tản văn Nguyễn Xuân Hưng

Tác phẩm, chia sẻ tư liệu...v.v

vannhan.vv.googlepages.com


"Gate, gate, pàragate pàrasamgate bodhi sàhà"


giới thiệu Hãng phim Hội Nhà vănbút ký
truyện ngắn
tiểu thuyết
chuyện làm phim
Liên Hệ

trang chủ

mục lục:chuyển mùa/câù thang máy/làn sóng hoa đào/lại chuyện số nhà/bên phải bên trái/sức ép/báo tường/thư ngỏ sẽ gửi Chủ tịch Hà Nội/Người Việt Nam truy cập web để làm gì?/Mũ đi xe chính luận/Chuyện thăng chức/Tiếng cha ôngKỳ nghiêm hồ//Chuyện đàn bà//Bệnh "hoắng"//Ai chịu trách nhiệm với Thủ đô?//bệnh háo danh//Thời tiết trái mùaThư Quảng Châu-//-Việc nhỏ việc lớn-//-Ngâu sớm// Chính danh// Ngẫm ngợi sau mưa


Hầu hết tản văn trong này là viết theo đặt hàng của mục "dưới đèn" của báo Hải quan chủ nhật. Nhà báo Kim Oanh và nay là Hà Phương, Yến Thu đã đặt tôi...



Đơn xin vào Đội thiếu niên tiền phong

Đứa con gái của tôi học lớp 3 trường Phường, giống như tôi học lớp 3 trường làng ngày xưa. Hôm nay nó ngồi một lúc viết lách gì đó rồi bảo: Khó quá, nhưng con vẫn viết được. Đó là cái “đơn xin vào Đội thiếu niên tiền phong”. Vừa buông bút, nó hỏi: “Điều lệ là gì nhỉ? Và “nghiên cứu” là gì?”
Mẹ nó hỏi: “Con lại học lại bài làm đơn từ à?”
Nó bảo: “Không ạ, con phải làm đơn thật cơ”
Nó đưa cho mẹ nó tờ đơn. Mẹ nó đọc: “Kính gửi… Sau khi nghiên cứu điều lệ Đội Thiếu niên tiền phong, em đề nghị xin vào Đội…” vân vân và vân vân.
Mẹ kêu lên: “Con làm gì thế?”
“Cô giáo bảo con và các bạn đều phải viết đơn xin vào Đội thiếu niên”
“Con không hiểu con viết gì, sao lại viết thế?”
“Nhưng cô giáo bảo phải viết thế”
“Thế con đã biết Điều lệ Đội thiếu niên chưa?”
“Cô giáo bảo cứ viết đơn đi”
“Thế con có thích làm Đội viên không?”
“Con thấy các anh chị đeo khăn quàng đỏ, cũng thấy thích”
“Vì sao?”
“Vì đi sinh hoạt, học hát, rồi làm nhiều việc…”
Mẹ nó bèn giải thích cho nó “nghiên cứu” là gì, “điều lệ” là gì. Nghiên cứu chính là việc đọc bản điều lệ. Điều lệ chính là một quy định rằng con phải làm gì, thậm chí không được làm gì khi vào Đội. Mẹ nó tức lắm: Trẻ con mà nào là “nghiên cứu”, nào là “đề nghị”…
Cuối cùng, mẹ con bé nhà tôi hướng dẫn con viết đơn, câu đầu tiên là: “Mặc dù chưa biết đến Điều lệ Đội thiếu niên tiền phong, nhưng em vẫn làm đơn này xin gia nhập Chi đội thiếu niên tiền phong Trường ABC vì em thấy các bạn vào đội đều ngoan hơn, học giỏi hơn…” vân vân.
Con bé vẫn phân vân: “Liệu cô giáo có mắng không và con có được vào đội không?”
Tôi bèn bảo: “Con không sợ cô giáo mắng, vì con cứ bảo bố mẹ em bảo chỉ khi viết những chữ mà mình hiểu rõ và viết thật. Đơn từ càng phải viết thật lòng. Còn nếu con chưa được vào Đội kỳ này thì sau khi con đọc hiểu Điều lệ thật sự, con thấy con làm được như Điều lệ, thì con sẽ viết như cô giáo hướng dẫn”.
Tôi buồn một chút. Cô giáo con tôi có thể rất vô tình, bởi vì mọi cô giáo khác cũng làm thế, trường nào cũng làm thế. Một động tác tưởng như rất nhỏ nhặt và không đâu. Nhưng đó là môi trường giáo dục cơ mà, nó sẽ vẽ những nét ấn tượng đầu tiên vào trí óc nhận thức non nớt trắng tinh của con trẻ. Gọi tên nó là gì? Hỡi ôi, hồi xưa tôi học trường làng, bỗng một hôm cô giáo nói ngày mai các em bảo bố mẹ sắm khăn quàng và tất cả chúng ta là đội viên, bọn chúng tôi reo ầm lên. Thế mới biết thời đại ấy cách đây 40 năm đơn sơ, hồn nhiên và vui thú biết chừng nào. Con cái mình sau 40 năm có thể gọi là đã được hưởng một nền giáo dục lạc hậu biết chừng nào.

về đầu trang

Ngẫm ngợi sau mưa
Có mấy điều rút ra trong cơn mưa:
-Đầu tiên là tại thoát nước. Nước rút không kịp nên ngập. Cái kiểu lấp những dòng sông cũ rồi thay vào đó hai ống thoát song song là phi khoa học. Sao không làm một đường thoát to, có tiết diện bằng tổng hai cái ống song song kia? Chưa chắc đã phải là không có kinh phí?
-Sau khi mưa lâu rồi, ngập là do trũng. Bây giờ anh thoát nước không còn tội nữa, mà là do anh quy hoạch và xây dựng. Có đê nhé, có hồ điều hoà nhé, có trạm bơm công suất lớn nhé. Vậy tại sao vẫn ngập?
-Chính quyền thành phố để mặc dân chống chọi với lụt. Sao không thông báo trên đài truyền hình khu nào ngập, sao lực lượng ứng cứu không ngăn chặn từ xa để chỉ đưòng, khiến cho hàng loạt ô tô, xe máy bị hỏng. Sao cứu hộ vật vờ? Nghiêm trọng nhất là người bị chết. Chết không ít hơn một trận động đất 7độ Rich-te ở Nhật Bản.
Có mấy điều rút ra sau cơn mưa:
-Bạn hãy lập bản đồ bình địa Hà Nội, đánh dấu những khu vực ngập nước tương ứng với cơn mưa bao nhiêu milimet, sẽ bán được đấy. Khách hành đầu tiên là người mua bán nhà đất. Nhà đất ở khu ngập nước sẽ xuống giá ghê lắm.
-Chính quyền thành phố, thay cho việc từ chức, việc đó quá lớn và chưa có tiền lệ ở nước ta, thì hãy lập một đoàn nghiên cứu nghiêm túc sang Hà Lan, hỏi họ tại sao họ sống yên ổn dưới mực nước biển mà kinh tế xã hội cứ phát triển.
-Có lẽ nghiêm túc xem xét lại việc mở rộng thủ đô. Bởi vì trong những cơn mưa to như thế này, cán bộ thành phố đi chống lụt, kiểm tra đê ở ngoại thành thích hơn, vì đi trên đê thì dễ dàng hơn đi trong thành phố. Mà ngoại thành rộng lớn thì bao nhiêu cán bộ cũng không kiểm tra đủ.
-Hồi xưa, đọc tiểu thuyết “Những người khốn khổ” của ông Huy -g ô, cứ thắc mắc sao nước Pháp thế kỷ 18 mà xây dựng thành phố, lại làm những hệ thống thoát nước hoành tráng thế, để đến nỗi đang tả Giăng Van Giăng đi trốn, ông nhà văn này lại để hàng chục trang tả hệ thống cống rãnh Pari, người ta tổ chức vũ hội và phóng xe ở dưới ấy đuợc. Bây giờ sau mưa Hà Nội mới hiểu tại sao lại thế…

về đầu trang

Chính danh

Tuần này, có một vấn đề cứ ám ảnh tôi mãi, đó là câu nói: Chính danh.
Khổng tử được học trò hỏi: Nếu thày là vua, việc đầu tiên thày làm gì? Khổng tử đáp: Phải chính danh. Ngữ cảnh và điều kiện có thể hơi khác so với nguyên bản tôi nhớ trong sách Luận Ngữ. Nhưng có một cốt lõi vấn đề, đó là lý luận “chính danh” là một trụ cột quan trọng trong tư tưởng của Khổng Tử khuyên các bậc chính nhân quân tử, thi tu thân, tề gia, trị nước, bình thiên hạ.
Tại sao phải chính danh? Có lẽ vì người ta có danh mà chả làm đúng cái danh ấy. Xã hội qua một thời trị vì của các bậc vua quan (ngày xưa) hoặc được quản lý của cán bộ nhà nước (thời hiện đại) thì do nhiều nguyên nhân không còn tề chỉnh nữa, không còn kỷ cương và lành mạnh nữa. Khổng tử cách đây 2000 năm đã nhìn thấy nguyên nhân cơ bản là từ con người, và khuyên con người hãy bắt đầu từ “chính danh”, sao cho danh phận thống nhất, hay diễn giải là làm đúng chức phận của mình.
Nước ta, nền giáo dục có thành tựu lớn góp phần đào tạo ra những tài năng, một thế hệ đánh thắng giặc ngoại xâm, rồi bỗng đến một ngày, đến Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng phải kêu lên: Phải làm cho “trường ra trường, lớp ra lớp, thày ra thày, trò ra trò”. Ngẫm kỹ thì thời đó trường lớp bắt đầu không ra trường lớp, thày trò cũng bắt đầu không ra thày trò, nghĩa lý đã thiên lệch đi khá nhiều. Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhất định là người am hiểu Nho học, ông nói thế, nói một nhưng cấp dưới chưa hiểu đến một đấy thôi. Như vậy có nghĩa là ông đã tự phê rồi, tức là những anh quản lý giáo dục cũng chả ra quản lý giáo dục nữa thì nó mới ra như vậy chứ?
Hôm vừa rồi tôi có việc đến tìm đảng uỷ phường một phường ngay ở Hà Nội. Văn phòng trống trơn, hỏi thì được trả lời rằng cô trực văn phòng có việc đi đâu đó lên quận. Nếu không qua cửa cô trực văn phòng thì chuyện gì các anh phó bí thư, bí thư cũng không tiếp được. Hẹn anh ngày ấy giờ ấy quay lại. Thế có nghĩa là cô trực văn phòng coi cái văn phòng đảng uỷ phường là nhà cô ấy và các bác bí thư, phó bí thư cũng coi cái cơ quan này giống như họ tộc nhà các bác. Ngồi vào cái ghế trực, thì có nghĩa là phải trực, còn khi đi đâu đó thì phải có người thay chứ? Có cô trực là vì có cái ghế trực, chứ không phải là ngược lại. Thành ra, cả một bộ máy phường hàng mấy chục người, động đến có cái việc bé con con là không thông, ách tắc ngay. Ngày xưa, một ông lý trưởng với một cái tay thước, một tráp triện mà mọi việc cứ hanh thông, so sánh hơi khập khiễng, nhưng phải nhận rằng lý trưởng ngày xưa họ thấm nhuần thuyết “chính danh” lắm. Không nói ở phường, cấp tỉnh cũng vậy. Đoàn nhà văn chúng tôi hẹn Phó chủ tịch tỉnh đến làm việc. Đến nơi thì hỏi ai cũng bảo các anh chờ, Phó chủ tịch đang họp. Chúng tôi hỏi phải chờ ở đâu, thì tất cả nhân viên văn phòng đều nói không biết. Chánh văn phòng một phòng rộng, phó văn phòng một phòng rộng, nhân viên mấy phòng rộng, nhưng không tiếp khách, chỉ vì phó chủ tịch không thấy bảo gì. Chỉ một mực hỏi khách: Các bác đến xin gì? Hoá ra cán bộ văn phòng uỷ ban tỉnh quen thấy người dân đến cửa công đường là “xin gì” hoặc kiện tụng gì cũng thực ra là “xin công bằng”, ngoài ra là khách “cho gì”. Nếu là trung ương xuống, cấp trên đến thì tức là phải tiếp vì “cho gì”. Hoặc doanh nghiệp đến thì cũng hơi chờn, vì còn có thể ủng hộ tỉnh quỹ khuyến học, quỹ từ thiện… Còn chúng tôi là đối tác đàng hoàng thì không thuộc loại ấy. Cả một bộ máy văn phòng to lớn, tiêu pha tiền thuế của dân xây cất trụ sở, nuôi nhân viên bằng lương ngân sách, nhưng lại cho rằng việc tiếp khách của Phó chủ tịch là không phải của mình, chỉ vì không thấy ông ấy đang họp và không có lịch. Thế cho nên, nếu Thủ tướng Phạm Văn Đồng còn sống, ông sẽ bảo: Uỷ ban phải ra uỷ ban, đảng uỷ phải ra đảng uỷ… Còn nếu Khổng tử mà biết, sẽ bảo: Sao có mỗi việc chính danh mà khó đến thế.
Chỉ mỗi việc trực văn phòng đã nhiêu khê thế, còn các việc lớn lao, quan trọng khác thì thế nào?

về đầu trang
Thư ngỏ gửi Chủ tịch Thành phố Hà Nội: “Nên dựng tượng vua Lý Thánh tôn tại vườn hoa nền cũ tháp Báo Thiên”


