home‎ > ‎

TUYÊN TRUYỀN NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Đề án:
BIÊN SOẠN TÀI LIỆU, TẬP HUẤN & XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI TUYÊN TRUYỀN NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO ĐOÀN VIÊN, SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Nội dung:
1. Biên soạn bộ tài liệu tuyên truyền
2. Tổ chức tập huấn cho các cán bộ đoàn chủ chốt: đội ngũ này sẽ tiếp tục tuyên truyền....(hùng biện, tranh, giải pháp sáng tạo,... trên diễn dàn)
3. Xây dựng một website tuyên truyền như 1 diễn đàn để trao đổi kinh nghiệm, học tập
4. Hội thảo

Links
http://www.phongchonglutbaotphcm.gov.vn/?id=11&cid=2238


Trang chủ

Là một sub-project trong Chương trình nâng cao nhận thức về Môi trường và Biến đổi khí hậu (RAECP), Hợp phần Xây dựng Tài liệu tập huấn hướng tới mục tiêu: 
  • Xây dựng nguồn tài liệu nói chung về Môi trường & Biến đổi khí hậu để có thể sử dụng trong các lớp học, làm tài liệu cho các giảng viên tuyên truyền về Môi trường & Biến đổi khí hậu
  • Phổ biến các tài liệu về Môi trường & Biến đổi khí hậu, tuyên truyền đến cộng đồng
  • Xây dựng các tài liệu kĩ năng giảng dạy, thuyết trình, hùng biện, thuyết phục... để thực hiện đào tạo cho các "giảng viên của giảng viên" không chuyên về Môi trường & Biến đổi khí hậu
  • Nâng cao nhận thức về Môi trường & Biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực cho các thành viên của RAECP để đáp ứng mức độ hoạt động ngày càng cao của tổ chức
  • Phối hợp với các dự án khác, cung cấp tài liệu, chia sẻ thông tin,... tham gia các hoạt động môi trường trong phạm vi có thể
Hiện nay, RAECP đã dịch xong 3 cuốn sách và một số các tài liệu khác (phối hợp với mạng lưới thehexanh.org) cả về kĩ năng và về môi trường.

Để biết thêm chi tiết, xin vui lòng liên hệ:
Lã Minh Phương
Phó giám đốc chương trình
Chương trình nâng cao nhận thức Môi trường và Biến đổi khí hậu (RAECP)
www.raecp.org
laminhphuong@raecp.org
+84 01692913174

Trợ cấp nông nghiệp để chống biến đổi khí hậu


 
Ảnh: nongnghiep.vn.
Ảnh: nongnghiep.vn.

Nếu tất cả nông dân tại các nước nghèo được hỗ trợ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, lượng khí thải gây biến đổi khí hậu sẽ giảm xuống đáng kể. Ngoài ra, biện pháp này còn giúp hàng trăm triệu người thoát cảnh đói nghèo.

“Nếu sản xuất nông nghiệp tại các nước đang phát triển trở nên bền vững hơn và có khả năng phục hồi nhanh hơn trước tác động của biến đổi khí hậu, thì số người đang sống trong nghèo đói (khoảng 1 tỷ) sẽ giảm xuống. Ngoài ra, người dân sẽ có thêm nhiều cơ hội kiếm việc làm và tăng thu nhập”, Alexander Mueller, trợ lý tổng giám đốc Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), phát biểu hôm qua.

Tác động của nông nghiệp đối với biến đổi khí hậu là rõ ràng, bởi khí thải từ hàng trăm triệu nông trại trên khắp hành tinh chiếm khoảng 14% tổng lượng khí gây hiệu ứng nhà kính. Tình trạng thay đổi mục đích sử dụng đất trồng – như đốt rừng làm nương rẫy – đóng góp thêm 17% nữa.

Giữa năm 1990 và 2005, lượng khí thải do nền nông nghiệp tại các nước đang phát triển tạo ra tăng khoảng 30% và sẽ tiếp tục tăng cao hơn nữa. “Hàng trăm triệu nông dân nghèo trên thế giới có thể giúp loài người trong nỗ lực cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính”, Peter Holmgren, điều phối viên của FAO trong các cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu, nhận xét.

Ông Holmgren cho rằng việc tài trợ cho nông dân là hành động cần thiết để giúp họ vứt bỏ những thói quen canh tác lạc hậu và tiếp cận những biện pháp thân thiện với môi trường. “Những tập quán canh tác bền vững không chỉ tăng năng suất cây trồng, mà còn làm giảm bớt khí thải độc hại”, FAO khẳng định.

Theo Holmgren, một hiệp định quốc tế mới về biến đổi khí hậu (thay thế Nghị định thư Kyoto) nên đưa vào các biện pháp hỗ trợ tài chính để giảm nhẹ tác động tiêu cực của hoạt động sản xuất nông nghiệp – như phục hồi đất thoái hóa và ngăn chặn nạn phá rừng.

Liên Hợp Quốc sẽ tổ chức một hội nghị toàn cầu tại Copenhagen (Đan Mạch) vào tháng 12 năm nay, nhằm hướng tới một thỏa thuận về biến đổi khí hậu. Thỏa thuận này sẽ thay thế cho Nghị định thư Kyoto hết hiệu lực vào năm 2012.

Minh Long (theo AP)

Vô cảm với hiểm họa biến đổi khí hậu?


 - Không phải vô cảm, hầu hết cộng đồng dân cư thiếu thông tin về thiên tai và biến đổi khí hậu, không được tiếp cận đầy đủ về các chính sách của Chính phủ liên quan đến phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu. 

Vô cảm với hiểm họa biến đổi khí  hậu?

