Thơ Hồ Xuân Hương

LỜI NÓI ĐẦU

            Xuất phát từ thực tiễn trong việc nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương của các tác giả từ trước cho tới nay, chúng tôi – nhận thấy nghiên cứu về thơ của Hồ Xuân Hương chưa có hệ thống nhất quán và hầu như các tác giả chưa “Tầm nguyên lý giải” đúng những giá trị tư tưởng, quan niệm của nhà thơ về tự nhiên sự vật, về xã hội, về con người, về văn hóa,… mà chỉ “khen, chê”, thổi phồng hay cực đoan một cách chung chung theo chủ quan nhận định của người nghiên cứu. Qua đó, ta thấy những vấn đề thuộc bản chất trong thơ của Bà chưa được nghiên cứu. Nên thiếu sự thống nhất trong nhận định, đánh giá.

            Từ yêu cầu của thực tiễn và cũng là mặt lý luận nêu trên; để góp phần lý giải một phần nào về “hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương” chúng tôi tiến hành bước đầu tìm hiểu về “Nho” và “Phi Nho” - nét văn hóa đặc sắc trong thơ Bà. Đây là một việc làm rất cần thiết, lý thú và bổ ích. Ở đây, chúng tôi không chỉ dừng ở lại việc tìm hiểu giá trị, nội dung và nghệ thuật thơ ca, còn phát triển đi sâu thêm từ cái nền giá trị ấy, để tìm tòi, khám phá ra cái “Nho” và “Phi Nho”-nét văn hóa đặc sắc được thể hiện qua thơ của Hồ Xuân Hương. Những điều này ảnh hưởng đến cả quá trình sáng tác, cũng như tư tưởng của Hồ Xuân Hương nhìn nhận về thế giới, về sự vật, về xã hội, về con người,… qua những lời thơ “ý tại ngôn ngoại”. Như vậy, sau Nguyễn Du với truyện Kiều là Hồ Xuân Hương một  nhà thơ cổ điển được nhắc tới nhiều nhất, gây nhiều tranh luận, tựu trung lại chúng tôi thấy nổi lên ba ý kiến cơ bản sau:

            Một là: Đề cao cuộc đời và sự nghiệp của Bà, cho Hồ Xuân Hương là “Bà chúa thơ nôm”, “là một nhà thơ kiệt xuất, một tài năng văn học độc đáo”,…theo ý kiến này có các tác giả: Xuân Diệu, Lữ Huy Nguyên, Hoa Bằng,….

            Hai là: Vừa khen, vừa chê thơ Hồ Xuân Hương… loại ý kiến này là: Dương Quảng Hàm, Vân Cương, Nguyễn Khắc Thiện, Thuần Phong,…

            Ba là: Chê hoàn toàn và còn liệt thơ của bà vào một loại “bệnh theo học thuyết sinh lý của Preud”, hiện tượng ẩn ức “coi trạng thái của Hồ Xuân Hương đáng được tìm hiểu bằng “Phân tâm học”. Theo ý kiến này có Nguyễn Văn Hanh,…

            Như vậy các ý kiến đánh giá, nhận định về thơ Hồ Xuân Hương cũng như tư tưởng của Bà ở nhiều góc độ khác nhau theo: chức năng của văn hóa học, văn học, mỹ học, đạo đức học và sinh lý học,…nhưng chưa có tác giả nào lại đi từ mặt văn hóa học, triết học phương Đông, cụ thể là học thuyết Nho giáo để tìm hiểu “Nho” và “Phi Nho” trong thơ Hồ Xuân Hương. Vì vậy đề tài này chủ yếu tìm hiểu bước đầu về “Nho” và “Phi Nho” trong thơ Hồ Xuân Hương. Như vậy, đối tượng nghiên cứu “thơ Hồ Xuân Hương” là chủ yếu, tất nhiên có phần nói đến cuộc đời của Bà có ảnh hưởng đến “Nho” và “Phi Nho”.

            Do thời gian và điều kiện nghiên cứu có hạn, chúng tôi không thể đi sâu hết tất cả các nội dung nghiên cứu khác về đối tượng, mà chỉ dừng lại ở những đặc điểm chủ yếu nhất, cơ bản nhất có liên quan đến vấn đề tài đã đặt ra, trong thời điểm lịch sử mà Hồ Xuân Hương sống.

            Những đóng góp của đề tài có ý nghĩa quan trọng cả về thực tiễn lẫn lý luận. Đề tài cấp thêm tư liệu và một số nhận thức mới cho việc nghiên cứu tư tưởng một nhà văn, một nhà thơ cụ thể, đồng thời phục vụ cho việc giảng dạy văn học Việt Nam thời kỳ cổ – cận đại nhìn nhận vấn đề sâu sắc hơn…

            Tài liệu sử dụng cho đề tài này chúng tôi dựa chủ yếu vào cuốn “Thơ Hồ Xuân Hương” do Nhà xuất bản văn học Hà Nội năm 1990, Triết học (dùng cho NCS và học viên cao học không chuyên ngành triết) do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 1993 đề cương bài giảng “Bản sắc văn hóa” của tiến sĩ Nguyễn Văn Hiệu và những tác phẩm, bài viết trong nước có liên quan đến sự nghiệp Hồ Xuân Hương. Để nghiên cứu đề tài này, chúng 0tôi sử dụng phương pháp biện chứng duy vật lịch sử để nghiên cứu, đồng thời chúng tôi coi trọng và sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logíc, phương pháp so sánh, thống kê, miêu tả,…theo thế giới quan Mác – Xít.

            Do thời gian và năng lực nghiên cứu có hạn, nên tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót.

            Nội dung của tiểu luận chúng tôi chia làm các phần sau:

             Chương I: Vài nét về mặt lý luận.

             Chương II: “Nho” và “Phi Nho” trong thơ Hồ Xuân Hương.

 

CHƯƠNG I: VÀI NÉT VỀ MẶT LÝ LUẬN


            I- NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA  HỌC THUYẾT NHO GIÁO:

Để biết được trong thơ Hồ Xuân Hương chịu ảnh hưởng của học thuyết Nho giáo đến mức độ nào, để đến sự “Phi Nho” chúng ta phải tìm những nét lý luận cơ bản của học thuyết này làm cơ sở so sánh, đối chiếu, phân tích.

             Nội dung cơ bản học thuyết Nho giáo:

            Theo cuốn triết học tập 1 (NXB chính trị quốc gia, HN 1993, từ trang 82 đến trang 112) đã nêu những ý chính sau:

            “Học thuyết Nho gia là “Nhân”, “Lễ”, “Nghĩa”, “Chính danh”,…Nhân ở đây được hiểu là hạt nhân trung tâm của học thuyết nó có ba nội dung cơ bản sau:

-Nhân là yêu người, thương người, coi người như mình “cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”.

-Nhân là tôn trọng nhuyên tắc xã hội. Đó là nguyên tắc “Lễ”.

-Đạo nhân là đạo của người quân tử.

Trong phạm trù “Lễ” của học thuyết bao gồm : Nghi lễ và Tế lễ. Ở đây có quan hệ giữa Nhân và Lễ. Nhân là nền, là nội dung, còn Lễ là hình thức, là cái biểu hiện. Còn “Chính danh” là điều căn bản của việc làm chính trị đưa xã hội “loạn” trở lại “trị”, xây dựng một xã hội có “Lễ”: vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con. Song song đó học thuyết của Khổng Tử cũng chủ trương thực hiện đường lối: Đức trị, Lễ trị .

Về thế giới quan coi Trời là giới tự nhiên, có sự vận hành tự nhiên: “Thiên là ngôn tại? Tức thời hành yên, bách vật sinh yên”. Nhưng mặt khác Khổng Tử lại nói đến Thiên mệnh – như vậy là qui định vận mệnh của xã hội và mỗi con người, … Về nhận thức luận của Khổng Tử có tính duy tâm tiên nghiệm “có người sinh ra đã biết” và còn hạn chế trong tri thức luận  “nguồn gốc của tri thức là do học”,… và ông xây dựng những mẫu người của giai cấp phong kiến là “Quân tử”, “Kẻ sĩ”.