Kính gửi ông Chủ tịch Thành phố Hà Nội.
Tôi là Nguyễn Xuân Hưng, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, tôi rất đồng tình với việc UBND Thành phố Hà Nội cho xây dựng vườn hoa tại địa điểm 42 Nhà Chung. Tôi xin góp một ý kiến nhỏ với ông Chủ tịch: Nên dựng tượng vua Lý Thành tôn tại khu vực vườn hoa này vì nhiều lý do như sau:
-Theo thư tịch cổ, khu vực hiện tại được xây dựng vườn hoa ở phố Nhà Chung, chính là khu vực xưa kia toạ lạc chùa Báo Thiên và Tháp Báo Thiên, một công trình kiến trúc lớn gắn liền với công lao của vua Lý Thánh tôn. Sử liệu cũ cho biết, vào năm Bính Thân (1056), vua Lý Thánh tôn cho xây dựng chùa Báo Thiên, năm sau, trong quần thể chùa Báo Thiên, lại cho xây dựng ngọn tháp Đại Thắng Tư Thiên (hay cũng còn gọi là tháp Báo Thiên). Tháp này 12 tầng, cao 30 trượng (khoảng 60-80 mét), là công trình kiến trúc to lớn nhất đương thời. -Tháp và chùa Báo Thiên từng là niềm tự hào dân tộc, là một trong những công trình mà vị vua khai sáng Lý Thánh tôn là người “kiến trúc sư tinh thần”. Bên cạnh những công trình còn lại thời vua Lý Thánh tôn như Quốc Tử giám, chùa Trấn Quốc ( khai sinh Thiền phái Thảo Đường), một số di vật chùa Phật tích… thì tháp Báo Thiên chỉ còn lại trong hoài niệm niềm tự hào về “tứ đại khí”, bốn bảo vật vĩ đại thời nhà Lý (Tháp Báo Thiên, Tượng Di Lặc, Chuông Quy Điền, Vạc Phổ Minh).
-Về chiều cao tháp Báo Thiên, có thể hình dung mức độ đồ sộ qua sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, vào năm 1427, vua Lê Thái Tổ tiến quân đến bờ bắc sông Hồng, đối diện với thành Đông Quan, đã làm một cái tháp tại dinh Bồ Đề, có chiều cao bằng tháp Báo Thiên để hàng ngày quan sát thành Đông Đô, còn quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi thì ngồi dưới 1 tầng. Theo các danh sĩ Thăng Long thế kỷ 18 là Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, thì tháp và chùa Báo Thiên bị Vương Thông phá huỷ, lấy vật liệu chế súng đồng để giữ thành (Dĩ nhiên số phận kẻ xâm lược phá bảo vật của nhà Lý đã có kết cục thảm hại, sau này những kẻ xâm lược đụng vào cổ tích Báo Thiên cũng có kết cục như vậy)
-Có nhiều ý kiến đề nghị phục dựng Tháp Báo Thiên, nhưng tôi cho rằng, việc phục dựng tháp Báo Thiên gặp rất nhiều khó khăn, vì không có thư tịch về hình ảnh tháp cũ, vả lại tháp phải nằm trong quần thể chùa chiền như nó vốn có thì mới có ý nghĩa. Song, mảnh đất khu vực nền tháp thì vẫn là “linh địa” chứng kiến thời huy hoàng của một triều đại khai sáng, niềm tự hào dân tộc. Theo các nhà nghiên cứu, tháp Báo Thiên với ý nghĩa là nhận được/giao hoà với những suy tư lớn của chư Thiên, mong được Trời Phật gia hộ cho đất nước phồn vinh, dân tộc hạnh phúc trường tồn.
-Ngôi tháp Báo Thiên gắn liền với triều đại huy hoàng của vua Lý Thánh tôn, vị vua mở mang đất phương Nam, vị vua trí tuệ tôn sư trọng đạo, vừa khuyến khích đưa đạo vào đời, lập nên Thiền phái Thảo Đường, vừa cổ vũ tri thức, bảo trợ Nho giáo, cho xây Văn Miếu. Đó là vị vua anh hùng dân tộc có công lớn cho việc phát triển Thăng Long Hà Nội và ghi dấu ấn vào việc phục hưng dân tộc. Do vậy, tôi đề nghị ông Chủ tịch Thành phố Hà Nội dựng tại nền đất cũ của Tháp Báo Thiên pho tượng vua Lý Thánh tôn. Nơi đây là nơi phù hợp nhất hội đủ yếu tố tâm linh và phong thuỷ để tưởng nhớ vua Lý Thánh tôn, cũng là một nghĩa cử đón chào lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long –Hà Nội.

về đầu trang

Ngâu sớm
Mùa hè năm nay mưa nhiều, nắng nóng ít. Ngay ngày rằm tháng Năm ta, Hà Nội có cơn mưa cực lớn. Rồi lai rai một tháng nay, ít có ngày nắng căng. Chiều đến, tiết trời dịu lại, mây đến đen một góc trời. Và mưa sụt sùi trong ánh đèn đường... Có lẽ năm nay có một mùa hè mát mẻ, hoặc là mùa ngâu sớm chăng?
Trời đất đôi khi cũng có những thời khắc bất thường. Quy luật chính là không quy luật. Cái “vô thường” trong lý lẽ của Phật Thích ca mâu ni có dịp chứng giám ngay trong mùa hè ngâu sớm này. Người ở Hà Nội bỗng nhớ chiều mùa mưa Sài Gòn, dường như khoảng cách vài ngàn kilômét bỗng rút ngắn lại trong cơn mưa tối. Ngâu trong hè miền Bắc, ngâu trong không khí mùa mưa phương Nam. Sao lại có những thời khắc lạ lùng như thế?
Tôi nhớ những ngày hè đã xa... Thị trấn miền Đông Bắc bên sông Kinh Thày thật êm đềm. Mùa này mưa thường rất to, rất nhanh, rồi mối bay ra loạn rối cả một góc trời ven sông. Vườn vừa được rửa sạch lá tươi non như mới. Nước chảy thành rãnh tuôn từ trên đồi xuống hướng sông, bao giờ cũng bắt được vài ba chú cá rô đang rạch lên quăng mình tung tẩy trong vườn. Tuổi thơ của chúng tôi thấm đẫm những cơn mưa màu hạ tưới tắm vườn nhà, núi một bên, sông một bên, tôm cua ốc ếch với dế với mối vui vầy hỉ hả...
Bây giờ, có hôm những đứa trẻ đến nhà tôi đứng trên ban công nhìn mưa rơi đan thành thảm nước bao phủ lấy những mái nhà nhấp nhô phố phường. Bỗng một đứa nói: “Mưa muộn thế này may quá không tắc đường”. Một đưa khác nói: “Mưa thế này cũng may, để xe ở vỉa hè không bị các bác ấy nhắc nhở”...
Từ lúc đó, trận mưa trước mắt tôi không còn mấy thi vị, nó cũng có màu sắc thực dụng của ngày hiện tại. Nó là con thuyền vô hình chở ký ức của con người mà thôi. Mấy đứa trẻ kia, mai sau chúng cũng sẽ nhớ cơn mưa, nhưng là một nỗi nhớ khác. Biết đâu, đến thời chúng bằng tuổi tôi, chúng nó được sống với một thành phố Hà Nội khác văn minh hiện đại, không có bóng xe máy nào, có ô tô và tàu điện trên cao, có tàu điện ngầm và những ô phố quy hoạch gọn gàng... Chắc khi đó, có trận mưa nào, chúng sẽ kể cho con cháu chúng nỗi ám ảnh về một thời mưa thành phố cũ. Đó cũng là kỷ niệm. Biết đâu nó cũng tươi đẹp không kém ký ức mưa mùa hè đầy vườn đồi, cá rô sông và tôm cua ốc ếch của tôi?
Ngồi ngắm nhìn mưa rơi, đừng nghĩ bạn không làm gì cả. Thời gian lặng lẽ nhưng cuộc đời không bình lặng, phải không?

về đầu trang

Việc nhỏ việc lớn

Dễ thấy rằng, một vấn đề nan giải ở Việt Nam là khi ra đường, chúng ta trông thấy nhiều công an, nhưng khi có vụ việc xảy ra, thì việc giải quyết rất chậm trễ, hoặc không có ai giải quyết cả.
Báo chí tuần vừa qua đã kể những chuyện bi hài trong và sau cơn mưa “kỷ lục 10 năm” ở điểm nút giao thông Chùa Bộc. Cả một rừng người đứng bất động trong mưa, dầm chân trong nước ngập nửa bánh xe vì ách tắc xe cộ. Công an đứng gần đó cũng bất lực nhìn. Cuối cùng, có một cô gái đội mũ bảo hiểm, xăm xăm đi lại, hô hào người này người kia, tự giải quyết mở một lối đi, dần dần các xe máy thoát ra được.
Tuần qua, anh bạn tôi đi trân đường Năm, thấy một chiếc xe chở nước ngọt bị đổ, chắn ngang đường, bị tắc đường một đoạn dài, nhưng sau gần hai giờ đồng hồ mới thấy lực lượng công an đến, dĩ nhiên đoạn đường đó lại tắc một vài giờ nữa.
Ông Đồ Khắc Cần, đạo diễn điện ảnh của Hãng phim Châu Giang, thành phố Quảng Châu, vừa qua kể cho tôi nghe câu chuyện vui. Ông Đồ đi ô tô từ Thâm Quyến về Quảng Châu, đi trong đêm. Khi về đến Quảng Châu, sau mấy giờ đồng hồ thì thấy một cái tin báo của cảnh sát, rằng ông đã đi quá tốc độ, sẽ bị phạt bao nhiêu bao nhiêu. Ông Đồ vội vàng đi nộp tiền phạt ngay. Tôi hỏi: Sao ông phải vội như vậy? Mà ai biết ông đi trong đêm lại quá tốc độ? Ông Đồ nói: Camera cảnh sát gắn trên đường, nếu đi quá tốc độ nó mới tự động ghi, điều này không thể cãi được. Còn nếu sau khi có giấy báo, không đến nộp ngay, quá thời gian quy định, cảnh sát sẽ thông báo trên tivi phải nộp thêm phí phát sóng tivi nữa.
Đi trên thành phố, qua các điểm giao cắt đồng mức, vẫn thấy lực lượng mặc đồng phục (nhưng không phải cảnh sát hay công an) cầm cờ đỏ chỉ đường, giữ trật tự cho người đi bộ. Hổi ra mới biết, đó là những người bảo vệ ở các công sở lân cận điểm nút giao thông đó. Mỗi điểm nút giao cắt, coi như trách nhiệm giữ giao thông được giao cho các công sở quanh đó. Họ phải họp nhau lại, lên lịch để thay nhau trực vào giờ cao điểm. Làm bảo vệ ở một công sở, một khu chung cư hay một cơ quan, bao giờ anh cũng có một nhiệm vụ trên vai, đó là giữ trật tự giao thông của nút giao thông gần nhất.
Cùng một vấn đề, mà cách giải quyết công việc khác nhau, dẫn đến kết quả khác hẳn nhau. Cái kết quả ấy không chỉ có lợi cho chính nó, việc giải quyết giao thông không chỉ mang lại cho giao thông thông suốt, mà nó tác động vào tâm lý con người, xây dựng niềm tin vào lực lượng công quyền, làm cho xã hội kỷ cương, văn minh.
Việc ông Đồ mang tiền nộp phạt ngay, không chỉ đơn thuần là nhanh hay chậm. Ông Đồ rất tin tưởng ở cảnh sát, tâm phục khẩu phục. Đồng tiền nhanh vào két của nhà nước, khác hẳn đồng tiền một tháng sau mới vào két. Một lượng lớn tiền phạt nhanh chóng quay vòng khác hẳn với lượng tiền sau nhiều ngày sau mới thu được. Đó là ý nghĩ kinh tế lớn, từ một việc làm nhỏ của xã hội có kỷ cương.
Sự việc xảy ra ở một điểm ách tắc giao thông là rất nhỏ, nhưng nếu nhà chức trách suy nghĩ thấu đáo về nó, thì cứ từng việc nhỏ đó giải quyết được, sẽ được một việc lớn lắm. Xã hội kỷ cương vận hành tương tự một cơ thể khoẻ mạnh. Khi ta ngủ, nghỉ thì các cơ quan nội tạng vẫn làm việc đấy chứ. Dù cho đêm khuya hay mưa gió, vẫn phải có một cơ chế nào đó vận hành xã hội cho kỷ cương chứ. Sao lại có thể lấy lý do mưa to hay đêm khuya mà việc quản lý xã hội buông ra được? Ông Đồ chạy xe trong đêm vẫn bị cái kỷ cương cột chặt lại. Tôi đã ở Quảng Châu sau động đất, mưa cực to nhiều ngày sau động đất, vẫn không thấy ách tắc xe cộ vì lụt lội ở đâu cả.

về đầu trang

Thư Quảng Châu



Anh bạn tôi gửi email cho tôi, ngẫm dưới đèn thấy những điều anh ấy viết có thể gợi cho bạn đọc đôi điều, tôi trích ra đây thư của bạn tôi:
“Mình lại đến Quảng Châu sau hơn mươi năm xa, thấy thành phố này biến đổi khá nhiều. Bỗng nhiên nhớ về Hà Nội.
Hồi xưa, Quảng Châu cũng đầy chặt xe gắn máy, vậy mà bây giờ không thấy một bóng xe máy nào. Khu vực trung tâm và các cửa ô, đường tầng tầng lớp lớp. Đường nhiều làn, nhiều tầng. Cái gọi là “giao cắt lập thể” mà các ông giao thông ở ta thường gọi, chỉ những ngã tư cầu vượt như Ngã tư Vọng, Ngã tư Sở, còn ở đây, “lập thể” đến năm sáu tầng đường, tầng đường cao nhất tương đương với tầng nhà thứ mười. Có thể nói, người ta đã giải quyết cơ bản vấn đề giao thông công cộng. Có đường xe điện ngầm, có đường xe buýt, tất nhiên vì không có xe gắn máy nên các loại ô tô chạy thênh thang, tốc độ không thấp rù rì như ở Việt Nam.
Quảng Châu cách đây hơn chục năm về cơ bản bộ mặt không khác mấy các thành phố Việt Nam, nhưng bây giờ, các khu vực sình lầy ngoại ô và các khu nhà ổ chuột đã được quy hoạch lại xây nhà chung cư cao tầng. Khu dân cư nhà cũ bị phá bỏ hẳn để xây dựng một khu đô thị mới, chứ không thấy có kiểu mở đường chạy vắt ngang một khu dân cư cũ như Hà Nội đã làm với con đường từ Kim Liên đến Ô chợ Dừa. Do đó, họ không có kỷ lục làm một đoạn đường chi phí đắt nhất thế giới, lâu nhất thế giới như Hà Nội.
Đi vào các khu dân cư Quảng Châu, không thấy có hiện trang cơi nới, lấn ra như ở Việt Nam. Dĩ nhiên không gian xanh đầy cây cối vì vậy mà được tôn trọng.
Bao giờ Hà Nội có được bộ mặt của một đô thị hiện đại? Đầu tiên là mong muốn giao thông công cộng an toàn, tiện lợi. Muốn vậy hệ thống đường phải như thế nào, phải có các loại phương tiện công cộng ra sao thì mới tính đến chuyện cấm xe máy đựoc chứ. Anh bạn Quảng Châu nói với tôi: Lãnh đạo thành phố cách đây hai chục năm đã có cái nhìn tương đối toàn diện, quy hoạch thành phố, xây cất nhà cửa, đường xá từ đó, nên bây giờ mới có được thành phố như bây giờ. Anh bạn ấy còn nói: Ngày xưa tai nạn giao thông thường xảy ra ngay giữa nội đô, còn bây giờ hầu như không còn chuyện đó nữa.
Tôi ngẫm ngợi: Hai chục năm sau, liệu Hà Nội mình có được như họ bây giờ không? Điều đó là một sự thật buồn bã, nhưng đó lại là sự thật”.

