Chân Dung Một Cô Gái Việt Nam

Vài hàng về tác giả 

-Thanh Tâm là bút hiệu của nhà văn Ngô Thanh Tâm, cựu sinh viên Triết 4 Đại Học Sư Phạm / Viện Đại Học Đà Lạt .

-Nhà văn đã qua đời trong niềm thương tiếc của bạn đồng môn, văn hữu và thân hữu, ngày 9 tháng 4 năm 2015 tại Oslo ( Na-Uy ).

-Xin xem các bài viết dưới đây về Tâm Thanh :

 

Chúng tôi vừa nhận được bản Cáo Phó trên đây do gia đình nhà văn Tâm Thanh (tên thực Ngô Thanh Tâm) gửi đến để báo tin nhà văn đã qua đời. Từ hai mươi năm qua, nhà văn Tâm Thanh đã đóng góp nhiều sáng tác cho tạp chí Thế Kỷ 21 và các tạp chí văn học khác tại hải ngoại.

Diễn Đàn Thế Kỷ xin chân thành chia buồn cùng chị Khánh Hà và các cháu. Nguyện cầu Linh hồn nhà văn Tâm Thanh Ngô Thanh Tâm sớm được hưởng Nhan Thánh Chúa.

Nhà văn Tâm Thanh đã phát giác mắc bệnh ung thư từ đầu năm 2013. Vào ngày 3 tháng 5, 2014 các thân hữu tại Oslo đã tổ chức Ngày Văn Hóa Việt Nam nhằm giới thiệu một số tác phẩm của ông. Sau đây là một trích đoạn từ bài thuyết trình của nhà văn Nguyễn Văn Thà đã trình bày trong dịp này:

Tâm Thanh đã viết được nhiều truyện ngắn hay. Anh đã nâng truyện ngắn Việt Nam lên một bậc. Truyện ngắn anh có kỹ thuật cao, hóm hỉnh và đầy minh trí như thơ Nguyễn Khuyến, nhưng cũng lãng mạn một cách thâm trầm, ý vị.

 Lệnh Triệu Ban Rồi

Tâm Thanh, mùa thu năm ngoái có cho ra đời cuốn Lệnh Triệu Ban Rồi - một trường hợp ung thư. Tôi cũng đã có vài lời bàn về cuốn này và đã được đăng trong giai phẩm Viết&Đọc, Xuân Giáp Ngọ 2014 và quý vị cũng có thể đọc trong trang nhà diendantheky.net. Ở đây tôi chỉ tóm tắt như sau:

1. Tôi nhận được cuốn sách khi tôi bước ra khỏi nhà đi làm, đưa luôn đến sở, và lén đọc được mươi trang. ”Cảm giác đầu tiên của tôi là mình đang chạm tới cái mênh mông dễ chịu, đọc tử thư mà lòng lại thấy nhẹ nhàng.” Sau đó khi “Đọc xong tác phẩm, tôi vẫn còn cái cảm giác đầu tiên: như chạm tới cái mênh mông dễ chịu.”

2. Tâm Thanh kể một chút về bạn bè, những những mẫu nhân nhân vật anh kể có những tính cách cao đẹp của tình người, tình bạn của một lớp người nay đang sắp tiệt giống. Với những miêu tả như thế, Tâm Thanh vô tình đã tạo được bộ sưu tầm quý giá về nhân văn cho đời sau. Tả một cách chắt lọc, sắc bén, hóm hỉnh.

3Kể lại một giai thoại văn học quan trọng về thái độ trước cái chết của cựu linh mục và là giáo sư Lê Tôn Nghiêm, một trong những cột trụ giới thiệu triết học Tây Phương vào Nam Việt Nam. Nơi chân quan tài của Thầy có tấm bảng ghi câu  ”Mon Dieu, la Destinée” mà chị của Tâm Thanh hiểu là: Thượng Đế của tôi, Định Mệnh, nhưng NVThà lại hiểu là “Than ôi, Định mệnh!” Hai lối hiểu khác nhau, vì chỉ khác nhau một dấu phẩy và một dấu chấm than, dẫn tới hai nhận định khác nhau về thái độ trước cái chết của giáo sư Nghiêm với cuộc đời trí thức thượng đẳng mà cũng gian truân của ông khi Cộng Sản chiếm miền Nam.

