất nhỏ cỡ ½ - ¼ bao diêm chèn nhẹ nhàng xung quanh bộ rễ của khóm lan từ dưới lên trên, sau mỗi lớp đất vừa xếp, cho thêm 1 lớp mỏng chất mùn (dớn cọng vụn nát, trấu ủ phân chuồng hoai mục, mùn dừa,...), cứ như thế cho đến khi ngập dần lên gần gốc lan yêu cầu của khóm lan khi trồng vào chậu và cho giá thể phải đảm bảo giá thể ngập rễ và củ nổi lên trên giá thể, tránh để củ ngập trong giá thể, dễ bị thối do nấm bệnh.

Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc HàKinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà

- Xếp đất dần lên cho miệng chậu phình hình chiếc bánh, vừa xếp vừa vỗ xung quanh thành chậu cho giá thể khít chặt vào nhau

Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc HàKinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà

Phủ lên trên bề mặt giá thể một lớp rêu nước để giữ ẩm bề mặt và tạo rêu xanh cho đẹp. Có thể tạo rêu xanh bề mặt chậu lan cho đẹp bằng cách:

Đất cục chặt nhỏ hoặc đất nắm hình bánh quy, rải đều trên 1 chiếc khay. Lấy nước nấu cơm hoặc bột hồ nấu loãng để nguội. Lấy rêu nhung mịn (cạo ở tường hoặc chỗ đất ẩm) vò nát trộn cùng với nước hồ, tưới đều lên trên bề mặt đất. Trùm nilon kín và phun sương ẩm hàng ngày. Khoảng 1 tuần đến 10 ngày sau rêu sẽ phát triển mạnh, dưỡng rêu bằng cách tưới nước vo gạo, khi rêu phủ kín nắm đất thì có thể dùng để xếp lên bề mặt chậu lan làm tăng tính thẩm mỹ cho chậu lan.

- Buộc thẻ ghi tên cây, ngày tháng tách chiết và trồng lại.
- Tưới đẫm nước cho chậu lan.
- Đặt cây vào chỗ râm mát, tránh nắng tuyệt đối 1-2 tuần.
- Hàng ngày pha B1 thật loãng cỡ 1cc cho 5 lít nước và phun sương ẩm cho chậu lan kích thích ra rễ nhanh. Trong thời gian này, tuyệt đối không được bón bất kỳ một loại phân bón gì (trong vòng khoảng 2-3 tháng).
- Khi thấy khóm lan nhú rễ, bật mầm, căng tròn trở lại (sau khoảng 1 tháng) thì có thể chuyển cây ra vị trí chăm sóc bình thường cùng với các cây lan khác. Không nên dùng phân bón cho cây khi cây chưa phát triển trở lại.

Và cuối cùng là chỉ việc chăm sóc chậu địa lan chờ Xuân đến khoe sắc, tỏa hương.

Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà5. Chăm Sóc Cho Cây Địa Lan Bắc Hà:

Trồng cây đã khó, chăm sóc nó quanh năm để Tết đến Xuân về nó thưởng cho ta những bông hoa đẹp lại càng khó hơn. Trong quá trình chăm sóc cây địa lan Bắc Hà cần chú ý đến một số vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, tạo tiểu vùng khí hậu cho vườn lan.

Cây địa lan Bắc Hà cũng như những cây địa lan xuất xứ từ Châu Á khác, cần có nhiệt độ mát, lạnh và nhiều ánh sáng để phát triển tốt nhất. 

Ông Lưu Chấn Long, một người trồng lan nổi tiếng của Trung Quốc đã tổng kết những nguyên tắc cơ bản để chăm sóc cây địa lan như sau: CÂY ĐỊA LAN ƯA ẨM NHƯNG SỢ ƯỚT, THÍCH THOÁNG NHƯNG SỢ GIÓ, THÍCH SÁNG NHƯNG LẠI SỢ NẮNG

Để đảm bảo được nguyên tắc như vậy cần chú ý đến việc tạo tiểu vùng khí hậu cho vườn lan, mà đặc biệt là các yếu tố sau đây:

- Ánh sáng: cây địa lan Bắc Hà cần ánh sáng tán xạ khoảng 70-80%. Nếu lá cây có màu xanh vàng nhạt là đủ ánh sáng, lá cây màu xanh đậm cần phải tăng thêm lượng chiếu sáng. Kiểm soát yếu tố này thông qua việc che lưới phù hợp cho vườn lan.

Kinh Nghiệm Nhân Giống Và Chăm Sóc Địa Lan Truyền Thống Bắc Hà- Nhiệt độ: Cây Địa lan phát triển tốt nhất trong khoảng nhiệt độ từ 24°C-29°C (75-85°F). Vào thời kỳ ra hoa, nhiệt độ ban đêm cần phải lạnh từ 10-15°C (50-60°F) để cây phát triển chồi hoa. Nhiệt độ tối ưu cho cây vào thời kỳ chuẩn bị ra hoa là khoảng 7.50°C-13°C (45-55°F) vào ban đêm và 18-24°C (65-75°F) vào ban ngày. Sau khi cây đã có chồi hoa, nên duy trì nhiệt độ trong khoảng từ 13-24°C (55-75°F) để cành hoa phát triển tốt. Kiểm soát nhiệt độ trong vườn ta có thể dùng nhiệt kế để theo dõi, giảm nhiệt độ bằng cách đặt các khay nước tạo ẩm dưới giàn lan, tưới nước hoặc phun sương xung quanh vườn lan vào những lúc nhiệt độ quá cao. Tăng nhiệt giữ ấm cho cây trong thời kỳ quá lạnh bằng cách che nilon xung quanh vườn.

- Độ ẩm: cần đảm bảo rễ cây luôn ẩm nhưng không được ướt lâu, không được để cho cây bị quá khô rễ. Tăng lượng nước tưới trong giai đoạn cây phát triển, nhất là sau khi ra hoa. Khi cây đã phát triển hoàn toàn (khoảng tháng 9 Âm lịch) giảm lượng nước tưới, chỉ cung cấp lượng nước tối thiểu trong khi cây chuẩn bị ra chồi nụ. Khi có chồi nụ thì phải tưới đủ nước cho cành hoa phát triển tốt nhất.

Có thể theo dõi lượng nước cần tưới qua việc nhìn lá cây lan, nếu cây khỏe mạnh bị thiếu nước, lá sẽ hơi nhăn, khi tưới nước, lá cây sẽ căng trở lại.

- Độ thông thoáng: Vườn lan cần có sự đối lưu không khí ở mức vừa phải để cây lan phát triển tốt nhất. Nếu gió quá nhiều có thể gây hại cho cây do tứoi nước quá nhiều. Nên che một lượt lưới xung quanh vườn lan để chắn gió mạnh, khi ít gió có thể mở ra để hút gió vào. Khoảng cách giữa các chậu lan cũng phải hợp lý, không để sát nhau, lá cây nọ chạm vào lá cây kia dễ bị lây lan nấm bệnh. 

Thứ hai, bón phân: Trong giai đoạn cây nảy mầm đến khi giả hành phát triển hoàn chỉnh cần bón phân có lượng N cao hơn. Trong giai đoạn chuẩn bị ra hoa nên dùng phân bón có lượng P cao hơn và K thấp hơn một chút để giúp cây có đủ dưỡng chất tạo chồi nụ và nuôi hoa.

Trong suốt quá trình chăm sóc trong năm có thể kết hợp với bón phân hữu cơ như: Tưới nước ốc, cá, bì lợn,... ngâm lâu ngày (nước trong và đã hết mùi) pha loãng để tưới vào gốc, xen kẽ với phun phân bón vi lượng thật loãng hàng tuần cho cây. Trong thời gian cây phát triển chồi hoa tuyệt đối không dùng các loại phân bón qua lá, phân đọng trên chồi hoa dễ hỏng hoa.

Có thể tự làm phân bón chậm tan bằng cách: lấy phân vi sinh nhào với nước dạng vữa xây nhà, đem phơi khô đến trắng, xác, cứng, chặt nhỏ và đặt trên mặt chậu lan, khi tưới, phân sẽ tan dần vào trong đất.

Thứ ba, Phòng trừ sâu bệnh:

Cần giữ nguyên tắc PHÒNG HƠN LÀ CHỮA. Giữ cho vườn lan luôn thông thoáng, sạch sẽ và sử dụng thuốc phòng trừ nấm, diệt côn trùng định kỳ sẽ tránh được tỉ lệ nấm bệnh trong vườn lan rất cao. Khi cây bị bệnh, cần cách ly ngay tránh lây lan, nếu xác định được rõ bệnh cần dùng thuốc thích hợp để chữa. Nếu không xác định được, cần tham khảo ý kiến của những người có kinh nghiệm để có biện pháp chữa trị hữu hiệu.

CLB Hoa Lan Hà Nội
Bài và Ảnh: Trần Mạnh



Khóm Mặc Lan

Sáng nay, thức dậy lúc sao mai chênh xế nóc nhà, ông giáo già lụi cụi nấu nước sôi, chế trà rồi độc ẩm, thưởng trà cùng với sương sớm. Ông ngồi xếp bằng thế hoa sen, thẳng lưng, nâng chung trà cả hai tay, xoay xoay rồi nhắp từng ngụm nhỏ.

Chậm rãi, cẩn trọng... ông uống trà, đồng thời, ông uống luôn cái vị, cái khí, cái không gian thanh bình, tĩnh lặng của miền quê cố đô yên ả... Mùa đông mà trời lạnh nhẹ, khá khô ráo, cũng lạ. Thời tiết đất Thần kinh mấy năm nay thay đổi khá thú vị; cái mưa dầm thối đất, sụt sùi, sũng nước, không biết nó đã di trú nơi nào, hay đã theo chân mù phương những người xa Huế? Cũng nhớ...

Ông đã qua bình trà thứ hai. Cái trà “Phổ nhĩ” Vân Nam này, vị không đậm mà ngọt hậu. Cũng rứa thôi, cũng như Thiết quan âm, Ô long, chẳng ngon gì! Ông đã quen với trà tuyết, lại thích chè xanh cây nhà lá vườn hơn. Vị nể ông bạn lai Tàu nên mua uống thử. Trà nào mà không thanh nhiệt, lợi tiểu, sáng mắt...! Bày đặt quảng cáo, sinh ra dị ứng tất thảy! Nhưng khóm mặc lan được mang về từ đó - học trò ông biếu tặng hoa đang nẩy chồi, là một giống lạ; nó không có hai đường chỉ trắng trên mép lá trông khác với mặc lan cổ xưa Huế, có lẽ ta nên để dành để dâng thầy thưởng xuân... Ông cúi đầu xuống, lòng rưng rưng...

Trời ửng sáng. Ông bước ra hiên. Không gian đùng đục. Sương mù lất vất, mơ hồ. Ông đưa mắt nhìn những chậu địa lan ngồi an bình, lưu niên trên dãy giả đôn đầu voi trắng: Bạch ngọc, đại kiều, tiểu kiều, mặc lan... lá xanh ngời như có thể soi mặt được. Ông gật gù, mỉm cười. Đấy là thành quả từ công phu vuốt lá, ngày này sang ngày khác của ông và con trai. Cái hơi người - nhân điện - và tình cảm của người trồng chính là yếu tố quan trọng nhất. Thời này, chẳng còn ai chăm chút tỉ mỉ như vậy. Người ta không có thì giờ, kể cả không có thì giờ để thở! Tội nghiệp! Ông vui thầm trong bụng, ta tỉ mỉ chăm chút để bảo tồn vốn cổ, là cái mỹ học của cha ông đó chứ! Ai mà biết, phải không?

Ông nhớ, ông đã học được kỹ thuật trồng địa lan của một cụ Nghè. Địa lan của cụ ấy trồng nổi tiếng một thời, đến đỗi cậu Cẩn cũng phải ghen tỵ. Nhìn những chậu địa lan ngời ngời xanh mướt, láng lẩy, chồi hoa tuy gầy nhưng ẩn chứa một sinh lực khỏe khoắn, ông tò mò hỏi tưới phân chi? Cụ Nghè cười cười trong ánh mắt lấp lánh, rồi hỏi ngược lại, chú giáo, chú tưởng địa lan phàm phu tục tử lắm hay sao mà phải ăn phân này, phân nọ? Ông mở tròn mắt. Cụ Nghè ha hả cười, nắm tay ông kéo lên hiên, vào ngôi từ đường hương khói thời gian, sai bày bàn trà... Trong không gian cổ kính; mùi trầm, mùi văn chương thi phú, mùi của cốt cách tao nhã; mùi của nếp sống thư hương, kẻ sĩ... một lần ấy thôi; mà nó đã ngấm đẫm tâm hồn ông cả nửa cuộc đời còn lại. Phân chi ư? Cái đó là bí truyền, phải giấu kín. Hằng ngày, nó ăn và uống nước trong vắt, có than hoạt tính khử phèn. Tôi quý địa lan ở phong cách đó. Nó cho hương sắc, nhưng mà rất khiêm nhường. Sắc nó màu âm, màu lạnh; không phô trương, ồn ào như lan ngoại. Lại càng không rực rỡ, trình diễn ngoại hình thời trang như hoa hồng. Nó rất lặng lẽ, khiêm cung, từ tốn... Hương thì sâu, kín - đúng như chữ u hương trong Đường thi! Tôi không trồng hoa mà tôi trồng một bài thơ Đường! Nói xong, cụ Nghè cười sảng khoái! Suốt đời ông, có lẽ ông không bao giờ quên được nụ cười kỳ lạ của cụ Nghè. Một đời bình-sinh-thanh-cao-cốt-cách, nếu có được một nụ cười phiêu-diêu-khoát-hoạt; cùng lắm, cũng chỉ bằng nụ cười hôm ấy mà thôi! Thế còn địa lan Đà Lạt? Một hôm khác, ông hỏi. Cụ Nghè cất giọng xẵng, địa lan Đà Lạt! Không phải, cái đó là thổ lan, gọi địa lan là phỉ báng địa lan! Cái thổ lan ấy là cái giống Tây, bậm bạp, cao to, chắc khoẻ, uống ăn dung tục; rồi cứ nhón gót mà nở, cứ vỗ ngực mà nở... ồn ào, hỗn láo như một cậu thanh niên hippy hoa hòe hoa sói! Làm sao sánh được với cốt cách văn vật cao nhã cố đô!

...Những ngày nắng to, ông ra sau hè, đánh trần, xắn quần xuống ao vớt bùn non - chỉ là bùn non thôi chuyển lên phơi trên một đám đất cao ráo. Nếu thiếu, ông đặt mua các ao đầm chỗ này, chỗ kia. Đứa con trưởng - lúc ấy đang là giáo sư chủ nhiệm phân khoa dân tộc học - trong giờ rảnh rỗi, thấy vậy ra tay phụ giúp với ông. Nó hỏi, cha làm chi mà vất vả rứa, sao không thuê người làm? Ông cười ruồi, tao đang thật sự nghỉ ngơi ấy chứ! Sự nghỉ ngơi của một con ngựa già, đã mỏi mệt sau những cuộc đua đường trường, một đời, lao nhọc! Đứa con dòng máu đại khoa, gene trí thức, nó kính trọng vị cha già có một vài phút giây tự mãn dễ thương; nó gật đầu mỉm cười, hỏi tiếp - thế cha sẽ dùng bùn này vào việc gì? Bí mật, ông đáp, tao trân trọng lời hứa thiêng liêng với một linh hồn cũ xưa (cụ Nghè đã mất); nó đẹp như câu chữ của Đường thi, con không hiểu đâu! Quả thật, con ông không thể hiểu được! Thời đại này chúng không thể nào hiểu được cái tầng văn hóa ẩn mật trong cục đất, cục bùn, cục tâm nơi những chậu hoa địa lan; mà ở đó, chúng chan chứa cái đẹp của nhân văn, cái mỹ diệu của nghệ thuật sống; cái ân nghĩa vô lượng với cuộc đời, với thiên nhiên ngoại vật!

...Đất bùn non gom lại, phơi khô đúng một năm nắng, ông lại lụi cụi đập nhỏ, sàn, rây cho mịn... Ông con trí thức lại hỏi, cha làm gì thế này, nghỉ tay một chút, vào góp ý giúp con về cái đề cương mà con đã phác thảo về bảo tồn vốn cổ của dân tộc... Ông ngước đầu lên, lấp lánh niềm vui trong ánh mắt, ừ, tốt, con đã không phụ lòng kỳ vọng của tiên tổ. Tốt, tốt... Rồi ông lại cúi xuống, đập, sàn, rây... Ông nói, tao cũng đang bảo tồn vốn cổ của dân tộc đấy chứ! Tao đang cặm cụi với hồn đất, hồn văn đó thôi! Ông nhướng mắt lên, cái kiếng trệ xuống, những công trình hiện vật cổ xưa, tìm, điều nghiên thì sẽ còn, kể cả các giá trị phi vật chất; nhưng bí quyết trồng một bài thơ Đường thì sẽ thất truyền, xót xa lắm, con ơi! Ông con nói, cha lại nhạo con rồi! Thế cha không góp ý giúp con à? Ông cất tiếng như giảng bài, nhưng giọng trầm ấm, xúc động, con là thanh niên thuộc thời đại mới - thời của Internet - mà chân bước đi không hỏng đất, mắt không đắm cái hào nhoáng, óc không lây uế những giá trị ảo, trí không nhiễm thói kiêu căng, hãnh tiến; sở học đã không coi thường vốn cổ của cha ông, mà còn có những công trình tầm cỡ để gìn giữ, bảo tồn nữa. Tốt, rất tốt! Người con có vẻ phân trần, giải thích- công trình của con nó rất quan trọng, sẽ được đọc trong cuộc hội nghị khoa học toàn Châu Á, do Unesco tổ chức - người con nói tiếp, giọng buồn, ở Huế này chỉ có cha mới có thể đọc, hiểu và góp ý ở những chỗ bất cập... còn, thưa cha, con biết tìm ai nữa đâu! Ông tháo mắt kiếng, lấy vạt áo màu nâu bạc chùi bụi, con nói thế, biết bao nhiêu là giáo sư tiến sĩ thời đại mới; cha dẫu có chút học hàm, học vị nhưng già rồi, kiến thức thì quê mùa, lạc hậu rồi! Người con nói, giáo sư, tiến sĩ thời này ấy à - xì một tiếng, cười lạt - còn tệ hơn tiến sĩ giấy, tiến sĩ bù nhìn thời Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương…! Con ông chợt cất giọng bùi ngùi, con không có bạn, thưa cha! Thầy, cũng vậy, con chỉ có cha thôi, ngoài ra, chẳng có ông thầy nào là xứng đáng cả! Ông bất đồ đứng thẳng lưng dậy, quăng dụng cụ, giận dữ - Không thầy à? Không ai xứng đáng à? Không thầy đố mầy làm nên. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. Con mà còn nuôi dưỡng ý tưởng kiêu mạn ấy thì sẽ làm ô nhiễm tâm hồn, ô nhiễm các giá trị thiêng liêng, con có biết không?

Ông con, giáo sư, hôm ấy, biết mình lỡ lời, sợ hãi, khép nép, im thin thít. Từ nhỏ, ông giáo huấn con rất nghiêm khắc; ông sử dụng rất ít kiến thức sách vở, không thích dùng lý luận biện chứng sáo mòn; mà chỉ nói chừng mực, vừa phải - cốt gợi ý về đời sống cụ thể, giữ gìn tác phong, nhân cách và tâm thái văn hóa trong giao tiếp, ứng xử, công việc... Sớm nào ông cũng cùng con nấu nước sôi, chế trà, pha trà... Cả hai tập chờ đợi, tập để tâm rỗng rang, tĩnh lặng; thưởng thức không gian và môi trường sống với thiên nhiên hoa cỏ ở xung quanh. Ông trao đổi với con, nói về bản lãnh của kẻ sĩ là phải thể hiện cho bằng được đời sống tinh thần không bị nhiễm ô, đừng bị vấy bẩn bởi khói, bụi và các loại chất độc vi tế... Nghệ thuật sống là phải biết quán niệm, lắng nghe và tự chủ ngay từ hơi thở đầu tiên trong ngày... Và cũng từ tách trà sớm tinh sương ấy, nó sẽ duy trì sinh lực để vô hiệu hoá những tư tưởng hèn yếu, bạc nhược - mà chúng thường lý luận rất hay ho để thỏa hiệp với những cái dung tục của đời thường... Ông đã mãn nguyện khi đã định hướng cho con ông đi theo con đường bảo vệ những giá trị truyền thống... Bây giờ, con ông bảo là không có ai xứng đáng là thầy! Nó không phải sai. Nó có cái lý của nó. Hoặc do nó buồn về tình trạng tha hóa, tụt dốc phẩm chất, khuyết tật kiến thức của quá nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ... thời nay! Nhưng không nên phủi tay tuốt tuồn tuột như thế! Vong ân bội nghĩa quá! Thế hệ ông khác, một chữ cũng là thầy. Nó đâu có biết rằng... thế gian này có biết bao nhiêu là ông thầy!

... Bùn rây xong, ông nhờ mấy o mấy mệ hàng xóm xin nước luộc nghêu, ốc, hến rồi hì hục bóp, nhồi, nhồi cho thật nhuyễn; trộn thêm với than hoa cỡ hạt đậu, hạt bắp. Xong, dùng bay, ông trải đất ra trên tấm ni-lông, san bằng, chà láng, dày chừng năm phân; lại dùng bay, dùng thước cắt ngang, xén dọc từng tấm hình vuông đều đặn tương tợ mặt bằng với từng ô ươm thuốc lá... Con ông lại hỏi, cha làm gì nữa đó? Giờ thì không bí mật nữa, cha chuẩn bị chất trồng đó con! Đợi đất khô, xắn ra từng tấm, từng tấm đặt vào lò nung, nung thủ công, nung sao đừng chín quá như gạch vồ, cũng đừng non quá, dễ vỡ! Địa lan được trồng với chất trồng này, quanh năm chỉ cần tưới nước sạch, nó sẽ phát triển xanh tốt, không cần một loại phân nào khác... Công phu quá, ông con giáo sư nói, phải cần có niềm vui, tâm tĩnh lặng, không còn vướng bận chuyện đời mới làm được. Ừ, con nói đúng! Là cái thú điền viên của người xưa đó con! Người con nói, hóa ra địa lan thích phân ngầm, như dồn tụ phẩm chất vào bên trong, thấm đẫm trong đất; rồi nó ăn một lần thôi! Ừ, ông khen, con nói hoàn toàn chính xác, dồn tụ phẩm chất vào bên trong, hay lắm; rồi ăn một lần thôi, hay lắm, ăn nhiều quá, dung tục quá thì còn gì là “an bần lạc đạo”nữa! Người con hiểu, gật gù, lẩm bẩm, ông già lúc nào cũng triết lý, không độc nhưng cay và sâu... thì ta cũng phải nói năng cho có trọng, có lượng một tí chứ!

Mặc lan Vân Nam lá dài, dày, to... chắc hẳn chồi hoa sẽ đậm đạp, mập ú, vươn cao. Nó có cái đẹp riêng của nó. Cái đẹp của một đế quốc đầy bản ngã, đầy kiêu căng, đầy tự hào nền văn hóa dày sâu nhiều ngàn năm của mình - nên cái gì cũng to, cũng lớn, cũng vĩ đại... cái gì cũng đại, họ quý chữ đại...! Ngược lại, ở ta, ở cái xứ đầu cứng mà bụng lép này, cái gì cũng bé, cũng nhỏ; mặc lan cổ xưa Huế bé nhỏ, xinh xắn, trông thanh nhã hơn nhiều. Lại còn thơm đậm, bền... Nói cho rôm rang chữ nghĩa một chút: nó bàng bạc, khinh diêu và du viễn, tuyệt! Mặc lan Vân Nam thô tháo, phàm tục quá, ta sẽ tặng thầy khóm mặc lan sáu chồi quý nhất, cốt cách nhất đất thần kinh này! Cứ quyết định vậy đi...

... Này con, hôm kia, ông nói, lúc cụ Nghè mất, bao nhiêu chậu địa lan quý nhất, ông sai con cháu mang biếu tặng các ngôi chùa và các bậc cao tăng mà ông quý trọng... Cái thanh khiết phải tặng cho người thanh khiết... Tâm nào cảnh nấy... chắc con hiểu chứ?

Ông con hiểu quá mà, nên khóm mặc lan, công phu và tâm huyết của cha... Ừ, ông nói, giọng bùi ngùi... Cái gì quý mới cúng, mới thờ... Con ông lại một lần nữa không hiểu ẩn ý đằng sau câu chữ...

Lúc sương đã nhẹ hều trên cây lá, đã thoáng rạng giữa mây trời; ông đã chuẩn bị mọi thứ đâu đó xong xuôi. Hôm nay, lao chao giữa sương mù, có một vài mảng nắng ấm; ông đội mũ, chống gậy, mang giày thể thao, khóm mặc lan trong xách tay, lên đường. Ông con, giáo sư, thấy vậy hỏi, cha đi đâu, xa lắm à? Chừng mươi cây số đường núi, cũng gần thôi, ông đáp, chiều tối hoặc sáng mai, ta sẽ về! Hay là con đi cùng cha cho vui, ông con nói, con cũng muốn vận động thể thao một chút! Cũng được, con sẽ có dịp thấy tận mắt một loại lan khác; lan này, đặc biệt, có cái hương sắc dịu dàng và tĩnh lặng vô cùng! Lại khó hiểu! Ông già muốn triết lý gì nữa đây! Người con nghĩ thầm.

Thế rồi, cả hai người bắt đầu rời xa xóm làng, men theo chân núi, đi mãi, nhà cửa thưa thớt dần... Ông bước từng bước dài. Ông con đã hụt hơi. Cha khoẻ thiệt! Ông cười hề hề, ta có khí công và thiền định, con bì sao được. Tuổi trẻ của các con không biết mượn khí của trời đất, cũng không biết sử dụng năng lực của tâm. Yếu đuối và bạc nhược là căn bệnh của thời đại... Văn minh vật chất cùng các tiện nghi của nó là giúp cho con người ngày càng làm biếng, lười suy nghĩ, khô cứng cảm xúc đi... thiệt là tệ hại!

Người con thấy cha chỉ nói đúng hơn một nửa, nhưng không dám nói xen vào. Đi thêm một đoạn, đến cạnh một rừng tre, ông bảo nghỉ để ông con dưỡng cặp cẳng thư sinh. Một lát, ông nói, cũng có cái đức của nó. Nếu biết nhìn, lắng nghe, chiêm nghiệm... thì dẫu có học một đời cũng không hết đó con! Vâng, thưa cha, con hiểu! Ừ, tốt, vậy con thử nói đi? Dạ, nhìn núi, ta học được sự an nhiên và vững chãi. Nhìn nước, ta học được sự nhu nhuyến, mềm dẻo, hoàn cảnh nào cũng trôi chảy, linh động, thích nghi được... Ông cười vui - Đúng vậy! Người con nói tiếp, cố ý phê bình thử - điều cha nói, lần này cũng là tư tưởng cũ, chẳng mới mẻ gì! Ông giáo già không giận, nói, tưởng là thế mà không phải thế đâu con, cái biết của con là cái biết thuần tuý kiến thức... Xin cha nói rõ hơn. Này nhé, ông nói, học an nhiên, vững chãi, mà con đã từng tu tập cho được an nhiên, vững chãi chưa? Người con ngớ ra! Kiến thức suông, chưa đủ, mà cần phải tu tập, cần phải hành trì; tri phải có hành, con biết chứ! Rất lâu, người con dè dặt nói, có lẽ con cũng hành được. Ừ, biết vậy là tốt, mà cũng không đơn giản đâu con. Bây giờ, nhìn khóm tre kia, con học được gì? Thưa cha, trúc ruột rỗng, tiết thẳng... Dẫu hoàn cảnh nào, kẻ sĩ trong đời cũng phải giữ gìn tiết tháo ngay thẳng, không cúi luồng, không xu phụ, không nịnh bợ trước bất kỳ một uy lực nào... Đúng, đúng, ông gật, còn ruột rỗng. Dạ, tâm không, ruột rỗng là bao dung, rộng lượng, buông xả, không chấp trước điều gì... Ông con chợt ngẫu hứng đọc vài câu cổ thi - phong lai sơ trúc, phong khứ nhi trúc bất lưu thanh... Ừ, con đọc sách nhiều, dẫn chứng đâu đó thông thạo cả... lại còn căn bản Hán Nôm, thi phú nữa; nhưng mà này con, ông nói, nhà sư có trồng một bụi trúc, sáng nào ông cũng uống trà nơi cái chòi lá cạnh bụi trúc... Thế mà, có một lần, ông nói với ta, hơn ba mươi năm học cái đức của trúc, đến gần cuối đời, nhìn trúc ông mới không hổ thẹn... Hơn ba mươi năm, con nhớ đấy! Người con thấy mình lấm tấm đổ mồ hôi hột, sợ hãi... cái hành này thì quả thật, chàng phải tu tập cả đời!

Núi tiếp núi, chập chùng. Bò bình yên gặm cỏ. Người lác đác gánh củi. Họ lội qua những khe nước đầy, đá rêu trơn... Chốn này ít người qua lại, người con nói, cha đi thăm thầy, ông thầy nào mà ở xa hút trong rừng sâu thế? Ừ, dầu chẳng thâm sơn cùng cốc gì lắm, nhưng cũng tàm tạm lìa xa bớt cái hợm hĩnh, phù phiếm của chốn quan trường; ẩn trốn được cái ranh ma, xảo quyệt quá quắt của con người văn minh đô thị! Ông con nói, ngôn ngữ của cha hôm nay léo lắt như có lửa cháy! Ừ, trời lạnh, có lửa cháy mới ấm chứ con! Biết mình ngụy biện, ông cười hì hì rồi tìm chỗ ngồi nghỉ chân cạnh cụm đá tảng nơi triền núi. Cả hai lấy nước ra uống. Cha chưa hề nói chuyện với con về vị thầy này? Thầy ra sao? Là một nhà sư chăng? Ừ, ông gật đầu, một lão sư; ông gân guốc, quắc thước, xương kính như tùng, như trúc... Nhân duyên thầy trò như thế nào rứa cha? Cũng chẳng là nhân duyên chi ghê gớm lắm! Hồi xưa, nhà sư và cha là bạn đồng nghiệp... Sau ba mươi năm, gặp lại, qua câu chuyện, ta học được nơi nhà sư rất nhiều điều, ở ngoài sách vở, hoặc từ sách vở mà ông đã tiêu hóa kỹ, rất kỹ!

Họ lại lên đường. Người con nói, cha kể cho con nghe với chứ. Ừ, hôm đó ta hỏi, đang dạy học ngon lành rứa, buồn chuyện chi mà ông đi tu? Nhà sư cất giọng nhẹ nhàng, nhẹ tợ làn gió xao qua cành liễu, hoá ra, trong óc ông chỉ có chuyện vui, chuyện buồn thôi sao? Cha ngớ ra, lát sau, hỏi tiếp, ông đi tìm cứu cánh tối hậu là giải thoát, niết-bàn, có phải? Niết-bàn, giải thoát ấy ở mô trên mây xanh, nói thử nghe coi? Nhà sư lại cười, ông bạn nói giải thoát, nhưng giải thoát là giải thoát cái chi chi mới được chứ? Cha lại bí, bực quá, không hỏi nữa... Mấy năm sau, cái thời mà xã hội bức xúc nhất, quá nhiều chuyện buồn, ta lại bị gậy lội bộ lên núi. Nhà sư đãi ta cơm độn khoai và canh rau muống, ôi, ngon quá là ngon. Chúng ta uống nước lá rừng giữa trăng, sao, giữa thiên nhiên bình yên, mát mẻ. Một giấc ngủ ngon, bao nhiêu bực bội dường như tiêu tan cả, nhưng ta cũng nói, cũng hỏi. Đại khái là các giá trị đức lý, những cái phi lý khoác mặt nạ hữu lý, sự quẫy lộn giữa các ý thức hệ ... vân vân... quằn quại quá, quẫn quá, phiền não quá... vân vân... Ông đi tu là giỏi đấy! Nhà sư ngồi yên lặng, chăm chú, rất chăm chú lắng nghe, thái độ đầy hiểu biết và đầy cảm thông... Sau đó, ông hướng dẫn ta cách ngồi, cách thở... Thế nào là thở của khí công, thế nào là thở của thiền định, thế nào là thở của thiền quán... Nó khác nhau nhiều lắm đó con! Thế phiền não của cha, nhà sư trả lời ra sao? Người con tò mò hỏi, ông nói, thuở đó ta rất bực vì dường như nhà sư giả đò, giả lơ đi, không đáp!

Xế trưa, hửng nắng, ai cũng toát mồ hôi, con đường mòn bây giờ lại vắt qua một sườn núi, sâu hun hút... Câu chuyện được tiếp tục, ta muốn nhà sư giúp ta một lời khuyên. Nhà sư nói, chẳng ai khuyên ai được điều gì cả. Sao thế, ta nói, ít ra cũng giúp giải quyết được một vài bế tắc chứ? Không có, nhà sư nói, giải quyết vấn đề chính là cố tạo thêm vấn đề cho phức tạp hơn! Không đồng ý, ta nói, vậy là cứ để yên như thế sao? Nhà sư lại cười, ông xem: Bên trong, bên ngoài, có cái gì đứng yên được đâu! Thệ giả như tư phù... mà! Con ơi! Thế là ta lại thua nhà sư một keo nữa!

Câu chuyện giữa hai người khá là thú vị, tuy ông giáo sư trẻ không ngạc nhiên gì lắm; triết lý, thiền học nào cũng nói về điều ấy; nhưng dường như nhà sư này thò tay chỉ đúng huyệt đạo của ông già!

Bây giờ là con đường sâm si lau lách, đá cỏ chen chúc nhau dẫn vào một thung lũng, cây cối tươi xanh như một bài thơ mùa xuân. Tiếng suối chảy róc rách từ khe rãnh hang hốc nào đó ở dưới thấp; chim và mây và gió chao lượn đâu đó ở trên cao. Hương thông thơm ngát. Không khí như không dính một mảy trần. Con biết không, ông cúi đầu bước đi, tiếp tục, có cái gì đó bình thường, rất bình thường nhưng không phải thế tục, tỏa ra nơi con-người-nhà-sư, mà ta không nắm bắt được. Có lần, ta hỏi, đức Phật giúp chúng sanh gỡ thoát phiền não, tôi cậy ông, thế mà ông lại quá hờ hững, tôi chê ông “bất cận nhân tình” đấy! Bất chợt, nhà sư cười lớn tiếng, ông vu oan cho đức Phật rồi; ngài không cứu khổ, cứu nạn; không gỡ phiền não cho ai cả; ông bị kinh sách đầu độc, đích thị là như vậy! Con à, cha lại lúng túng. Nhà sư nói tiếp, hôm qua, trong giấc ngủ ngon, ông đã tự xả bỏ phiền não rồi, sáng ngày, tự ông, ông đã đeo mang nó lại, liên hệ gì đến đức Phật của tôi? Hãy nuốt lưỡi đi! Người con nghĩ, cái này cũng không mới, là tuệ tri như thực - là tặng phẩm của thiền quán Vipassanà đó thôi! Nhưng mà cách nói của nhà sư thì rất đúng bệnh, đúng thuốc!

Con đường được nới rộng, không gian như được mở ra... Sắp tới rồi đó con, nhưng để ta kể tiếp; chiêm nghiệm, ta thấy nhà sư nói đúng, ông không dạy gì cho ta cả, nhưng mà ông đã xoáy, đã xoáy sâu vào óc não và kiến thức hàn lâm, một thời, đã đóng cục đóng hòn ở nơi ta! Thế rồi, nó bung vỡ lần lần. Ta thấy ánh sáng lần lần... Lần gặp sau nữa, nhà sư nói, ông bạn già, hôm nay, có bao nhiêu phiền não, khổ đau trên cuộc đời, ông bạn hãy mang hết ra đây, chúng ta cùng nhìn xem mặt mũi nó ra sao, nó như thế nào - mà làm cho thế gian bận lòng đến thế! Con biết không, ta tìm, ta tìm, ta tìm mãi mà chẳng thấy cái phiền não, khổ đau nào cả! Có lẽ nhà sư biết, biết rất rõ, nên ông cười, này, không có gì hết phải không? Đúng vậy, vì tất thảy chúng đều là không tính! Sung sướng quá con ơi, ta đại ngộ tức thì. Từ đấy, ta coi nhà sư như là bậc thầy vĩ đại của ta! Con thấy đó, bao nhiêu năm nay, ta không còn một mảy may phiền não; nói như kiểu của Nam Tuyền lão sư là ta đã tìm được cái bình thường, bình thường tâm thị đạo. Người con im lặng rất lâu. Cái kia cũng chẳng mới mẻ gì, nhà sư lặp lại câu chuyện giữa Đạt Ma và Huệ Khả, nhưng hay và thiết thực ở chỗ là đúng lúc, đúng thời! Người đạt ngộ, sống thiền, họ có thể nói lặp lại nhưng không sống lặp lại. Nhà sư vô danh này cũng là tay khả thủ đây! Ông giáo sư trẻ nghĩ thầm mà không dám nói với cha, trứng nào dám khôn hơn vịt! Nhưng mà kỳ diệu làm sao, một vài vấn đề tâm linh nơi chàng tự dưng phơi phới sáng tỏ...

Một am tranh xơ xác, tiêu điều; một bụi trúc lơ phơ, lá vàng rơi đầy... Người con mon men bước tới... vắng tanh, vắng ngắt... Nhìn chiếc cổng tre hai cánh mở bám đầy rêu xanh, an nhiên giữa tuyết sương, năm tháng - bất chợt, người con nhớ đến một bài thơ của ai đó: Cửa sài hai cánh mở, mây trắng bước vào ra, phù sinh chừ rỗi việc, rong chơi suốt bốn mùa... Một cảm xúc vô danh tuôn trào, ông giáo sư lặng lẽ đến ngồi xuống nơi bàn đá lạnh lẽo... một tâm hồn cổ xưa nào đó dường như còn lãng vãng xung quanh đây!

Có lẽ nhà sư đã đi du hóa phương xa, con à, bây giờ con hãy phụ ta một tay, trồng khóm mặc lan rồi chưng nơi bàn đá này để cho nhà sư đón Tết... Mặc lan Huế u hương, thanh nhã, khinh diêu, du viễn, có nhà sư hay không có nhà sư thì hoa vẫn thanh thản đón xuân...

Lát sau, người cha đứng vòng tay, trầm tư bên chậu mặc lan đã trồng xong. Người con đi quanh... cả một đồi lau trắng, quạnh hiu... Rồi ông bước vào am, thò tay kéo cái “bùng”, lấy thanh tre chống lên. Răn rắc... bụi mọt bay mịt mù. Ông nhắm mắt lại một lát. Trống không, nơi này không có người ở đã lâu. Duy nhất, chính giữa nền đất, áp sát phên nứa là một tấm tọa cụ bằng nệm rơm đã meo mốc. Một bát nhang hờ hững, xiêu đổ mấy cọng hương...

Người cha bước vào, ba cây hương trên tay; rồi ông quỳ rất lâu, mắt hoe hoe đỏ... Ông con chắp hai tay đứng lặng, kính ngưỡng một tâm hồn thiên cổ... Ra sân, người con cũng đứng lặng rất lâu, nhìn ngắm bụi trúc duy nhất - bụi trúc, tâm không tiết trực, một đời học làm người! Khóm mặc lan - u hương sâu kín, một đời học làm người! Và ông đã hiểu thêm, ở nơi này, một loại lan rừng - ăn móc uống sương, cũng một đời học làm người! Tất cả đều có thật.

Thôi, về con, ra giêng Tết có nắng ấm, chúng ta lại lên thăm nhà sư, lúc ấy, chắc khóm mặc lan đã tàn hoa, nhưng hương thơm khinh diêu, du viễn vẫn còn... còn mãi giữa bồng bềnh khói sương cuộc lữ...

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

                                                                                                                                         
(Theo Tạp chí Sông Hương)
Trang con (2): Mặc lan Thanh lan
Comments