về đầu trang

Thời tiết trái mùa

Thời tiết thật khó lường. Trái mùa. Năm nay quả thật thời tiết nhiều phen không theo quy luật bình thường. Bắt đầu có dấu hiệu từ mùa xuân rét đậm, rét dài, rồi lá vàng trút ào ạt khắp nơi. Mà đó là mùa xuân đấy. Mưa rơi có nhẹ nhàng, lại có trận xối xả mà vẫn chưa có sấm. Miền Nam bỗng có trận sét đánh, trong tích tắc hai mươi ba người trong trận bóng ngã xuống...
Mấy ngày nay, dù cho đã qua đợt rét nàng Bân, nhưng rồi miền Bắc vẫn có đợt lạnh. Qua tiết Thanh Minh, mùa hè đang ngấp nghé rồi, mà bỗng ban ngày trời mát mẻ, nhiều gió, nhiều mây như mới thu về, đêm thì trời se lạnh thật đáng yêu.
Trái mùa thời tiết có lẽ cũng làm lòng nguời bối rối. Quốc hội chất vấn Chính phủ, tìm mãi không ra trách nhiệm của các Bộ trong cơn bão lạm phát khiến nền kinh tế lao đao khiến cho người giàu mất của, người nghèo nghèo thêm. Trong cái lạnh trái mùa, xôn xao tiếng nói bất bình về chuyện mở rộng thủ đô. Khắc xuất, khắc nhập là câu chuyện dân gian vẫn cứ ám ảnh nhiều nhà trí thức.
Trái mùa thời tiết đôi khi làm bận người, cũng có khi làm cho con người thú vị. Đang hè mà lạnh thì vui quá. Đang xuân mà sáng mùa đông, trưa mùa hạ thì lạ lùng hấp dẫn chưa chắc đã dở. Vì nó thuộc loại “hàng” độc. Chắc chả bao giờ có để trái nghiệm một lần. Trái mùa cây trái thì lại càng hay. Nhà nông hằng mơ ước có vụ trái mùa để tăng lợi nhuận. Nói thế để biết cái ngang trái chưa chắc đã hoàn toàn dở. Mấy hôm nay, hai anh nhà báo bị tạm giam, tin nóng rừng rực giữa những ngày gió lạnh trái mùa, thì hai anh ấy chưa hẳn đã là gặp điều dở. Đó chứng tỏ đời sống đất nước đang dân chủ hoá, pháp luật sẽ sờ gáy bất kỳ anh ở nơi nào. Hai anh ấy ra toà, có lẽ nhiều bác khác ở nơi sâu kín hơn cũng phải ra. Mà điều không dở lớn lao là hai nhà báo ấy thành ra nổi danh như cồn, điều mà nghiệp bút nghiên phấn đấu bao nhiêu năm chưa hẳn đã được.
Ôi những ngày trái mùa thời tiết. Người thì lo lắng, người thì bận bịu, người thì bối rồi. Cất cái vỏ chăn đi rồi, đêm lại giở ra. Con bé do trận lạnh tối qua mà viêm họng. Bác Hai Rau vì vụ lạnh tuần qua mà hoa sắp kết trái rụng sạch. Trận bóng đang sôi nổi, đúng luật thì sét đoàng một nhát, phải ngừng mà phát sinh lắm phiền toái quá... Trong cái lo toan của thiên hạ vì chuyện trái mùa, có lẽ vô duyên nhất là anh viết lách như tôi, ngồi gặm nhấm nỗi lòng do tiết trời không thuận.
về đầu trang

Bệnh háo danh

Bệnh này có từ thời cổ đại, dai dẳng và được phát huy đến thời nay, nếu đi tìm một đức tính xấu xí của nguời Việt, có thể đặt “bệnh háo danh” lên đầu bảng.
Biểu hiện của bệnh háo danh rất đa dạng. Có bệnh háo danh của các cá nhân, dĩ nhiên rồi. Nhưng không thể kể hết loại bệnh này ở các cá nhân, mà điều đặc biệt bệnh này có tính truyền nhiễm, lây lan ra cả cộng đồng. Bỗng nhiên cả một tổ chức có tính quốc gia phát động rầm rộ mọi người bầu danh hiệu kỳ quan thế giới cho Vịnh Hạ Long, mà không hiểu giá trị và cách thức cuộc bầu chọn ấy thế nào? UNESCO công nhận Vịnh Hạ Long và một số di sản khác của Việt Nam là “di sản văn hoá thế giới” rồi, còn cái gọi là “kỳ quan” kia chỉ là một trang web cá nhân phát động, hơn hình thức trò chơi trực tuyến một chút. Mọi người tham gia là tốt, nhưng nên hiểu tầm mức của nó, chứ không thể cứ muốn là “kỳ quan” top 7 là đổ xô nhau bầu trực tuyến. Để làm gì? Một tác gỉa so sánh, là một Viện sĩ hàn lâm có uy tín rồi, nhưng công trình của ông ấy chỉ trong ngành biết thôi, giờ mang ông ấy ra cho bàn dân bầu xem ông ấy có là “bác học” không, na ná tình trạng cuộc bầu chọn Vịnh Hạ Long vậy.
Gần đây, cuộc phóng vệ tinh mà Việt Nam đặt mua cũng hơi ầm ĩ quá. Tuyên truyền sự cần thiết phải mua vệ tinh là đúng rồi, nhưng làm ầm ĩ lên chuyện phóng vệ tinh, chuyện tiếp thu vệ tinh, chuyện Việt Nam làm chủ công nghệ mới… là hơi vớ vẩn. Đôi khi lợi bất cập hại. Hoá ra Việt Nam giờ đây mới tiếp cận chuyện đó, bởi vì ở Đông Nam Á hiện nay đã có 5 quốc gia mua vệ tinh rồi, mà họ không chỉ có 1 cái như ta, họ có đến 4 cái nhá. Mua vệ tinh, hơi khác mua máy bay, hơi khác em học sinh mua cái máy tính xách tay, nhưng tính chất là như nhau. Ta đặt và trao tiền, người ta bán và bảo ta cách dùng, thế thôi. Làm sao phải tuyên truyền ầm ĩ thế. Nói nhiều hoá ra lòi cái lạc hậu, đi sau ra. Qua cái thời tuyên tuyền Việt Nam bay vào vũ trụ, là nước đầu tiên ở châu Á lên vũ trụ. Lên vũ trụ kiểu đó để làm gì? Chỉ để tuyên truyền, chứ nền công nghệ vũ trụ mà qua chuyến bay đó ta sẽ hưng phát lên như Hàn Quốc bây giờ, thì chưa thể có được. Giống như câu ca dân gian: “Hàng đầu rồi biết đi đâu, đi đâu không biết hàng đầu cứ đi”
Bệnh háo danh lây sang lĩnh vực “kỷ lục Ghi nét”. Làm bánh chưng to cúng Tổ, tốt quá. Nhưng lại làm bánh chưng rởm thì Tổ buồn chứ. Làm cái gì to lớn, kỷ lục cứ làm đi, nhưng phải là thực chất. Còn chuyện háo danh của cánh văn nghệ sĩ, cán bộ, thì kể ngàn lẻ một đêm không hết được.
Bệnh háo danh có nguồn cơn từ ông Khổng Tử chăng? Ông tổ của Nho gia, người thày của các nhà cầm quyền thời phong kiến dạy: “Trước hết phải chính danh”. Từ lý thuyết Nho giáo, nảy sinh một loại chính nhân quân tử, hình mẫu con người chân chính của mấy nghìn năm phong kiến, sống phải có sự nghiệp, lưu danh thiên cổ, đến mức “sống thành nhân, chết cũng thành nhân”, đó là những học trò xuất sắc của Khổng giáo, anh hùng thời đại thực sự. Tuy nhiên, một lớp học thì số xuất sắc hơi ít, mà số bình thường và dốt thì nhiều, mà số học trò dốt thì dễ đi đến biểu hiện háo danh. Ôi, con người Việt Nam mang mầm mống háo danh từ ngàn xưa, mang truyền thống háo danh qua mấy ngàn năm đè nặng, đâu phải một sớm một chiều mà vùng thoát ra được. Nên có bệnh háo danh của cả cộng đồng, của đồng chí có quyền, thì cũng hiểu được. Hiểu được đã là tốt, thì có thể tránh được phần nào hay phần ấy. Phải không ạ?

về đầu trang

Ai có trách nhiệm với Thủ đô?
Vừa qua, một tờ báo mạng lớn đã đăng loạt bài về quy hoạch, kiến trúc Hà Nội, bài gần đây là “Quy hoạch Hà Nội, con thuyền không người lái”, bài vừa mới đây là: “Ai chịu trách nhiệm về sự xấu đẹp của Thành phố?”
Cứ đọc tít bài, đã thấy vấn đề đặt ra rồi. Vấn đề là cái… vấn đề thì đã được bàn kỹ trong những bài viết ấy. Rỉêng tôi, một công dân Việt Nam, một người cư trú tại Hà Nội thì thấy ngạc nhiên vô cùng tận.
Chúng ta có một bộ máy đông đảo, nào là các sở ban ngành, riêng Quy hoạch và Kiến trúc có Sở quản lý chuyên ngành (Sở Quy hoạch -Kiến trúc), có Sở Xây dựng, có Sở Tài nguyên Môi trường… Nói chung ít nhiều thì các sở khác cũng có chức năng quản lý nhà nước riêng lĩnh vực của mình, như điện lực, văn hóa thông tin, giao thông công chính… vân vân. Ngoài ra, còn có Kiến trúc sư trưởng, có Hội đồng Quy hoạch Kiến trúc… Nghĩa là Thành phố Hà Nội có rất đầy đủ một bộ máy quản lý nó. Nếu lấy số diện tích Hà Nội chia cho số cán bộ quán lý thì chắc mật độ cán bộ quản lý không ít đâu.
Nhưng Hà Nội vấn như một đứa trẻ không có bố, phát triển tự phát, mà cho đến nay từ phương tiện thông tin đại chúng đến chính quyền đều công khi nói lên nỗi bất bình về sự nhếch nhách, manh mún trong quy hoạch Thành phố?
Vậy Chủ tịch Thành phố làm gì? Chủ tịch Thành phố có vai trò gì trong việc phát triển của một thành phố mà ông ấy là người cao nhất về mặt chính quyền nhà nước?
Song, ngẫm cho cùng, cứ đổ mọi tội vạ lên đầu ông Chủ tịch cũng không ổn. Ông ấy, đúng ra không phải là Chủ tịch Thành phố, đấy là chúng ta nói tắt thôi. Mà ông ấy chính xác là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố, phải chấp hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố chứ. Nói một cách khác, ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân không phải Thị trưởng thành phố, nên có thể thông cảm cho ông ấy, đôi khi ông ấy muốn làm có lẽ cũng không làm được, muốn không làm cũng có khi phải làm.
Hậu quả 9 năm quy hoạch Hà Nội vừa qua, càng quy hoạch càng làm cho bộ mặt thành phố hỏng đi. Quy hoạch thành phố đâu phải chỉ có chuyện xây cái nhà này mấy tầng, rồi chặt tầng đi. Quy hoạch thành phố cũng không vô can với nạn kẹt xe, vì nếu không cài cắm các cao ốc (có tên dịch tiếng Anh ra là Tháp) vào lẫn các khu đô thị cũ, thì sao tăng được mật độ dân cư vào những khu đường xã còn xập xệ?
Nay, có chuyện mở rộng Hà Nội, sự phát triển cơ sở hạ tầng lại lan ra như sóng tỏa, lan tràn đô thị hóa khó àm kiểm soát đuợc. Hãy xem đô thị Đông Anh, Sóc Sơn, Gia Lâm cách đây 20 năm và bây giờ xem sao? Hà Nội có lẽ chỉ nên làm quy hoạch đô thị tốt những khu vực lân cận, chứ không nên lan tỏa hình mẫu nhêch nhác về quy hoạch ra xung quanh?
Nói gần, nói xa, chẳng qua nói thật Hà Nội cần một bàn tay sắt và cái đầu thông thái biết nhìn xa. Hà Nội cần một cơ chế Thị trưởng Thành phố do Thủ tướng bổ nhiệm, cần một người hiền tài. Chừng đó có quá ít và quá nhiều không?…

về đầu trang

Bệnh “hoắng”