4. Tập thơ kèm trong tác phẩm LTBR có tên Vần Cuối Cho Anh của bạn đời anh: Khánh Hà gồm 23 bài. Nói lên tình khắng khít vợ chồng mà Tâm Thanh trong tác phẩm gọi là cửa vào thiên đàng và cũng nói lên một mối tình vừa văn chương vừa vợ chồng xưa nay hiếm.


 Anh Tâm Thanh thân mến,

Khánh Hà có ba tập thơ với hàng trăm bài thơ giá trị, nhưng chỉ cần một bài cũng đủ tóm lại sự nghiệp làm thơ của chị. Đó là bài Tiếng Chim:

buổi chiều lắng

bóng chim vút qua

rớt lại tiếng kêu

trên hồ nước lặng

Thưa anh, anh, như kim cổ bao đời, sẽ vút qua, nhưng tiếng kêu của anh đã rớt lại cho chúng tôi, cho thế hệ mai sau, và mặt hồ chúng tôi sẽ không lặng khi lòng hồ đã may mắn nhận những tiếng kêu của con người muôn thủa vào lòng mình.” (hết trích).

Cũng trong Ngày Văn Hóa Việt Nam này, nhà văn Tâm Thanh vì bệnh không thể tới tham dự được, đã gửi một bức thư tới đại hội. Bức thư như sau:

“Ông Bà kính mến

Bạn thân ái

“Với tư cách là một trong những người được nhắc đến hôm nay, tôi xin chân thành cảm tạ Ban Tổ Chức, các thuyết trình viên, diễn viên, những bàn tay nội trợ, đặc biệt Quí Vị quan khách đã tới dự buổi mạn đàm nghệ thuật này. 

Cuộc mạn đàm này khiến tôi liên tưởng tới những "Salons Littéraires" (Câu lạc bộ Văn chương) khởi xướng tại Pháp từ thế kỷ XVI. Tôi chẳng dám ngạo mạn so sánh cái nôi của cao trào phục hưng văn chương nghệ thuật thế kỷ XVI-XVII-XVIII, với cuộc họp dù ấm cúng nhưng đơn sơ này. Nhưng khi ta ngồi lại với nhau, trao đổi suy nghĩ, phê bình sáng tác của nhau, gợi ý cho nhau, mách cho nhau những khám phá mới... là ta làm cùng một cách như câu lạc bộ văn chương. Đó là tạo môi trường và nuôi dưỡng sinh hoạt văn nghệ tại Nauy. Quí vị để ý xem: những tác phẩm thiên cổ vĩ đại là do từng cá nhân hoàn thành, nhưng cá nhân thiên tài nảy sinh từ môi trường tốt. Hoan nghênh sáng kiến này của BTC.

"Khuyết điểm" của cuộc mạn đàm hôm nay là đã chọn Tâm Thanh làm một "đối tượng". Nhưng tôi thông cảm với các Bạn thân mến của tôi. Khi chọn ứng viên, các bạn đã không xét tới giá trị tác phẩm (còn lâu mới tới phiên tôi), mà chỉ nghĩ chúng ta sắp chia tay vĩnh viễn. Tôi đang nằm bệnh viện khi viết những dòng này. Vâng, tôi bị ung thư tụy tạng trong thời ký tái phát. Từ hơn năm nay trên giường bệnh, tôi chỉ có một nỗ lực duy nhất: trở thành trẻ thơ để trở về với Thượng Đế. Tuy nhiên đôi khi tôi cũng suy nghĩ một chút về việc viết lách. Xin cho phép tôi nói ra tiêu chí văn chương của mình:

Bản chất văn chương là hư cấu. Khi viết tôi bịa đặt hoàn toàn; nhưng khi sống, tôi ráng không phản bội những điều mình viết, dù một chữ. Thả bút viết "tình yêu" mà trong lòng đầy oán hờn, tôi không làm được.

Một lần nữa, cảm tạ.”

Nhà văn Tâm Thanh ra đi, như một cánh chim vút qua. Nhưng tiếng kêu của chim còn rớt lại, và sẽ còn ở với cõi nhân gian lâu dài.