Biến đổi khí hậu, thiên tai sẽ gây tác động không nhỏ tới những người nghèo, bình dân... - Ảnh: KN

Cụ thể, 49% người được phỏng vấn không biết về các chính sách và quy trình của Nhà nước, 72% không biết về các kế hoạch chuẩn bị phòng chống thiên tai… Vì thế, họ không có khả năng lên kế hoạch và chuẩn bị ứng phó với thiên tai.

Đó là những thông tin do Tổ chức Đông Tây hội ngộ (EMWF) vừa công bố trong kết quả nghiên cứu việc thích ứng với biến đổi khí hậu ở tỉnh Quảng Nam.

Kết quả nghiên cứu trên nằm trong khuôn khổ một dự án do Quỹ FORD tài trợ trị giá 99.000 USD. Nghiên cứu được tiến hành trên 125 gia đình ở 25 cộng đồng dân cư ở tỉnh miền trung Quảng Nam với địa bàn cư trú bao gồm cả ven biển, núi cao và đồng bằng. Mục đích cuối cùng của dự án nghiên cứu là để đưa ra một bộ tài liệu hướng dẫn để lập kế hoạch cho các chương trình biến đổi khí hậu.

Kết quả này cũng cho biết, các ngôi nhà được khảo sát cũng không được thiết kế, xây dựng có khả năng chống chịu các thiên tai. Cụ thể, 90% các ngôi nhà đều được làm bằng tre, gỗ hay chỉ xây tường đơn. Mái, tường, cửa đều giản đơn, không đủ sức chống chọi lại các cơn bão lũ thường xảy ra. 66% nhà của những người được phỏng vấn thường xuyên bị bão lũ phá hỏng.

Các con đường, hệ thống tưới tiêu, hệ thống nước sạch, đường điện, cầu… ở vùng nông thôn của 25 xã nghiên cứu đa phần ở trong tình trạng xấu và thường bị thiên tai tàn phá.

Theo ông Rick Mcdowan, chuyên trách tư vấn về nước sạch, vệ sinh môi trường và biến đổi khí hậu của EMWF, một trong những nguyên nhân khiến người dân ở đây luôn bị thiệt hại trước thiên tai, bão lũ vì họ quá nghèo, chỉ có khả năng dựng những căn nhà tạm bợ. 

Khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình nước ta tăng khoảng 0,7°C; mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm. Biến đổi khí hậu đã và đang tác động mạnh mẽ đến nước ta mà điển hình là làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão lũ, ngập lụt, hạn hán ngày càng khốc liệt hơn.

Dự tính tới năm 2100, mực nước biển sẽ tăng lên tới 1m, nhiệt độ tăng khoảng 3°C.

Theo tính toán, nếu nước biển dâng 1m sẽ có 10% dân số nước ta bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất đối với GDP khoảng 10%, khoảng 40 ngàn km² đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập hàng năm. 

  • Khôi Nguyên


Biến đổi khí hậu: Thách thức lớn, cố gắng lớn với VN


VN thuộc các nước bị ảnh hưởng nặng nhất do biến đổi khí hậu hoàn cầu. Thách thức lớn nhất của VN là chưa có chiến lược, chính sách phù hợp.

Mô tả ảnh.
Vựa muối Nam Định rồi đây cũng ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu.

VN được xem là một trong những nước sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất do biến đổi khí hậu (BÐKH) toàn cầu. Theo dự báo, BÐKH sẽ làm cho các trận bão ở VN có mức độ tàn phá nghiêm trọng hơn. Ðường đi của bão dịch chuyển về phía nam và mùa bão dịch chuyển vào các tháng cuối năm. Lượng mưa giảm trong mùa khô (tháng 7 và 8), và tăng trong mùa mưa (tháng 4 và 11); mưa lớn thường xuyên hơn gây lũ lớn và nhiều hơn ở miền Trung và miền Nam.

Ảnh hưởng của BÐKH đối với đa dạng sinh học (ÐDSH) ở VN

Hạn hán xảy ra ở phần lớn các khu vực của cả nước. Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1 đến 0,30 độ C/ thập kỷ. Nhiệt độ tăng và lượng mưa thay đổi sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp và nguồn nước. Mực nước biển có khả năng dâng cao 1m vào cuối thế kỷ, lúc đó VN sẽ mất hơn 12% diện tích đất đai, nơi cư trú của 23% số dân.

Hậu quả do BÐKH toàn cầu gây ra ngày một rõ ràng, trong đó có tác động đến ÐDSH, nguồn tài nguyên quý giá của đất nước. Dựa vào một số nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới và điều kiện tự nhiên của VN, dự báo hậu quả của BÐKH sẽ tác động mạnh lên hai vùng đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng, các vùng dọc bờ biển và các hệ sinh thái rừng trong cả nước. Nước biển dâng sẽ ảnh hưởng vùng đất ngập nước của bờ biển VN, nghiêm trọng nhất là khu vực rừng ngập mặn của Cà Mau, TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Nam Ðịnh. 

Hai vùng đồng bằng và ven biển nước ta, trong đó có rừng ngập mặn và hệ thống đất ngập nước rất giàu có về các loài sinh vật, là những hệ sinh thái rất dễ bị tổn thương. Mực nước biển dâng lên cùng với cường độ của bão sẽ làm thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước, làm suy thoái và đe dọa sự sống còn của rừng ngập mặn và các loài sinh vật trong đó. Khi mực nước biển dâng cao, khoảng một nửa trong số 68 khu đất ngập nước sẽ bị ảnh hưởng nặng; nước mặn sẽ xâm nhập sâu vào đất liền, giết chết nhiều loài động, thực vật nước ngọt, ảnh hưởng nguồn nước ngọt cung cấp cho sinh hoạt và trồng trọt của nhiều vùng. 36 khu bảo tồn, trong đó có tám vườn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ bị ngập.

Mô tả ảnh.

Nam bộ là những nơi ở VN  bị ảnh hưởng nhiều do biến đổi khí hậu

Hệ sinh thái biển sẽ bị tổn thương. Các rạn san hô là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật biển, là lá chắn sóng chống xói mòn bờ biển và bảo vệ rừng ngập mặn sẽ bị suy thoái do nhiệt độ nước biển tăng, đồng thời mưa nhiều làm cho nước bị ô nhiễm phù sa và có thể cả các hóa chất nông nghiệp từ cửa sông đổ vào. Nhiệt độ tăng làm nguồn thủy, hải sản bị phân tán. Các loài cá nhiệt đới (kém giá trị kinh tế trừ cá ngừ) tăng lên, các loài cá cận nhiệt đới (giá trị kinh tế cao) giảm.

Các thay đổi diễn ra sẽ đe dọa sự phát triển, đe dọa cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái. BÐKH với các hệ quả của nó như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, xói mòn và sụt lở đất sẽ thúc đẩy sự suy thoái ÐDSH nhanh hơn, trầm trọng hơn, nhất là những hệ sinh thái rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn, tăng nguy cơ diệt chủng của động, thực vật, làm biến mất các nguồn gien quý, hiếm, bệnh dịch mới có thể phát sinh (Thông báo quốc gia lần thứ nhất). BÐKH tăng một số nguy cơ đối với người bệnh, thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trái đất nóng lên có thể sẽ làm hơn 150 nghìn người chết và năm triệu người bị mắc các chứng bệnh khác nhau. Con số trên có thể tăng gấp hai lần vào năm 2030.

Làm gì để ứng phó với BÐKH toàn cầu? 

Mô tả ảnh.
Biến đổi khí hậu sẽ mất đi nhiều vùng lúa gạo

Tác động của BÐKH trong những năm qua không loại trừ quốc gia nào, dù cho nước đó không góp nhiều vào nguyên nhân gây nên BÐKH. Riêng ở nước ta, trong những năm gần đây, hạn hán, mưa lũ, sụt lở đất, lũ quét xảy ra dồn dập, nhất là năm 2007, đã gây thiệt hại rất nặng nề về người và của. Chúng ta đã và đang cố gắng làm mọi cách nhằm giảm nhẹ ảnh hưởng của thiên tai, cả bằng khoa học kỹ thuật và các biện pháp xã hội. Thách thức lớn nhất của VN hiện nay là chưa có chiến lược, chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển phù hợp sự biến đổi hết sức nhanh chóng của khí hậu toàn cầu. VN đang xây dựng Chương trình Mục tiêu Quốc gia đối với BÐKH. Mong rằng Chương trình sớm được thông qua và thực hiện. Ðể phát triển bền vững, trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài của đất nước và từng vùng, cần phải sớm đặt vấn đề về BÐKH toàn cầu một cách nghiêm túc. Trong xây dựng quy hoạch phát triển, chúng ta cần chú ý việc làm giảm nhẹ và phòng, chống, nhưng cũng cần quan tâm vấn đề thích nghi với BÐKH.

Mô tả ảnh.Mô tả ảnh.
Hạn hán và nhập lụt thường xuyên xẩy ra.

Nhà nước cần sớm tổ chức một cơ quan chuyên trách có đủ năng lực để nghiên cứu về BÐKH toàn cầu và phát triển bền vững, sớm đề xuất những ý kiến xác đáng, khả thi về phát triển kinh tế - xã hội nước ta một cách lâu dài trong bối cảnh BÐKH toàn cầu mới, trong đó cần lưu ý đúng mức đến bảo tồn ÐDSH, vốn tài nguyên quý giá, cơ sở cho sự phát triển bền vững của đất nước. 

Chúng ta cũng nên rà soát lại những công trình phát triển liên quan diện tích rừng hiện có; thúc đẩy mạnh hơn việc bảo vệ rừng và trồng rừng, vì các loài sinh vật chỉ có thể chống đỡ được với những sự biến đổi về môi trường khi sinh sống trong một hệ sinh thái ổn định; sử dụng hợp lý đất đai, củng cố và quản lý tốt các khu bảo tồn thiên nhiên, tăng cường tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm và xóa đói, giảm nghèo; làm tốt công tác truyền thông, nhằm nâng cao nhận thức của tầng lớp nhân dân về thảm họa của BÐKH toàn cầu.

Theo GS.TS VÕ QUÝ (báo ND)

Tình trạng sa mạc hoá đất đai: 20 triệu người đang bị ảnh hưởng


Theo Lao Động - 28/06/2007

(LĐ) - Công bố của Bộ NNPTNT khẳng định, có đến 4,3 triệu hécta đất tại nhiều khu vực đang bị sa mạc hoá, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hơn 20 triệu người dân.

Nếu không có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu, diện tích này sẽ còn lan rộng.

Đương đầu với cát
Số liệu trên đây được Bộ NNPTNT công bố ngày 28.6 tại hội nghị triển khai Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hoá. Diện tích 4,3 triệu hécta đang bị thoái hoá, sa mạc hoá nằm trong số 9 triệu hécta đất hoang hoá ở VN và chiếm khoảng 28% tổng diện tích của cả nước.

Chiếm đến 90% diện tích đất đang chịu tác động sa mạc hoá là các khu vực đất trống, đồi trọc bị thoái hoá mạnh, đất bị đá ong hoá do tình trạng phá rừng và sử dụng đất không hợp lý trong suốt nhiều năm.

Phần còn lại là các khu vực đụn cát, bãi cát di động tại các tỉnh ven biển miền Trung (419.000ha), hiện tượng đất khô tại các tỉnh Nam Trung Bộ và đất bị xói mòn tại các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên và đất bị nhiễm mặn, nhiễm phèn ở ĐBSCL. Bộ NNPTNT cho hay, dù không có những vùng sa mạc tập trung lớn song diện tích đất bị hoang mạc hoá, thoái hoá phân bổ rải rác trên khắp cả nước bên cạnh sự gia tăng của quá trình thoái hoá đất, suy giảm nguồn nước...

Các hiện tượng này đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động phát triển kinh tế, xã hội và xoá đói giảm nghèo tại khu vực nông thôn.

Bộ trưởng Bộ NNPTNT - ông Cao Đức Phát - nhận định, mất rừng là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng hoang mạc hoá, môi trường sinh thái suy thoái và lũ lụt, hạn hán gia tăng. Thực tế cho thấy chương trình trồng mới 5 triệu hécta rừng mỗi năm được đầu tư 1.000 tỉ đồng vẫn không đáp ứng được yêu cầu phòng hộ và hạn chế tích cực quá trình hoang mạc hoá.

Do đó đại diện nhiều địa phương cho rằng, cần thực hiện một giải pháp tổng thể gồm trồng rừng phòng hộ, phát triển hệ thống thuỷ lợi cải tạo đất cát, đất phèn, đất nhiễm mặn, xây dựng các tuyến đê chống cát bay, cát di động và tiến hành cảnh báo sớm, hạn chế ảnh hưởng của hạn hán.

Nhiều tỉnh như Quảng Trị đã triển khai cải tạo 30.000ha đất cát bằng cách trồng 8.000ha rừng qua đó cải tạo 5.000ha đất cát thành đất nông nghiệp, xây dựng 19 làng sinh thái và đào đắp hàng chục kilômét kênh mương dẫn nước cải tạo vùng cát. Song do diện tích đất thoái hoá, đất hoang mạc hoá xuất hiện tại 25/64 địa phương trong cả nước, công tác triển khai chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hoá đang gặp nhiều khó khăn về kinh phí, nguồn nhân lực, kỹ thuật...

Sống chung với hạn hán?
Bộ NNPTNT khẳng định không thể bỏ rơi các vùng đất khô cằn và xác định 4 địa bàn ưu tiên chống sa mạc hoá gồm duyên hải miền Trung, Tây Bắc, Tứ giác Long Xuyên và Tây Nguyên. Các khu vực này thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng, nước, tăng cường quản lý sử dụng đất đai, hạn chế ảnh hưởng của hạn hán và đáp ứng các yêu cầu cấp bách của nhân dân trong khu vực chịu ảnh hưởng.

Đại diện Tổ chức Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam - bà Setzuko Yamazaki lưu ý phải quan tâm tới giải pháp "sống chung với hạn hán". Với quan điểm này, cần phải tính đến các giải pháp đảm bảo cuộc sống người dân trong điều kiện tài nguyên nước hạn chế và nguy cơ thoái hoá đất dựa trên việc huy động người dân tham gia chống hạn, sử dụng các giống cây trồng chịu hạn, bảo vệ đất và sử dụng bền vững tài nguyên nước.

Thời gian tới theo Thứ trưởng Bộ NNPTNT - ông Hứa Đức Nhị, VN sẽ tiếp tục triển khai các dự án liên quan đến chương trình chống sa mạc hoá với tổng kinh phí 192 triệu USD. Phía các nhà tài trợ hiện cũng phê duyệt 3 dự án quản lý bền vững lâm nghiệp, cải tạo thí điểm đất sa mạc hoá với tổng vốn trên 8,2 triệu USD.

 Bên cạnh đó Bộ KHĐT cũng đã trình Thủ tướng kế hoạch phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015 với tổng vốn đầu tư lên tới 40.000 tỉ đồng cùng với trên 14.600 tỉ đồng cho dự án trồng mới 5 triệu hécta rừng.


Ưu tiên chống sa mạc hoá ở 4 vùng

Theo SGGP - 21/09/2006

Từ hàng thập kỷ nay, các nhà khoa học đã lên tiếng cảnh báo rằng, những đồi cát trùng điệp, sa mạc mênh mông và mặt trời rực lửa là những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, “hút hồn” du khách, nhưng đồng thời cũng là những dấu hiệu rõ ràng nhất về sự suy thoái môi trường. Việt Nam cũng không ngoại lệ.

Đầu tháng 9 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 204/2006/QĐ-TTg ban hành Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hoá giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020.

Mục tiêu của Chương trình hành động là đến năm 2010 hoàn thành những nhiệm vụ chống sa mạc hoá cấp bách, trước hết ở 4 vùng ưu tiên là Tây Bắc, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và tứ giác Long Xuyên.

Đến năm 2020, khắc phục được về cơ bản các nguyên nhân do hoạt động của con người gây ra, phục hồi tối đa các vùng đất đã bị sa mạc hoá trước đây, hoàn thành vững chắc nhiệm vụ định canh định cư ở các vùng đất đã được phục hoá bằng việc đổi mới phương thức sử dụng đất, xoá đói, giảm nghèo, bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội của các vùng bị ảnh hưởng bởi sa mạc hoá.

Theo thống kê mới nhất, Việt Nam còn khoảng 9,3 triệu ha đất bị hoang hoá, trong đó có 7,3 triệu ha đất trống, đồi núi trọc và 2 triệu ha đất đang được sử dụng nhưng đã bị thoái hoá nặng. 10 năm gần đây, hạn hán đã hoành hành gây hậu quả nặng nề đối với sản xuất nông lâm nghiệp của nhiều địa phương, đặc biệt là miền Trung và Tây Nguyên.

Sự cố nứt đất, trượt lở đất cũng xảy ra ngày một nghiêm trọng hơn, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long, Tây Bắc và miền Trung. Các tổ chức quốc tế FAO và UNESCO cũng có một con số: Việt Nam có khoảng 462.000 ha cát ven biển, 87.800 ha trong số này là các đụn cát, đồi cát lớn di động!

Trên thực tế, ngay từ trước khi trở thành thành viên của Công ước quốc tế về chống sa mạc hoá (UNCCD), Việt Nam đã có nhiều chương trình kế hoạch chống sa mạc hoá được thực hiện. Đó là Tết trồng cây hàng năm do Bác Hồ phát động và hiện vẫn được duy trì, phong trào khai hoang phục hoá, Chương trình 327 phủ xanh đất trống đồi trọc, Chương trình trồng rừng chắn cát...

Hàng loạt văn bản pháp luật liên quan tới chống sa mạc hoá cũng đã được xây dựng và điều chỉnh như Luật Tài nguyên nước 1999, Luật Đất đai 2003, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, Luật Bảo vệ môi trường 2005; gần đây nhất là Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hoá giai đoạn 2002-2010. Ngoài ra, trên 50 chương trình, dự án khác liên quan tới chống sa mạc hoá đang được thực hiện với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế.

Theo bà Phạm Minh Thoa, phụ trách Văn phòng Công ước chống sa mạc hoá, sắp tới Việt Nam sẽ xây dựng Chương trình đối tác quản lý đất lâm nghiệp bền vững, do Ngân hàng Thế giới - Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Quỹ Uỷ thác ngành lâm nghiệp (TFF) tài trợ...

Tuy nhiên, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của chương trình là nâng cao nhận thức cộng đồng. Không ai muốn biến hành tinh xanh thành một hành tinh... cát (!), thế nhưng trong rất nhiều trường hợp, chúng ta đang thúc đẩy quá trình không mong muốn đó một cách vô thức! Bên cạnh nạn phá rừng, khai thác nước ngầm bừa bãi thì tình trạng khai thác tài nguyên biển, phát triển nuôi trồng thuỷ sản không có sự kiểm soát chặt chẽ (tưởng như không có gì liên quan) cũng gây mất rừng phòng hộ ven biển, làm suy thoái đất đai và nguồn nước.

ANH THƯ



Phát triển kinh tế các tỉnh dải ven biển miền trung

BÀI 2:Nhiều khó khăn, thách thức


Theo tinkinhte.com - hôm kia

ND- Với đặc điểm địa hình là một dải đất hẹp, dải ven biển miền trung (DVBMT) phần lớn diện tích nằm ở sườn phía đông dốc đứng của dãy Trường Sơn, còn khu vực đồng bằng ven biển thì bị chia cắt thành nhiều đoạn bởi những dãy núi ngang nhô ra sát biển.

Phát triển kinh  tế các tỉnh dải ven biển miền trung BÀI 2:Nhiều khó khăn, thách thức
Hội An -điểm thu hút kháchdu lịch trong nước và quốc tế.

Địa hình như vậy, cộng với tác động của biến đổi khí hậu, miền trung thường xuyên là nơi "tâm bão đi qua". Một trận bão, lũ nhỏ cũng ảnh hưởng  hai đến ba tỉnh, còn với cường độ lớn có thể xảy ra trên toàn vùng. Vì vậy trong quá trình phát triển của mình DVBMT phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

 Bất cập trong quá trình đô thị hoá

Tốc độ đô thị hoá ở các tỉnh miền trung diễn ra nhanh và mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu. Theo Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng), chỉ tính riêng các dự án khu đô thị mới có quy mô 20 ha trở lên, vùng duyên hải miền trung có gần 50 dự án. Đây có thể coi là một tất yếu trong quá trình thực hiện CNH, HĐH. Những năm qua nhiều đô thị DVBMT được nâng cấp, từ loại 2 lên loại 1, thị trấn trở thành thị xã và thị xã lên thành phố... Không gian đô thị được mở rộng, quy mô hơn. Nhưng trong quá trình phát triển ấy, những dấu hiệu đáng lo ngại thể hiện tính thiếu bền vững cả về phương diện kinh tế lẫn xã hội đang dần  bộc lộ. Phần lớn các đô thị này đều hình thành từ một trung tâm hành chính hoặc ra đời từ việc chia tách đơn vị hành chính mà ở đó đầu tư của Nhà nước chiếm một tỷ trọng khá lớn. Vì thế, quá trình đô thị hoá không phải lúc nào cũng "xuôi chèo mát mái". Để giảm gánh nặng đầu tư xây dựng hạ tầng lên ngân sách Nhà nước và vốn ODA, một trong những cơ chế đã được áp dụng từ khi có Luật Đất đai 2003 là "đổi đất lấy hạ tầng" dựa trên nguyên tắc đấu giá đất, hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất để tạo vốn ngân sách, đầu tư hạ tầng. Đây cũng là cách làm phổ biến của các đô thị miền trung. Từ năm 2003, số thu từ giao quyền sử dụng đất của các tỉnh miền trung đều chiếm hơn 14% số thu nội địa, nhiều địa phương chiếm từ 25 đến 50%. Tuy nhiên, cách làm này ngày càng bộc lộ những bất cập, trước hết vì đã làm chi phí đất đai trở nên đắt đỏ hơn, chi tiêu của khu vực tư vào bất động sản lớn hơn, làm giảm cầu tiêu dùng những hàng hoá khác và quan trọng hơn là giảm tích luỹ của khu vực dân cư. Trong khi đó, số người giàu lên nhờ đất chỉ tập trung vào một số ít bộ phận dân cư đô thị. Lợi ích của đô thị hoá được phân chia không đồng đều cũng bắt đầu từ đây. Nhưng quan trọng hơn khi quỹ đất cạn thì nguồn thu nội địa sẽ giảm đáng kể, ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội khác.

 Một hệ quả khác của phát triển nóng đô thị ở khu vực này là tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động đô thị còn khá lớn. Tính riêng thành phố Đà Nẵng, nơi đô thị hoá được đánh giá là đã có bước tiến vượt bậc nhưng tỷ lệ thất nghiệp năm 2007 vẫn là 5,02%, giảm không nhiều so với năm 2000 là 5,95%. Còn tại Phú Yên, tỷ lệ dân thành thị thất nghiệp cũng là 5,15%. Nguyên nhân là do sự phát triển khu vực công nghiệp, dịch vụ chưa tương xứng với nhịp độ đô thị hoá. Nhịp độ tạo việc làm mới từ khu vực công nghiệp và dịch vụ cũng chưa cao. Nhất là những khu đô thị mới được mở rộng từ vùng nông thôn trước đây thì tỷ lệ thất nghiệp càng cao vì công tác đào tạo, chuyển đổi nghề cho nông dân chưa đạt được yêu cầu. Nếu không có những giải pháp căn cơ, thì những đối tượng này có nguy cơ chỉ đứng bên lề sự phát triển đô thị...

Ngoài ra, ở tầm vĩ mô, quá trình đô thị hoá tại các tỉnh miền trung vẫn còn bất cập về quy hoạch. Các phân khu chức năng trong các khu kinh tế chưa phù hợp tốc độ, điều kiện CNH, HĐH. Như tại Phú Yên số lượng quy hoạch chi tiết xây dựng tuy đã có sự tập trung đầu tư, nhưng tỷ lệ vẫn còn thấp (khoảng hơn 10%) so với đồ án quy hoạch chung xây dựng các đô thị trong tỉnh; chất lượng một số đồ án tính khả thi chưa cao; việc thực hiện quy hoạch sau phê duyệt còn bất cập giữa các ngành, các cấp; vốn đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật không tập trung, phân tán theo từng ngành, từng cấp quản lý dẫn tới việc đầu tư không đồng bộ của hầu hết các đô thị. Theo Sở Xây dựng Phú Yên, hiện nay, trên địa bàn tỉnh Phú Yên chưa có quy định khung giới hạn quy mô đầu tư của dự án (về diện tích tối đa, suất đầu tư trên đơn vị diện tích đất...) áp dụng cho từng vùng nên có những dự án đầu tư diện tích quá lớn hàng nghìn ha, dẫn đến khó khăn trong quản lý quy hoạch xây dựng, phân vùng dự án. Việc quản lý đầu tư xây dựng, thiết kế kiến trúc công trình của một số dự án vốn ngân sách thuộc ngành dọc còn bất cập, chưa thống nhất, đồng bộ với quy hoạch xây dựng của địa phương... Đặc biệt việc quy hoạch sắp xếp bố trí hệ thống dân cư nông thôn hiện nay của DVBMT chưa đồng bộ, thiếu sự phối hợp lồng ghép với chương trình phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu và tình hình lũ bão xảy ra thường xuyên. Rất nhiều các khu dân cư hình thành từ lâu đời nằm dọc theo lưu vực sông Mã, sông Cả, sông Gianh, sông Thu Bồn, sông Trà Bồng, sông Trà Khúc...; một số khu dân cư tập trung tại các đồng bằng ven biển và các cửa sông. Ngoài ra còn có một số lượng dân cư nằm ở ven hoặc trên các triền núi và trên núi. Việc lấn sông, biển để xây dựng các công trình công nghiệp, dịch vụ - du lịch ở nơi có nguy cơ cao về lũ, lụt triều cường và sạt lở làm cho công trình luôn bị đe doạ, vừa tốn nhiều tiền của, công sức cho việc duy trì, bảo vệ. Một trong những nguyên nhân khiến việc đối phó với bão lũ khó khăn hơn là các địa phương tiến hành xây dựng nhiều tuyến giao thông, san lấp các ao hồ, vùng trũng xây dựng các khu đô thị, nhà ở cắt ngang đường thoát lũ khiến việc thoát nước khó khăn, mức độ ngập lụt khi mưa bão ngày càng trầm trọng.

Hợp tác du lịch, chủ yếu vẫn còn trên giấy

Được coi là một thị trường du lịch đầy tiềm năng, nhưng du lịch miền trung hoạt động mang nặng tính manh mún, nhỏ lẻ. Việc khai thác mới chỉ là một dấu chấm nhỏ so với lợi thế to lớn. Đơn cử như "Con đường di sản miền trung", đây là mô hình liên kết du lịch giữa các địa phương, doanh nghiệp nhưng đến nay, mô hình này vẫn chưa phát huy tác dụng. Các doanh nghiệp lữ hành, kinh doanh du lịch dù vẫn khai thác các điểm đến nhưng chỉ giới hạn trong việc đi theo "tour" riêng lẻ, doanh nghiệp nào biết doanh nghiệp đó, địa phương nào biết địa phương đó mà không hề có một quy chuẩn cho thương hiệu này. "Con đường di sản miền trung" vì thế đến giờ vẫn gập ghềnh đường đi và điểm đến. Nói về lĩnh vực này, Chủ tịch UBND thành phố Hội An Lê Văn Giảng chia sẻ: Chưa nói đến con đường di sản miền trung, mà ngay như tam giác du lịch Huế - Hội An - Mỹ Sơn dù đã được các địa phương bàn thảo và ghi nhớ nhưng hiệu quả vẫn chưa nhìn thấy, một quy chế ràng buộc chắc chắn vẫn chưa có. Huế vẫn làm theo kiểu của Huế, Hội An làm theo kiểu Hội An, và Mỹ Sơn cũng vậy. Một đơn vị điều hành có thể đứng ra bao quát sự phối hợp giữa các địa phương cũng chưa có. Cho nên phải nhìn nhận thực tế là những tour du lịch hiện nay vẫn còn đơn điệu và nghèo nàn, sản phẩm du lịch cũng trùng lắp khá nhiều giữa các địa phương. Bản thân du khách cũng không có được những cảm nhận tách biệt về từng vùng đất mình đến cho nên thiếu sức cuốn hút bền lâu. Không ít cuộc hội thảo đã được tổ chức để chính quyền các địa phương bàn với nhau về sự hợp tác nhưng dường như tất cả các ký kết, thoả thuận chỉ mới là trên giấy. Chính vì vậy, mục tiêu của ngành du lịch là năm 2010 sẽ thu hút 2,5 triệu khách du lịch quốc tế và 12 triệu khách du lịch nội địa đến với khu vực miền trung vẫn khó khả thi. Đấy là chưa kể nếu mục tiêu này có thành hiện thực thì theo đánh giá, vẫn là chưa tương xứng với những tiềm năng của vùng.

Thiếu liên kết trong phát triển các KKT

Cũng như du lịch, phát triển công nghiệp và dịch vụ ở miền trung với nhiều kỳ vọng đánh thức một vùng đất mưa, nắng khắc nghiệt đang gặp phải những hạn chế. Dung Quất tuy đạt được những thành quả nhất định, nhưng diện mạo về một KKT đa chức năng vẫn chưa rõ nét để trở thành động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền trung. Đặc biệt, với lực lượng lao động trực tiếp chỉ 12.000 người tại các doanh nghiệp trong KKT Dung Quất, tương đương 1% số dân tỉnh Quảng Ngãi thì nhiệm vụ tạo việc làm, nâng cao đời sống cho người dân, nhất là nông dân mất đất sản xuất vẫn chưa đạt yêu cầu. Trưởng ban quản lý KKT Dung Quất Nguyễn Xuân Thuỷ trăn trở: Hiện cả nước đã có 15 KKT được thành lập với những cơ chế, chính sách đầu tư tương tự Dung Quất  cho nên sự cạnh tranh trở nên gay gắt, nhất là ngành nghề và nguồn vốn đầu tư. Nếu không có những bước đi mạnh mẽ, cơ chế chính sách ổn định và phù hợp tuỳ từng thời điểm thì Dung Quất sẽ mất dần vai trò tiên phong vốn có của mình.

Ngoài KKT Dung Quất, Khu kinh tế mở (KKTM) Chu Lai cũng đang đi những bước chậm chạp và thiếu tính đột phá. Với tổng diện tích hơn 32.000 km2, trải dài hơn 30 km từ thành phố Tam Kỳ đến hết huyện Núi Thành (giáp Dung Quất của Quảng Ngãi) nhưng hiện KKT này mới chỉ được đầu tư hơn 1.000 tỷ đồng cho việc phát triển cơ sở hạ tầng (chủ yếu là các trục giao thông trong KKT) cho nên chưa đáp ứng được những yêu cầu của nhà đầu tư. Đến nay, chỉ có doanh nghiệp lắp ráp ô-tô Trường Hải là thành công nhất tại KKT này. Những kỳ vọng của người dân trong việc tạo việc làm, nâng cao thu nhập đang dần phai nhạt trước cảnh tượng ngổn ngang của những dự án dở dang tại KKTM Chu Lai.

Dù những bất cập không hoàn toàn giống nhau, nhưng sự phát triển chậm, thiếu đồng bộ của các KKT tại DVBMT có thể nhìn thấy từ ba nguyên nhân.

Một là, các địa phương đồng loạt đề xuất thành lập quá nhiều KKT, KCN, khu chế xuất. Ngoài các KKT động lực của DVBMT là Dung Quất, Chu Lai, Nhơn Hội, Vân Phong, Chân Mây - Lăng Cô, Nghi Sơn, Vũng Áng... trong giai đoạn 2006-2010 có tới 21 KCN, Khu chế xuất đã và đang được triển khai, ngoài ra còn có một số cụm công nghiệp vừa và nhỏ được hình thành. Trong khi khả năng cân đối nguồn vốn ngân sách đầu tư cơ sở hạ tầng còn hạn chế nên dẫn đến tình trạng phát triển chậm và không có tính đột phá.

Hai là, mô hình, cơ chế, chính sách phát triển của các KKT còn lúng túng và chưa đồng bộ. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Đinh Văn Thu cho rằng: Trong quá trình phát triển, những cơ chế chính sách hy vọng sẽ được áp dụng tại Chu Lai đã không có điều kiện thực thi. Một "đặc khu kinh tế" là "phòng thí nghiệm cho những cải cách thể chế và thực nghiệm các chính sách mới" vẫn chưa thực hiện được. KKTM Chu Lai chỉ được áp dụng những chính sách ưu đãi cao nhất của cơ chế áp dụng cho địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chứ chưa có những cơ chế ưu đãi thật sự thông thoáng, phù hợp với thông lệ quốc tế. Chính vì vậy Chu Lai không thu hút được đầu tư như mong muốn. Đặc biệt, đã thiếu hẳn những dự án động lực như kiểu Nhà máy lọc dầu tại KKT Dung Quất. Chính vì vậy KKTM Chu Lai chưa làm tròn sứ mệnh của mình, chưa thật sự mở để thu hút các nhà đầu tư tầm cỡ.

Ba là, sự liên kết lỏng lẻo và thiếu khoa học giữa các KKT nói riêng và giữa các địa phương nói chung. Điều đó đã dẫn đến sự chồng chéo trong phát triển các ngành công nghiệp, xé lẻ lực lượng lao động, phân tán đầu tư. Đồng thời là sự lãng phí khi các khu công nghiệp không được lấp đầy, hoặc lấp đầy không đúng dự kiến ngành nghề và nguồn vốn; các cảng biển không phát huy hết công suất; số lao động được giải quyết việc làm sau thu hồi đất hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến kỳ vọng phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và toàn vùng...


Lót nilon trồng cỏ

Theo Báo Nông nghiệp - 11/12/2009

Lót nilon trồng cỏ

Hội đồng Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Định vừa nghiệm thu và cho phép đưa vào áp dụng trong sản xuất kết quả đề tài “Thử nghiệm kỹ thuật lót nilon mặt đáy tầng canh tác trong thâm canh cỏ trên đất khô hạn đang bị hoang mạc hoá phục vụ chăn nuôi, bảo vệ môi trường tỉnh Bình Định” của Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp duyên hải Nam Trung bộ do TS. Nguyễn Thanh Phương làm chủ nhiệm sau 3 năm triển khai thực hiện.

Theo nhóm đề tài, đây là phương pháp canh tác đơn giản, dễ áp dụng. Trên các vùng đất cát đang bị sa mạc hoá, chỉ cần đào một lớp cát sâu khoảng 40cm, rộng 4m, dài 100m, rải nilon trên diện tích mặt đáy đã đào. Sau khi rải nylon, cứ 1 lớp đất dày 5-10 cm lại rải đều 1 lớp phân chuồng hoặc phân hữu cơ đã được ủ hoai mục lên trên rồi lấp đầy, tạo thành các băng canh tác giàu chất dinh dưỡng cho các loại cây trồng ngắn ngày, đặc biệt là trồng cỏ phục vụ cho chăn nuôi.

Mục đích của việc rải nilon là ngăn không cho nước thấm sâu vào lòng đất và giữ lại sau mỗi lần tưới hoặc nước mưa như một lượng nước dự trữ tồn tại cố định trong băng để cung cấp dần cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển. Chính giữa và dọc theo chiều dài các mặt băng canh tác, đặt một ống dẫn nước được chôn sâu 20 cm nối với hệ thống tưới phun mưa tiết kiệm (cách khoảng 5m lắp 1 vòi phun). Nguồn nước tưới lấy từ các hồ chứa nước nhân tạo có dung tích từ 2.000-4.000 m3/hồ được đào, lót nilon và bố trí rải rác trong khu vực với mật độ 10 ha/hồ để dự trữ nguồn nước mưa tự nhiên trong các tháng mùa mưa.

Kết quả trồng thử nghiệm các loại cỏ voi như King gras, Florida và Madagasca trên diện tích 6 ha vùng đất khô hạn thôn Phú Kim , xã Cát Trinh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định cho kết quả rất tốt: năng suất bình quân 3 năm của cỏ voi trồng thâm canh với kỹ thuật tưới phun mưa có lót nilon đạt năng suất 264,25 tấn/ha, trong khi ở ô thí nghiệm tưới phun mưa không lót nilon chỉ đạt 190,62 tấn/ha.

Theo các tác giả, trồng cỏ voi thâm canh với kỹ thuật tưới phu có lót nilon cho lợi nhuận bình quân 52,97 triệu đồng/ha/năm đồng thời có thể tiết kiệm được lượng nước khoảng 46,4% so với các phương pháp tưới tràn và tưới phun không có lót nilon tầng đáy. Một ưu điểm nữa của phương pháp canh tác mới này là sau nhiều năm canh tác đất sẽ tích tụ được thêm nhiều chất mùn, chất dinh dưỡng nên khả năng giữ ẩm ngày càng tốt hơn, hệ vi sinh vật có ích trong đất được cải thiện hơn, hoạt động tốt hơn, góp phần cải tạo tốt hơn trên các vùng đất khô hạn đang bị sa mạc hoá. Ngoài các mô hình thử nghiệm ở Bình Định, kết quả của đề tài cũng đã được ứng dụng để trồng cỏ phục vụ chăn nuôi cừu hoặc trồng thêm một số loại cây ngắn ngày như đậu đỗ, lạc… ở một số vùng khác như xã Phước Dinh, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận cho kết quả rất tốt, nông dân hồ hởi làm theo.

Hội đồng khoa học cũng đánh giá cao các kết quả và tính khả thi của đề tài là có thể ứng dụng vào sản xuất đại trà vì đây là phương pháp đơn giản, chi phí đầu tư cho thiết bị, vật tư không cao, nhiều hộ nông dân có thể làm theo. Với phương pháp canh tác mới này thường 5 năm bà con mới phải đào lên để thay lớp nylon và các lớp phân, đất khác nên thực sự giảm được giá thành mà không gây ô nhiễm cho môi trường.

Trong trường hợp bà con không đủ điều kiện để lắp đặt đường ống nước tưới phun, các tác giả khuyến cáo bà con có thể áp dụng biện pháp tưới thủ công vẫn cho hiệu quả kinh tế cao. Cùng với nhiều biện pháp kỹ thuật canh tác khác, công nghệ canh tác mới này đang mở ra triển vọng biến nhiều vùng đất cát trắng khô hạn đang có xu hướng sa mạc hoá dần, đặc biệt là các tỉnh duyên hải miền Trung của nước ta thành những vùng đất mới có khả năng canh tác góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ đất, bảo vệ môi trường sinh thái.

Back to home page

Comments