Tra từ điển, chữ “hoắng” không có. “Sớt” trên mạng cũng không tìm thấy nghĩa. Có lẽ từ này mới phát sinh trông đời sống hiện đại. Dân gian hiểu một cách đơn giản “hoắng” là hành động khác thường, không phù hợp với đại chúng, không phản ánh đúng thực chất sự việc đó, nói với làm không đi đôi với nhau, kết quả việc làm càng không hay ho gì…
Hiện tại, có nhiều việc có thể gọi là “hoắng”
Ví dụ, cái tin “Xây dựng đề án chiến lược để Việt Nam có giải Nô –ben”. Thật lạ. Đọc kỹ, mới biết tổng công ty dầu khí kết hợp với Đại học quốc gia Hà Nội ký kết hợp tác về đào tạo. Một kế hoạch dài hạn đào tạo con người, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu nhân lực hội nhập, nâng cao chất lượng đào tạo đại học… Mục tiêu ấy là cao quý, vừa hiện đại vừa thực tiễn, cớ sao lại giằng cái chuyện “có giải Nô-ben” vào đây. Vô hình chung đề cao giải Nô-ben không đúng chỗ, lại hạ thấp ý nghĩa của việc hợp tác nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực. Như vậy đã lẫn lộn hệ quả và mục tiêu, nói theo kiểu ngày xưa, nhầm “cứu cánh” và “phương tiện”. Không có nước nào trên thế giới có cái đề án chiến lược để có giải Nô-ben cả. Mà giải No –ben dù cho là giải có uy tín đi chăng nữa, cũng chỉ là đánh giá của một Viện hàn lâm của một quốc gia, có những tiêu chí riêng, trên cơ sở hệ tư tưởng riêng và chịu sự ảnh hưởng của một số quốc gia nhất định. Có giải Nô ben là vinh dự, nhưng đó không phải là mục đích của một nền giáo dục.
Trong quy hoạch, đôi khi cũng có bệnh “hoắng”. Ví dụ: Để cho đuờng phố ra vẻ hiện đại, bèn bàn chuyện cấm bán hàng rong. Còn việc phát triển công nghiệp ô tô, có lẽ cũng là “hoắng” nốt. Dòng dã bao nhiêu năm, ưu đãi hết sức cho các doanh nghiệp lắp ráp ô tô, nhưng tỷ lệ nội địa hóa vẫn không nâng cao lên đuợc, công nghiệp phụ trợ không phát triển lên, cái ô tô vẫn giá cao ngất ngưởng, lợi nhuận rơi vào túi nhà đầu tư nước ngoài, người Việt vẫn phải mua xe đắt nhất thế giới. Hỡi ôi, mơ ước về một nền công nghiệp ô tô Việt Nam sao mà xa vời? Sao ta cứ phải làm mọi việc mà Nhật, Mỹ, Trung Hoa họ làm? Sao ta không làm những thứ ta có lợi thế, chế biến thực phẩm, làm công nghiệp phần mềm, để thu tiền mua ô tô rẻ của họ, vừa đẹp vừa bền? Tại vì quy hoạch có tính chất… “hoắng”
Trong văn học nghệ thuật, bệnh “hoắng” mới thật trầm trọng. Phân chia văn học trẻ và già, rồi có những vị mang danh nhà thơ ngồi trên TV đòi “sân chơi” cho cái gọi là thơ trẻ, cho trình diễn thơ, mà một ví dụ như có “nhà thơ trẻ” xấp xỉ 70 tuổi, quấn giấy toa lét quanh người, rồi có 2 cô nhà thơ giật từng mảng giấy ấy, miệng cùng kêu những câu như bị điên: “Đàn bà, đàn bà…”. Có lẽ, nên hiểu từ tốn rằng, sáng tạo cứ sáng tạo, trình diễn cứ trình diễn, tự do sáng tạo mà, nghệ thuật cần sự phong phú, nhưng không đến nỗi kêu lên to như thế, như thể chỉ có họ mới là nghệ thuật thứ thiệt, còn tất cả cái khác là lạc hậu cả. Văn chương muôn đời làm gì có trẻ già, chỉ có hay và dở mà thôi.
Gần đây, có vị đạo diễn bốc lên, nói với Bộ trưởng Văn hóa đầu tư để dựng 100 kiệt tác kịch thế giới trên sân khấu Việt Nam. Hay lắm đấy. Nhưng liệu đầu tư hàng trăm tỷ đồng để dựng 100 kiệt tác thế giới ấy cho ai xem? Hãy làm lấy 3 vở kịch kinh điển của thế giới và “nghe ngóng” xem những ai mua vé vào xem, rồi bàn tiếp. Vấn đề là kiệt tác thế giới, qua tay các bác đạo diễn Việt Nam, nó còn bao nhiêu phần trăm kiệt tác, chuyện đó phải qua 2-3 vở diễn, chúng em mới xem tiếp được.
Bệnh “hoắng” có ở khắp nơi, làm sao để mọi người phân biệt, nhận chân ra chuyện “hoắng” đó. Có lẽ cũng dễ thôi. Nhiều người biết, nhưng chết cái là người bị bệnh “hoắng” không bị làm sao cả, có khi còn dương dương tự đắc, ra vẻ thông thái. Ôi, Nhà nước ta nên có một cái huy chương, vẽ 100 con voi, hàng năm xét tặng cho các nhà “hoắng” đó, giải thưởng kèm theo là 1 bát nước sáo voi. Dân gian cũng nói rồi “trăm voi chẳng đựơc bát nước sáo”, đó chính là cách nói về bệnh “hoắng” đấy…

về đầu trang

Chuyện phụ nữ

Một lúc trà dư tửu hậu, nhà thơ Đỗ Trung Xa kể: “Có 2 thằng nhà văn ngồi với nhau, chợt thằng nhà văn thứ 3 đi đến, hỏi các ông có chuyện gì đấy. Hai ông nhà văn đồng thanh nói: Chúng tớ đang nói xấu cậu, nay cậu đến đây rồi, ba chúng ta nói xấu thằng khác”. Nhà thơ họ Đỗ buồn nói: “Văn mình vợ người, đó là động lực thúc đẩy cá tính sáng tạo, tốt. Nhưng từ đó mà nhà văn có tính nói xấu người khác. Tôi đề nghị chúng ta rút ra khỏi cái vũng bùn ấy”.
Ông Nhà văn Hà Đình Thận nói: “Vậy thì tôi đề nghị nói chuyện... phụ nữ. Nguyên tắc của tôi là không nói chuyện cơ quan, không nói chuyện gia đình, chỉ nói chuyện... đàn bà”
Ông Thận giải thích: “Làm thằng đàn ông sao lại mang chuyện cơ quan ra nói? ít nhất là lộ bí mật công tác, hoặc hai ba câu thế nào cũng chê thủ trưởng, bực đồng nghiệp, chửi cấp dưới. Giỏi thì làm đi? Làm thằng đàn ông sao lại mang chuyện gia đình ra nói? Gia đình là nơi thiêng liêng, chuyện vợ con là bí mật cá nhân, có tức bực cũng nên giải quyết tế nhị, nếu sung sướng thì mời ông giữ lấy làm hạnh phúc ngọt ngào, đằng này cứ nói dăm ba câu thế nào cũng chê vợ mình già, xấu, lắm mồm... Hi hi. Em khuyên các bác nên giữ hạnh phúc gia đình, là giữ vững tế bào xã hội. Chỉ nên nói chuyện... gái ngoài xã hội”
Lúc đó có một ông nghe nói làm ở cơ quan tên có số, A55 hay gì đó, vỗ đùi nói: “Phải quá. Tôi từng nghe ngạn ngữ Hungari nói: Ba thằng đàn ông ngồi với nhau, chỉ có ba chuyện, một là nói xấu chế độ, hai là nói xấu thằng khác, và ba là chuyện đàn bà con gái. Tôi ủng hộ chúng ta toàn nói chuyện phụ nữ”
Cứ động đến chuyện phụ nữ là đầy ắp tiếng cười. Một niềm vui rất đời thường, vừa phồn thực cổ sơ vừa mới mẻ. Dân gian Việt Nam có chữ “tiếu lâm” quả thật tuyệt vời, không gì diễn tả hay hơn cái cười hào sảng như nghĩa “rừng cười” mà lại dùng từ Hán –Việt, vốn chỉ dùng cho ngôn ngữ sang trọng, văn hiến. Mà nếu loại bỏ chuyện đàn bà thì phăng teo luôn chuyện tiếu lâm. Nhưng đừng tưởng đằng sau những chuyện đàn bà mà cánh đàn ông tán chuyện là vô bổ. Có ước mơ, thán phục, có suy tưởng, sáng tạo, có tình có lý đàng hoàng. Ví như: “Hôm qua tao gặp một em quen, lúc thường mình không để ý, gớm sao ở bãi biển nó đẹp thế. Đùi dài miên man như bắp cây chuối hột. Nhà quê ngày xưa hay thái cây chuối cho lợn, mày lột lớp bẹ ngòai ra mà xem, úi chà chà. Bụng em thì phẳng lừ như lưỡi cày thời Hùng vương... “ Ông này đập tay lên bàn kết thúc bài tụng ca, úi chà chà thán phục một chập nữa trong tiếng cười rộ lên.
Ví như: “Ra cửa gặp nhau mà mặt sưng mày xỉa, nhìn nhau hình viên đạn thì sống một phút cũng thấy phí. Hôm qua em gặp một chị, thấy chị tươi như hoa, có quen quái đâu, mà bỗng buột miệng buông lời chị ơi vì sao chị đẹp thế, chị liền đốp luôn, chị không đẹp thì sao cậu có câu khen hay như vậy. Thế thì em chết đứ, chả nói gì được nữa. Cười. Cả hai cùng cười, mắt chị sáng trưng như cái đèn ô tô”
Cứ “ví như” thì vô tận...
Có một câu hỏi không mới, nhân loại một nửa là đàn bà, mà sao chỉ có bọn đàn ông là cứ nói chuyện đàn bà mới là ngày hội, còn cánh đàn bà khi nói chuyện đàn ông thì ít khi vui và không biết họ nói ở đâu, kín đáo lắm? Ngẫm cho cùng, đó chính là câu trả lời. Thế giới đàn ông rõ ràng là quá nghèo nàn, đáng chán. Nếu không phải chuyện bẩm sinh mà đàn bà ai cũng biết, liên quan đến sức khoẻ, lo lắng bệnh tật thì là chuyện khác có vẻ chả liên quan đến đời sống, vì nó khô khan, phi lý, huyễn hoặc, ví như thủ thuật kiếm tiền, quan hệ xã hội, đóng vai gì đó... Chuyện đàn ông là để tồn tại. Ngược lại, thế giới đàn bà mới là một thế giới phong phú, muôn vàn cung bậc. Chuyện đàn bà là chuyện vui sống và giữ cho nhân loại trường tồn. Thế cho nên mới có Ngày Phụ nữ, chứ không có Ngày Đàn ông là phải lắm.
Hôm qua, nhà thơ họ Đỗ và nhà văn họ Hà bảo tôi: “Chúng ta làm bữa bia kỷ niệm ngày Phụ nữ nhá. Có một quy tắc hơi bị điều chỉnh, là coi như chúng ta là những người đàn ông chưa vợ?”
Ông sếp ở cơ quan có số hơi băn khoăn. Hai ông kia bèn nói: “Thế ông có muốn chuyện rất vui không nào?”

về đầu trang

Kỳ nghiêm hồ

Nhà văn Đỗ Chu vẻ mặt rất quan trọng kể: “Có lời mời tao xuất hiện trên truyền hình giao lưu đối thoại về Tết, tao hỏi: Tao ngồi với những ai? Chúng nó nói sẽ bàn tròn với ông ấy, anh nọ. Chức tước, học vị choang choảng, tao mới hỏi: Họ có văn hóa không?”
Nhà văn của miền quê Quan họ liền nói: “Tao phải hỏi thế, vì tao cần biết mình ngồi với ai, “ai” là ai có văn hóa không, chứ tao cần ngồi với chức tước học vị đâu. Là vì nói về văn hóa Tết nên phải kỹ thế chứ?” Chúng tôi, những người trẻ hơn Nhà văn, có dịp được nghe là quý rồi, không biết bàn gì, chỉ biết hỏi: “Bác sẽ nói gì?”
Nhà văn khoát tay, hùng biện nói: “Tao chỉ nói một chữ: Kỳ nghiêm hồ. Chúng mày có đứa nào xin, tao cho chữ “kỳ nghiêm hồ” mà treo, đứa nào làm nhà, tao cho chữ ấy mà làm hoành phi, ngày ngày ngửa mặt lên nhìn thấy chữ ấy mới khá được”
Có người nói: “Bác cứ nói chữ thế, chúng em không hiểu, nhân dân cũng không hiểu”
Nhà văn Đỗ Chu bèn cao giọng: “Sao lại nói thế? Nhân dân là ai, tao là nhân dân đây. Chỉ có quan chức và trí thức dởm như chúngmày mới không hiểu. Thế cho nên mới đến lượt tao nói ra. Theo sách Đại học, Tăng tử nói: “Thập mục sở thị, thập thủ sở chỉ, kỳ nghiêm hồ”. Tức là: “Mười mắt nhìn vào, mười tay chỉ vào, đáng ngại lắm đấy”. Các cụ ngày xưa lấy chữ “Kỳ nghiêm hồ” mà răn dạy con cháu, cho dù quan tước đến đâu, cũng phải tâm niệm “người người nhìn vào đấy”, tức là mình đang sống trong thế giới đồng loại chúng sinh, nhân dân đất nước, đừng có làm bậy, phải biết ngại, biết sợ, có thế mới giữ gìn tư cách phẩm chất được. Cho nên nhan dịp xuân về, Tết đến, tôi chúc cho mọi người phải biết “kỳ nghiêm hồ”. Nếu biết rèn theo “kỳ nghiêm hồ”, sao có thể thoái hóa biến chất và tham nhũng, giả dối, ăn cắp bản quyền nhiều thế được.
Nhà văn Đỗ Chu giở giấy bút, viết một hàng chữ tượng hình, nói với một nhà văn dịch giả tiếng Trung rằng: “Cậu đừng tưởng biết nói tiếng Trung mà này nọ khác kia, tao đã hỏi mấy đứa học Đại học tiếng Trung, nó bảo ba cái chữ mà bác viết ra, cháu không dịch ra được nó là gì? Thế thì đứt mạch cổ truyền văn hóa còn gì. “Kỳ nghiêm hồ”, các cụ nói 3 chữ, nhưng phải biết nó ở đâu, nó tải cái hồn cái đạo nào. Chứ lỵ? Nói chuyện văn hóa Tết trên ti vi mà ngồi với mấy đứa chức tước học vị to mà vô văn hóa, nó lại bảo mình điên khùng, thôi thì nhẫn với ông điên nhà văn vậy. Sao lại cứ thờ chữ “Nhẫn”, nhẫn là nhục, nhẫn chắc gì đã hay với thời kỳ hội nhập này. Quan mà “nhẫn” có lúc hỏng to. Phải là “Kỳ nghiêm hồ”
Tôi nghĩ bụng: “Em không dám bàn. Em chỉ định kể câu chuyện của bác. Chuyện của nhà văn thì hay, nhưng hiểu được không dễ. Vâng ạ, “kỳ nghiêm hồ”.