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

DĐTK


THANH TÂM - TÂM THANH

Tờ báo mạng Diễn Đàn Thế Kỷ này coi như là hậu thân của tạp chí Thế Kỷ 21 có đời sống 18 năm từ giữa năm 1989 đến giữa năm 2007. Nhà văn Tâm Thanh lần đầu đến với Thế Kỷ 21 là vào số Xuân Kỷ Mão 1999, lúc đó Phạm Phú Minh làm Chủ nhiệm và Vương Hữu Bột làm chủ bút. Truyện ngắn ra mắt là Thiện Cùi, kể chuyện hoạt động của nhóm sinh viên Việt Nam con em các gia đình tị nạn tại Na Uy. Chúng tôi quen biết nhau từ đó, trước là qua thư từ, bài vở, sau được gặp gỡ khi anh chị Ngô Thanh Tâm - Khánh Hà qua Mỹ chơi ghé thăm tòa soạn, hoặc ngược lại, anh chị em Thế Kỷ 21 qua ghé thăm anh chị tại Oslo, Na Uy. 


Tại nhà sách Văn Nghệ, Little Saigon khoảng năm 2000, từ trái: 
Nguyễn Hùng Vũ, Khánh Hà, Thanh Tâm, PP Minh.

Những đặc điểm của anh Ngô Thanh Tâm về cuộc đời, tính tình, sở học, văn tài v.v... được anh em bạn bè và gia đình đóng góp khá phong phú trong số này. Việc tập họp bài vở về một nhà văn mới qua đời, chúng tôi nghĩ không những đáp ứng về mặt tình cảm của những người thân, mà hy vọng còn là những tài liệu sơ khởi cho những nghiên cứu sâu hơn, xa hơn về sự nghiệp văn học cũng như bản lãnh của người cầm bút Tâm Thanh.


Tại Oslo năm 2005, từ trái: Frank-Trần Mộng Tú, Khánh Hà-Thanh Tâm.

Tháng 8 năm 2012 tôi đã tới Oslo và đã được Thanh Tâm-Khánh Hà đưa đi viếng thành phố trên chiếc xe Yaris của anh chị. Thanh Tâm đã ghi lại buổi ấy trong cuốn sách cuối cùng của anh, “Lệnh Triệu Ban Rồi”: “Hôm ấy hai anh em đứng trên đồi Hollmen nhìn xuống thành phố Oslo nhớ về trường xưa và Đà Lạt trong sương mù. Bạn ngại vì Oslo đón tiếp khách quý bằng cơn mưa bụi, nhưng anh Minh nói, mưa càng làm cho Oslo giống Đà Lạt của tụi mình hơn.” Một câu như thế kéo chúng tôi về ngôi trường mẹ năm xưa, Viện Đại Học Đà Lạt, khi Tâm và tôi đều học Đại học Sư phạm ban Triết, tôi khóa 3 và Tâm khóa 4. 


Trong vườn nhà Tâm-Hà, 2012, từ trái: Nguyễn Văn Thực, Song Chi, Bạch Yến, Khánh Hà, 

PP Minh, Kim Anh, Thanh Tâm.

Môn học ấy giúp cái học của chúng tôi giống cái học của tổ tiên hơn là ban khoa học và các ban khác; nghĩa là chúng tôi tối ngày chỉ lo nghiên cứu các tư tưởng của thánh hiền đông tây kim cổ. Và trong số các bạn học triết thời ấy, tôi thấy chỉ một mình Thanh Tâm là có dáng dấp một “hiền triết” suốt cuộc đời về sau của anh, qua các sáng tác văn học lẫn cung cách sống. Anh là người Công giáo, dứt khoát anh tin yêu một Đấng, là Chúa Giê-su. Nhưng anh vẫn “tìm sự hài hòa hơn nữa với các tôn giáo khác, đặc biệt Phật giáo” vì anh thích triết lý Phật giáo từ hồi đi học. Anh đã nhìn thấy các khái niệm Thượng Đế và Phật tính “tất cả được dung hợp”,  và “người tín đồ chân chính của Phật hay Chúa, bước lên một cảnh giới nào đó sẽ không coi việc bài xích tôn giáo khác là thước đo thành tựu của mình”.