Kế tiếp học thuyết này là Mạnh Tử, ông cho rằng: “vạn vật có đầy đủ trong ta”, “Thánh” là bản thể của vạn vật, con người không phải đi tìm chân lý ở thế giới vật chất khách quan, mà chỉ cần có “thành ý, chánh tâm” trở về với nội tâm chủ quan bên trong. Muốn hiểu được “Thiên mệnh” phải hiểu được lòng người, muốn hiểu được lòng người phải hiểu được cái Tâm của Lòng mình đồng thời nó cũng là “gốc của cái khác mình”. Mạnh Tử tách rời tuyệt đối nhận thức cảm tính và lý tính, coi nhận thức cảm tính là của kẻ tiểu nhân, còn nhận thức lý tính chỉ có riêng của người quân tử.

Bàn về tính Người, Mạnh Tử cho rằng : “Người ta sinh ra vốn ai cũng “Thiện” với tứ đức: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí”. Hiểu thân để trung quân và kính trưởng…nhưng chỉ có người quân tử mới có khả năng giữ được.

Về chính trị, phát triển quan niệm “Nhân” của Khổng Tử thành học thuyết “Nhân”, “Chính” với các nội dung: “Không dùng vũ lực thôn tính nhau, bớt hình phạt, nhẹ thuế má,…” và đề ra “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, Quân vi khinh”. Như vậy phạm trù của Nho giáo văn là: Vua – Tôi, Cha – Con, Chồng – Vợ ; Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Học thuyết này sau được Tuân Tử, Đổng Tọng Thư (thời Hán), Trịnh Hạo, Trinh Di,…phát triển riêng và được sử dụng trong việc “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” với các nội dung chính: Thế giới quan - Thiên mệnh, nhận thức luận - Thiên phú, Quan điểm biện chứng là vòng tuần hoàn xây dựng - mẫu người phong kiến: Quân tử, trượng phu; đường lối chính trị: Đức trị, Lễ trị; nguyên tắc làm người: Tam cương, Ngũ thường (Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín) và chính danh. Đó là tất cả những nội dung cơ bản của học thuyết Nho giáo.

II- NHO GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ THẾ KỶ XVIII:

1.Vài nét lịch sử Nho giáo ở Việt Nam:

Nho giáo với nội dung cơ bản nêu trên (phần I) sẽ hoàn toàn không phù hợp với một xã hội thoát thai từ Văn Lang Âu lạc với chế độ Lạc hầu, Lạc tướng, như xã hội ta hồi đầu Bắc thuộc. Dân ta lúc đó chưa cần Nho giáo. Vậy, có thể nói Nho giáo vào nước ta là do bọn thống trị phong kiến Trung Quốc áp đặt, nói cách khác Nho giáo đến nước ta trước công nguyên, như việc truyền bá học thuyết này có nề nếp từ thế kỷ I sau công nguyên. Mục đích truyền bá học thuyết Nho giáo ở nước ta lúc bấy giờ là để đào tạo những người làm việc cho chính quyền Hán. Thế nhưng tình hình về sau có khác, khi nền tảng và cơ cấu xã hội  Việt Nam ít nhiều đã mang tính chất của phương Bắc thì Nho giáo lại là một yêu cầu, một thứ học thuật tư tưởng mà người dân trong nước ta tiếp thu và trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhiều triều đại nhưng cái cốt của học thuyết này vẫn được giữ vững và phát triển. Đến nay còn ít nhiều ảnh hưởng trong cuộc sống tinh thần văn hóa của dân tộc.

2. Nho giáo thời Hồ Xuân Hương (thế kỷ XVIII):

Như đã nói ở trên, học thuyết Nho trở thành học thuyết thống trị của giai cấp thống trị của giai cấp phong kiến Viêt Nam (kể từ khi Nho giáo trở thành học thuyết cho đến thời Hồ Xuân Hương) chưa có ai phủ nhận vai trò của nó, giai đoạn này điều cốt lõi của Nho giáo có nhiều quan niệm khác nhau. Theo cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam (NXB, KHXH, HN,1993 trang 423) có đoạn ghi: “Có người cho là “Trung hiếu”, có người cho là “Nhân nghĩa, trung chính”, có người cho là “Tứ đoan”, có người cho là “Tam cương”…”. Những nhận định trên xem xét theo từng bối cảnh của sự đề xuất hoặc trình bày thì đều đúng và những tiêu điểm của sự suy nghĩ và cuộc đấu tranh lúc bấy giờ “là quan niệm chữ “trung”,…”. Thời đại khiến người ta lật đi lật lại một quan niệm truyền thống, không những là để hiểu cho “phải đạo” mà còn để hành động cho “thanh thản’.

Tuy đề cao Nho giáo, song nhưng Nho giáo ở thế kỷ XVIII khác với Nho giáo ở các thế kỷ trước. Nho giáo lúc này cũng không tách biệt với Phật và Lão, càng không đối lập với chúng, cũng theo cuốn sách trên ở trang 445 cho rằng, “trái lại nó thâu tóm Phật và Lão vào trong lý thuyết của mình (Nho)”. Hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên” trên cơ sở Nho trở thành xu hướng lớn lúc bấy giờ. Cũng chủ trương “Tam giáo đồng nguyên” nhưng ở thế kỷ này khác với thời Lý-Trần; vì thời Lý-Trần thì đồng nguyên trên cơ sở Phật, còn thế kỷ XVII thì đồng nguyên trên cơ sở Nho.

Như vậy, trong giai đoạn thời Hồ Xuân Hương sống, về tư tưởng triết học và chính trị – xã hội thì tiếp tục những vấn đề đã được bàn luận trước. Nhưng vấn đề như nguồn gốc trị, loạn, nguyên nhân của số phận, đạo làm người… được tìm hiểu và nhận thức lại. Mặt khác, do chiến tranh, (Trịnh – Nguyễn phân tranh) từ chết chóc, loạn lạc đã khiến các nhà tư tưởng có lương tri phải nhức nhối. Họ phải tìm ra nguyên nhân để trị loạn, trong đầu óc họ thì lãnh đạo và điều khiển xã hội là tập đoàn đó đối với lòng dân và ý trời…

Hiểu rõ bối cảnh lịch sử Hồ Xuân Hương sống, và sáng tác, để chúng ta thấy được sự ảnh hưởng của “Nho” và “Phi Nho” của Bà qua thơ, mà thơ ca không chỉ là tiếng, nói của tâm hồn, của con tim mà nó còn phản ánh lịch sử, tư tưởng của cả một thời đại. Khi nghiên cứu vấn đề trên trong thơ Hồ Xuân Hương chúng ta phải hiểu được nội dung cơ bản của học thuyết Nho, cũng như việc tiếp thu, ảnh hưởng của học thuyết này là ở Việt Nam, nhất là giai đoạn ở cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII – giai đoạn cổ cận đại Việt Nam – xã hội của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương, thì việc tiếp cận, tìm hiểu “Nho” và “Phi Nho” trong thơ Bà sẽ rõ ràng minh bạch hơn.

Vấn đề “Phi Nho”, ở đây ta hiểu là ngược lại với “Nho”, có nghĩa là không tuân thủ theo các qui định, luật lệ, quy ước đã ngự trị, tồn tại cả về hình thức, nội dung của “Nho” thì đó là “Phi Nho”.

Chúng ta cũng phải cần lý giải thêm vấn đề ở chỗ tại sao trong thơ Hồ Xuân Hương lại chứa đựng ở cả hai mặt “Nho” và “Phi Nho’ trong khi các nhà thơ trước Bà như Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Quan Bích... đều là Nho ra Nho. Đây chính là điểm độc đáo, là đặc thù trong thơ của Bà, cũng là tư tưởng của hồ Xuân Hương. Sau này cái “Nho” và “Phi Nho’ theo khuynh hướng của bà thấy xuất hiện (thời cận – hiện đại) như Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Học Lạc, … cũng trong hoàn cảnh xã hội rối ren, đất nước bị thực dân pháp xâm lược. Đây cũng chính là cái giằng xé “nội tâm” của nữ thi sĩ trong việc trung hiếu, việc đời thường … đan xen nhau và tạo nên cái “Nho” và “Phi Nho” trong thơ của mình. Trên nền tảng tiếp thu cái tinh túy của “Nho” để làm đà cho cái “Phi Nho” của Hồ Xuân Hương.

 

CHƯƠNG II: “NHO” VÀ “PHI NHO”

TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG

I-“Nho” trong thơ Hồ Xuân Hương:

Hồ Xuân Hương xuất thân từ một gia đình Nho gia, cha mẹ Bà cho Bà học theo lối giáo dục của Nho gia “cầm, kỳ, thi, họa” và “công, dung, ngôn, hạnh”, … cho nên Hồ Xuân Hương là một người phong kiến, thế giới quan của Bà vẫn là thế giới quan phong kiến – nên trong thơ của Bà tuy không nói thẳng sự tôn sùng – “thánh nhân” như các nhà thơ Nho đương thời, nhưng ẩn ý, tế nhị ta vẫn thấy Hồ Xuân Hương nhắc tới : “chúa dấu, vua yêu”, “người trong trướng”, “duyên thiên”, “đỉnh trung”, … và gọi các chức phẩm của triều đình ban, hành như: “tổng”, “phủ”.

Nho giáo tin có thiên mệnh, theo Khổng Tử coi việc hiểu biết mệnh trời là điều kiện tất yếu để trở thành người hoàn thiện. Vấn đề này cũng được thơ Hồ Xuân Hương cũng đề cặp tới: “cán cân tạo hóa”, “miệng túi càn khôn”, “hóa công”,… vấn đề chính danh như: “hiền nhân”, “quân tử”,… Bà nhắc trong thơ với tầng số khá cao (quân tử: 7 lần, hiền nhân: 4 lần, anh hùng: 2 lần,…). Người quân tử của Nho gia là mẫu người lý tưởng, những kẻ có địa vị trong xã hội. Như vậy Bà vẫn có hoài vọng và ước mơ sẽ có những Người quân tử, có hiền nhân chân chính theo “chính danh định phận” của Nho để làm bạn “tri âm, tri kỷ” với Ba, … Đó cũng là một phần của vấn đề, chỉ ra cái “Nho” qua thơ Hồ Xuân Hương, còn trong đời sống của con người có lúc trừu tượng, có lúc cụ thể, theo trình độ, hoàn cảnh mà Hồ Xuân Hương diễn đạt một cách khác nhau. Theo Nho trong phạm vi “người có đức nhân là người làm được năm điều trong thiên hạ: “cung, khoan, tín, mẫn, huệ”. Ta thấy ở cuộc đời thực và qua thơ của mình nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương đã làm được cơ bản về năm điều này; được thể hiện: không khinh nhường kẻ khác, được lòng người, người đời tin cậy, có công trong việc cảnh tỉnh, giác ngộ – những người khác trong vòng u mê, tục lụy (cảnh lấy chồng - chung, cảnh đi tu, học đòi làm hiền nhân, quân tử, …). Từ đó khiến người ta coi lại mình  xem xét lại xã hội. Tất cả những điều đó phải chăng lại không là cái “Nho” của Hồ Xuân Hương. Không những thế theo Nho, “Nhân” còn thể hiện ở chỗ biết thương người (ái nhân) và biết ghét người. So sánh và vận dụng vào thơ Hồ Xuân Hương ta thấy rất rõ, Hồ Xuân Hương thông cảm, đồng cảm sâu sắc cảnh: “kẻ đắp chăn bông - kẻ lạnh lùng, chém cha cái kiếp lấy chồng chung,…” cảnh góa bụa và nhất là thân phận của người đàn bà trong xã hội phong kiến, một xã hội trọng nam khinh nữ “hỡi chị em ơi có biết không” (cái nợ chồng con). Không dừng ở đấy (ái nhân) Bà còn căm phẫn những bọn trưởng giả, ô trọc, bọn thầy tu làm điều xằng bậy, ghét thói học đòi “quân tử, hiền nhân, văn nhân” dốt nhưng cũng xướng thơ, ngâm vịnh…(qua các bài Sư hổ mang, Lũ ngẩn ngơ, Phường lòi tói, …) đã nói rất rõ những điều đó. Trong cảnh ly tán loạn lạc đáng lý người quân tử theo Nho giáo là phải dấn thân, cứu loạn nhưng người quân tử trong thơ, Bà đã trách:

“Hỡi người quân tử đi đâu đó

Thấy cảnh sao mà đứng lượm tay”

(Cảnh chùa ban đêm)

Người quân tử ở giai đoạn này lánh thế, khoanh tay. Nói được như thế, với cả tâm can của mình, phải nói là Hồ Xuân Hương rất nhuần nhuyễn Nho giáo và có thể nói những tư tưởng cốt lõi của Nho giáo đã thấm sâu vào xương cốt của Bà, nên Hồ Xuân Hương nói ra là cái “đạo”, cái “nhân” của Nho hết. Ngay trong bài “Không chồng mà chửa” của Hồ Xuân Hương nói, vì từ cái “cả nể” của người con gái rồi “hóa dở dang”. Nếu xét về mặt đạo đức của Nho giáo thì không chấp nhận, nhưng ở đây Hồ Xuân Hương lại đi sâu hơn vào bản chất điều “nhân” trong thơ. “Nho” của Hồ Xuân Hương chỗ này là vấn đề sinh mệnh của cả một đời người, đời người ấy lại mang trong mình mầm mống của một sinh linh mới,… trong Nho và “Đạo – Nho” thì cấm sát sanh, cấm hãm hại con người. Thì cớ gì lại vùi – dập người con gái “không chồng” ấy và theo Bà còn “ngoan” nữa kia; vì người con gái ấy yêu thương thành thật và việc làm nhiệm vụ một người mẹ thật cao cả, còn hơn những người quân tử, văn nhân… “chơi hoa rồi lại bẻ nhành bán rao”,… Như thế Hồ Xuân Hương đã đạt “đức nhân” theo Khổng Tử với cái trí, dũng, và chính vì thế mà Hồ Xuân Hương “sáng suốt, minh mẫn, để hiểu biết được đạo lý, xét đoán được sự việc, phân biệt được phải trái, thiện ác, để trao dồi đạo đức và hành động hợp với “thiên lý”. Hồ Xuân Hương từ cái tầm nhìn “Nho” để lý giải những vấn đề nếu không kỹ ta thấy nó giản đơn, những chuyện tưởng như không đâu ấy lại là cả một đạo lý, một triết lý “Nho” rất Hồ Xuân Hương. Hồ Xuân Hương đã kế thừa di sản “Nho” với tinh thần gạn đục khơi trong, với nội dung phong phú.

Là một nhà thơ nữ, Hồ Xuân hương rất nhạy cảm, trong tình thế đất nước “hỗn danh”, loạn lạc như vậy Bà vẫn tin tưởng – làm ra những bài thơ, câu thơ trước là “mua vui cho thiên hạ” sau đó là nỗi niềm tâm sự của mình, những câu thơ ấy là những tiếng chuông gióng lên cảnh tỉnh những con người quên nguồn gốc. Vì Bà học theo Khổng Tử khi khuyên mọi người “nghe nhiều rồi chọn điều hay mà theo, thấy nhiều để xét cho rõ cái hay, cái dở ma nhớ lấy, đó là điều quan trọng để trở thành trí giả”. Thơ Bà lật bề trái của một xã hội đảo điên, con người sống không theo đạo lý con người với trật tự lễ, nghĩa vốn có của nó, đạo đức suy vi, vua chúa không ra vua chúa, tất cả không đúng theo “chính danh định phận” của Nho giáo. Xã hội con người thiếu nhân lễ, nghĩa, trung, hiếu, tín,… qua thơ Bà ta thấy đủ các hình hài của những kẻ không “chính danh” vua chúa, Hiền nhân, Quân tử, Văn nhân, Thầy đồ, Quan hoạn,…đều bị Hồ Xuân Hương thẳng tay chỉ ra cái sai, cái lỗi lầm trái với “Nho”. Rồi bọn thầy tu hổ mang, bọn bất tài vô dụng…cũng bị Bà vạch mặt chỉ tên. Thử hỏi tất cả những điều ấy Hồ Xuân Hương không phải làm vì “Nho gia” thì làm cho ai? Vì Hồ Xuân Hương tin rằng một ngày nào đó vấn đề “nhân trị” và “chính danh định phận” sẽ làm cho xã hội ổn định trật tự, người người giữ vững kỷ cương, giềng mối.

“Nho” còn thể hiện ở tài làm thơ của Bà, với niêm luật của thơ Đường, với vần bằng, trắc, sự đối thanh, đối ý, hình ảnh,…Bà vận dụng không sai mà còn độc đáo. Bà làm bằng chữ nôm, ít dùng Hán ngữ nhưng khi đọc ta vẫn thấy thể thơ “Nho” biểu hiện nhuần nhuyễn. Điều này chứng tỏ Bà rất am hiểu và vững vàng về thơ Đường, nên khi chuyển sang làm thơ bằng ngôn ngữ của dân tộc Bà vẫn chủ động, tỏ rõ tài năng cho nên nhà thơ Xuân Diệu đã gọi Bà là “Bà chúa thơ nôm”, còn Thuần Phong thì cho Hồ Xuân Hương là “nhà Nho tự đắc cầu kỳ” vì lẽ, Bà làm thơ với âm vận, tử vận: Am, eo, ênh, om,… đạt đến kỹ thuật, trình độ nghệ nhân trong giới cầm bút làm thơ Đường.

“Nho” còn thể hiện ở việc sử dụng các điển tích trong thơ của Bà, Bà lựa chọn rất khéo, rất đắt các sự kiện, sự vật từ trong Kinh thi, Kinh dịch như các điển  tích: Xiếu Mai (quả mai rụng) trong Kinh thi, Chiếc Bách trong bài thơ “Bách Chu” trong cổ thi, Dê Cỏn (dê Nhỏ) trong Kinh dịch,… ngoài ra còn một số từ ngữ khác như: Nương dâu, Tây Trúc, Hành Sơn, Thứu Lĩnh,…cũng thấy Hồ Xuân Hương sử dụng thành thạo. Những điển tích này gần gũi với nhân dân Việt Nam ai đọc cũng hiểu. Chứng tỏ Hồ Xuân Hương rất uyên bác thành thạo các sách của  Nho gia, nên việc Bà tuyển chọn đưa vào thơ rất kỹ, có thể nói trên cái nền Hán ngữ của Nho, Bà đã chắt lọc tinh túy đưa vào thơ mình những nét tương đồng, gần gũi nhất, tuy là thơ nôm nhưng nó vẫn là hình thức của thể thơ Nho truyền thống.

Ngoài các vấn đề nêu trên, “Nho” còn thể hiện ở tài chơi chữ của Hồ Xuân Hương dùng lối chơ chữ chiết tự hán như: chữ Thiên (   ) chỉ trời, nhô đầu lên thành chữ Phu (   ) nghĩa là chồng; chữ Liễu (   ) chỉ người con gái, nếu thêm một nét ngang thì thành chữ Tử (    ) là con. Bà còn vận dụng trong câu thơ sau:

“Duyên thiên chưa thấy Nhô đầu dọc

Phận liễu sao đà nẩy nét ngang”

(Không chồng mà chữa)

Hay trong bài “Bỡn bà Lang khóc chồng” Hồ Xuân Hương chỉ một loạt từ chỉ các vị thuốc Bắc như: cam thảo, quế khâu, thạch nhũ, trần bì, quy thân, liên nhục, sinh ký, tử tắc, quy,… vậy mà khi trở thành thơ, các từ ngữ trên vẫn làm rung động lòng người, rất đúng tâm trạng của một phụ nữ khóc chồng làm nghề bốc thuốc, cái tài của Hồ Xuân Hương là như vậy. Để đạt được những câu thơ sống động trên, ắt Bà phải biết vốn từ Hán phong phú – từ ngữ của Nho gia không ít… và rõ ràng trong thơ ca của Bà nói gì thì nói vẫn thấy hiển hiện những vấn đề “Nho”. Dù “Nho” ấy là hoài niệm, nhưng thâm thúy, uyên bác và Bà đã lấy cái nền ấy để tạo ra cái “Phi Nho” trong thơ của mình.

II – “Phi Nho” Trong thơ Hồ Xuân Hương:

            1. Hoàn cảnh ra đời:

            Hồ Xuân Hương sinh ra và lớn lên trong bối cảnh lịch sử của thế kỷ XVIII, giữa buổi loạn ly của đất nước, chúa Trịnh lộng quyền làm những điều bạo ngược, trọng dụng bọn hoạn quan, đặt ra lệ mua bán tước vị, nạn kiêu binh nổi lên khắp nơi, lòng dân không yên, Nho sĩ phong kiến thì tiêu tán, thức giả không được ai kiêng nể. Một xã hội “vua không ra vua, tôi không ra tôi…” đã làm cho Bà ngao ngán. Nhiều lần với việc trung thành với lý tưởng “Nho” Hồ Xuân Hương ước muốn có một xã hội “vua hiền”, “tôi trung”, “anh minh” và “rắn nát mặc dù tay kẻ nặn, mà em vẫn giữ tấm lòng son” (Bánh trôi). Nhưng rốt cuộc niềm mơ ước ấy cũng tiêu tan, Hồ Xuân Hương thể hiện trong thơ mình những lời chua chát, phóng khoáng để tố cáo nhân tâm, thế sự đảo điên. Bà chỉ có một ước vọng lời thơ của mình là một tiếng chuông cảnh tỉnh những trò điên đảo, trong sáng tác của Bà đã dùng lối “phi Nho” để nói lên những tâm tư, tình cảm, những quan điểm của Bà về cuộc sống, xã hội, con người,…

2. Những yếu tố “phi Nho” trong thơ Hồ Xuân Hương:

Là một người phong kiến, sống trong xã hội phong kiến, nên thế giới quan Hồ Xuân Hương vẫn là thế giới quan phong kiến ít nhiều bị ảnh hưởng “Nho”. Nhưng trên phương diện khác ở Hồ Xuân Hương chúng ta lại thấy có chiều hướng phủ nhận sự độc tôn của “Nho”. Sự việc có vẻ khó hiểu này, trong tiểu luận sẽ lý giải khi đặt chúng trong mối quan hệ giữa bề ngoài và thực chất, giữa lời nói và việc làm của Hồ Xuân Hương qua thơ.

Về quan điểm đạo đức Hồ Xuân Hương đã có chủ trương khác với Nho giáo chính thống, nếu “Nho” quan niệm sự nghiệp của vua chúa chỉ có thể sự nghiệp là “vương đạo”, thì ở Hồ Xuân Hương hàm ẩn ý cho rằng sự nghiệp ấy là sự nghiệp của “vương đạo” cộng với “nghiệp bá”. Nếu Nho chính thống cho rằng: trong cách xử lý công việc phải dựa vào “nhân nghĩa” và sự “mềm mỏng” thì ở Hồ Xuân Hương lại coi “mềm” phải kết hợp với “cứng”. “Nhân nghĩa” phải kết hợp với “thuật”, “thế”. Nếu Nho chủ trương đánh giá con người phải dựa vào “đức”, thì Hồ Xuân Hương cho rằng phải kết hợp “đức” với “tài”, không những thế Bà còn thiên về mặt “tài”, trong thơ Bà đã bêu riếu “Lũ ngẩn ngơ, Phường lòi tói…” những tên tấp tểnh học làm sang, nói chữ mà đầu óc rỗng tuyếch :

“Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ

Lại đây cho chị dạy làm thơ”.

Hay

“Dắt díu nhau lên đến cửa chiền

Cũng đòi học nói, nói không nên”.

Rất “cứng rắn” Hồ Xuân Hương buộc chúng:

“Ai về nhắn bảo phường lòi tói

Muốn sống đem vôi quét trả đền”.

Hoặc:

“ Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông

Nó bảo nhau rằng ấy “ cái uông”.

Những tư tưởng trên của Hồ Xuân Hương thật táo bạo. Bởi vì Mạnh Tử Á thánh của “Nho” các thời cho rằng “Ngũ Bá là những tội nhân của Tam vương” (Mạnh Tử - Cáo Tử). Như thế ta thấy Hồ Xuân Hương đã “Phi Nho” trên những nét cơ bản của “Nho”. Chính vì thế mà Hồ Xuân Hương mới mạnh bạo cho vua cho chúa từ trên bệ cao tụt xuống khác chi bá tánh, dân thường về những điều thường trong sinh hoạt của cuộc sống, qua câu thơ:

“Hồng hồng má phấn duyên vì cậy

Chúa dấu, vua yêu một cái này”

Về hệ tư tưởng, “Nho” chính thống và nhất là “Nho” Việt Nam ở thế kỷ này, trong thực tế có lúc tin theo cả Phật, Lão… nhưng trong chủ trương thì bao giờ cũng cho rằng hệ tư tưởng của họ chỉ là học thuyết của Khổng Tử và của Mạnh, Trình, Chu,…sau này. Nhưng Hồ Xuân Hương đã công khai thừa nhận việc kết hợp của Nho, Phật và âm dương ngũ hành (Kinh dịch)…coi “Nho” ngang hàng với các học thuyết khác, cho nên có lúc “Buồm từ cũng muốn về Tây Trúc”, ta biết rằng người xưa gọi Tây Trúc là quê hương Phật giáo của Ấn Độ, trong thơ của Bà cũng thường nhắc đến địa danh Thứu Lĩnh – một ngọn núi nơi ở của Phật Tổ lúc sinh thời. Nhấn mạnh vai trò của Đạo Phật, Hồ Xuân Hương có cả một loạt bài viết về các chùa chiền, động miếu như: Chùa Quán Sứ, Chùa Thầy, Động Hương Tích, Hang Thánh Hóa, . . .