về đầu trang

Tiếng cha ông
Đầu năm, tục lệ từ ngàn xưa người Việt thường đi chùa cầu may. Tháng giêng là tháng ăn chơi, đó là vì người Việt xưa làm nông nghiệp, tháng Giêng nông nhàn, cũng là dịp du xuân, thành kính tổ tiên, cầu phúc cầu lộc. Ngày nay, công nghiệp hóa rồi, tháng Giêng có khi còn là tháng làm ăn bận rộn hơn, nhưng đi chùa, đi đền cầu cũng thì… vẫn thế. Có một vấn đề, đình chùa Việt thường dùng chữ Hán, “chữ của các cụ”. Như vậy, chỉ những người có chữ Hán mới đọc được, mà người biết chữ Hán ngày nay thì rất ít. Nhiều người trẻ nói tiếng Trung, đọc chữ Trung Hoa vanh vách, nhưng lại bối rối khi đọc chữ ở đình chùa miếu mạo. Bởi vì chữ Trung Quốc hiện đại là kiểu giản thể, còn chữ Hán cổ phồn thể, rậm rà rắc rối.
Thành ra, vào đình chùa nước mình, mà không hiểu “chữ các cụ”. Mạch nguồn văn hóa có cảm tưởng bị đứt đoạn đến buồn lòng.
Có thể cách xử lý như ở Đền Đô phần nào giải quyết được vấn đề này. Đại tự, câu đối đều có chú thích kèm theo bằng chữ quốc ngữ nhưng nhỏ hơn, ở vị trí khiêm tốn, kín đáo. Cách làm này có thể là mẫu mực cho các đình chùa khác, tiếc thay, không mấy nơi làm như vậy.
Một vấn đề khác nữa là hiểu biết về lịch sử đình chùa, miếu mạo. Có người đến đình, đền, cũng cứ khấn “A di đà Phật” thì quá cẩu thả rồi. Không biết mình cầu ai, thế thì làm sao mong đuợc ứng nghiệm. Lại chả hiểu sao nhiều chùa lại dành hẳn một ban thờ thờ Trần triều, hoặc thờ các vua, tướng nhà Trần?
Lịch sử các đình chùa cũng được một số chùa ghi lại, giới thiệu, nhưng chắc hẳn không mấy nơi giới thiệu nghiêm túc, đầy đủ. Đến như Đền Đô, một di tích quan trọng về triều đại các vua Lý và Lý Thái tổ, cũng có điều phải bàn. Tôi đã nghe thấy câu chuyện của hai người trẻ tuổi thắc mắc: Vì sao danh sách có 9 vua mà thờ chỉ có 8 vua thôi? Do hiểu biết lịch sử kém, nên hai bạn trẻ kia cũng tắc tị, đoán thế này, lại đoán thế kia. Điều này thì không có trong giới thiệu của Đền Đô. Sao lại phải kiêng nói ra điều đó?
Một lần đi thăm chùa Tường Vân (chùa Cao) và đền Trần Liễu, viếng tượng Trần Hưng Đạo (Kinh Môn, Hải Dương), có một vị khách hỏi người hướng dẫn du lịch: “Vì sao ở đây lại dựng tượng Trần Hưng Đạo?”. Hướng dẫn viên du lịch ngắc ngứ, giải thích đại ý Trần Hưng Đạo là một trong các tứ thánh, mà ở đây có đền Trần Liễu là cha thì nhân dân dựng tượng thờ. Sao lại đơn giản thế? Dưới chân núi là trang ấp An Sinh, nơi Trần Liễu khai phá và sinh sống, được phong vương (An Sinh vương), tuy Thiên Trường là quê gốc họ Trần, nhưng đến Trần Liễu là đời thứ mấy không còn thường xuyên ở quê. Trần Liễu sinh sống ở đây, Trần Quốc Tuấn chắc chắn sống thời tuổi trẻ gắn bó với An Sinh và Thăng Long, trưởng thành thì ở hành cung Vạn Kiếp… Thiên Trường là tổ gốc họ Trần, nhưng riêng Hưng Đạo đại vuơng thì Thiên Trường chỉ là cội rễ tinh thần, còn An Sinh và Vạn Kiếp mới là nơi gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Mỗi một di tích chuyên chở cả lịch sử của dân tộc và đất nước. Giáo dục lịch sử ở đâu nếu không coi đây chính là trường học dân gian đã trường tồn cùng sông núi? Nếu các nhà quản lý coi trọng cuốn sách thiên nhiên ấy thì tốt biết bao…

về đầu trang

Chuyện thăng chức

Hôm vừa rồi, tôi đến nhà anh bạn chơi, được anh kể chuyện thằng em tên là Năm lên chức.
Chạy đua chức, Năm lo lắng bảo bố:
-Có ba đứa có thể lên chức, hai đứa kia làm đề án, kế hoạch trình lãnh đạo rồi, trong các cuộc họp trình bày rất hăng. Con chả biết làm gì cả.
Ông Hai hỏi:
-Xét thật lực, mày so với hai đứa ấy thế nào?
-Một có học vị, một có thực tế và đã làm cấp phó, hai đứa đều tài hơn con.
Ông Hai cười: Mày cứ không làm gì là được.
-Sao vậy ạ?
-Cứ thế. Rồi mày sẽ thấy cái siêu việt của chữ nhẫn. Đừng vội mà lại làm như chúng nó. Mày có chọi được với chúng nó không?
Mấy tháng sau, quả nhiên Năm được đề bạt, mà hai anh chàng giỏi giang kia thì không đến lượt. Năm hỏi bố:
-Sao bố biết trước như Khổng Minh thế ạ?
-Cần gì phải như Khổng Minh
-Hay bố lại đến nhà các ông ấy mà giấu con?
-Mẹ cha mày, hai thằng đó trình bày đề án, trong đề án ắt có cái đổi mới. Đổi mới thì phải bỏ cái cũ, ảnh hưởng đến mọi người đang yên vị. Lãnh đạo đố dám đề bạt hai thằng đó. Tao không cần đến nhà ai. Tao chỉ niệm một chữ Nhẫn.
Tôi và anh bạn lên nhà “vấn an” ông Hai. Ông Hai vốn là cán bộ cấp Vụ, có học vị, đã về hưu, khi nói đến chuyện lên chức, ông cười:
-Muốn lên chức, đâu phải chỉ có giỏi. Người cán bộ, ngày xưa là làm quan, thì phải được lòng dân, và phải được lòng cấp trên. Có trên tạo điều kiện kéo lên, dưới ủng hộ đẩy lên, thì mới có thể hoàn thành nhiệm vụ, mới có thể “thăng”.
Ông Hai nói thế, nhưng lại đăm chiêu:
-Đó là thực tế mà tôi thấy, nhưng cơ chế thăng quan tiến chức như vậy cũng khiến cho nhiều người giỏi mà có tâm huyết bị bỏ phí. Thằng Năm nhà này không giỏi, nhưng còn may cho đất nước là nó có tâm, chỉ nên làm cấp trưởng phòng ở Vụ là vừa, lên cấp cao hơn thì thật nguy cơ cho đất nước.
Hỡi ơi, hiếm có bậc phụ huynh nào lại dám thốt lên như thế...

về đầu trang


Vũ khí con người

Trong một bản tin thị trường VTV4, có tin là tổng kiều hối năm 2007 chuyển về nước là khoảng hơn 5 tỷ đô la. Tuy nhiên, trong một bản tin khác của truyền hình cáp VCTV, thì ước tính kiều hối chuyển về nước năm 2007 là khoảng 7 tỷ đô la. Chương trình này còn tính kỹ hơn, mỗi người Việt Nam ở nước ngoài chuyển về nước trung bình hơn 3.000 đô la, mà hiện có hơn 2 triệu người Việt tại nước ngoài...

Như vậy, con số hơn 5 tỷ đô la là chắc chắn. Có thể số hơn 5 tỷ đô la là chỉ tính nguồn kiều hối chính thức chuyển theo đường lao động xuất khẩu, các hợp đồng chuyển tiền “chính thức” mà ngân hàng kiểm soát được chăng? Còn đúng ra là hơn 7 tỷ đô la, nếu tính hết các nguồn?

Một chuyên gia đã phân tích mặt tốt và không tốt của nguồn kiều hối này. Tốt, dĩ nhiên rồi: tăng cường đầu tư, kích cầu tiêu dùng, giảm thanh toán vãng lai… vân vân. Xấu, cũng có: làm sai lệch thị trường bất động sản, làm cho môi trường đầu tư bị “nóng”, tức là với điều kiện nước ta, khó mà hấp thụ những khoản đầu tư “bất thường”…

Nói chung là có tốt, có xấu. Nhưng vấn đề là chúng ta nhìn nhận khoản tiền 5 -7 tỷ đô la chuyển về nước như thế nào?

Cần phải so sánh một chút như thế này. Theo tin Thông tấn xã Việt nam, năm 2007 cũng là năm nước Nga xuất khẩu vũ khí đạt kỷ lục. Cả một nền công nghiệp quốc phòng, đầu tư khổng lồ, huy động nhân tài vật lực, để đạt được nguồn thu kỷ lục. Là bao nhiêu? Xin thưa là: 7 tỷ đô la. Bản tin nói tiếp: “Theo ông Mikhail Dmitriev, người đứng đầu cơ quan hợp tác kỹ thuật quân sự của Nga, những sản phẩm "bán chạy" nhất trong năm là máy bay Sukhoi, máy bay tiêm kích MiG, trực thăng Mi và xe tăng T-90C, còn các loại tên lửa S-300 và Pechora đã có các hợp đồng đến năm 2012”

Dẫn bản tin thêm này, để chúng ta hình dung quy mô của nền công nghiệp quốc phòng Nga, sản xuất nào máy bay tiêm kích, cường kích, nào xe tăng, tên lửa… Cuối cùng là đạt được doanh số thu về ngang với… tiền mà người Việt gửi về nước.

Dĩ nhiên, công nghiệp quốc phòng mang lại nguồn lợi không chỉ để bán vũ khí. Đó là tiềm lực quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc, để đất nước lớn mạnh. Nước Nga của Putin đã lấy lại vị thế “con gấu” trong rừng xanh thế giới, chọi lại với những “hổ Mỹ”, “báo Hoa”… Nhưng để đạt được 7 tỷ đô la/năm, chả lẽ Việt Nam cũng lại lao vào làm vũ khí. Trên mặt đất nhiều con đường thế nào, thì cách bảo vệ chủ quyền cũng đa dạng như vậy…

Đến đây, vô hình chung chúng ta đều liên hệ đến một chân lý: đồng bào người Việt có thể là một thứ vũ khí vô cùng lợi hại để bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam. Không thể nói bao nhiêu người Việt tương đương với 1 quả tên lửa, nhưng rõ ràng họ đã đóng góp cho đất nước một giá trị biểu kiến bằng cả một nền công nghiệp quốc phòng hùng mạnh xuất khẩu vũ khí. Không biết đã bao giờ có cơ quan công quyền nào đặt nguồn thu từ kiều hối này vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước một cách cụ thể chưa? Có thể có nhưng tôi chưa tra cứu được, bạn hãy chỉ ra cho tôi với? Nếu có, sao lại có chuyện mặt xấu do nguồn kiều hối gây ra, ví như làm cho môi trường đầu tư bị nóng, hay là làm cho nó ảnh hưởng xấu đến thị trường bất động sản?

Chuyện về con người mà so với vũ khí thì là hạ thấp giá trị nhân văn của nguồn thu kiều hối. Nếu nâng quan điểm thì đúng như vậy, nhưng xin hiểu đây chỉ là một dẫn chứng để thấy một mặt giá trị có thể lượng hoá được của “nguồn tài nguyên” người Việt ở nước ngoài. Dĩ nhiên giá trị toàn thể của nguồn tài nguyên này thì vô cùng lớn, có thể chưa hình dung ra ngay được…

về đầu trang mục lục

Mũ đi xe chính luận

Ngày đầu tiên bắt buộc đội mũ bảo hiểm đi xe máy, các cơ quan quản lý ngạc nhiên khi thấy toàn thể nhân dân đi xe đều đội mũ. Lý giải điều ngạc nhiên này, một cây bút bình luận: “Có gì lạ đâu, khi mà ai ai cũng phải đội mũ thì chả ai tị ai, không ai đẹp hơn hay xấu hơn ai. Điều này có thể tương tự như khi người ta vận động chụp ảnh khỏa thân tập thể hàng ngàn người. Ai cũng trần như ai, thì ai cũng OK cả”

Nói như thế, không bàn đúng hay sai, nhưng không thể nói là bàn luận nghiêm túc, đó là “phiếm luận”. Tôi muốn luận bình theo cách khác, “chính luận” một chút.

Vì sao mọi người lại hăng hái chấp hành lệnh đội mũ đi xe đến nỗi các anh cảnh sát giao thông cũng phải ngạc nhiên và “thất thu” tiền phạt?

Thứ nhất, về phía chính quyền, đây là một toan tính vì dân, không vụ lợi. Chiến lược thực hiện nghiêm túc, có lộ trình. Bắt đầu khâu tuyên truyền rầm rộ, rồi ra hạn cho đến ngày nào ngày nào thì mới bắt buộc. Mặt khác, việc chuẩn bị sản xuất mũ cũng được các cơ quan vào cuộc, nào là đăng kiểm, nào là mẫu mã…

Thứ hai, về phía người dân… Dân thấy chủ trương chính quyền bắt mình đội mũ là vì tính mạng của chính mình. Có thể chính quyền có lợi tý chút vì việc bán mũ, nhưng lợi ích ấy sẽ trở thành phúc lợi cộng đồng mà thôi. Trong việc này, dân thông suốt về tư tưởng, tin ở chính quyền, một khía cạnh nào đó, cũng có ý nể, vì nếu không đội thì bị phạt, do tuyên truyền mà biết chính quyền lần này làm nghiêm, làm thật chứ không lơ mơ. Như vậy, đây là một việc mà chính quyền và nhân dân cùng chí hướng. Một khi dân thông và chính quyền nghiêm thì mọi việc đều suôn sẻ cả. Đó là bài học cũ mà vẫn thời sự. Suy rộng và to tát ra, nhìn trong lịch sử, tại sao có Hội nghị Diên Hồng, cũng là do chính quyền muốn nghe dân, nếu dân đồng lòng thì dù giặc ngoại xâm hung hãn thế nào cũng thắng.

Bây giờ, giá mà các việc khác chính quyền cũng nghe tiếng nói đồng lòng của dân thì hay biết bao nhiêu. Nào là quy hoạch, nào là sổ đỏ, sổ hồng, nào là thuế thu nhập, nào là giá xe ô tô… Ôi, biết bao nhiêu chủ trương chính sách đi vào cuộc sống sao mà khó nhọc đến thế? Hoặc là chính quyền tuyên truyền chưa đến nơi, dân chưa hiểu. Hoặc là nhà nước chưa lấy lợi ích của dân làm gốc hành động của mình. Hoặc là chính quyền phí phạm thuế của dân… Vân vân lý do, nhưng nếu mà dân không thông, thì làm gì cũng khó. Ngày xưa, từ thời Hưng đạo đại vương, Ngài đã dặn vua Trần Anh tông, “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”…

Chính luận này đáng lẽ còn dài, nhưng tôi biết nếu cứ dẫn chứng trong lịch sử thì không biết dừng ở đâu…

về đầu trang


Người Việt Nam truy cập web để... làm gì?
Tò mò một chút, tôi thử đi tìm câu trả lời này...