Nhiều nhận định của anh, qua những câu văn đơn sơ, đối với tôi là chân lý, vì được nói ra bởi một người sống thật, chứng nghiệm thật, chứ không qua lăng kính của định kiến. Và tôi nghĩ tên của anh,  Thanh Tâm - một tấm lòng trong trẻo - là một cái tên tiền định cho phẩm chất đời sống của anh. Và cả bút hiệu của anh nữa, từ tên nói ngược thành Tâm Thanh - tiếng lòng - cũng rất xứng đáng: những gì anh viết ra sẽ là tiếng nói chân chính từ cõi lòng anh.

Thanh Tâm đã về trời. Nhưng tiếng lòng của Tâm Thanh vẫn còn mãi mãi với chúng ta.


Phạm Phú Minh


Chân Dung Một Cô Gái Việt Nam


Căn phòng nằm trên bờ con sông con Askerelva chảy qua trung tâm thủ đô Oslo. Qua cửa kính ra ban-công, Diễm nhìn những cây phong lá úa vàng soi bóng trên nước, tưởng tượng nếu đây là một căn phòng trong ký túc xá sinh viên, với người yêu bên cạnh, thì thơ mộng biết bao. Nhưng bây giờ trước mặt Cô là ông cảnh sát di trú và bên phải là mộtCô con gái, cỡ tuổi Diễm.

Cô xin tạm trú. Trước khi lên đây, một bà cảnh sát đã khám xét người và hành lý của cô. Bà muốn tìm biết cô gái thật sự là ai, tên tuổi thật là gì, nhà cửa thật ở đâu. Trong ba bốn năm gần đây, nẩy ra một hiện tượng mới là mỗi năm có vài chục người Việt Nam tới xin tạm trú tại Na-uy, không một người nào là... người thật. Báo chí Na-uy gọi họ là ingen person, tương đương với nobody,(Ngừời RƠM)

Diễm và các đồng nghiệp thông dịch viên dịch đùa từng chữ là ‘vô nhân’. Trong cái túi xách nhỏ, có hình hai bàn chân, bà cảnh sát chỉ moi ra được một cái quần tây, một áo thung, một xú-chiêng, hai xì líp, một tube kem và một bàn chải đánh Răng. Chân dung thật của cô gái không nằm trong cái túi xách.

Bây giờ Diễm dịch cho ông cảnh sát thẩm vấn.

“Cô tên gì?” ông cảnh sát hỏi, sau khi bật máy PC.

“Nguyễn Thị Vân.”

“Ngày sanh?”

“25.12.1988.”

“Như vậy là cô sanh vào lễ Giáng Sinh và năm nay cô 16 tuổi?” ông cảnh sát chiếu ánh mắt nghi ngờ trên cô gái ngồi trước mặt. Diễm đoán người đồng hương này nếu không già bằng Chúa Cứu Thế thì ít nhất phải hai mươi lăm tuổi. Nàng biết theo luật lệ hiện hành, trẻ vị thành niên được nhiều đoàn thể can thiệp và bảo vệ, và nếu được chấp thuận tị nạn thì có thể kéo thêm cha mẹ, em út. Nhưng Diễm đoán lầm về vụ kéo thêm cha mẹ:

“Tên cha?” ông cảnh sát hỏi tiếp.

“Nói chung... Tôi không có cha.”

“Tên mẹ?”

“Tôi không có mẹ.”

“Ít nhất cũng có một người sanh ra cô chớ?”

“Tôi mồ côi từ nhỏ, không biết gì cả...”

“Cô có giấy tờ gì không, như sổ thông hành, căn cước chẳng hạn?”

“Không.”

“Không có giấy thông hành, làm thế nào cô có thể đi ra khỏi Việt Nam, và qua bao nhiêu biên giới tới đây được?”

“Không biết. Người ta đưa tôi đi.”

“Người ta là ai?”

“Nói chung (nà) người giắt đi đấy.”

“Có khi nào họ đưa qua trạm kiểm soát biên giới không?”

“Tôi không biết đâu là biên giới.”

“Cô rời khỏi Việt Nam bao giờ?”

“Không nhớ.”

“Cô nói phỏng chừng cũng được,” ông vẫy vẫy những ngón tay như con chim bay “một năm, một tháng, hay một tuần?”

