Vietnamese‎ > ‎

VietNet

VietNet

1. TrầnTrung Đạo – Đóng góp văn hóa của tuổi trẻ trên Liên Mạng (Internet)

 

(Những ý chính của bài nầy đã được tác giả trình bày trước Đại Hộ Văn Học và Truyền Thông Báo Chí do Cộng Đồng Việt Nam vùng Đông Nam Hoa Kỳ tổ chức, 03-07-1998 Tampa, Florida)

        Để quý vị, trong trường hợp chưa làm quen với một số các phạm trù kỹ thuật, chúng tôi xin vắn tắt định nghĩa rất nôm na về một số thuật ngữ sẽ được dùng nhiều lần trong bài nầy. Trong một định nghĩa thật đơn giản, Liên Mạng (Internet) là một mạng lưới khổng lồ của các mạng lưới điện toán được nối nhau qua một đường thông tin chính. Các máy điện toán trong Liên Mạng (Internet) nhận ra nhau theo một quy thức kỹ thuật thống nhất.

        Trong vài năm qua, với sự ra đời của Màng Nhện Toàn Cầu (World Wide Web), một phương pháp để đọc, nhận và gởi các nguồn thông tin ra vào Liên Mạng (Internet) đã làm Liên Mạng (Internet) trở nên một phương tiện thông tin quan trọng trong lãnh vực kinh tế xã hội và văn hóa giáo dục. Người ta ước tính vào năm 2000 sẽ có khoảng 200 triệu người trên thế giới nối vào Liên Mạng (Internet) và sẽ có 1300 tỉ Mỹ kim giá trị thương vụ sẽ được thực hiện trên Liên Mạng (Internet). Liên Mạng (Internet) bao gồm nhiều phương tiện hữu dụng trong đó Thư Điện Tử (Email) có thể được xem là phương tiện phổ biến nhất.

 

SỰ HÌNH THÀNH CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TRÊN INTERNET (VIET NET)

        Sau ngày miền Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm, hàng triệu đồng bào Việt Nam như bầy chim bay lạc khắp bốn phương trời. Sự chọn lựa nơi cư trú gần như không còn là quyết định của cá nhân chúng ta nhưng tùy thuộc vào sự sắp xếp của quốc gia cho phép chúng ta định cư hay trong nhiều trường hợp chỉ là rủi may trong cuộc sống. Cho dù định cư ở bất cứ nơi nào trên trái đất đồng bào Việt Nam qua nhiều cách, nhiều phương thức, cũng đã cố tìm lại nhau, tìm về nhau. Tìm nhau ngoài đường phố và trong cả học đường. Tháng 8 năm 1988, một sinh viên Việt Nam từ trường đại học Boston University đã có dịp làm quen với một sinh viên Việt Nam khác đang học tại Đại học University of California at Irvine (UCI), và sau đó một số sinh viên khác từ các trường ở Florida, Học Viện Kỹ Thuật MIT cũng lần lượt gia nhập vào nhóm những người Việt trên để tạo nên Nhóm Việt Nam trên Liên Mạng (Internet) đầu tiên được gọi là Viet Net (Vietnamese Network).

        Từ mùa hè 89 đến đầu năm 92, Viet Net là một môi trường tích cực và hữu hiệu cho giới trẻ Việt Nam khắp nơi trên thế giới “gặp” nhau và học hỏi lẫn nhau. Trong cộng đồng người Việt nhỏ nhoi của khoảng 500 người Việt, trong đó có kẻ viết bài nầy, đã tạo nên một cuộc sống Việt Nam đa diện. Tham dự viên cư ngụ khắp nơi thế giới, từ California miền Nam đến tận các tiểu bang cực Bắc như Massachusetts, Main, từ Hoa Kỳ đến tận các quốc gia xa xôi như Na Uy, Phần Lan, Nhật Bản và một số rất đông tham dự viên cư ngụ tại Úc Đại Lợi. Đặc điểm chính của cộng đồng Viet Net là đa số tham dự viên không biết mặt nhau. Sự quen biết và cảm thông đều diễn qua phương tiện Thư Điện Tử (Email). Trong thời gian nầy, vì các thành quả kỹ thuật điện toán chưa được dồi dào, phương pháp ráp nối vào liên mạng không dể dàng, Thư Điện Tử (Email) được coi như là phương tiện duy nhất để trao đổi, để chuyển và để nhận các tin tức sinh hoạt từ cộng đồng Viet Net. Thành phần tham dự viên của diễn đàn trong thời kỳ nầy vì thế đa số là những người Việt trẻ từ các đại học lớn và các chuyên viên có trình độ chuyên môn về khoa học kỹ thuật tương đối cao từ các công ty chuyên về điện toán.

        Viet Net phục vụ như là một nhịp cầu trao đổi các ưu tư của người Việt về nhiều mặt trong cuộc sống mới. Khoa học kỹ thuật, xã hội, và tình bạn được xem là các sinh hoạt chính của Viet Net. Có những tình bạn thân thiết đã nảy sinh từ Viet Net và ngay cả một vài cuộc tình tha thiết đã dẫn tới hôn nhân cũng bắt nguồn từ những cuộc hẹn hò kín đáo trong “công viên Viet Net” nầy. Viet Net quen thuộc và có ích đến nỗi đã được Hội Phát Triển Việt Miên Lào tặng giải thưởng hạng nhì nhờ vào cố gắng của nhóm trong việc nối nhịp cầu thông cảm trong cộng đồng người Việt trên Liên Mạng (Internet). Ngoài sinh hoạt xã hội, giáo dục, các cuộc tranh luận chính trị nẩy lửa giữa các khuynh hướng chính trị khác nhau, nhiều khi mang nặng tính cách ý thức hệ Quốc Gia Cộng Sản cũng đã xảy ra trên diễn đàn nầy. Nhìn từ hướng tích cực, nhờ vào các buổi “Internet crossfire” đó, mà các tham dự viên có dịp đọc các bài viết chính trị nghiêm túc và có nghiên cứu của các tham dự viên trong diễn đàn cũng như đọc các bài trích đăng từ các học giả, các chính trị gia ngoài diễn đàn Viet Net. Dĩ nhiên, Viet Net cũng không tránh khỏi một số hiện tượng tiêu cực thường có trong các quan hệ xã hội và quan hệ con người, đặc biệt đối với tâm lý của người Việt Nam sau một cuộc chiến tranh dai dẳng mấy chục năm trời.

 

NHÓM TIN Soc.Culture.Vietnamese

        Đến đầu năm 1992, con số tham dự viên của Viet Net lên đến khoảng 600 người. Với con số đó việc chuyển thư điện toán do các máy trung chuyển trở thành một vấn đề khó khăn. Với sự ủng hộ của khối người Việt đông đảo trên Internet và sự chấp thuận của đa số tham dự viên của Viet Net, Soc.culture.vietnamese (SCV) được ra đời. Ngoại trừ một số rất ít tham dự viên vẫn phải nhận điện thư qua trung gian các máy trung chuyển, đa số tham dự viên đã hội nhập dể dàng vào môi trường mới của Socical Culture Vietnamese, gọi tắt là SCV.

        SCV là một trong khoảng 3000 nhóm tin được lưu chuyển trên Liên Mạng (Internet). SCV là một Viet Net trên một tầm vóc rộng rải hơn và đông đảo hơn nhiều. Việc liên lạc với SCV cũng dể dàng và nhanh chóng hơn vì không nhất thiết phải qua trung gian điện thư mà có thể qua trung gian của các nhu liệu khác do trường học và công ty cung cấp để đọc các bài từ các nhóm tin trên Liên Mạng (Internet).

 

MẠNG NHỆN TOÀN CẦU (World Wide Web)

        Từ năm 1994 trở về sau, Liên Mạng (Internet) đã trở nên phổ biến, thông dụng và nhiều phương tiện dẫn đến Liên Mạng (Internet), một trong những phương tiện đó là Mạng Nhện Toàn Cầu (World Wide Web gọi tắt là WWW). Sự xuất hiện của Màng Nhện Toàn Cầu được đánh giá như một cuộc cách mạng đã diễn ra trong lãnh vực thông tin. Cộng đồng người Việt trên Liên Mạng (Internet) đã tỏ ra rất bén nhạy trước kỹ thuật mới nầy. Hàng chục trạm cung cấp (web server) đã được thành lập để cung cấp tin tức thời sự, sinh hoạt văn học, đấu tranh chính trị chống Cộng Sản, quảng cáo thương mại v.v.  Trong lúc vietgate.net và vietnet.org là những trạm cung cấp (Web Server) đầu tiên phục vụ cộng đồng người Việt, đóng vai trò một trạm cung cấp chỗ định cư miển phí cho các hội đoàn, tôn giáo, thì một số trạm quan trọng khác như freeviet.org đã đóng vai trò rất mạnh trong việc cung cấp tin tức, dữ kiện cho các tổ chức đấu tranh chống Cộng Sản, giành lại tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam. Tại trạm freeviet.org người đọc có thể đọc được những áng văn bất hủ của Nguyễn Trải, Trần Hưng Đạo, của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu ... cho đến những câu ca dao, những câu chuyện cỗ tích.

        Con số trang nhà (homepage) cá nhân cũng đã tăng một cách nhanh chóng đến nhiều ngàn trang. Với sự ra đời của Mạng Nhện Toàn Cầu sinh hoạt trên Liên Mạng (Internet) hoàn toàn đổi khác. Thành phần tham dự viên cũng phát xuất từ nhiều gốc gác khác nhau, ngành nghề khác nhau và nhiều thế hệ, tuổi tác khác nhau. Liên Mạng (Internet) không còn là nơi gặp gở của tuổi trẻ mà là của mọi giới, mọi thành phần xã hội. Các hội đoàn, các tổ chức, các tạp chí, các tôn giáo đều có trạm cung cấp (Web Server) trên Liên Mạng (Internet). Ngoài ra các nhóm chuyên biệt dựa vào sở thích và nhu cầu cũng đã ra đời. Về văn học các nhóm mhư Poetry Digest, Thơ Văn, Ô Thước, Nắng Mới ở Âu Châu, Âu Cơ, Về Nguồn, Xứ Việt, Nam Việt v.v. cũng nối tiếp nhau xuất hiện. Mỗi nhóm sinh hoạt riêng và dựa vào trạm cung cấp riêng được xây dựng công phu và đẹp đẻ. Mỗi nhóm có tham dự viên hay hội viên riêng. Các nhà văn nhà thơ quen thuộc trong các sinh hoạt ngoài Liên Mạng (Internet) trước đây như Hà Huyền Chi, Trần Hoài Thư, Trần Doãn Nho, Nguyễn Đức Bạt Ngàn, Nguyễn Bá Dĩnh, Thủy Trang, Nguyễn Tấn Hưng, Cao Xuân Huy, Nguyễn Ý Thuần v.v. cũng đã có thơ văn trực tiếp gởi lên Liên Mạng (Internet) qua trung gian các trang nhà (homepage) riêng của họ hay trạm cung cấp (Web server) của họ. Các nhà thơ nỗi tiếng khác mặc dù không có trang nhà (homepage) riêng nhưng cũng được giới thiệu lên Liên Mạng (Internet) qua trung gian của các nhóm ưa chuộng họ như nhà thơ Nguyễn Chí Thiện do trạm cung cấp freeviet.org giới thiệu, nhà thơ Khoa Hữu do trạm vietbay.org giới thiệu, nhà văn Trần Doãn Nho do trạm viet-ne.org giới thiệu, các nhà thơ tiền chiến do hai trạm cung cấp (Web server) vietnet.org và trang vhvn.html tại cae.wisc.edu cung cấp. Các tạp chí và các tờ báo lớn như Làng Văn, Việt, Văn Học, Người Việt, Thế Kỷ 21, Người Dân... cũng đã có trạm cung cấp (Web server) riêng trên Liên Mạng (Internet), các nhà xuất bản và tổng phát hành như Minh Văn, Làng Văn... cũng đã mở cữa hàng trên Liên Mạng (Internet). Ngày nay, tất cả công ty lớn của Mỹ, các đại học lớn nhỏ và ngay cả nhiều trường trung học đã nối vào Liên Mạng (Internet), rất đông công ty thương mại, văn phòng Luật Sư, Bác Sĩ, Bảo Hiểm v.v. thuộc quyền sở hữu của người Việt đã nối vào Liên Mạng (Internet).

        Trong phạm vi bài thuyết trình ngắn chúng tôi không thể và cũng không có ý định làm một thống kê chi tiết hay đưa quý vị đến thăm từng trạm cung cấp (Web server), từng trang nhà (homepage) trên Liên Mạng (Internet). Tuy nhiên với khả năng kỹ thuật xuất sắc của cộng đồng người Việt trên Liên Mạng (Internet), họ đã tạo dựng những trạm cung cấp (Web server) phong phú về nội dung và đẹp mắt về hình thức.

        Hiện nay có hai tuần báo văn nghệ điện tử được lưu hành đều đặn hàng tuần trên Liên Mạng (Internet): tạp chí Văn Học Nghệ Thuật (VHNT) và Poetry Digest. Tạp chí điện tử Văn Học Nghệ Thuật đặt cơ sở trên trạm saomai.org/vhnt ra mắt số đầu tiên ngày 17 tháng 7 năm 1995. Nhóm Poetry Digest là một thi tuyển do các tham dự viên của nhóm đóng góp do nhà thơ Trần Thái Vân và nhà văn Nguyễn Tấn Hưng điều hợp, được phát hành hằng tuần vào mỗi thư năm qua hình thức Thư Điện Tử (Email). Ngoài việc tạo môi trường cho các sinh hoạt văn học trên liên mạng được xanh cây, tốt lá, các anh chị trong hai nhóm trên cũng đã cố gắng xuất bản một số tác phẩm của các cây bút liên mạng và phổ biến ra ngoài. Nhóm Văn Học Nghệ Thuật trong hai năm qua đã xuất bản hai tuyển tập VHNT với một nội dung phong phú, đa dạng. Nhóm Poetry Digest cũng vừa xuất bản thi tuyển Ngàn Phương tuyển chọn từ các thi phẩm của các tham dự viên đóng góp từ khi Poetry Digest ra đời cho đến nay.

       Môi trường sáng tác là một điều quan trọng nhất để khích lệ và nuôi dưỡng khả năng sáng tác. Không giống như trong thời kỳ Viet Net hay SCV giai đoạn 1989 đến 1994, trong đó các sáng tác văn học chỉ có mỗi một nơi để gởi là SCV, sinh hoạt văn học trong Liên Mạng (Internet) từ 1994 trở  đi đã phân chia thành nhiều nhóm rỏ rệt, và thậm chí nhiều khuynh hướng sáng tác và nhiều kỹ thuật sáng tác mới đã được khám phá. Ngoài ra không giống như thời kỳ Viet Net với số lượng những cây bút viết đều đặn và dồi dào không nhiều (Kiều Loan, Trần Ý Vân, Trần Trung Đạo, Võ Cao San, Trần Thái Linh, Lan Phạm, Mực Tím, Nguyễn Thị Lộc Quy, Bé Ngoan v.v.), các nhóm sinh hoạt văn học trên Liên Mạng (Internet) phát xuất từ các trang nhà (homepage) mới đây có thể nói là đông không kể  xiết. Mỗi trạm cung cấp (WWW server) có số tham dự viên lên đến mấy trăm người và cũng có một số cây bút thường xuyên cho trang của họ. Những nhà văn, nhà thơ cũ mới, xuất hiện nhiều và nỗi bật trên Liên Mạng (Internet) của giai đoạn nầy gồm Trần Hoài Thư, Phạm Chi Lan, Trần Thái Vân, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Đăng Tuấn, Trần Lộc, Nguyễn Phước Nguyên, Trương Nguyễn Thi Thanh (1969-1998), Ngô Minh Hằng, Phùng Nguyễn, Nguyễn Vy Khanh, Lương Thư Trung, Bùi Thanh Liêm, Nguyên Nhi, Trần Minh Hiền, Hoàng Vy Kha, Nguyễn Hiện Nghiệp, Từ Đông Nghị, Phạm Thế Định, Quách Cường, Bé Khờ và rất đông những cây bút khác thuộc các nhóm Thơ Văn Freeviet, Âu Cơ, Xứ Việt, Nam Việt v.v..

        Ngoài các nhóm đặt cơ sở hoàn toàn trên Liên Mạng (Internet), còn có nhiều nhóm gián tiếp sinh hoạt trên Liên Mạng (Internet) và cũng đã có nhiều đóng góp ý nghĩa vào sinh hoạt văn hóa của giới trẻ hải ngoại và đáng được ca ngợi. Một trong những nhóm tiêu biểu là nhóm Trại Hè Về Nguồn (hiện nay là Ve Nguon Foundation). Gọi là gián tiếp vì Ve Nguon foundation là một kết hợp giữa các sinh hoạt trẻ trong và ngoài Liên Mạng (Internet). Một phần lớn việc điều hợp Về Nguồn đều thực hiện qua phương tiện Thư Điện Tử (Email) cũng như đa số ban điều hành và trại viên Về Nguồn là các tham dự viên tích cực trên Liên Mạng (Internet) trong nhiều năm qua. Các mụch đích chính của về nguồn “là trở về với tâm hồn trong sáng, với chính con người Việt Nam, thể hiện tinh thần hài hòa, tinh thần yêu thương gia đình, bạn bè, bà con làng xóm láng giềng.” đồng thời để “Học hỏi và truyền bá văn hoá dân tộc”. Từ Trại Hè Về Nguồn I mang chủ đề Lạc Long Quân được tổ  chức cách đây 8 năm cho đến Trại Về Nguồn VIII được tổ chức vào năm ngoái, Trại Hè Về Nguồn đã thực sự trở  thành một truyền thống tốt đẹp và cần được nuôi dưởng. Chúng tôi cũng không thể không ca ngợi sự đóng góp của hai tổ chức khoa học nhưng đóng góp nhiều vào các công trình văn học, đó là Hội Chuyên Gia Việt Nam và Nhóm TriChlor.

        Nhóm TriChlor Group do Kỹ Sư Bùi Minh Cương và một số chuyên viên điện toán Việt Nam thiện nguyện thành lập vào năm 1992. Mụch đích chính của TriChlor là phát triển và phổ  biến các nhu liệu Việt Ngữ dựa trên tiêu chuẩn viết tiếng Việt VISCII (VIetnamese Standard Code For Information Interchange). Anh Bùi Minh Cương và Nhóm TriChlor đã đóng góp rất nhiều vào việc chuyển một số thi phẩm của các thi sĩ tiền chiến nỗi tiếng như Nguyễn Bính, Quang Dũng, Xuân Diệu cũng như các áng văn chương bất hủ như Chinh Phu. Ngâm. qua dạng điện tử  được gọi là thi tập Điện Tử. Mới đây Nhóm TriChlor phát thành một CĐROM về truyện sử Việt Nam. CD-ROM truyện sử của TriChlor là một đóng góp đầy ý nghĩa vào nỗ lực duy trì và phát huy văn hóa Việt Nam.

        Hội Chuyên Gia Việt Nam là một tổ chức bất vụ lợi với trên một ngàn hội viên, đa số còn rất trẻ, thuộc 27 phân hội đặt rải rác khắp hải ngoại. Ngoài bộ chữ tiếng Việt quen thuộc VPSWIN, Khối Điện Toán của Hội Chuyên Gia trong thời gian qua đã phát triển nhiều nhu liệu có ý nghĩa về mặt văn hóa như Ca Dao, Đối Vui Để Học, Thơ Hồ Dzếnh, Vần Việt Ngữ, Quê Tôi, Việt Nam Nước Tôi, cách sửa dấu Hỏi Ngã v.v.

 

BẮT NHỊP CẦU VĂN HỌC

       Những ngày chúng ta còn ở trong nước, dù quan niệm “chiếu trên chiếu dưới” còn tồn tại, dù ngăn cách nhau trong suy nghĩ, trong tuổi tác, người cầm bút và người đọc vẫn chia xẻ nhau chung một môi trường văn hóa, một đời sống kinh tế, các mối quan hệ xã hội tương đối giống nhau. Các em học sinh trung học đang tập tành viết lách hay dù không viết lách cũng biết đọc tạp chí Văn, Văn Học, Bách Khoa như các chú các bác nhà văn nhà thơ tên tuổi khác. Giáo dục trong các trường hợp đó là giáo dục trực tiếp và khả năng sáng tạo trong trường đó đã được kích thích trực tiếp qua các va chạm kiến thức và đời sống. Các bác nhà văn nhà thơ như Doãn Quốc Sĩ, Hà Bỉnh Trung, Hà Huyền Chi, Du Tử Lê... là những con người thật, những thần tượng có thật, những mẩu mực có thể đo lường được, có thể tiếp xúc và có thể đạt đến. Tuy nhiên điều nầy không còn là một thực tế đối với tuổi trẻ lớn lên tại hải ngoại. Các thế hệ Việt Nam trẻ tại hải ngoại lớn lên trong một môi trường văn hóa giáo dục hoàn toàn khác, họ ăn hamburger học tiếng Mỹ, mang vào đời sống những suy nghĩ hoàn toàn khác với suy nghĩ của ông bà cha mẹ. Cách đây không lâu, trước khi Internet (Liên Mạng) trở nên phổ biến, hay thậm chí ngay bây giờ, đa số tuổi trẻ hải ngoại dù yêu thích văn thơ và đang tập tành làm thơ tiếng Việt, cũng không biết nhà văn Doãn Quốc Sĩ là ai, không biết nhà thơ Hà Bỉnh Trung là ai, không biết nhà thơ Hà Huyền Chi là ai. Họ không có ai để dẫn dắt, không có ai để so sánh, không có một khuôn thước để noi theo, không có các thần tượng văn nghệ để mà chọn làm mục đích tiến thân.

        Trong hai năm qua, không ít nhà văn nhà thơ quen thuộc trước hay sau 1975 đã có cơ hội tiếp xúc với tuổi trẻ hay làm việc trong môi trường điện toán đã ý thức ra điều đó nên đã nỗ lực để bắt một nhịp cầu thế hệ nối liền hai sinh hoạt văn chương cũ mới. Một vài đóng góp đáng cho giới trẻ biết ơn và kính trọng như trường hợp nhà thơ Du Tử Lê trong nỗ lực đưa các tác phẩm của ông sang Anh Ngữ, dịch giả Hoài Văn Tử phiên dịch Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm sang Anh Ngữ, hay các nhà văn Trần Hoài Thư, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Ý Thuần đã mở các trang nhà (homepage) và rất hăng say tham gia các thảo luận về văn học trên Liên Mạng (Internet). Một số khá đông báo chí lớn như Làng Văn, Văn Học, Viet Magazine, các đài phát thanh VNCR, VOV v.v. cũng đã tích cực xây dựng các trang nhà (homepage) để phổ biến tin tức và văn chương Việt Nam trên Liên Mạng (Internet). Tuy nhiên con số các nhà văn nhà thơ có mặt trên Liên Mạng (Internet) vẫn còn quá ít so với nhu cầu ngàng càng rộng lớn của độc giả Liên Mạng (Internet).

        Nhân dịp nầy chúng tôi tha thiết kêu gọi quý vị khi về lại địa phương xin tìm cách tiếp xúc với các nhóm kỹ thuật trẻ, với các Hội Sinh Viên… và hợp tác với họ chuyển các tác phẩm của quý vị lên trên Liên Mạng (Internet). Xin hãy đến với tuổi trẻ, những người đang khao khát tìm về nguồn cội, để dẫn dắt họ, dạy họ làm thơ, tập họ viết văn. Xin hãy đến với tuổi trẻ bằng một tấm lòng bao dung, rộng mở, tự nhiên không phân biệt tuổi tác, không định kiến. Xin hãy thương yêu và chăm sóc họ như chăm sóc cây xanh, hoa lá trong khu vườn sau nhà quý vị vì chính họ cũng là những cây xanh, hoa lá trong khu vườn văn hóa của dân tộc Việt Nam sau nầy. Trong những địa phương có phương tiện, hãy phối hợp với cộng đồng địa phương để lập ra các giải luận văn, các phong trào khuyến học, những lớp văn hóa Việt Nam, các lớp dạy về lịch sử Việt Nam, các ngày văn hóa Việt Nam để các em có dịp đến nghe, đến thưởng thức và đến để biết ơn nền văn hóa Việt Nam. Hãy đến với tuổi trẻ khi tuổi trẻ đang cần quý vị chứ không nên chỉ đến với tuổi trẻ khi quý vị cần tuổi trẻ.

 

CHIẾC CHÌA KHÓA ĐỂ TÌM VỀ CỘI NGUỒN

        Một khó khăn khác mà tuổi trẻ hải ngoại đang chịu đựng là tâm lý bị bỏ quên. Thành thật mà nói, không ít các bậc cha mẹ chú bác dù đã và đang sống trên đất Mỹ hàng chục năm, hay thậm chí cả 23 năm nhưng nếp sinh hoạt xã hội, văn hóa vẫn giữ như thời kỳ còn ở trong nước, khép kín trong một môi trường sinh hoạt cũ, và bảo thủ với những phương pháp làm việc cũ.

         Đã đến lúc các thế hệ cha chú nên từ bỏ một số các khuôn thước sống và suy nghĩ không còn thích hợp với nếp sống hiện đại. Đã đến lúc phải cập nhật hóa kiến thức của mình và hội nhập vào môi trường sinh hoạt mới. Không phải có bằng kỹ sư, bác sĩ ... mới có khả năng hội nhập và hội nhập cũng không có nghĩa là chấp nhận bị đồng hóa. Hội nhập ở đây có nghĩa là một thái độ sống mới, những phương thức làm việc mới, không bỏ cái hay của ta nhưng học cái hay của người. Hội nhập để có một cái nhìn khai phóng hơn vào tương lai của loài người cũng như của đất nước chúng ta và dân tộc chúng ta.

        Ngay trong lãnh vực đấu tranh chính trị chống Cộng Sản cũng vậy, các bậc cha mẹ cô chú cũng cần phải trẻ trung hóa và hiện đại hóa các phương thức đấu tranh. Các cộng đồng cũng cần phải có các ủy viên đặc trách về Internet, đặc trách về khoa học kỹ thuật và nhất là đặt nặng việc phát huy văn hóa dân tộc. Trong nhiều chục năm qua, Cộng Sản “đánh lận con đen” trong việc đồng nghĩa văn hóa dân tộc và văn hóa nô dịch kiểu Cộng Sản là một, đồng hóa ý thức hệ Cộng Sản và lòng yêu nước thuần kiết của con người Việt Nam là một. Chúng ta có thể tìm thấy thủ đoạn đó qua vô số văn thơ của các nhà thơ Cộng Sản như Tố Hữu trong “Mủi Cà Mau”, Nguyễn Khoa Điềm trong “Đất Nước”, Giang Nam trong “Quê Hương” v.v. và v.v.

        Để chiến thắng trong mặt trận văn hóa, tư tưởng, xin các bậc cha mẹ chú bác, trước hết, hãy giúp cho tuổi trẻ tìm lại Việt Tính trong ý thức của họ chứ không mua vé máy bay về Việt Nam để tìm Việt Tính và cũng không phải từ những câu khẩu hiệu khô khan được trích ra từ các tuyên ngôn, tuyên cáo. Việt Tính phải được tìm thấy bằng cả một tấm lòng yêu nước say mê chân thành kết hợp với những quan điểm đúng đắn và khoa học về văn hóa mà các thế hệ trẻ có thể chấp nhận và chấp nhận một cách tự nguyện. Chúng ta không thể đợi đến mùng 10 tháng 3 mới kêu gọi tuổi trẻ đi dự Lễ Giổ Tổ Hùng Vương, trong khi tuổi trẻ sinh ra và lớn lên ở Mỹ không biết vua Hùng là ai. Chúng ta không thể đợi đến gần ngày 30 tháng 4 mới gởi văn thư đến các tổ chức trẻ, các hội sinh viên để yêu cầu họ ký, yêu cầu họ đi họp, yêu cầu họ đi biểu tình nhưng trong ý thức họ không biết ngày 30-4 mang một ý nghĩa sâu xa gì, nhiều lắm cũng chỉ biết đó là ngày đánh dấu “the fall of Saigon”. Nếu họ có học lịch sử chiến tranh Việt Nam từ các trường đại học Mỹ thì họ cũng chỉ học trên quan điểm của người Mỹ, của McNamara, của McGovern, cũng chỉ nhìn cuộc chiến Việt Nam từ hướng Tòa Bạch Ốc, từ hướng Ngũ Giác Đài chứ không phải nhìn cuộc chiến Việt Nam từ hướng An Lộc Bình Long, từ hướng Cổ Thành Quảng Trị… không phải học lịch sử Việt Nam từ máu của trung tá Long, của đại tá Hồ Ngọc Cẩn, của các tướng Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ v.v đã đổ xuống.

        Mỗi người Việt Nam dù còn đang ở trong nước hay đang sống ngoài nước đã mang trong mình đặt tính kế thừa di truyền từ nhiều ngàn năm văn hóa Việt. Mỗi người Việt Nam là một tích lủy của bốn nghìn năm nỗi trôi cùng vận nước. Về Nguồn trong quan điểm đó là tự tìm lại Việt tính đang ngủ quên trong chính bản ngã của mình. Về Nguồn, trong quan điểm đó, là một niềm tin mà mỗi người Việt Nam cần phải có để có thể tiếp tục hành trình đưa dân tộc Việt Nam bước qua ngưỡng của năm hai ngàn để đi vào hai ngàn năm sau của lịch sử. Về Nguồn trong quan điểm đó sẽ là một vũ khí quyết định có khả năng xóa bỏ tận căn bản mọi tàn tích của ý thức hệ Cộng Sản vô thần, phi dân tộc và phi nhân bản.

        Khi đặt các vấn đề khá thẳng thắng như vậy không có nghĩa là chúng tôi, những người cầm bút trẻ, những người trong thế hệ trẻ đang trách cứ cha anh. Thưa không, bằng tất cả sự khiêm cung và thành thật, cá nhân chúng tôi và tôi tin rằng đa số tuổi trẻ, không dám trách cứ cha anh. Lịch sử là lịch sử. Mỗi thế hệ Việt Nam có những nhiệm vụ lịch sử để hoàn thành. Thế hệ của cha anh có những nhiệm vụ mà cha anh phải thực hiện và thế hệ trẻ cũng có những nhiệm vụ mà lịch sử đang chờ đợi họ. Chúng ta không thể đứng trước ngưỡng cửa năm hai ngàn để trách tại sao Vua Tự Đức, vua Minh Mạng lại cứ khư khư giữ lấy chính sách bế môn tỏa cảng, tại sao các ngài không nghe lời điều trần can gián của các quan chức có đầu óc canh tân để nước phải mất nhà phải tan, tại sao và tại sao. Trong khi đó, nếu chúng ta đọc lại lịch sử Việt Nam, chúng ta mới thấy đó chưa hẳn chỉ là lỗi của nhà vua. Làm sao các vua nhà Nguyễn có thể có những quyết định theo quan điểm ngày nay khi đã mang từ trong dòng máu mình mối lo sợ ngoại bang thôn tính giang sơn bắt nguồn từ ba bốn ngàn năm trước. Làm sao nhà vua có thể chọn lựa khác hơn khi suốt dòng lịch sử dân tộc từ khi khai sơn lập quốc đã phải không ngừng chiến đấu và hy sinh xương máu để bảo vệ từng ngọn rau tất đất của quê hương. Làm sao nhà vua có thể có những chọn lựa khôn ngoan khi suốt đời đóng khung trong tứ thư ngũ kinh, trong bốn bức tường thành kín đáo của cung điện. Dù sao đó cũng là những bài học lịch sử quý giá mà con cháu của các ngài phải học. Học lịch sử không phải để phê bình, oán trách tổ tiên nhưng học lịch sử là để làm lịch sử.

        Chúng tôi tin rằng đại đa số tuổi trẻ hải ngoại, dù chưa từng bị hành hạ trong ngục tù Cộng Sản, dù không bị mang trên lưng những lằn roi đau buốt, không mang trên trán họ những vết hằn sâu sỉ nhục nhưng chắc chắn họ cũng biết đau chung nỗi đau thương mà cha anh của họ đã chịu đựng, đã trải qua ở Suối Máu, ở Xuân Lộc, ở Hoàng Liên Sơn, Yên Báy, Lao Cai v.v. Tuổi trẻ Việt Nam đã chôn dấu những suy tư đó vào trong một ngăn kín của tâm hồn họ. Nếu quý vị có chiếc chìa khóa để mở cánh cửa tâm hồn họ quý vị sẽ khám phá ở đó một kho tàng quý giá của những tài năng dân tộc, kho tàng đó sẽ là những vốn liếng và tài nguyên quan trọng để xây dựng lại căn nhà Việt Nam tươi đẹp sau nầy.

        Cái mà chúng tôi gọi là chìa khóa đó không cần phải vay mượn của ai, không phải tìm đâu xa nhưng ở ngay trong truyền thống đạo đức, văn hóa của dân tộc chúng ta, ở ngay trong tâm của mỗi người đang có mặt hôm nay, thưa quý vị, đó chính là tinh thần nhân bản, khai phóng, bao dung, tự chế và kiên nhẫn mà tất cả người Việt Nam chúng ta luôn có.

        Chúng tôi cũng hiểu rằng những phân hóa, chia ly, thất vọng hôm nay không phải bắt đầu từ quý cha anh nhưng là một hệ quả tàn khốc của một cuộc chiến tranh dài trong lịch sử dân tộc. Những phân hóa ngày nay đã bắt nguồn từ khi con sông Gianh trở thành biên giới cắt ngang lòng đất nước, từ khi thực dân Pháp đặt chiếc còng nô lệ lên đầu cỗ của tổ tiên chúng ta, bắt nguồn từ khi Hồ Chí Minh mang chỉ thị của đệ tam quốc tế Cộng Sản về xích hóa dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam đến thảm họa nghèo nàn, lạc hậu, diệt vong. Và do đó, muốn chấm dứt tình trạng phân hóa hiện nay, không phải chỉ bằng những lời kêu gọi đoàn kết suông nhưng phải bằng một cuộc cách mạng ngay từ trong ý thức của mỗi người ra đến ngoài hành động chung của cả tập thể, bằng sự tập trung toàn bộ nỗ lực vào công cuộc giải thể chế đô. Cộng Sản, một chế độ tồn tại và phát triển nhờ vào các mâu thuẫn xã hội, các phân hóa trong cộng đồng dân tộc, để xây dựng một đất nước Việt Nam thật sự hiện đại, thật sự thương yêu nhau và đoàn kết với nhau.

        Đứng trước những đau thương và tàn phá của quê hương, tuổi trẻ Việt Nam bao giờ cũng muốn san sẻ những vết thương đau đang hằn sâu trên da thịt của cha anh, chia sớt những khó khăn mà các bậc cha anh đang phải đương đầu trong cuộc sống mới. Xin đón nhận tuổi trẻ Việt Nam trong vòng tay của cha mẹ, chú bác, anh chị. Chúng tôi mong và tin rằng bằng sự lưu tâm và tình thương của quý vị, bằng những nỗ lực xây dựng và tinh thần khai phóng, Việt Nam sẽ một ngày không xa được phục hồi những tinh hoa dân tộc, đưa đất nước bước sang một ngưỡng cửa mới, ngưỡng cửa của tự do, dân chủ, thịnh vượng và nhân bản.

Trần Trung Đạo

Tampa, Hoa Kỳ ngày 7 tháng 3 năm 1998

 


ĉ
San Vo,
Apr 20, 2017, 5:56 PM
Comments