Hiện nay có hàng trăm trang web đánh giá website, nhưng số có uy tín có thể chỉ vài ba trang, trong đó trang web alexa là nổi tiếng nhất. Trang web này chuyên dịch vụ đánh giá, xếp hạng website, nhưng hiện nay đã đa dạng hoá dịch vụ, ngoài xếp hạng web, cũng có thiết kế website miễn phí, hộp thư, tìm kiếm... Gần đây, Alexa đã cải tiến cách đánh giá xếp hạng, phân loại cho từng quốc gia.

Với Việt Nam, danh mục 100 website hàng đầu có thể khiến bạn có chút nghĩ suy.

  1. Năm website hàng đầu tại Việt Nam, theo thứ tự là: yahoo; google.com.vn; vnexpress; Báo Dân trí điện tử và 24h.com.vn. Như vậy là 2 website hàng đầu đa dịch vụ là yahoo và google xếp hạng tiên phong, sau đó đến 2 tờ báo điện tử và 1 website thương mại. Xếp hạng này, theo tôi là “đẹp”, có thể phản ánh khá chính xác nhu cầu dùng Net của người Việt Nam.
  2. Tuy nhiên, 5 thứ hạng tiếp theo, từ thứ 6 đến thứ 10 thì khiến ta “hơi bị suy nghĩ” tý chút. Thứ 5 là trang web google.com. Vẫn là Google, nhưng đây là trang tiếng Anh với hàng nghìn dịch vụ rất đa dạng. Thứ 7 là Vietnamnet, báo điện tử. Thứ 8 là zing.vn, một trang web cung cấp dịch vụ chat cho người dùng tiếng Việt, thứ 10 là Ngoisao.net, một trang giải trí của Vnexpress.net. Như vậy, xuất hiện trở lại cái tên google và vnexpress. Có thể thấy, nhu cầu giải trí của dân ta khá cao. Nhưng bạn sẽ thắc mắc vị trí thứ 9 là trang web nào? Xin thưa: đó là trang web dành cho người lớn, hay còn gọi là loại web sex có tên là “lauxanh...”
  3. Xét về thể loại, trong số top 100, có đến 8-9 trang sex, hơi nhỉnh hơn thể loại báo điện tử hoặc website của các tờ báo lớn (VTC, Thanh niên, tuổi trẻ, tiền phong; vnn.vn,...) Khá nhiều trang web chuyên công nghệ thông tin, chia sẻ file, chia sẻ ảnh như vnnsoft.vn; Flickr; microsoft; mobifone; rapidshere... Trang Bkav diệt vi rút của Việt Nam xếp hạng 58. Các trang dịch vụ trình duyệt như Opera, Mozilla cũng có mặt. Nếu kể cả các trang trò chơi điện tử thì số trang web thông tin khá nhiều. Số lượng các trang web công nghệ thông tin và giải trí nhiều ngang nhau.
  4. Đáng ngạc nhiên là hai lĩnh vực: tra cứu và dịch vụ mạng cấp cao khá ít. Có thể đặt vấn đề yahoo và google chính là loại tra cứu và dịch vụ mạng đa dạng, sao lại bảo khá ít, bởi vì 1 là đủ rồi? Dịch vụ mạng đa đạng thì yếu về chuyên sâu. Không thấy người Việt Nam dùng nhiều các dịch vụ chuyêm môn khác có thể sơ bộ đánh giá người Việt Nam ta mới chỉ dùng phổ biến dịch vụ thư điện tử và tìm kiếm thôi chăng? Bởi vì, chỉ thấy trang wikimapia là mạng tra cứu chuyên sâu có mặt trong top 100. Thiếu vắng những trang web có dịch vụ mạng cấp cao như mạng xã hội ảo chẳng hạn. Ngay như dịch vụ blog cũng chỉ có blogger.com.
  5. Loại trang web như của các nhà văn thì chắc quá ít, quá nhỏ như bóng chim tăm cá. Ngay dịch vụ blog các nhà văn Việt Nam hay dùng như vnweblogs.com cũng không thấy có trong top100. Song, có một cách nhìn khá lạc quan: Chưa có một trang web chuyên văn hoá mạnh theo xếp loại của Alexa, nhưng Alexa chỉ là dịch vụ mạng của 10 triệu máy tính trong số gần 1 tỷ máy trên thế giới. Biết đâu hàng trăm triệu máy tính khác họ truy cập thường xuyên website của tôi (của bạn) thì sao? Alexa chẳng qua là một “chú lùn”, không thèm chấp.
  6. Song, cũng có một cách nhìn khác: Thực sự mạng Net của Việt Nam đang phát triển, nhưng chưa giải quyết được nhu cầu thực sự hướng vào người dùng. Người dùng mạng Việt Nam chủ yếu dùng để giải trí, ngay cả vào web sex, tôi cho rằng có thể người dùng mạng cũng là giải trí, còn thì Net có tác dụng hàng đầu với cánh công nghệ thông tin. Như vậy, đa số dịch vụ tuyệt vời khác của mạng Net mà người dùng khắp thế giới đang “hưởng thụ” thì ở Việt Nam vẫn còn chưa được dùng. Không phải ai cấm người Việt Nam dùng, mà là người Việt chúng ta chưa dám, chưa thích, chưa dùng được, điển hình là các tra cứu (trong đó có tra cứu văn hoá, văn học, nghệ thuật, bảo tàng, thư viện...) hoặc mạng xã hội ảo chẳng hạn. Còn thương mại điện tử thì quá yếu rồi. Một vài chuyên trang quảng cáo có nhiều người truy cập chưa nói được gì nhiều.
  7. Một trang web khác xếp hạng web cũng rất nổi tiếng là ranking.com đã xếp hạng 100 web tại Việt Nam khác hẳn Alexa. Với ranking, người Việt Nam ta lại là dân tộc trí thức. Top 100 của Ranking hầu hết là báo điện tử ở nửa trên cùng, trong đó có các báo quân đội, nhân dân điện tử. Không thấy xuất hiện các trang web nước ngoài lớn. Trang websex cũng có nhưng ít thôi, vài ba cái... Tôi ngờ rằng, ranking chủ yếu “rà soát” các máy tính cơ quan ở Việt Nam chăng? Tuy nhiên, nhận xét (f) trên đây cũng đúng cho ranking,com

về đầu trang

Kể về thư sẽ gửi Chủ tịch Thành phố Hà Nội

Tại một số thành phố lớn văn minh trên thế giới, truyền hình và phương tiện truyền thông hay có chương trình khuyến khích người dân góp ý về xây dựng thành phố. Có những chương trình tên là "Nếu tôi là thị trưởng", hoặc "Làm thị trưởng một ngày"... vân vân.

Nước ta, gần đây có nhiều tờ báo đăng thư ngỏ gửi Chủ tịch thành phố, gửi Bộ trưởng bộ nọ, bộ kia. Đó cũng là một cách thiết thực góp ý cho lãnh đạo cấp cao. Khi ông Nguyễn Quốc Triệu mới lên Chủ tịch Thành phố Hà Nội, có người gửi thư ngỏ ngay. Lúc ông Triệu lên Bộ trưởng Y tế, lại cũng có thư ngỏ nữa (trên VietnamNet). Theo tôi, ông Triệu may mắn nhất trong hàng ngũ lãnh đạo đồng cấp với ông ấy.

Gần đây, ông Chủ tịch thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo mới nhận nhiệm vụ, cũng có người gửi ngay thư ngỏ bàn về quy hoạch lại Hà Nội. Nói thật lòng, tôi cũng muốn gửi một cái thư ngỏ cho Chủ tịch Thành phố. Nhưng bỗng nghĩ lại, thành phố mình thế này, ai cũng gửi thư ngỏ, vậy thì Chủ tịch đọc nổi mấy triệu cái thư không? Muốn giúp Chủ tịch, hoá ra lại gây khó dễ cho ông ấy. Bàn chuyện gì cao xa thì chắc ông ấy đã bàn với Bộ Chính trị, Ban Bí thư rồi, nhất là vấn đề quy hoạch thành phố.

Nhưng rồi tôi vẫn không bỏ được ý muốn gửi một cái thư ngỏ cho Chủ tịch Thành phố Hà Nội, và tin rằng thư của tôi sẽ khác so với hàng triệu cái thư khác. Tôi không bàn chuyện quy hoạch hay chuyện gì thuộc tầm cao. Tôi sẽ xin ông Chủ tịch một ân huệ, đó là trong một buổi sáng bất kỳ, ông ấy cùng tôi đi làm trên một đoạn đường Đê La Thành, đoạn từ Cầu Giấy đến Ô Chợ Dừa.

Có thể nói, Đê La Thành là con đường cổ nhất Hà Nội. Cổ hơn nhiều so với phố cổ. Nó là đoạn thành có lẽ có từ thời Cao Biền xây thành Đại La. Nếu có đầu óc du lịch và lãng mạn, thì có thể tôn tạo một đoạn đê này mà thành di tích, biết đâu đó là văn vật có giá trị cao thu hút du khách hình dung về thời kỳ trứng nước của Đại La- Thăng Long- Hà Nội. Nhưng bây giờ, sau câu hát "những con đê thành lối đi" rất tình, thì đường Đê La Thành như thế nào giữa thủ đô Hà Nội hiện đại? Chắc gì ông Chủ tịch Thành phố đã tưởng tượng ra, vì chắc gì xe của ông đã có dịp đi qua một đoạn phố bình thường nhất của thủ đô này.

Bây giờ, đó có thể nói là đoạn đường xấu nhất, tệ nhất của thủ đô Hà Nội. Đường không có vỉa hè dài nhất, tồn lại lâu nhất. Đường có nhà mặt tiền lộn xộn nhất, đánh số lung tung nhất. Đường là một dãy công xưởng ồn ào nhất, một đoạn đồ gỗ, một đoạn đồ sắt, một đoạn hàng ăn... Đây cũng là đường dù không có vỉa hè, chiều ngang đường khá hẹp mà lại tự do cho mọi loại phương tiện giao thông nhất ở Hà Nội, kể cả xe buýt đi hai chiều, tránh nhau thì hết chiều rộng đường, các loại xe khác ngừng để đợi. Dĩ nhiên đoạn này có tần số tắc đường nhiều nhất rồi, không cần đối chiếu so sánh cũng biết, bởi vì chả mấy lúc mà không có tắc đường một đoạn. Nhất là đoạn Bệnh viện Nhi đồng và đoạn đầu Giảng Võ đi Ô Chợ Dừa. Có thể nói tóm tắt: Đi trên đường Đê La Thành trục trung tâm thành phố, sẽ tưởng rằng mình đi trên một ngõ của đường làng Đình Bảng, quê hương của Lý Thái tổ vậy.

Tôi tin rằng, nếu ông Chủ tịch một lần đi trên đường Đê La Thành này, thế nào ông ấy cũng có một chút thay đổi cho đoạn đường đó. Có thể phân luồng xe một chiều như đường Hoàng Hoa Thám? Có thể ông ấy lệnh cho đánh số lại nhà mặt đuờng, làm lại vỉa hè? Có thể ông ấy cho làm nhanh con đường khác song song với Đê la Thành nối Cầu Giấy với ngã ba Xã Đàn- Chợ Dừa (đã có quy hoạch và thông báo giải toả nhà dân) để có thể giảm tải, cải tạo con đường này. Có thể ông ấy sẽ làm nhiều điều tuyệt vời hơn mà tôi chưa nghĩ ra, nhưng nếu chỉ làm mấy việc nhỏ ấy, tôi nghĩ đã có thể thấy bộ mặt thành phố khác lắm rồi.

Thành phố còn nhiều điều to tát lắm: Xây Nhà Quốc hội, Xây Trung tâm tài chính kiểu phổ Uôn, xây tàu điện nổi, tàu điện ngầm... Nhưng tôi nghĩ, nếu mỗi năm, Chủ tịch thành phố làm một việc bình thường như thay đổi đường Đê La Thành, thì tôi đã thấy mãn nguyện lắm, tôi sẽ bỏ phiếu cho Chủ tịch lên cấp cao hơn, cầu chúc cho Chủ tịch mạnh khoẻ để phục vụ đất nước nhiều hơn nữa.

Tôi chỉ định viết thư đơn giản để nói về một điều đơn giản như thế thôi

về đầu trang

Báo tường, loa phường và bảng tin

Con tôi học lớp 2 về hỏi mẹ: Cô giáo bảo chúng con về nhà làm báo tường để nộp. Cô giáo hướng dẫn bảo lấy tờ giấy A4, vẽ xung quanh đẹp rồi viết cái gì vào đó... Mẹ nó hăng hái hướng dẫn nó, con nên làm một thơ, hay viết cái gì có vần... Mẹ con hì hụi một lúc, rồi con bé hỏi: “Nhưng con không biết làm báo tường để làm gì?” Mẹ nó ớ ra, lúng túng lắm. Rồi giải thích đại loại con làm như vậy để treo lên lớp, làm cho nhiều bạn biết con viết gì. Con bé nhanh nhảu: Thế thì con viết bằng máy tính, rồi vào blog...

Thế đấy. Con bé nhà tôi có các chị đều có blog, được chị dạy cho làm blog, rồi vẽ tranh bằng trình Paint của Window. Báo tường để làm gì? Câu hỏi ấy liệu có quá thừa không?

Có thể chương trình ngoại khoá hay chính khoá gì đó của học sinh lớp 2 có tiết mục làm báo tường. Nhưng việc làm báo tường của những ngày cách đây nửa thế kỷ và thời đại Internet nên được hiểu thế nào?