“Khoảng một tháng.”

“Cô nhớ đã đi qua một thành phố nào đặc biệt, ví dụ Paris, Berlin, Bắc Kinh?”

“Không nhớ. Không biết.”

Suốt hai tiếng đồng hồ với hàng trăm câu hỏi, người cảnh sát chỉ nhận được một câu trả lời rất ư thoải mái “không biết.” 
Chạm phải những lời nói dối quá xấc xược, ông đỏ gay mặt như người bị xúc phạm nặng, nhưng lấy lại bình tĩnh, gõ vào máy vài dữ kiện vu vơ.

Thấy hồ sơ sơ sài quá, ông ta cố gắng nhắc lại lần thứ ba một câu hỏi:

“Cô nói lại tôi nghe, cô từ Việt Nam tới Na-uy bằng phương tiện gì?”

Cô gái chắc đã được học tập kỹ, dư biết rằng ông cảnh sát muốn truy ra hãng máy bay chuyên chở để qui trách nhiệm, nên quay sang thông dịch viên nói:

“Chị lói với ( ló nà) em đi bộ từ Cao Bằng sang Trung Quốc đấy, dzồi từ Trung Quốc đi bộ sang Nga, từ

Nga sang đây bằng xe thùng đấy... 
Ðã lói mí ló dzồi mà cứ hỏi mãi thế!”

Diễm dịch lại câu nói, bỏ câu ‘chị lói với ló’ đi - vì nàng biết nó ngắn ngủi thế mà không tài nào dịch hết ý được. Ông cảnh sát ghi vào hồ sơ lời khai, chẳng cần biết đoạn đường từ Cao Bằng sang Nga dài bao nhiêu dậm, đi bộ mấy năm. Rồi ngẩng đầu lên hỏi theo đúng thủ tục:

“Cô muốn gì tại Na-uy?”

“Xin tị lạn.”

“Lý do tị nạn?”

“Nói chung nà ở Việt Nam đói quá.”

“Tại sao lại chọn Na-uy làm nơi tị nạn?”

“Nói chung nà nghe người ta bảo ở La-uy sướng thì trả tiền cho đường giây đưa đi.”

“Cô phải trả bao nhiêu tiền?”

“Lăm ngàn đô.”

“Số tiền này từ đâu cô có, nếu cô đói?”

“Có cái ông gần nhà thấy tôi khổ thương hại cho tiền đi.”

“Ông ấy tên gì?”

“Không biết.”

“Ðịa chỉ?”

“Bên cạnh nhà tôi.”

“Hồi nãy cô nói vô gia cư, từ nhỏ sống ở ngoài đường?”

“Thì ở gần nhau ngoài đường.”

Diễm nghĩ bụng nếu có một nơi mà người vô gia cư có nhiều tiền như thế và hảo tâm như thế nhất định nàng sẽ tới đó xin tị nạn. Nhưng ông ta khoanh tay, ngả lưng ra đằng sau như muốn thư dãn, rồi bấm nút ‘print’ vào máy PC.

Bên ngoài ban-công một con bồ câu đáp xuống, thấy bóng nhiều người, lại bay đi.

Ông cảnh sát đưa cô gái xuống phòng căn cước dưới tầng trệt để chụp hình, lăn tay, làm thẻ căn cước tạm.

Diễm cũng là dân tị nạn - mệnh danh là ‘thế hệ thứ hai.’ 
Thấy cảnh này, Diễm nhớ lại những câu chuyện gian truân, bi hài mà ‘thế hệ thứ nhất,’ cha mẹ nàng, kể về chuyến vượt biên hai mươi sáu năm về trước, lúc nàng chưa sanh ra. 
Nhiều người hỏi tại sao phải liều mạng như vậy?

Cha mẹ có một câu trả lời khá đặc biệt, tương đối khiêm nhường hơn phần đông - khát khao tìm một mảnh đất có thể lương thiện mà sống. Ông bà đã tìm được một mảnh đất như thế và sanh ra Diễm trên mảnh đất như thế. Diễm thừa hưởng tấm lương thiện như suối nhận nước mạch từ đỉnh núi cao tinh tuyền.