Như vậy, tuy chưa nói thẳng trên thực tế phần nào Bà cũng đã phủ nhận vai trò truyền thống của “Nho”, ở phương diện đánh giá cái mới “Nho” cho rằng “xưa hơn nay”, khi thấy những điều mới họ đều quy cho là trái đạo đức, trái lẽ thường tình. Ngược lại, Hồ Xuân Hương cũng như các nhà Nho khác đương thời lại hăm hở đánh giá cái mới một cách công minh đối với những vấn đề trong “xử thế”, trong từng tình huống, hoàn cảnh cụ thể mà có cách giải quyết lý – tình. Chính vì có những quan niệm như vậy, nên trong thơ Hồ Xuân Hương rất khoáng đạt, phóng túng, gần như mọi chuyện “xử thế” của Bà đều độc đáo, trong khi nếu theo tư duy lôgic bình thường thì chẳng có gì mới và hấp dẫn cả. Nhưng ở từng tình huống, hoàn cảnh điển hình cụ thể thì nó lại là những hạt trân châu trong sáng, có sức cuốn hút lạ thường. Đó là thân phận người phụ nữ ở mọi hoàn cảnh, đó là sự gặp mặt bọn công tử bột, bọn cậu viên, cậu ấm, bọn võ quan, quan thị, hỏi “tướng giặc” và rất đặc biệt là những sư giả hiệu, trốn tránh chí làm trai, “yếm thế” bỏ mặc nước nhà trong cơn binh đao khói lửa để ăn bám, ăn hại của dân… đều được Bà vạch rõ đường nét, chỉ đúng “tính danh”.

Đấy là bọn công tử bột tài trí chẳng bằng ai cũng tập đua đòi ngâm vịnh và ghẹo gái:

“Ong non ngứa nọc châm hoa rữa

Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa”.

Đối với bọn quan thị, bằng ngòi bút điêu luyện Hồ Xuân Hương đã đặc tả những “phẩm chất” của bọn này.

“… Đố ai biết đó vông hay trốc

Còn kẻ nào hay cuống với đầu.

Đã thế thì thôi, thôi mặc thế

Trăm năm càng khỏi tiếng nương dâu”.

Như chúng ta đã biết, thế kỷ XVIII, thế kỷ mà Hồ Xuân Hương sống là một xã hội loạn lạc, vua Lê, chúa Trịnh bất lực, bất lực ngay trong cả việc chọn “nhân tài” để giúp nước. Đọc lại lịch sử lúc ấy, ta thấy việc bán văn bằng học vị công khai, có chủ trương của nhà nước, ai nộp tiền ba quan gọi là tiền thông kinh, đương thời tương truyền gọi là các “sinh đồ ba quan” và ai nộp rồi thì có quyền đi thi khỏi phải khảo hạch vì thế: “…người làm ruộng, người đi buôn cho đến người hàng thịt, người bán vặt cũng đều làm đơn nộp tiền xin thi, …”. Phan Huy Chú đã nhận xét rất chí lý về vấn đề này: “từ khi kẻ nịnh thần đề nghị đổi phép thi, hạng sinh  đồ ba quan đầy cả thiên hạ. Người trên do đó lấy tiền mà không ngại, kẻ dưới nộp tiền để được đỗ mà không thẹn, làm cho trường thi thành chỗ buôn bán”(1).

Như vậy sự diễn biến của chế độ khoa cử sang thế kỷ này, về sau đều bị người đương thời - lẽ tất nhiên chê là nông cạn, giáo điều sáo rổng. Số Nho sĩ so với trước tăng nhưng chất thì không có, ngoài số đậu Cống Sinh trở lên, số kẻ sĩ lớp dưới còn nhiều và chẳng nằm trong tổ chức hành chính nào cả, họ làm bá nghệ nên Hồ Xuân Hương đã phê phán, trách cứ cái bon chen của đối tượng này. Theo Bà thì “trị” và “dạy” bọn người này phải lấy “độc trị độc”, phải “dí tận tay, phải day tận trán” mới xong. Bà “xử thế” vừa có “mềm” vừa có “cứng”. Hồ Xuân Hương lên án, phê phán với dáng vóc đĩnh đạc, chủ động, đàn chị và ở trong tư tưởng của Bà không chịu an phận làm “đàn bà”. Điều này thể hiện nhất quán qua thơ, Bà không chịu thua, không chịu lép và luôn xưng “chị”, ngay đối với Thái thú Sầm Nghi Đống, Bà viết:

“Ví đây đổi phận làm trai được

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”.

Ở đây cũng là một thái độ “Phi Nho” của Bà, đòi nam nữ bình đẳng chống lại quan điểm của “Nho” cho rằng: “Nhất nam viết hữu, Thập nữ viết vô”. Từ quan điểm chống việc trọng nam khinh nữ của xã hội phong kiến qui định, trong việc nhìn con người và xử thế giữa các việc của đàn bà, phụ nữ với nhau. Hồ Xuân Hương có cái nhìn khác người; nồng nàn mà phóng túng, thâm trầm mà uyên bác…tất cả đan quyện vào nhau tạo nên một phong cách ứng xử văn hóa Hồ Xuân Hương riêng biệt, độc đáo. Những người đàn bà trong thơ Hồ Xuân Hương mỗi người một vẻ, nhưng tựu trung lại thì đó là cái khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, nhất là xã hội phong kiến phương đông - Việt Nam. Chẳng thế mà thi hào Nguyễn Du khi mở đầu truyện Kiều cũng phải thốt lên:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.

Trong văn chiêu hồn cũng nói một nỗi đau, đau đáu:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu”

Qua tự tình, than thở riêng mình, Hồ Xuân Hương than chung cho số phận người phụ nữ. Nên thơ Bà khi ta chưa đi sâu vào nội dung, chỉ liệt kê tiêu đề ta cũng thấy ngay nét phụ nữ rất phụ nữ, rất đàn Bà của Hồ Xuân Hương như: Dỗ người đàn bà khóc, khóc Tổng Cóc, Khóc ông phủ Vĩnh Tường, bỡn  Bà lang khóc chồng, …rồi: không chồng mà chửa, cái nợ chồng con, làm lẽ, tự tình I, II, III; thiếu nữ ngủ ngày, Tranh tố nữ,… và ví von người phụ nữ như: con ốc, bánh trôi, quả mít, giếng thơi,… Tất cả là đều nói đến người phụ nữ. Hồ Xuân Hương nói trần trụi, chân thực nhất, vừa đồng cảm sâu sắc, thương người như thương mình. Nội dung đều nói lên sự phản kháng thói khinh thường phụ nữ; nên trong khóc chồng của bà Lang, Hồ Xuân Hương không cho bà khóc như những người phụ nữ khác vì “không muốn thẹn với non sông”, dũng cảm bênh vực người phụ nữ chửa hoang. Ở đây, Hồ Xuân Hương “xử thế” trong tình huống rất văn hóa có lý có tình; xuất phát từ tình yêu chân thực, người con gái cầm lòng chẳng đậu nên  :

“ Cả nể cho nên hóa dở dang

Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng”.

Và rồi bao sự kiện khác dồn dập đến với người phụ nữ đó, những điều ong tiếng ve, sự chê bai, trách cứ. Nhưng người phụ nữ ấy vẫn bao dung, nhân hậu tự hào mình sắp làm nhiệm vụ của người mẹ, nên nàng trách chàng rất nhẹ nhàng, tế nhị:

“ Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa

Mảnh tình một khối thiếp xin mang”.

Nắm bắt được điều này, cộng với sự đồng cảm, sự tin yêu con người, Hồ Xuân Hương đã không ngần ngại quyết ngay: “ không có, nhưng mà có, mới ngoan”. Nói điều này, rõ ràng Hồ Xuân Hương có tư tưởng “phi Nho” chống lại đạo đức giả nhân, giả nghĩa của chế độ phong kiến đương thời.

Cũng nói về người phụ nữ, ở bài “Cái nợ chồng con” ta thấy Hồ Xuân Hương viết:

“…Bố cu lổm ngổm bò trên bụng

Thằng bé hu huơ khóc dưới hông.

Tất cả những là thu với vén

Vội vàng nào những bống cùng bông”.

            Thật tài tình, nghe lời thơ trên ta thấy Hồ Xuân Hương đã tiếp thu ở văn học dân gian một cách điêu luyện. Trong văn học Việt Nam có câu:

“ Đương khi lửa tắt, cơm sôi

Lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem…”.

Hồ Xuân Hương đã đúc kết lại thân phận người phụ nữ, vừa chăm sóc con, vừa đảm đang vẹn toàn việc trong gia đình ngoài xã hội, lại phải vừa chiều chồng,… Chính vì thế mà nhà thơ Xuân Diệu khi nói về Bà đã cho Hồ Xuân Hương “Tài thật, bạo gan thật” (Xuân Diệu-Hồ Xuân Hương, Bà chúa thơ Nôm, Tr.45) Trong câu thơ này vai trò người phụ nữ không chỉ đơn thuần là người mẹ, người phụ nữ đời thường, mà đã trở thành bà mẹ, người phụ nữ của tạo hóa, bà mẹ của thiên nhiên, đã trở thành sông, núi. Trước nỗi mênh mông ấy người đàn ông tỏ ra nhỏ bé vô cùng, … Ở đây Hồ Xuân Hương cho ta một chuỗi cười sảng khoái nhưng những chuỗi cười ấy đã phải trả giá rất đắt; những nhà trào phúng vĩ đại như Hồ Xuân Hương không chỉ cười, và cứ phải đâu phải chửi bới bằng lời mà “ Họ ném cả trái tim của họ, ném cả cuộc đời của họ vào cuộc đời cũng như những nhà trữ tình vĩ đại trong xã hội cũ, thơ của họ là máu và nước mắt mặc cái áo trào phúng đó thôi” (Trích theo Xuân Diệu, sđd). 

Nói, tả về người phụ nữ Hồ Xuân Hương đã đề cao vai trò của họ trong gia đình, xã hội; và cũng cần nói thêm rằng khi tả viết về cái đẹp (cái đẹp tâm hồn, cái đẹp tự nhiên) dưới ngòi bút của nghệ sĩ thiên tài Hồ Xuân Hương ta thấy vẽ đẹp của người phụ nữ được tạo hóa ban cho hiển hiện qua hình hài, có màu sắc, âm thanh, . . . như các bài: Tranh tố nữ, Thiếu nữ ngủ ngày, … phải chăng Hồ Xuân Hương có lý khi cho tuổi đẹp nhất, thời đẹp nhất của người phụ nữ là thời con gái; cái tuổi mà trong ca dao dân tộc đã đề cập:

“Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng

Thương ai chúm chím cười duyên một mình”.

Thì ở Hồ Xuân Hương với vài nét chấm phá ta thấy:

“…Lược trúc lỏng cài trên mái tóc

Yếm đào trễ xuống dưới nương long

Đôi gò bồng đảo hương còn ngậm

Một lạch đào nguyên, suối chửa thông…”

Như thế, người phụ nữ trở thành nhân vật trung tâm trong thơ Hồ Xuân Hương, có khi xuất đầu lộ diện, có khi giấu mặt nhưng tất cả đều nói lên vai trò, vị trí của người phụ nữ, nó không thể thiếu trong đời sống xã hội. Đúng như Victo Huygo có lý khi cho rằng: “Người ta có một tôn giáo thứ hai là tình yêu, và chúa của đạo ấy chính là người phụ nữ”, thì phải chăng Hồ Xuân Hương lại không có lý với những bài thơ đề cao người phụ nữ, tất cả những cái gì thuộc về người đàn bà, cũng như câu tục ngữ cổ mà Các Mác rất thích: “Tất cả những cái gì thuộc về con người đối với tôi đều quý” đó sao, kể cả chuyện cơ thể của người đàn bà – biểu tượng của cái đẹp.

Nói như vậy, để chúng ta thấy Hồ Xuân Hương đã không chút ngại ngùng tố cáo triệt để sự bất công của xã hội trên nhiều lĩnh vực trong đó có hôn nhân và gia đình. Như thế lại một lần nữa chúng ta thấy cái “phi Nho” của Bà – Bà đã dám đương đầu với những quy định khắt khe của “Nho” về thân phận, vai trò người phụ nữ, đó là điều tối kỵ của chế độ phong kiến.

Ngoài những vấn đề nêu trên, còn một điều nữa nói lên sự khác biệt giữa tư tưởng của Bà với hệ thống tư tưởng của “Nho”, là quan điểm về văn hóa, văn minh và thánh nhân. Theo Hồ Xuân Hương, văn minh, văn hóa phải là những điều thiết thực cho con người, phục vụ con người; ở đâu thì có văn minh văn hóa ấy, tất nhiên là có sự tiếp thu, chọn lọc chứ không phải rập khuôn, máy móc. Điều này qua thơ Nôm của Hồ Xuân Hương đã khẳng định rất rõ, vì thế mà thơ của Bà rất tinh tế, sáng tạo cả nội dung lẫn hình thức, không gò bó mà luôn luôn khoáng đạt. Nhiều nhà nghiên cứu từ trước cho đến nay coi Bà là “võ lâm cao thủ ngữ ngôn”, và theo Xuân Diệu: “Bà chúa của động từ, âm thanh, màu sắc, ngay cả chữ nghĩa Bà cũng vặn chéo”. Vấn đề thánh nhân, qua thơ Hồ Xuân Hương ta thấy nhiều thánh nhân lộ diện hoặc không lộ diện, có cả Phật, cả Lão, có Trời, có Đất,… Ở đây không chỉ nói lên học vấn uyên bác, sự nhận thức từ “tĩnh” đến “động” của Bà. Những điều này lại tối kỵ đối với “Nho”, vì “Nho” chỉ công nhận một ông Thánh Khổng Tử mà thôi và chỉ thừa nhận một nền văn hóa, văn minh Hoa Hạ.

Những điều này cho ta thấy đây không phải là một sự ngẫu nhiên, cũng không phải là một sự vô thức mà đã là những suy nghĩ, quan niệm có cân nhắc, có tìm tòi, có sự thôi thúc bên trong. Bà dùng thể thơ Nôm để đấu tranh, có một suy nghĩ, một quan niệm khác với truyền thống cố hữu, bảo thủ vai trò của “Nho” – khi nó đang bị mục ruỗng ở thế kỷ này.Trong khi đó xã hội phong kiến thế kỷ XVII – XVIII đã có nhu cầu phát triển phải chuyển sang một hình thái kinh tế - xã hội, một chế độ khác tiến bộ hơn, nhưng trên thực tế đã không chuyển được. Trong khi đó tư tưởng con người luôn luôn đi trước, nhất là đối với một tài năng rất nhạy bén như Hồ Xuân Hương, thì việc ý thức luôn ly khai ý thức hệ phong kiến ra khỏi tập tục, vòng cương tỏa của lễ giáo, đạo đức phong kiến chèn ép… là điều tất yếu. Vì muốn con người phải được sống tự do hơn, phóng khoáng hơn, nên có lúc bùng lên, có lúc ngấm ngầm, yêu cầu của mỗi con người phải được coi như một cá thể đáng quý trọng.

Phủ nhận vai trò truyền thống của Nho giáo là một điều khó khăn với Hồ Xuân Hương, lại là nữ. Nhưng Hồ Xuân Hương đã làm được; bởi vì Bà là người có trí, có gan, nhạy cảm, lịch duyệt, đi nhiều hiểu rộng, cộng với vốn thông minh sẵn có và học tập qua sách “Thánh hiền”, cũng như tài quan sát, thực tế điều tra, đi đâu Bà cũng thấy hiện thực cuộc sống phong phú, phức tạp nhưng vô cùng sống động. Bà hệ thống và tổng kết lại các điều đó bằng nhãn quan của mình, vượt qua những điều kiến giải của Nho giáo để nhận thức mọi sinh linh, sự vật của thế giới tự nhiên, thế giới loài người. Cho nên sự vật, hiện tượng tự nhiên thế giới trong thơ Bà “sống động” từ “cái tĩnh” thực của nó. Trong bài “Đá ông chồng bà chồng” ta thấy đá cũng ưng ửng hồng có máu chảy, giãi ra, cọ mãi và già dặn tình xuân… rồi non, nước, sông, núi, cỏ cây… vạn vật trong thơ Hồ Xuân Hương được Bà điêu khắc, truyền hơi sống làm cho chúng lay động, phát triển, ở đây cũng còn là những giác quan đòi giải phóng: tâm trí, tâm hồn, xương thịt, … với những mảng từ ngữ hết sức “động” như: xoạc, xọc, sờ, mó, dòm, nắn, nặn,… với ánh sáng và cả hồn đêm làm cho chúng ta đi vào thế giới vận động, với tất cả những gì nó vốn có. Từ cái ngồn ngộn của cuộc sống ấy mà rút ra cho bản thân những kinh nghiệm, những bài học quý giá về cuộc sống làm người. Như thế, ở đây còn là vấn đề ý thức “học” và “hành”, để phục vụ cho quần chúng nhân dân, cho xã hội, cho nhân tình thế thái cuộc sống tươi đẹp hơn – khiến Hồ Xuân Hương tìm ra hướng mới của sự nhận thức. Đó là những lý do đưa đến sự chuyển biến tư tưởng của Bà từ “Nho” và qua những yếu tố “phi Nho” biểu thị qua thơ. Vì văn chương không chỉ là văn chương, mà văn chương còn là tâm hồn, là tư tưởng, tình của con người, của xã hội là trình độ văn hóa ứng xử của người cầm bút. Cho nên khi nghiên cứu “Nho” và “Phi Nho” của Hồ Xuân Hương qua thơ, chúng ta không tách ra khỏi điều đó.

Có lẽ phải nghiên cứu nhiều hơn nữa về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Hồ Xuân Hương ta mới thấy hết những quan niệm, tư tưởng của nữ thi sĩ tài năng này; lúc lộ, lúc ẩn, biến hóa khôn lường… nhưng bấy nhiêu điều cũng đủ để cho chúng ta thấy vai trò của Bà trong lịch sử văn học, về nhận thức văn hóa, về lịch sử tư duy lý luận của dân tộc. Bà đã đặt ra những vấn đề mới mẻ và có sự lý giải sâu sắc, nhất là về văn học nghệ thuật, về bản sắc văn hóa, về xử thế,… Chẳng thế mà Xuân Diệu đã nhận định: “Hồ Xuân Hương ra cái gương mẫu hoàn toàn nhất về việc dân tộc hóa và đại chúng hóa những điệu thơ vay mượn của nước ngoài” (theo Xuân Diệu – Bà Chúa thơ Nôm, tr. 47).

Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt trong văn thơ, tự mình đi một con đường riêng, tự mình ý thức được đầy đủ việc làm của mình. Không sợ khó khăn vất vả, không sợ sự ràng buộc của “Nho” – nói lên tiếng nói từ đáy lòng mình xử sự rất văn hóa ngay cả với những điều bình thường và bất bình thường trong cuộc sống. Chính vì thế mà thế giới quan và nhân sinh quan đều đạt tới đỉnh cao của tư tưởng, của tình cảm, của tư duy và lối sống, có ảnh hưởng nhiều đối với đồng đại và hậu thế.

3. Vấn đề “tục” trong thơ Hồ Xuân Hương.

Vấn đề này nếu không bàn kỹ quả là một thiếu sót, trong thực tế khi thẩm định thơ Hồ Xuân Hương dễ thường người ta cho là “tục”, là chuyện “sinh lý”, và quả thực đã không ít trang viết bàn xoay quanh về chuyện này. Không ít người còn “táy máy” nghĩ đến cái nghĩa thứ hai trần tục, đạp vào giác quan người ta gây nên sự khó chịu vì tính chất hai mặt của biểu tượng và sự liên tưởng của người đời thật là phong phú,… cả trong trường hợp ấy nữa, thơ Hồ Xuân Hương đích thực cũng không thể coi là loại sáng tác khiêu dâm hay “tục” được; nếu người đọc hiểu rõ dụng ý của vũ khí mà nhà thơ đang sử dụng vào mục đích gì? Bày tỏ quan điểm tư tưởng gì? Nếu như người đọc gạt bỏ ra ngoài sự liên tưởng khiên cưỡng, gán ghép cố tình hoặc lẫn lộn thơ Hồ Xuân Hương đích thực với thơ được sáng tác theo phong cách Hồ Xuân Hương, thì vấn đề sẽ khác. Chúng tôi cũng lưu ý thêm về tài thơ Nôm của Hồ Xuân Hương ra đời trong bối cảnh chung của đất nước ta ở thế kỷ XVIII, ở giai đoạn này song song cùng thơ với Hồ Xuân Hương, dân gian có truyền thống đố tục giảng thanh, chuyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn cũng ra đời vào thời gian này, cũng đề cập nhiều vấn đề trần tục “hắc búa” hơn so với thơ Hồ Xuân Hương. Như vậy, nếu chấp nhận tinh thần hồn nhiên trong ca dao, tục ngữ, truyện vui, cổ tích,… thì việc chấp nhận thơ Hồ Xuân Hương cũng dễ dàng - và có lẽ trên tinh thần ấy “dù ai nói ngã nói nghiêng” thơ Hồ Xuân Hương vẫn sống mãi trong lòng nhân dân.

Để kết thúc vấn đề này, chúng tôi xin trích một đoạn nhận xét của giáo sư Nguyễn Lộc, đã có lần đề cập đến các khao khát của nhà thơ Hồ Xuân Hương; chúng tôi thấy nhận xét ấy xác đáng đủ tình, lý khi giáo sư cho rằng “…đừng vội nghĩ đến tình yêu thể xác, nói đến chuyện trong buồng kín của vợ chồng là dâm đãng. Nghệ thuật quyết định chủ yếu không phải ở đề tài”. và ông viết tiếp ở đoạn khác: “… nhu cầu về cuộc sống bản năng cũng là một nhu cầu chân chính của con người, xã hội phong kiến phủ nhận nó, nên con người mới phản ứng chống lại. Ở Hồ Xuân Hương có cái gì quá đà, nhưng đặt trong xã hội phong kiến phương Đông chịu ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo, thì chính đó là một sự chống trả quyết liệt. Hồ Xuân Hương nói nhiều đến dục vọng thể xác, nhưng Bà thể hiện dục vọng ấy một cách lành mạnh và khỏe khoắn. Đọc thơ Hồ Xuân Hương người ta thấy nhà thơ bao giờ cũng tỉnh táo, Bà đứng cao hơn hiện tượng mình miêu tả và với một tâm hồn nghệ sĩ thực thụ, nhà thơ bao giờ cũng phát hiện được những khía cạnh thẩm mỹ trong đối tượng miêu tả của mình, …”(Nguyễn Lộc – đề cương bài giảng văn học Việt Nam cổ cận đại, Khoa Ngữ văn ĐHTH TP.HCM).

Chúng tôi đồng tình với nhận xét đánh giá về phương diện này của giáo sư Nguyễn Lộc – qua đó cũng chứng minh cho ta một yếu tố “phi Nho nữa của Hồ Xuân Hương.

           III. Kết luận và kiến nghị:

1. Qua nghiên cứu “Nho” và “Phi Nho” trong thơ Hồ Xuân Hương chúng ta không chỉ thấy những giá trị tư tưởng của Hồ Xuân Hương về văn chương, nghệ thuật. Mà ở đây còn thể hiện cả một thế giới quan, nhân sinh quan vốn văn hóa của Bà, một nữ thi sĩ tài hoa sáng tác đa dạng, phát biểu tư tưởng rộng hơn, đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng rõ ràng và quyết liệt hơn. Nhất là vấn đề hôn nhân gia đình, vấn đề trọng nam khinh nữ, … yếu tố người lấn át yếu tố tinh thần “Nho”, yếu tố khai sáng nhiều hơn yếu tố bảo thủ. Hồ Xuân Hương đã tiến tới ngưỡng cửa của ý thức sáng tạo. Tư tưởng của việc giãi bày quan điểm, lập trường của Bà qua thơ đã đặt nhiều vấn đề mà thực chất chế độ phong kiến lúc đó không giải quyết được; trong đó có việc đổi mới tư duy, cách nhìn về hệ thống tư tưởng “Nho” với một thực thể xã hội phong kiến đang mục ruỗng, đánh mất chính mình…. Tuy trong thơ của Hồ Xuân Hương còn đôi chỗ hoài niệm “Nho”. Điều này không có gì khó hiểu vì Hồ Xuân Hương bị truyền thống và lập trường của tập đoàn phong kiến đương thời ít nhiều chi phối. Nhưng rõ ràng Hồ Xuân Hương ca tụng nhưng không nhiệt thành, có đề cập mà không hứng thú, về cơ bản chỉ là hình thức, là “theo lệ”, thậm chí nêu ra để so sánh, đối chiếu với những điều “phi Nho” do cơ chế xã hội phong kiến ấy sản sinh ra. Cho nên Hồ Xuân Hương đã tận dụng, triệt để khai thác cái “phi Nho” ấy ở mọi lĩnh vực đời sống xã hội, ở nhiều dạng người từ chốn cung đình trang nghiêm, đến cuộc sống bình dân,… đều được Hồ Xuân Hương lột tả cái thật, cái bản chất nhân tình thế thái của cuộc sống xã hội phong kiến Nho gia mang lại,… Từ đó để Hồ Xuân Hương có cớ lồng ghép những tư tưởng, quan niệm của mình về vạn vật, về xã hội, về con người, về cuộc sống hết sức khoáng đạt, trên những yếu tố “phi Nho”. Ở đây ta cũng thấy nét dân dã, chân quê, hồn nhiên trung thực rất Việt Nam, tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo về tiếp thu niêm luật thơ Đường vào sáng tác thơ ca Việt Nam. Tất cả những cái rất “phi Nho” lại bắt nguồn từ cái vốn “Nho”, vốn “Hán học” uyên thâm của Bà mà hình thành, ứng dụng và có thể nói là Hồ Xuân Hương đã thành công.

            2. Từ nội dung trên, khi nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương chúng ta cần phải thông cảm và hiểu nội tâm trong thơ của Bà, đồng thời phải đặt thơ Hồ Xuân Hương vào hoàn cảnh lịch sử xã hội thời đại Hồ Xuân Hương và cần trân trọng với thực tế hiển nhiên: Cái gì của Hồ Xuân Hương là của Hồ Xuân Hương, tránh rơi vào cái chủ quan khiên cưỡng của chúng ta hôm nay mà gán ghép cho Bà.

            3. Trong chương trình giảng dạy về thơ của Hồ Xuân Hương tới đây ở các cấp, ngoài việc giảng dạy như hiện nay, cần chú ý đánh giá một cách khách quan khoa học dưới góc độ vận dụng tri thức triết học Nho giáo văn hóa học để phân tích, bình giảng thơ Hồ Xuân Hương thêm sâu sắc. Thấy được tư tưởng, tầm nhìn của Bà về thế giới quan, nhân sinh quan. Thấy được những cái đẹp, cái hay, những nét tinh tế. Trong ứng xử, giao tiếp xử sự…tránh thiên kiến cho thơ Bà một cách thuần túy nặng yếu tố “dâm, dục”.

            4. Vấn đề “Nho” và “phi Nho” trong thơ Hồ Xuân Hương được các nhà thơ sau này vận dụng khá nhiều nhất là dòng văn học yêu nước Nam bộ ở thế kỷ XIX tiêu biểu như các nhà thơ: Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Thông, Học Lạc,…đã sử dụng phương pháp sáng tác “Nho” và “phi Nho” khá rộng rãi. Như vậy, Hồ Xuân Hương có phải là người đầu tiên đề ra khuynh hướng sáng tác này không? Do điều kiện thời gian và việc nghiên cứu có hạn nên chúng tôi chưa đối chiếu chứng minh đưọc.

            5. Nên giới thiệu thơ Hồ Xuân Hương với bạn bè thế giới, những người yêu văn chương nghệ thuật – nên chăng chúng ta học tập nhà thơ Pháp Jăng Rixtat – một nhà thơ có tên tuổi ở Châu Âu gần đây trong bài tựa bản dịch thơ Hồ Xuân Hương sang tiếng Pháp, đã coi Hồ Xuân Hương là: “…một trong những tên tuổi lớn nhất của văn học Việt Nam và không chút nghi ngờ, là một trong những nữ sĩ hàng đầu của châu Á, …” (trích theo Lữ Huy Nguyên – thơ Hồ Xuân Hương).

            Mặc thời gian, không gian – cuộc đời và tác phẩm của Hồ Xuân Hương “Bà chúa thơ Nôm” sống mãi và có sức lay động lạ thường 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Hoa Bằng – 1949 Hồ Xuân Hương nhà thơ cách mạng. NXB Bốn Phương.

2. Vân Cương, Nguyễn Khắc Thiện – 1959 Hồ Xuân Hương bị tẩy chay, trong Phổ Thông tạp chí.

3. Phan Huy Chú – 1961 Lịch triều hiến chương loại chí, tập 3, NXB Sử Học.

4. Xuân Diệu – 1961 Bà chúa thơ Nôm (Hồ Xuân Hương).NXB Phổ Thông.

5. Xuân Diệu – 1981 Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, NXB Văn Học.

6. Trần Lê Nhân, Nguyễn Văn Ngọc -1988 Cổ học tinh hoa I, II. NXB Tp. HCM.

7. Phan Ngọc – 1994 Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, NXB VHTT.

8. Lữ Huy Nguyên – 1993 Giới thiệu thơ Hồ Xuân Hương, NXB Văn học.

9. Thuần Phong – 1958 Hồ Xuân Hương thi tập, NXB Đoàn Văn.

10. Nguyễn Tài Thư – 1993 (chủ biên) lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, 2, NXB KHXH.

11. Huệ Thiên – 1994 Giai thoại chiêu hổ – Hồ Xuân Hương, Kiến thức ngày nay số 117.

12. Nguyễn Lộc – Đề cương bài giảng Văn Học Việt cổ đại, Khoa Ngữ Văn, ĐHTH Tp.HCM.

13. Trần Hậu Kiêm (chủ Biên) – 1993 các dạng đạo đức xã hội, NXB Chính trị quốc gia.

14. Thơ Hồ Xuân Hương - 1993 NXB Văn Học.

15. TS. Nguyễn Văn Hiệu - Đề cương cao học chuyên đề “Bản sắc văn hóa” - Đại học khoa học xã hội và nhân văn Tp. Hồ Chí Minh.

16. Triết học, tập 1, 2, 3 - 1993 NXB Chính trị quốc gia (sách dùng cho N.C.S và học viện cao học không thuộc chuyên ngành triết học).

 

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU......................................................................................................... 01

CHƯƠNG I: VÀI NÉT VỀ MẶT LÝ LUẬN ............................................ ...... 04

I. Nội dung cơ bản của học thuyết Nho giáo ...................................................... 04

II. Nho giáo ở Việt Nam và ở thế kỷ XVIII ......................................................... 05

     1. Vài nét về lịch sử Nho giáo ở Việt Nam ..................................................... 05

     2. Nho giáo thời Hồ Xuân Hương thế kỷ XVIII.............................................. 06

CHƯƠNG II: “NHO” VÀ “PHI NHO” TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG                  08

I. “Nho” trong thơ Hồ Xuân Hương...................................................................... 08

II. “Phi Nho” trong thơ Hồ Xuân Hương.............................................................. 12

     1. Hoàn cảnh ra đời .................................................................................... ..... 12

     2. Những yếu tố “phi Nho” trong thơ Hồ Xuân Hương ................................ 12

     3. Vấn đề “Tục” trong thơ Hồ Xuân Hương ................................................... 22

III. Kết luận và Kiến nghị ...................................................................................... 23

 

(1) Phan Huy Chú – Lịch triều hiến chương loại chí tập III – NXB Sử học Hà Nội 1961, trang 18 và 19.

Comments