Cách đây nửa thế kỷ, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chính hình thức báo tường đã là một diễn đàn văn hoá văn nghệ rất thiết thực, động viên cán bộ chiến sĩ, là món ăn tinh thần rất bổ ích cho đời sống quân nhân. Từ diễn đàn báo tường, nhiều người bước vào làng báo, làng văn. Còn nhà trường phổ thông những năm sáu mươi, báo tường đã là hình thức sinh hoạt rất sôi nổi, tôi còn nhớ những cuộc thi báo tường thời đi học, đã là kỷ niệm vô cùng sâu sắc. Hồi đó, báo in không mấy khi đến tay mọi người, một xã chỉ có đảng uỷ xã có báo Nhân Dân, thỉnh thoảng tôi đến đọc nhờ. Hồi đó, sân trường và đầu xóm có một cái bản tin, trên đó hàng ngày có người dán tờ báo Nhân dân lên để mọi người cùng đọc, trường thì có thêm tờ Thiếu niên Tiền phong...

Vào thời kỳtình trạng thông tin như vậy, báo tường là một sân chơi tuyệt diệu, cuốn hút và say mê. Ngày nay, đến trẻ em 6 tuổi cũng biết vào mạng, chát với bạn bè, gọi điện Internet cho người nhà ở Mỹ, rồi thì tự tay làm blog, chơi với nhau ở tận đâu đâu. Trẻ em ở thời đại Internet có câu hỏi báo tường để làm gì, tại sao người lớn, người của thời đại báo tường không suy nghĩ?

Và, tại sao các chuyên gian làm sách giáo khoa không suy nghĩ nên đưa chuyện báo tường vào chương trình “để làm gì”

Tôi còn nhớ, nhà văn Tô Đức Chiêu đi Auxtralia, tham quan một trường phổ thông, xem các em học lịch sử cổ đại. Thày nói khoảng 10 phút, rồi tất cả ra sân, ra vườn. Nhóm thì lấy đá làm rìu đẽo bằng được một cái cọc, nhóm thì dùng mấy cái thanh nứa, ra sức xoay một cái như cái dùi để làm lửa... Đó là học về thời cổ đại. Ngày nay, nếu có làm báo tường, cũng nên đặt vấn đề để học tập giống như các em làm lửa, làm rìu đá của người cổ đại. Còn nếu làm báo tường để thưởng thức, để “dùng” thì khác gì bảo các em đi làm lửa để nhà trường nấu cơm.

Bảng tin đầu làng tôi đã phá bỏ đi rồi, xã thành phường, nhưng cái loa phường vẫn hàng ngày rỉ rả, phường vẫn biên chế người phát thanh, trông giữ máy móc. Ôi, người lớn còn vậy, trẻ con làm báo tường thì cũngkhông có gì lạ.

Chuyện báo tường, chuyện loa phường, chuyện bản tin vào thời đại Internet, có lẽ chỉ có ở nước ta

về đầu trang

Chuyển mùa

Chưa thấy đài báo thời tiết, trời vẫn nắng mà bố tôi đã bảo: “Mai thế nào cũng rét”, hoặc có lần đang gió lạnh hiu hiu, bố tôi lại bảo: “Mai thế nào cũng nắng”. Hồi đó, tôi cứ nghĩ thán phục sao bố tôi lại tài thế.

Bây giờ, tuy chưa bằng tuổi bố tôi ngày ấy, nhưng cũng đã đủ tuổi để biết vì sao bố tôi lại biết được như vậy.

Là tại vì quan sát những đứa con của tôi.

Bây giờ đã có ti vi, dự báo thời tiết lại nhanh, nhạy hơn hồi cách đây mấy chục năm, rõ ràng có tin báo ngày mai trời rét, thế mà những đứa trẻ học sinh cứ nhơn nhơn. Sáng ra, mẹ nhắc mặc thêm áo, bà cũng bảo “tao thấy đau người, ù đầu, chắc là gió lạnh đấy”, thế mà chúng cười khì, lại còn nói: “Ôi lạnh hơi hơi thích thật”, rồi chuồn đi học từ lúc nào. Làm cho ở nhà, bà thì ca cẩm, mẹ chúng thì lo lắng.

Riêng tôi không nhắc nhở gì cả. Tôi thấy lại mình hồi xa xưa. Thời tiết thay đổi chỉ có nghĩa với người già, những người quỹ thời gian còn ít hơn chúng nó. Những người có tuổi giống như cái phong vũ biểu, cảm nhận mùa đi từ cái đốt sống đến từng tế bào trong não bộ. Nhìn mùa đi qua trước mặt, biết mùa đông của mình đang tới gần.

Cũng là mùa đi, mỗi thời một khác. Bốn mùa của trời rõ mồn một, bốn màu của người cứ âm thầm chảy trôi trong mỗi con người.

Cũng là mùa đông tới gần, mỗi ngày tôi càng hiểu thêm bố tôi, nhưng bố tôi đã xa rồi.

Rồi đến một ngày, những đứa con của tôi chắc lái sẽ ngắm mùa đi qua, chắc chúng sẽ nhớ đến tôi...


về đầu trang

Cầu thang máy

Một ông bạn tôi, giáo sư môn hoá lý đột nhiên hỏi: “Chỗ cậu làm có thang máy không?”. Tôi bảo: Có. Tôi mới chuyển đến cơ quan mới, văn phòng ở một toà nhà cao tầng, có thang máy. Ông giáo sư gật: “Thế thì tốt”. Tôi bảo: “Tốt cái gì?”. Ông này trầm tư: “Tốt cho cậu, và cho cả những người làm việc ở cái toà nhà cao tầng”. Tôi hỏi lại lần nữa, ông này cười, không nói nữa. Người ta bảo những ông giáo sư thâm trầm, đầu họ có cái mầu óng ánh của kiến thức phát tiết ra ngoài khiến cho tóc rụng, trái hói. Có thế thật, nhưng cũng có thể vì họ luôn luôn không nói toạc móng lợn như người khác.

Tôi từ đó có cái ám ảnh mỗi khi vào thang máy. Một linh cảm mơ hồ về điều tốt như một ngọn gió thoảng thổi từ cái đầu giáo sư bóng lộn của bạn tôi đến trí óc rậm rì viên chức của tôi.

Đầu giờ sáng mỗi ngày, tôi đến cửa toà nhà, đã thấy mấy người đứng đợi thang máy rồi, chỉ vừa tích tắc, đã có thêm nhiều người nữa. Thời gian chờ đợi mới thật là dài nhất, một vài phút thôi mà dài vô tận. Tôi nhìn ra ngoài cửa kính, thấy dòng xe trên đường trôi ào ạt, thật lạ, mình vừa từ cái dòng sông dữ dội ấy tách ra đây, làm một giọt nước đọng rung rinh nơi này… Vừa nghĩ đến đó thì cánh cửa bên cạnh xịch mở ra, mọi người hối hả chui vào. Lại có một vài người nữa mới đến chạy chạy, lại thêm một người chạy hùng hục, xách cặp to kềnh cũng chạy. Khi cánh cửa vừa mới động đậy định đóng, thấy có bóng người nhoáng đến, cái cánh cửa lại dụt lại, mở ra cho người ấy vào. Có hôm cánh cửa đóng vào mở ra hai ba lần rồi mới đóng hẳn. Mọi người trong cái phòng bé tí của thang máy như phản xạ tự nhiên đứng dịch vào nhau một chút. Có cô rất đẹp, mặc áo hở cổ rộng, hở cả vai, nếu ở ngoài thì anh chỉ dám liếc một phần mười giây, nói gì mon men đến gần, còn trong thang máy đông, anh có thể thấy lông tơ mềm óng ánh trên vai nõn nà của cô ta, anh mà cao anh có thể nhìn thấy vật “nhân bảo” quý giá nơi ngực đang phập phồng như cái bánh bao ngà ngọc lấp ló sắp ra lò, bất giác như có luồng khí nén trong ngực anh khiến anh phải thầm thở ra một cái…

Người ta trong thang máy thật là có một khoảng thời gian ngưng đọng. Đợi thang máy còn rục rịch chân tay, còn ngó nghiêng đây đó. Đứng trong thang máy chật, chỉ có đứng, bốn bề tường kín không biết xung quanh là đâu với đâu. Chỉ có tiếng ro ro của động cơ âm âm u u ở đâu đó mới có cảm giác mình đang chuyển động đấy chứ không phải là dừng. Chuyển động nhưng không ai biết, mà chỉ biết là dừng. Người ta ở trong thang máy là mấy giây đối diện với chính mình.Thử hỏi trong ngày không có những giây phút trong thang máy thì có lúc nào không làm gì cả, chỉ đứng không thế này không? Tôi bỗng nghĩ lại, hồi ở cơ quan cũ, sáng ra khỏi nhà lẫn vào dòng sông xe, nó cuốn ta đi, đến cơ quan hậm hụi làm lụng nghĩ suy, tối mắt tối mũi, dù cho chiều tối có nghỉ ngơi cũng lại nghỉ theo kiểu vận động tiêu tốn năng lượng vào ăn uống nhảy nhót, vận động trong tương quan tưng bừng náo nhiệt xung quanh. Tối về có lúc yên lặng nhất là tắt đèn đi ngủ thì chưa chắc đã yên lặng, vợ ngủ rồi thì nghe thấy tiếng ngáy, vợ chưa ngủ thì ca cẩm, không ca cẩm thì lại nói sung sướng, chả có lúc nào yên tĩnh. Thì ra, chỉ có mấy giây trong ngày khi anh ở trong thang máy là thật sự của mình, cho mình mà thôi.

Hôm gặp lại ông bạn giáo sư, ông bèn bảo: “Quy luật hoá lý là tự nhiên biến thiên vận động theo hướng chống lại những nguyên nhân đã sinh ra nó. Biểu tượng của cuộc sống hiện đại là toà nhà cao tầng, thì lại sinh ra cho anh những giây tĩnh lặng gần như tuyệt đối” Tôi bảo tôi hiểu rồi, thế cho nên tôi đi làm có thang máy là hợp thời chứ gì, là cân bằng chứ gì? Ông giáo sư cười, không nói gì nữa. Thảo nào, những hôm trong thang máy có hai ba người quen nhau nói chuyện sao mà khó chịu thế. Nếu tất cả đi cầu thang cùng quen nhau lại đi một nhẽ. Năm người lạ đứng im, còn hai người cứ nói, không phải nói bé, không nói vắn tắt, cứ nói bô bô, sao người ta không thể nhịn được vài giây sau khi đi thang máy mới nói? Nếu có ông bạn giáo sư của tôi, chắc thế nào ông ấy cũng phân tích, người mình vốn có máu nông dân, chưa quen nếp sống đi thang máy của thời hiện đại nên mới ra như thế. Người Việt Nam ta đa số đến thành phố ở nhà lầu từ nông thôn có cánh đồng mông mênh nên giờ đây vẫn chưa quen nói ý tứ tôn trọng mọi người khác hay sao?





về đầu trang

Lại chuyện số nhà

Tôi cam đoan những nhà quản lý đô thị Hà Nội, những người có chức trách phát triển thành phố Hà Nội dường như không biết đến... máy tính. Bây giờ cái máy tính có ổ cứng ngày càng lớn. Hàng chục, hàng trăm Gigabyte, có thể lưu vô vàn thư mục, file. Người ta cứ có địa chỉ dạng đường dẫn là sẽ tìm thấy cái mình muốn. Từ thư mục mẹ gạch chéo (/) đến thư mục con, đến thư mục con nữa... cho đến đích. Khoa học máy tính cho người ta một khái niệm về tìm đường đi trong một mớ hỗn độn các file lưu trữ.
Nhưng ở Hà Nội, sau nhiều lần cải tiến, tốn kém không biết bao nhiêu tiền của, chuyện số nhà, địa chỉ vẫn là một vấn đề nan giải.

Cái địa chỉ cũ một thời: số nhà N, tổ M, Phường X... đã bị chính thức bỏ sau đợt đánh số nhà mới cách đây vài năm, nhưng chết nỗi các giấy tờ có tính pháp lý khác như sổ hộ khẩu, khai sinh, chứng minh thư... lại vẫn ghi theo địa chỉ cũ, nếu muốn dùng địa chỉ mới lại phải có cái giấy chứng nhận của cấp Quận. Có lẽ rắc rối quá, nên người ta vẫn dùng cái địa chỉ số nhà rồi đến tổ, phường. Đố ai đưa thư mà tìm được nhà người ta theo cái địa chỉ ấy. Nó chỉ có trong tư duy quản lý của công an hộ khẩu mà thôi chứ không phải là loại địa chỉ dành cho người ta tìm đường đến nhà dân. Ngay như chuyện đổi địa chỉ, cũng chỉ cần thu cái sổ hộ khẩu về phường, ghi thêm cái địa chỉ mới vào bên cạnh, rồi ông phường cộp dấu lên là xong, khi có việc liên quan đến địa chỉ, người dân chỉ việc trình cái hộ khẩu ấy. Việc đơn giản thế, sao lại không làm, để đến nỗi mỗi khi làm việc liên quan đến địa chỉ, dân phải làm giấy “xin xác nhận”.

Sau khi có dự án đánh lại số nhà, thì cấp quảnlý đô thị Hà Nội lại hướng dẫn người dân cách ghi địa chỉ: đường ABC - ngõ Y- ngách Z, nhà số M/N/K/T...
Thật buồn cười. Sao không ghi luôn là Đường ABC, Y/Z/M/N/K/T... Cứ nhiều gạch chéo là biết có nhiều lối ngõ... Không khác gì địa chỉ một file trong máy tính. Cách này chính quyền Sài Gòn đã dùng ngay trước năm 1975, hay thế sao không giữ lại và học theo họ. Cách đánh số này thì một nhà trong ngõ có thể có nhiều cách ghi địa chỉ, tuỳ theo cách đi. Chính quyền Phường chỉ cần quy định một địa chỉ đi theo đường chính thuộc phường làm địa chỉ pháp lý trong các giấy tờ, còn các địa chỉ khác là địa chỉ phụ.
Đấy chỉ là câu chuyện xử lý cách ghi địa chỉ, còn chuyện đánh số các chung cư cao tầng cũng có nhiều chuyện. Đố ai chỉ nhìn địa chỉ để đi đến một chung cư mà không phải hỏi thăm?

Hơn ai hết, chuyện địa chỉ liên quan nhiều nhất đến khối doanh nghiệp. Với một địa chỉ, người ta tìm thấy mình thuận tiện nhất cũng chính là tiền, nếu khách không tìm đến, bực mình bỏ đi thì đó là lỗ vốn. Giấy tờ lien quan đến thuế, ngân hàng, xuất nhập khẩu mà mỗi nơi ghi một địa chỉ thì cũng không xong. Nên, cách hành xử về số nhà của Hà Nội, phải chăng chính là một yếu tố làm cho chỉ số cạnh tranh của Hà Nội bị tụt hạng. Đừng nghĩ nhà đầu tư ngán điều to tát? Họ chán từ những chuyện nhỏ nhặt như chuyện cái số nhà và địa chỉ.