Diễm không biết nói dối - gần như. Nói ‘gần như’ là để trừ những lần như mẹ hỏi có bồ chưa nói chưa, bố hỏi mua cái cà-vạt cho bố bao nhiêu nói nửa giá, bạn trai hỏi em giận cái gì, nói không có gì cả...

Ông cảnh sát cầm từng ngón tay của cô gái lăn trên tấm kính đục, khi hình dấu tay hiện rõ nét và đầy đủ trên màn ảnh máy vi tính, với tín hiệu ‘Ready’, ông nhấn bàn đạp. Diễm nhìn những ngón tay thon khá đẹp của cô gái, tự hỏi tại sao cô có thể nói dối một cách tự nhiên như thế. Và Diễm cảm thấy một nỗi chán nản xen lẫn hổ thẹn về người cùng màu da.

Một chiều đầu mùa đông. Trận tuyết đầu tiên trong thành phố khiến đường xá hỗn loạn vì tai nạn xe cộ. Diễm rút trong cặp đi làm ra tờ báo cũ đọc lại, cho qua thời gian trôi rất nhanh mà xe buýt chạy rất chậm, và bụng bắt đầu đoi đói. Tin có nghi vấn ông Arafat chết vì bị đầu độc; tin tuyết lở ở Miền Tây khiến 60 chiếc xe bị kẹt giữa đường; tin cảnh sát bắt được chín người trong một băng ăn cắp toàn người Việt Nam, hoành hành từ nhiều năm trên toàn quốc. Số thiệt hại cho các cửa tiệm lên đến nhiều chục triệu. Các mặt hàng được băng đảng này ưa chuộng là dao cạo Gillette, mỹ phẩm L’Oréal, nhất là thuốc quệt lông mày và tô mắt, có cả dầu cá. Chưa bắt được người đầu sỏ của tổ chức, nhưng trong số những người bị bắt có một người đàn bà tạm trú can dự vào 19 vụ có tang chứng, người này đã có bốn tiền án ăn cắp. Chuông điện thoại reo. Cảnh sát di trú cần Diễm đi thông dịch gấp. Cảnh sát hẹn mang xe đón đường xe buýt để rước Diễm đi ngay. Diễm moi gói bánh mì ăn dở ra ăn; nếu không bị kẹt xe, giờ này nàng đang ăn cơm với cha mẹ ở nhà,  mẹ nói hôm nay sẽ làm món canh bí rợ.

Cô cảnh sát di trú mặc thường phục chiều nay sẽ gặp một người đàn bà trong tù để thông báo lệnh trục xuất. Khi người tù xuất hiện trước cửa phòng tiếp khách, Diễm thấy mặt quen quen. Người thiếu phụ nặng nề ngồi xuống ghế bành, một tay đặt lên bụng lớn. Diễm để ý đến sự kiện nhỏ là trong căn phòng bây giờ có ba người đàn bà. Cô cảnh sát tự giới thiệu xong, mỉm cười hỏi cô tù, Diễm dịch lại:

“Cô khỏe không?”

“Khỏe.”

“Bao giờ sanh?”

“Hai tháng nữa.”

Cô hắng giặng:

“Hôm nay tôi đến đây để nói về một việc khác, không liên quan gì tới việc trộm cắp,” 
cô cảnh sát nói trong khi mở một cái kẹp hồ sơ bằng nhựa trong, lấy ra một tờ giấy.
“Tôi đến để báo cho cô biết về lệnh trục xuất.”

Người thiếu phụ mang bầu mặt không biến sắc, bàn tay vẫn để trên bụng, cánh tay kia vẫn để xuôi theo đùi trên ghế da. Cô cảnh sát đưa cho Diễm tờ quyết định của bộ Nội Vụ, bảo dịch miệng cho đương sự.

Diễm dịch xong, đưa tờ giấy cho người con gái tên Vân ký tên. Bây giờ nàng đã nhớ ra đây là cô gái xin tạm trú vào đầu mùa thu. Nàng nhớ ra bàn tay đang đặt trên bụng kia đúng là bàn tay đẹp đặt trên tấm kính mờ để lấy dấu. Bàn tay táy máy trong bốn tháng nay làm điêu đứng các siêu thị và cửa hàng khắp nước. Lại cùng một cảm giác gờm nhớm len vào lòng Diễm.

Cô cảnh sát cất tờ quyết định vào kẹp. Lấy một tờ giấy khác, cầm bút như sẵn sàng ghi chép.

“Xin cô nghe đây,” cô cảnh sát mở đề cho một cuộc thẩm vấn cuối cùng. 
“Cô không đủ lý do xin tị nạn, cộng thêm việc phạm pháp, 
cô không có con đường nào khác ngoài đường trở về nơi cô đã ra đi.”

“Thế thì trả tôi về Ðức.”

“Tại sao lại Ðức? Cô đi từ Việt Nam mà!”

“Tôi từ bên Ðức sang...”

“Trong hai lần thẩm vấn trước đây cô nói từ Việt Nam, đi bộ sang Trung Quốc rồi sang Nga. Bây giờ lại nói từ Ðức sang. Lời nào là thật?”

“Cái thai lày của một thằng Ðức.”

“Nhiều lần chúng tôi đã hỏi cha của thai nhi là ai, cô đều nói là không biết.”

“Không biết... thật đấy. Nói chung nà đêm không thấy mặt.”

“Dù cô không biết gì hết, không biết mặt người ngủ chung, không biết mình là ai, không biết cha mẹ là ai, không biết từ đâu tới, chúng tôi vẫn có cách tìm ra cô là ai. 
Và chúng tôi sẽ liên lạc với tòa đại sứ Việt Nam cấp giấy cho cô về Việt Nam.”

“Lói thật cũng chết, lói dối cũng chết...” người tù nói nhanh, 
rồi lại vội nói “Chị đừng dịch cho ló nghe nhá!”

“Cô ấy nói gì?” thấy Diễm không dịch câu nói của người đối thoại, cô cảnh sát hỏi.

“Cô ấy đổi ý, không muốn tôi dịch câu vừa nói.”

Cô cảnh sát nhỏ giọng nói với người đàn bà mang thai:

“Xin cô cộng tác với chúng tôi để tiến hành cho sớm việc hồi hương, tránh cho em bé khỏi sanh ra trong tù.”

“Tôi cũng không muốn sanh con trong tù...”

“Vậy tên thật cô là gì? Ðịa chỉ?...”

Người tạm gọi là ‘Vân’ không trả lời. Diễm bỗng thấy nét mặt của Vân mềm ra, như có một lớp sáp vừa tan để lộ cảm giác - khuôn mặt của một con người. Bất cứ tên tuổi cô là gì, đây là một người mẹ. 
Người mẹ đặt cả hai tay lên bụng, cúi xuống lẩm bẩm:

“Con tôi sinh trong tù à?”

Rồi im lặng. Diễm cảm thấy xót xa trong lòng. Cảm giác gờm nhớm từ bốn tháng nay biến thành một cảm giác ân hận.

Diễm nghĩ đến thân phận chính mình - sở dĩ mình sống nhởn nhơ được, buổi sáng đứng bán nhà thuốc tây, buổi chiều đi nhảy aerobic, lâu lâu đi thông dịch lấy ngoại tài mua son phấn không cần ăn cắp... là vì cha mẹ mình đã chọn được con đường đúng ý nguyện: tới một nơi có thể lương thiện mà sống được.

Không, không phải cha mẹ chọn. Ðó là Trời ban. Ba chục năm nay, bây giờ ‘Kho Trời’ đã khóa. 
Nếu cha mẹ nàng chậm chân, không chừng giờ này Diễm cũng là một người mở miệng bằng câu không biết, và không từ làm bất cứ việc gì để sinh tồn.

Lợi dụng lúc cô cảnh sát nói chuyện với bà gác tù, Diễm phá chút qui củ thông dịch, đưa tay bắt bàn tay mềm và ẩm của Vân, chúc may mắn và ai ủi vài câu. Vân tỏ ra cảm động. Cuối cùng, 
nghĩ tới mai mốt Vân lên máy bay về Việt Nam, Diễm ái ngại hỏi:

“Liệu người lương thiện có sống được ở Việt Nam không?”

“Nương thiện nà cái gì?”

 

Tâm Thanh (Na Uy)


Đầu trang