Đấy là chưa nói chuyện đánh số lộn tùng phèo ở nhiều phố, trùng số cũng có, số cũ số mới lung tung, đó là cái sai có tính “cơ học” thô thiển rõ ràng ai cũng biết. Nhưng chả thấy ai sửa. Phải chăng, tư duy về đánh số nhà nên học lại bài học của người Pháp, lấy sông Hồng làm chuẩn. Quy tắc đánh số nhà có từ thời Napoleon, người Pháp đã áp dụng ở Pari lấy sông Sen làm chuẩn. Phố song song với sông thì đánh số từ thượng nguồn, phố cắt với sông thì đánh số từ phía sông trở ra. Việc đánh số này thật khoa học, thuận tiện cho giao dịch, tìm kiếm. Các phố cổ và đại đa số phố Hà Nội đều theo nguyên tắc này. Nhưng cũng có một số phố mới người ta bắt đầu đánh số lung tung. Ví dụ phố đường Bưởi, đánh số từ Cầu Giấy đánh đi là ngược quy tắc so với các phố khác. Không biết các nhà quản lý đô thị có tính đến không?
về đầu trang

Làn sóng hoa đào

Nếu đưa lên máy tính mô phỏng tốc độ đô thị hóa, rồi co rút về mặt thời gian, sẽ thấy một vùng sóng, lan tỏa từ khu trung tâm, giống như ai đó ném một hòn sỏi vào mặt hồ phẳng lặng. Đô thị hóa cứ lan tỏa ra mãi ngoại ô, không biết rồi nó sẽ lan đến đâu. Hôm qua vành đai 1, hôm nay đã vành đai 2, vành đai 3… Thế cho nên, giữ một vườn đào ở giữa thành phố thời hiện đại quả là quá khó.

Có thể là chúng ta muốn giữ cũng khó được. Ví như cây húng Láng, có giữ được ở những thửa ruộng ven đường Láng đâu? Hình như, khi người ta đô thị hóa, xây nhà tầng chen chúc, thì thổ nhưỡng nơi đó cũng khác, chất đất sẽ không còn màu mỡ, không khí không còn trong lành như cũ nữa, ánh nắng cũng không còn nắng như cũ nữa. Cái cây nó cũng quang hợp, hô hấp mà…

Nói thế, không có nghĩa là tôi ủng hộ phá đào, phá húng… Vấn đề là giữ nó thế nào?

Riêng với cây đào, người ta có thể giữ lại một diện tích nào đó, coi như vùng đào gốc. Nó là bảo tàng, nó là kỷ niệm, là đồ cổ… v.v, còn thì vùng đào hàng hóa phải cho nó lan xa ra ngoại thành, theo đường lan của làn sóng đô thị hóa.

Tết đến nơi, nói chuyện cây đào lại thương nhớ đào Nhật Tân, nhưng hôm qua, tôi đi qua khu vực Như Quỳnh, rồi lại đi trên đường Thăng Long Nội Bài, bên kia cầu Thăng Long thì cũng bắt gặp những vườn đào, tuy chưa quy mô bằng Nhật Tân, nhưng đã là những cây đào mang dáng đào Nhật Tân xưa, cây khỏe, hoa đẹp…

Năm nay thời tiết bất thường, có thể cây đào ở những “vùng đất mới” chưa lên tươi tốt, chưa làm cho chủ của chúng có lời lãi, nhưng đó là con đường tất yếu của cây đào.

Các nhà quy hoạch đô thị hay nói đến xây nhà cao tầng này nọ, bắc cái cầu, hay làm con đường… Nhưng còn quy hoạch vùng cây, hoa đặc sản thì sao? Đâu chỉ là chuyện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp. Nếu ai đã từng ở các klàng nghề ven Hà thành, mới thấy vấn đề không chỉ thuần túy là canh tác nông nghiệp. Nó là một vấn đề văn hóa nữa…Tết đến, thương nhớ cây đào, hy vọng vào làn sóng vùng đào…

về đầu trang

Bên phải, bên trái…

Nếu bạn uống nước, hay ăn cơm, để nồi cơm bên phải hay bên trái thì không quan trọng. Nhưng đi đường, bên phải hay bên trái lại là vấn đề lớn. Đi đường bên phải, vượt xe bên trái, lái xe ngồi bên trái… Đó là luật giao thông. Liên quan đến trật tự xã hội, trình độ chuyên môn, liên quan đến sinh mạng con người.

Nếu bạn có dịp đi suốt tuyến đường bộ xuyên Việt, như là một người lái xe đường dài, bạn sẽ thấy nhiều điều thú vị, đáng suy nghĩ. Một điều rất nhỏ nhặt như là đặt các điểm bán vé trên các trạm thu phí, nếu là khách ngồi trên xe, chắc không để ý, nhưng nếu hỏi chuyện cánh lái xe, thì họ sẽ nói những nhận xét của họ khiến bạn suy nghĩ.

Từ Bến Thủy (Nghệ An) trở vào Nam, các bục bán vé thường làm bên trái đường. Gần trạm thu phí, kéo dài dải phân cách cứng ra, người ta làm cái chòi bán vé. Lái xe đi đến chòi ấy, dừng lại, có thể thò tay ra mua vé rồi đi tiếp. Nếu có nhân viên bán vé, thì họ cũng chỉ đi theo lề dải phân cách cứng mà bán vé cho người lái xe.

Còn từ Bến Thủy trở ra Bắc thì sao? Bục bán vé đặt ở bên phải đường. Khi xe chạy đến điểm bán vé, nhân viên bán vé có thể đến tận cửa xe, nhưng đó là vị trí của người ngồi trên ca-bin cạnh lái xe. Lái xe phải đưa tiền cho người ngồi bên đó, “mua vé hộ”. Nếu xe chỉ có một lái xe thì chắc chắn phải dừng lại, hoặc là lái xe nhoai người sang bên cửa sổ bên kia, hoặc là xuống đường đi vòng sang bên kia xe để mua vé. Rõ ràng, cung cách để mua vé đối với các trạm thu phí phía Bắc nhiêu khê hơn, thời gian dừng ở các trạm cũng nhiều hơn, nguy cơ ách tắc cũng lớn hơn.

Điều này, một lái xe của Văn phòng Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh nói với chúng tôi, trong dịp chúng tôi đi dọc đường Hồ Chí Minh từ Hòa Lạc đến Ngọc Hồi (Kon Tum) và chúng tôi kiểm chứng là đúng.

Chỉ là một việc bán vé xe tại các trạm thu phí thôi, nhưng nó phản ánh cung cách điều hành, quản lý của một đơn vị. Trình độ chuyên môn ư? Sự tôn trọng các nguyên tắc quản lý ư? Phục vụ khách hàng ư? Nói lý thuyết thì ai cũng nói được, ai cũng hiểu cả. Không hiểu những người quản lý các trạm thu phí và các cấp trên của họ có bao giờ suy nghĩ rằng phải hỏi cánh lái xe điều trên đây không? Hay họ chỉ cần giải quyết công việc sao cho tiện cho họ mà thôi. Và có lẽ đây là cung cách phổ biến của các cơ quan công quyền quan liêu hiện nay. Bởi vì việc mua vé là bắt buộc, anh không mua thì anh không qua được trạm, nên dù tôi bán chỗ nào anh cũng phải mua. Ôi, cái trạm thu phí hóa ra không phải là nhỏ, nó cũng là một loại quyền hành ghê gớm thật./.

Sức ép

Ông Micheal Onsel, đại diện của Công ty Motocare, trong buổi phỏng vấn của Đài Truyền hình Việt Nam, đã thốt lên: “Thị trường ô tô Việt Nam vẫn cứ thế mà thôi”. Cứ thế, tức là người dân cứ phải mua xe giá đắt nhất thế giới, chất lượng ô tô của các doanh nghiệp trong nước vẫn cứ thấp, mà tiền thuế vào Nhà nước vẫn cứ ít như thế, vì một nguyên nhân là thủ đoạn chuyển giá tinh vi của các ông chủ đầu tư nước ngoài

Một lý do của việc đánh thuế cao chót vót đối với ô tô cũ, quan chức của Bộ tài chính cho rằng, nếu mở cửa dễ dãi thì Việt Nam sẽ trở thành bão rác ô tô cũ và còn một điều lo rằng, “không có đường mà đi”.

Thật lạ lùng.

Người tiêu dùng Việt Nam trình độ thấp đến nỗi không phân biệt được chất lượng xe chăng?

Đường xá Việt Nam cứ “tà tà” mà phát triển, trong đó hình mẫu của các PMU như PMU18 làm ra những con đường chất lượng kém nhất thế giới chăng? Để rồi nhu cầu về ô tô, xe máy phải khuôn theo tiến độ và chất lượng con đường của ngành giao thông ư?

Trong vấn đề này, tôi nghiêng về quan điểm cho rằng, nếu Nhà nước bỏ bảo hộ sản xuất ô tô trong nước, thì chỉ có lợi cho các doanh nghiệp ô tô, có lợi cho người tiêu dùng và có lợi cho chính công nghiệp cầu đường Việt Nam. Lý do chính yếu là việc ô tô cũ tràn về với giá rẻ, sẽ tạo ra một sức ép đáng kể cho tất cả các bên liên quan, là yếu tố tăng sức cạnh tranh và kích cầu cho ngành ô tô và ngành cầu đường.

Quan chức quản lý Nhà nước nếu có quan điểm “đường đi chỉ có thế, nên phải đánh thuế cao để hạn chế ô tô” thì dân mất nhờ rồi. Đó phải chăng là tư duy bao cấp, nghĩ hộ mọi ngành, mọi nghề, mọi người. Giống như ngày xưa, có người bảo, nhà nước bỏ tem phiếu, sẽ dẫn đến hỗn loạn, dân thành phố lấy gạo đâu mà ăn? Lại nghĩ lại, hồi Nhà nước sắp bỏ độc quyền quản lý kinh doanh vàng, cũng có ý kiến nói Nhà nước “buông” vàng ra thì nguy to, tiền và vàng đổ vào tư nhân thì mất định hướng xã hội chủ nghĩa. Ôi, nguy đâu chả thấy, nay chỉ thấy bài học về những suy nghĩ ấu trĩ thời đó mà thôi.

Sức ép phát triển tự ra đề cho bài toán xây dựng hạ tầng, chứ không phải là ngược lại. Sức ép về tự do thương mại sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng ngành công nghiệp ô tô. Sẽ đến một ngày, nghĩ lại những lý do của nhà quản lý, biết đâu lại thấy đó là sự ấu trĩ, bảo thủ đến buồn cười thì sao?

Một ông bạn tôi trước đây vui mừng định mua ô tô cũ, nay bị dội một gáo nước lạnh vì chính sách thuế, đã thốt lên: “Nhà nước bảo vệ ai, hả ông?”. Nói rồi, ông ấy bảo: “Có lẽ tớ cũng đi lập doanh nghiệp lắp ráp ô tô đây”


về đầu trang
Có những việc không phải khó khăn gì để tiên đoán, nói trước rồi, biết trước rồi, thế mà ai cũng coi thường. Ví như bảo: Gỗ khô thế này, dễ cháy lắm. Có những việc, cứ lù lù ra đó, thế mà ai cũng dường như không nhìn thấy, nhắc đến thì lại kêu khó khăn, đang giải quyết. Nó như con voi chui qua lỗ kim. Ví dụ như cái chuyện cả một khu nhà gỗ xuống cấp, xập xệ, nhếch nhách giữ lòng thủ đô Hà Nội... Ai cũng bảo: Không thể để tồn tại một khu nhà thảm hại như vậy.

Nếu lần giờ những tập báo trong khoảng 10 năm trước đến nay, không biết bao nhiêu lần phóng sự, điều tra, phản ánh. Ngay cả chương trình VTV1, cũng không ít lần đưa tin, đưa hình lên cho bàn dân thiên hạ biết. Cuối mỗi bài báo ấy, đều có một tiên đoán: Nguy cơ tiền tàng hoả hoạn. Điều này thì ai cũng biết. Nhà gỗ, ở trong ngõ hẹp, phương tiện chống cháy không có, nếu cháy... Nếu ư? Thì đấy, 10h30 sáng 21/8, những căn nhà gỗ ấy ở phố Vọng Hà, Phường Chương Dương cháy nghi ngút. Đúng như đã nói trước, vô phương cứu chữa.

Chính quyền thành phố Hà Nội không biết sẽ nói gì?

Mười năm nay, chính quyền bận nhiều việc to lớn phát triển kinh tế xã hội thù đô chăng? Việc tồn tại 30 căn nhà gỗ xuống cấp nhếch nhách giữa thủ đô Hà Nội là quá nhỏ chăng. Đó là những căn hộ được Nhà nước phân cho công nhân viên chức của mình, chứ có phải là dân làm ra tự phát đâu. Những người nghèo sống vì Nhà nước mới còn ở đó, chứ nếu có tiền, chắc chắn họ đã rời bỏ khu vực đó từ lâu rồi. Họ dài cổ chờ chính quyền...

Vậy thì chính quyền làm gì?

Bây giờ lửa đã làm cái việc phán xử của nó. Bất luận nguyên nhân gì, thì đó cũng là ý Trời chăng? Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Các cán bộ thành phố Hà Nội nên tự trách mình trước nhất. Nhưng có lẽ khó mà tìm ra ai chịu trách nhiệm trong vụ việc này.

Qua đây, thấy hiệu lực của các cấp chính quyền nhân dân của ta thật thấp. Chính quyền từ nhân dân mà ra, do dân, vì dân là thế nào? Có lẽ phải định nghĩa lại “dân” chăng?

Vũ Trọng Phụng chết từ lâu rồi, nhưng câu nói một nhân vật của ông nói vẫn ám ảnh: Biết rồi, khổ lắm, nói mãi. Người nghe khố, người nói cũng khổ lắm..



Mục lục:
chuyển mùa/câù thang máy/làn sóng hoa đào/lại chuyện số nhà/bên phải bên trái/sức ép /thư ngỏ sẽ gửi chủ tịch Hà Nội

AddThis Social Bookmark Button


GỬI THƯ CHO BẠN BÈ ĐỂ CHIA SẺ WEBSITE NÀY:

Tên bạn:

E-mail của bạn:
E-mail bạn bè:
Ghi chú: