nhân vật                            Nguyễn Xuân Hưng

Tác phẩm,chia sẻ kinh nghiệm, tư liệu...V.V


"Gate, gate, pàragate pàrasamgate bodhi sàhà"

"Đợi một tiếng gà giục trời mau sáng

Đợi một tiếng người cho đỡ hoang mang..."

(Nguyễn Hữu Hà)


Mục lục

Trang chủ.>nhân vật

Lời mở đầu trang:Những nhà văn và cả nhiều người bình thường đã để lại trong tôi những ấn tượng sâu đậm. Chúng ta trong đời nhìn thấy hàng vạn người, gặp hàng nghìn người, quen hàng trăm người, biết hàng chục người, nhưng hiểu rõ, ấn tượng sâu sắc với mấy người? Tôi không có tham vọng viết "chân dung" hay gì, mà là cảm thấy gì qua những con người dù chỉ gặp một lần...

Có thể viết hàng ngàn trang văn hư cấu, không thích bằng mấy chữ dốc tâm tình với một người đang sống, về một việc có thực trên đời. Đây là con tim tôi, tâm hồn tôi lên tiếng...



Xuân Sách- “Ông chân dung”

Tôi có dịp gặp Xuân Sách và chỉ có một lần ấy thôi, cho đến bây giờ.
Đôi khi, có những con người, bạn chỉ gặp một lần trong đời, nhưng ấn tượng về con người ấy theo mãi, hơn bất cứ người nào ta thường xuyên tiếp xúc. Xuân Sách đối với tôi là người như vậy.
Tôi đến Vũng Tàu một lần đi công tác, dịp đó chuẩn bị làm báo Tết. Trần Chu, người phụ trách phát hành phía Nam của báo Đầu tư bảo tôi: Vũng Tàu có một ông rất lạ, đó là ông Xuân Sách, anh có dám đăng bài của ông ấy vào báo Tết không?
Tôi bảo: “Xuân Sách “anh vẫn hành quân” và “Đội du kích thiếu niên Đình Bảng” ấy hả? Thế thì có gì dám hay không dám đăng?”
Trần Chu cười: “Anh không biết thời sự văn chương ư, có chuyện có phóng viên đến lấy bài của ông ấy, rồi phải xin lỗi, vì tổng biên tập bảo ông Xuân Sách “có vấn đề”, không nên đăng thì hơn”
Khi đó tôi đang phụ trách ban Tiếng Việt, Báo Đầu tư, có thể chọn trình bài, lên đề cương báo, ông Nguyễn Trí Dũng tổng biên tập rất khoái làm báo tết, coi đó là hoạt động đỉnh cao của nghề làm báo. Tôi không biết bài ông Sách thế nào, nhưng nếu có ông ấy thì tốt chứ. Hồi ấy tôi chưa hội viên hội nhà văn nào, cũng biết ông Xuân Sách bị tai tiếng vì thơ chân dung. Chỉ có thế thôi thì đã sao? Báo tôi đang làm là báo kinh tế, thơ văn như giấm ớt, chắc chả ai để ý, mặt khác, gặp một người tai tiếng cũng là dịp may hiếm có với người làm báo. Thế là tôi và Trần Chu đến nhà ông Xuân Sách.
Trần Chu có thời công tác với ông Sách, nên chúng tôi đến thăm ông coi như là những người bạn bè cùng công tác đến thăm nhau thôi. Chuyện báo chí, bài vở nói sau. Ông Sách và hai chúng tôi đến quán bia ở Vũng Tàu ăn trưa. Tôi không nhớ quán ấy ở đâu, chỉ nhớ đó là cái nhà hàng khá bề thế, bên hồ nước đẹp và thanh bình.
Tôi nói với ông Xuân Sách rằng tôi đã đọc Đội du kích thiếu niên Đình Bảng của ông từ hồi học cấp một và ngớ ngẩn hỏi chuyện ấy có thật không. Ông cười khà khà, nhìn tôi bằng con mắt le lé: “Cậu có thấy chỗ nào không thật không?”. Tôi thoắt chả ra gì trong con mắt ông già này, nhưng ông ấy đang vui vẻ và độ lượng, nên coi chuyện ấy chả là gì.
Loanh quanh thế nào, rồi cuối cùng cũng vẫn nói chuyện về thơ chân dung. Ông Xuân Sách thừa nhận thơ chân dung đã hành ông, làm cho ông khó khăn “một chút”, nhưng ông lại có vẻ mãn nguyện nói: “Những cái khác sẽ trôi vèo, chỉ còn 100 bài thơ ấy ở lại với tôi thôi” Tôi bảo: “Có người bảo bác… hơi ác”
Trần Chu nhìn tôi, hơi lắc đầu. Kệ. Tôi đang là người làm báo, tôi cứ hỏi.
Ông Xuân Sách nghiêm túc nói: “Nếu họ bảo là sai thì tôi sẽ suy nghĩ lại. Nhưng mà họ đọc ra vanh vách ai với ai… Ôi thôi…” Rồi ông bắt đầu nâng cốc, nói hăng hái về một vài bài thơ mà ông cho là “mấy cái đinh” trong số 100 bài chân dung của ông.
(tự kiểm duyệt, tôi cắt 3 đoạn)
Ông Xuân Sách chắc là người có tính tôn trọng dân chủ, bởi vì ông hay hỏi: “Thế cậu thấy thế nào?”
Tôi lúc ấy còn có thể uống bia thả cửa, hơi “tây tây”, vả lại tôi cóc phải người của làng văn, nên hăng hái nói: “Em thấy cái đoạn bác viết cái gì đó uống mặt anh em trong suối cạn Hội Nhà văn, hơi… kinh kinh”
Ông Xuân Sách bảo: “Cậu may mắn lớn là cậu không phải nhà văn, mà cũng chả nên biết cái ấy làm gì?”
Tôi bảo: “Nhưng có lẽ thời của anh khác, rồi sau này sẽ khác đi chăng?”
“Hy vọng thế. Tôi nói cho cậu biết, cuộc sống có tính luân hồi, đời này ăn mặn, đời sau khát nước. Cái suối ấy cạn cạn rồi thì nó sẽ có nước, nhưng tôi không biết bao giờ, có lẽ còn lâu, vì thế hệ này càng cạn”
Hỡi ôi, ông Xuân Sách như thể tiên tri… Tôi đã đến Hội nhà văn làm một tế bào của nó, tôi đã thấy Xuân Sách sai và đúng như thế nào. Tôi cũng như đại đa số các hội viên tầm thường khác nhận thấy nhà văn Việt Nam hình như đã phân thành 2 loại, một loại bị (hay được) đóng đinh trong 100 cái chân dung tai quái của ông, còn số khác thì không. Ông Xuân Sách kể cho tôi một câu chuyện, về một anh có tên tuổi đàng hoàng, rồi phá lên cười: “Nó bảo, sao bác không cho em bốn câu, bác đánh em cũng được” Ông khoái lắm: “Để Xuân Sách cho bốn câu có phải dễ đâu”
Ông Xuân Sách nói về người mà ông đã viết những câu rất sóc, lạ thay, rất bình tĩnh, ôn tồn. Không cay cú, không tức giận. “Nó bảo, gặp thằng ấy, tức gặp tớ, phải róc xương, tùng xẻo ra. Con ấy tớ biết, nó nói thế thôi, làm sao đánh chết được một con kiến, mà nói làm gì tớ. Con ấy lương thiện đấy”
(cắt 1 đoạn)
Những câu chuyện không đầu không cuối của ông Xuân Sách quả là ám ảnh tôi. Thời đại của các nhà văn đã thay đổi. Các nhà văn đối đãi với nhau cũng thay đổi sau 100 cái chân dung của ông Xuân Sách. Sau này, tôi đã nghe nhiều chuyện khác nữa, bao giờ các bác ấy cũng nói với tôi câu mào đầu: “Cậu bây giờ đếch hiểu được đâu”. Một thời các nhà văn sống với nhau hồn nhiên, như một đại gia đình. Tính nết, sở trường sở đỏan và tài năng đều phát sáng long lanh, hiện ra huy hoàng trong mắt nhau. Dù cho có viết những lời rất ác, nhưng khi nói về nhau, họ vẫn nể nhau, chứ không khinh ghét. Viết là làm văn, tuốt gươm là so tài, còn nghĩ về nhau là sản phẩm của văn hoá và nhân cách. Ông Sách cũng là sản phẩm của một thời đại hào nhoáng và hồn nhiên ấy. Qua câu chuyện của ông, tại sao ông vẫn nói về họ một cách trân trọng. “Cái nết thằng ấy đáng ghét thế, nhưng đó là tật của tài năng. Tao làm văn, sao tao viết khác được, nhưng tao không ghét nó, nó tài đấy”. Ông Sách quên béng chúng tôi là khách, ông mày tao cởi mở. Tôi hỏi ông có đọc sách của nhà văn ấy không. Ông gật: “Đọc chứ. Tao đọc hết”
Dường như ông ý thức được cách dùng chữ làm gươm đao, nhưng như một hiệp sĩ, khi đối phương gục ngã, ông lại ngả mũ chào. Bây giờ thì sao? Các nhà văn thời Internet dường như tráo trở hơn. Có kẻ cạn tàu ráo máng hơn, khinh bỉ nhau đến tận cùng ý nghĩ. Nhà văn thời nay không có cái tâm lý sống với nhau trong một bầu trời như thời ông Sách, nên nếu ông Xuân Sách vào làng văn thời nay, ông không thể viết chân dung được. Hiện nay chỉ thấy nống nhau lên vì bè phái, còn khi họ có thể nói và viết về nhau, thì miêu tả sự xấu xa với tâm lý cay cú, hằn học chứ không làm văn được như ông Xuân Sách.
Thời nay, không thể biết hết một nhà văn, nếu chỉ nghe thấy sự đánh bóng của báo chí hoặc nghe đồn, vì môi trường sống, không gian sống đã mở rộng hơn trước rất nhiều. Con người ngày nay có nguy cơ bị bệnh đa nhân cách. Nhà văn lại càng có nguy cơ rối loạn tâm thần vì bản tính nghệ sĩ nhạy cảm với sự khác thường, nhất là nếu môi trường và điều kiện sống của cá nhân càng méo mó, thì bênh tâm thần của nhà văn càng khủng khiếp. Xã hội Việt Nam chưa có thói quen tồn tại bác sĩ tâm lý, nên cánh nhà văn càng đáng thương.
Tôi hằng ngày đến cơ quan Hội, bỗng cứ kinh kinh cách dùng từ “suối cạn” của ông Xuân Sách.
Tôi cũng chưa thể cắt nghĩa rõ ràng, vì sao tại đầu não cơ quan một tổ chức mệnh danh là tập trung văn chương chữ nghĩa của đất nước, lại có chuyện tai tiếng về phong cách ứng xử với nhau. Một kiểu giải thích thông thường là các nhà văn có cá tính mạnh nên hay “cọ sát” nhau. Ma sát gây ra nhiệt. Nguỵ biện đấy thôi.
Có lẽ sự giáo dục vô thần thái quá đã làm cho chúng ta trả giá? Nếu nhà văn biết cắt nghĩa về nguồn gốc, nhà văn không đến nỗi cạn tàu ráo máng với nhau, coi mình như trung tâm vũ trụ. Bởi vì nếu anh nghĩ đến quả báo, thì mỗi khi làm điều ác sẽ sợ tội kiếp sau. Xin lỗi, chỉ vì chuyện ông Sách mà tôi suy nghĩ tản mạn. Tôi cũng là một trong số các nhà văn Việt Nam mới ti toe viết lách, dĩ nhiên tôi cũng có nguy cơ tiềm tàng bị bệnh như các nhà văn khác. Tôi cũng thương tôi lắm chứ.
Năm đó, tôi đã đăng bài, đăng ảnh ông Xuân Sách trên báo tết. Chả có ai có ý kêu ca gì. Bài ông viết cũng hiền lành. Đôi khi chúng ta hay sợ bóng sợ gió, cánh làm báo lại càng có tính xấu là nhìn trước nhìn sau, bảo hoàng hơn vua. Năm sau báo Tết tôi còn đăng ông Xuân Sách một lần nữa. Nhưng lần sau thì chỉ điện thoại cho Trần Chu lấy bài ra mà thôi.

Về đầu trang

Nhà thơ Trần Quốc Toàn, nhà giáo, người thày

Tôi biết Trần Quốc Toàn trước hết qua thư từ. Hồi đó khoảng năm 1994 gì đó. Tạp chí Thế giới mới có tổ chức cuộc thị truyện ngắn 1.000 chữ. Tôi gửi 2 cái truyện dự thi. Trần Quốc Toàn gửi cho tôi cái thư chữ viết rất tháu, bảo là có truyện thì gửi tiếp, anh khen cái truyện “Big Bang” của tôi. Vài ngày sau, anh lại gửi cho tôi một thư nữa, trong đó có một tấm phim dương bản hình minh họa truyện ngắn này, anh nói là để tôi giữ làm kỷ niệm. Khi đó tôi đang làm kỹ sư ở Nhà máy, trước đó tôi mới in một truyện ngắn trên báo Văn Nghệ, nên có truyện in báo chí là thích rồi, lại có tý kỷ niệm như anh Toàn gửi cho thì cảm thấy rất mãn nguyện. Sau này đi làm báo, tôi mới biết đó là tấm phim dương bản của bản đen “mi trang”, sau khi in báo, có thể vứt đi. Nhưng anh Trần Quốc Toàn đã bóc ra, gửi cho tôi cái tấm phim đó.
Rồi sau này, tôi thành phóng viên, thành biên tập viên, thư ký tòa soạn rồi phụ trách cả một bộ phận tòa soạn, tôi mới ngày càng thấm thía ý nghĩa sâu sắc việc làm của Nhà thơ Trần Quốc Toàn. Viết một bức thư, dù chữ rất tháu gửi cho một cộng tác viên chưa quen biết, lại gửi cho một tấm phim “mi trang” làm kỷ niệm… trong khi công việc biên tập, thư ký cứ cuốn đi ào ào và lại phải đọc hàng núi bản thảo, thì quả thật không phải bao giờ cũng làm được. Do đó, mỗi khi có ý định động viên một cộng tác viên, tôi lại nhớ đến anh Trần Quốc Toàn. May mà sau này điện thoại phổ biến hơn, nhấc máy có thể liên lạc đuợc. Nhưng cái sự nhận điện thoại không thể so với việc nhận được một lá thư.
Như vậy, tôi coi Trần Quốc Toàn là người thày đầu tiên dạy tôi bài học đầu tiên về nghề báo. Bài báo đầu tiên tôi viết, cũng là đăng trên tạp chí Thế giới mới trong cuộc thi “Tài trí Việt Nam”. Đó là câu chuyện về một giáo sư làm thủy tinh. Trần Quốc Toàn gọi điện cho tôi về nhà máy, hướng dẫn cách viết. Anh nói báo chí khác văn chương thế nào, các nhà văn thường mắc lỗi gì khi viết báo và anh động viên tôi, tôi chưa phải nhà văn, là một kỹ sư thì viết báo hy vọng sẽ không đi vào con đường mòn tả mây tả gió mà chú ý kết cấu, chú ý sự kiện, chú ý cấu tứ, chú ý cái gì nói trước, cái gì nói sau. Đó lại là một bài học nữa về chuyện viết báo, sau này tôi biết tài liệu cách viết báo diễn tả bằng hình ảnh “tam giác lộn ngược”…
Trần Quốc Toàn hồi đầu những năm chín mươi ở trong một hẻm sâu hút ở quận 3. Khi kết thúc cuộc thi “truyện ngắn 1.000 chữ”, dù cho chỉ được giải khuyến khích, với 2 triệu đồng còm, tôi vẫn quyết định vào Thành phố Hồ Chí Minh, mà nguyên nhân chính là để gặp Trần Quốc Toàn. Một người đã liên lạc, động viên tôi mặc dù trước đó không hề biết tôi, điều đó không phải lúc nào cũng gặp được trong đời. Và, cho đến nay, tôi vẫn cho rằng, đó là quyết định sáng suốt nhất của tôi.
Thực ra, lễ lạt cũng giản dị, không có gì ầm ĩ. Trần Quốc Toàn vướng vào sự vụ, bạn bè quây quanh cũng nhiều. Tôi chỉ gặp anh loáng thoáng, nói mấy câu chuyện rồi cũng nhanh chóng chia tay. Có lẽ anh cũng đoán tôi muốn nhiều hơn thế, nên cho địa chỉ nhà. Tôi có đến nhà chơi, thấy có cậu con trai cởi trần học bài. Nhà cửa sơ sài hết sức. Không có bàn tay đàn bà. Khi tôi hỏi “chị ấy” thì được biết vẫn còn công tác ở tỉnh ngoài TPHCM. Có thể thấy rõ đời sống của anh cũng vất vả, không có sự ổn thỏa thường tình… Tôi chơi với anh một lúc rồi về.
Nhưng chuyến đi ấy bắc cầu cho chuyến đi sau. Trần Quốc Toàn bảo tôi: “Báo Người lao động” thi truyện ngắn chủ đề “Chân dung người lao động”, Hưng đang trực tiếp làm ở nhà máy, nên viết cái gì đó”
Trần Quốc Toàn nói thế, tôi nghe rồi quên đi. Về Hải Phòng, công việc bận bịu. Dạo đó tôi làm Phó quản đốc Phân xưởng Thủy tinh của Nhà máy Thủy tinh. Phân xưởng hơn 200 công nhân, một ngày ra lò gần 25 tấn sản phẩm. Đó là phân xưởng chính, quả tim của Nhà máy. Các phân xưởng khác chỉ là phục vụ (cơ khí, nhiên liệu, nguyên liệu…). Bẵng đi khá lâu, một hôm anh Toàn gọi điện giục gửi truyện. Tôi buông máy nghĩ: Mình đã hứa, thôi thì đánh liều viết vậy. Viết gì? Viết chính về cuộc đời, cuộc tình của một người thợ thổi. Viết như là chỉ làm tròn lời hứa với anh Trần Quốc Toàn. Nhưng sau đó truyện của tôi được giải nhất. Hồi đó, một giải văn chương 15 triệu đồng là lớn lắm. Đô la có 8.000 đồng/USD. Vàng thì 400.000đ/chỉ. Khi Trần Quốc Toàn báo tin, tôi thấy ngượng, vì nghĩ mình viết lách vớ vẩn sao lại được nhất, nên bảo anh: “Anh có tác động gì không?”. Vì câu ấy, tôi đến bây giờ vẫn ngượng với anh. Bởi vì lúc đó tôi chưa hoàn toàn hiểu con người Nhà thơ, nhà giáo Trần Quốc Toàn. Anh bảo tôi: “Không có chiếu cố gì cả. Rồi Hưng sẽ thấy và tin tưởng là có những việc chân chính”.
Kỳ thi ấy, Ban giám khảo có các nhà văn Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Lê Đình Kỵ, Vu Gia… Cho đến nay, đọc lại những truyện được giải, gặp nhà văn Vu Gia, nhà văn Anh Đức, tôi càng thấy trân trọng Trần Quốc Toàn. Vào thời điểm tôi chập chững viết văn, Trần Quốc Toàn đã truyền cho tôi một niềm tin mạnh mẽ vào cuộc sống, tin ở con người, sống vì tình người đàng hoàng, đĩnh đạc. Anh chỉ có việc tìm kiếm bài vở giúp “bên ấy”. Một cuộc thi không có giải nhất xứng đáng thì không thể coi là thành công được. Anh chỉ làm cái việc đó thôi.
Sau này, tôi đọc thơ anh, mới hiểu Trần Quốc Toàn là một người Hà Nội yêu Hà Nội hơn ai hết. Cuốn sách những bài học sư phạm của anh nói những chuyện bình thường, với giọng văn nhẹ nhàng, thủ thỉ, mà thấm thía. Đọc văn anh, thấy rõ chất văn hóa thanh lịch, thâm trầm của một người Hà thành, cho dù anh ở phương Nam. Ở văn anh, có chút gì đó giống với hơi văn của những người con yêu “thương nhớ đất Thăng Long”, như Vũ Bằng chẳng hạn… Dù cho tôi có đọc bao nhiêu bài thơ anh, tôi vẫn cứ tưởng tưởng ra anh là một nhà giáo mô phạm, một người thày hơn là thi sĩ, một tâm hồn Hà Nội trong vóc dáng phong trần của người đàn ông lang bạt vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Rồi có mấy lần tôi qua lại TPHCM, đến tòa soạn gặp anh, lúc đó chuyện văn chương đã vãn. Có lẽ anh thấy tôi nhanh chóng quá trở thành một tên nhà báo thì có điều đáng chán. Anh nói: “Cuộc sống báo chí giúp nhiều cho người làm văn. Nhưng hãy coi chừng…” Rồi đến khi gặp anh ở Hà Nội khoảng năm 2005, nghe tôi về làm báo điện tử, Trần Quốc Toàn nói: “Cậu chết rồi”. Quả đó là một lời tiên tri ngắn gọn và chính xác.
Với Trần Quốc Toàn, tôi mãi mãi nhớ anh như một trong những người thày đầu tiên. Anh không chỉ dạy tôi nửa chữ hay một chữ, anh đã là một người thày thực sự, vô tình tác động đến một trong những lựa chọn có tính khắc nghiệt nhất, đó là dấn bước viết văn. Bài giảng của anh với tôi là bằng hành động, bằng nhân cách và tâm hồn anh. Tôi đã từng nhìn làng văn qua một nhân vật là anh và tin tưởng ở lựa chọn của mình. Cho đến nay, tôi vẫn muốn tin điều đó…

Về đầu trang

Đỗ Trung Lai, thi sĩ hát thơ

1.

Đỗ Trung Lai khi tôi mới gặp, quả nhiên anh là thi sĩ của dòng sông quan họ. Trống phách rộn ràng, ca sĩ hát: “Êm êm một khúc sông cầu, sao trời lọt qua mắt lưới, rơi đầy xuống dòng sông sâu…”

Bài hát lắng xuống thì nhà văn Hà Phạm Phú giới thiệu nhà thơ tác giả của những câu thơ ấy. Đỗ Trung Lai đi cùng đoàn với chúng tôi lên Lào Cai, trong suốt chuyến đi anh nói ít, nói toàn chuyện tếu, chuyện tình tang và chuyện vợ ghen…nhưng khi vào cuộc thơ văn giao lưu với văn nghệ Lào Cai này, anh đột nhiên linh hoạt, nói rất nhiều. Anh như cá về với nước. Con cá này lại đang về với dòng sông quen thuộc của vùng quan họ, nơi anh đã được biết đến ở khắp mọi nơi.

Tôi không còn nhớ chi tiết hôm ấy Đỗ Trung Lai nói gì, chỉ nhớ anh đã nói về việc phổ nhạc bài thơ của anh. Rất nhiều người phổ nhạc, nhưng chỉ có Phan Lạc Hoa, một thời đã từng là bạn anh, là người đã làm cho câu thơ anh thành những câu hát được nhiều người hát bây giờ. Dường như để dẫn chứng cho lời mình, Đỗ Trung Lai nói gì đó với ca sĩ, rồi cô ca sĩ liền hát bài hát do một nhạc sĩ khác phổ nhạc. Quả thật, đó là những giai điệu lạ. Vẫn những lời thơ ấy, nhưng không có cái hồn da diết như nhạc của Phan Lạc Hoa đã thổi vào…

Tôi đã đi theo Đỗ Trung Lai đến một số diễn đàn nghe anh đọc thơ. Khi đó tôi có cảm tưởng người viết văn xuôi quá đỗi thiệt thòi. Nhà thơ có lợi là có thể đọc gan ruột mình trước mọi người. Song, nhà thơ Việt Nam không phải ai cũng biết cách đọc thơ trước công chúng. Tôi đã nghe ông Xuân Diệu đọc thơ, đó là vào năm 1971 tại phố huyện Kinh Môn (Hải Dương), khi tôi là một đứa bé học lớp 6, ông Xuân Diệu về huyện nói chuyện thơ ở sân công ty Dược phẩm, chỉ nói về thơ Hồ Chí Minh và Trần Đăng Khoa. Mắt ông nhắm tít, cái đầu ông lắc lư, mái tóc quăn rung rinh theo ánh đèn măng-sông. Mọi người im thít. Có người im vì mê thơ, có người im vì tôn trọng danh hiệu nhà thơ của ông Xuân Diệu, có người im vì sợ mọi người bảo mình không biết thơ là gì. Khi đó, tôi thuộc loại thứ ba, chả biết thơ là gì cả... Dù sao cách đọc thơ của ông Xuân Diệu cũng là cách đọc thơ có ma lực. Nhà thơ làm chủ diễn đàn, như một dạng phù thuỷ vậy.

Người thứ hai là nhà thơ Việt Nam đọc thơ mà tôi nghe cảm thấy mê mẩn, đó là Hoàng Nhuận Cầm. Khi đó khoảng năm bẩy bẩy, bảy tám gì đó, tôi đang học Đại học Bách khoa, lang thang ra sân sau trường, tức là công viên Thống Nhất, có một đoàn các nhà thơ và sinh viên trường Đại học Tổng hợp đến đọc thơ, rất nhiều nhà thơ đã quen biết với công chúng, nhưng tôi chỉ nhớ Hoàng Nhuận Cầm đọc thơ mà thôi. Dĩ nhiên lời thơ không đọng lại trong đầu tên sinh viên kỹ thuật là tôi khi đó, nhưng cái hồn cốt con người thi sĩ, sự bức xúc trải lòng mình trong từng câu chữ thì cứ ám ảnh tôi mãi. Thơ dường như có một sức mạnh kỳ lạ mà từ lâu tôi không để ý đến. Cử toạ gồm nhiều thành phần phức tạp, chủ yếu đến công viên giải trí, nghe hát, bọn thanh niên sinh viên đến công viên thì để tán tỉnh nhau. Nhưng khi mà Hoàng Nhuận Cầm đọc thơ, tôi thấy tiếng ồn ào ngớt dần, rồi mọi người im. Hoàng Nhuận Cầm đọc thơ với cung cáchtrái ngược với Xuân Diệu. Hoàng Nhuận Cầm vươn cổ gầy, nhìn gân guốc, miệng môi căng hết cỡ. Dường như anh đang làm cái việc cực hình để diễn tả tâm tình bằng tiếng nói, bằng ngôn ngữ âm thanh. Sự chân thành của anh đã đồng cảm đến người nghe. Không ai có thể dửng dưng trước một người mở lòng mình đến thế. Anh khi đó dường như biến thể trong dào dạt âm thanh do anh tạo ra. Con người làm thơ tan biến, chả là gì. Anh bỗng nhiên gày gò thảm hại, chỉ còn tiếng thơ mà thôi. Hình như cái hình hài vật chất của anh đã tan đi để làm thành tiếng thơ anh. Tôi thoắt rùng mình. Một con người có thể làm được như vậy vì cái gọi là thơ. Và cái gọi ấy đã tác động đến hồn người.

Rồi đến tận ngày tôi nhìn thấy nhà thơ Đỗ Trung Lai đọc thơ. Không, anh “hát thơ”. Đó có thể là nhà thơ thứ ba của Việt Nam trình diễn thơ gieo cho tôi ấn tượng sâu đậm và đó là ấn tượng sâu đậm nhất.


2.

Đỗ Trung Lai cũng như các nhà thơ khác, hay thích tìm những từ lạ để thay thế những từ đã được nhiều người dùng rồi. Dường như với các nhà thơ, sự nhàm chán đến từ chính ngôn ngữ thường ngày. “Tôi hátbài này, lời thơ là do tôi “chế” ra”. Không phải là “làm ra” đâu. Phải là “chế” ra. Thế đấy.

Cái bài mà anh trình diễn hoá ra cũng chả phải bài hát thông thường. Cũng không phải là đọc thơ. Nó là một loại hát xẩm của riêng anh. Lời mào đầu có hơi lằng nhằng một chút. Đỗ Trung Lai tự cho mình là người thứ ba trong lịch sử thi ca tự hát những bài do mình “chế” ra. Một là Nguyễn Công Trứ, hai là Tản Đà, và ba là… Xếp một chiếu để tự ngồi thứ ba, sau hai vị thi sĩ ngông nghênh khét tiếng, đó là Đỗ Trung Lai.

Đỗ Trung Lai kiếm hai cái đũa, gõ bát linh kinh, rồi hát bằng giọng nam ngang của riêng anh. Đầu lắc lư, mắt lúc như say thuốc, lúc lại như mắt mèo hoang. Người say thơ, người tự say mình, người hát say người… Ai một lần nghe anh hát thơ, chắc chắn cũng trở thành thoát tục. Điều kỳ diệu của thơ ca là khiến cho người ta tạm xa cõi trần tục, và điều đáng nể là Đỗ Trung Lai đã truyền cho cử toạ cảm giác ấy. Ở khía cạnh này, thi ca có phần có mẫu số chung với tôn giáo. Phật tử hằng hướng tới trí tuệ Bát Nhã, nhằm đích siêu thoát ở chân trời Niết bàn. Thi ca đích thực cũng có phần khai sáng trí tuệ và tâm hồn, có điều “vớ vẩn” là không mấy khi nhà thơ đồng thời là Bồ Tát của tôn giáo thơ ca. Nhưng tôi đã thấy những nhà thơ đọc thơ như thể họ đang làm một loại lễ nghi tôn giáo. Ba thi sĩ mà tôi kể trên đây đã là như vậy. Xuân Diệu, Hoàng Nhuận Cầm và người thứ ba làm nghi lễ đọc thơ ấn tượng nhất, đó là Đỗ Trung Lai. Tiếng gõ đũa tinh tang và tiếng nhà thơ ứ hự, khách nghe rượu ngà ngà, không khí trở nên ngây ngất. Hồn chầu văn phảng phất. Do Đỗ Trung Lai đấy nhá…


3.

Có người nói: Nhà thơ thì nhiều mà thi sĩ thì ít thôi… Ngôn ngữ Việt Nam thần tình ở chỗ nó khiến người ta cảm nhận được sự tinh tế trong sự biểu đạt. Nếu phải mô tả, có lẽ phải dùng rất nhiều lời. Hoá ra, từ ngữ Việt trong một số trường hợp có điều gì đó gần giống âm nhạc. Thi sĩ cũng đại khái là nhà thơ, nhưng cũng chả phải. Tôi đã gặp và đọc Hữu Thỉnh, Vũ Duy Thông, Bằng Việt, Trần Đăng Khoa và nhiều nhà thơ khác mà tên họ lung linh trên báo, trên sách. Nhưng tôi không gọi họ là thi sĩ mà tôi gọi là nhà thơ. Còn Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, hay Đỗ Trung Lai thì tôi gọi họ là những thi sĩ mà tôi biết. Thi sĩ có gì đó không hoàn chỉnh, có thể ứng xử của họ với người đời có méo mó, nhưng phần cá thể sống ở họ rất mãnh liệt. Trước khi nói đến sản phẩm ngôn ngữ thơ của họ, thì huyền thoại về đời người đã hấp dẫn người đời. Cuộc sống vốn không toàn vẹn. Thi sĩ có lẽ mang trong mình tính hoang dã tự nhiên mà vũ trụ đã phú cho đời sống nhân loại. Còn các nhà thơ không thi sĩ, có lẽ họ khôn khéo và hoàn chỉnh quá. Khôn khéo và hoàn chỉnh là tốt chứ. Người ta ai cũng muốn vươn đến cái toàn vẹn. Nhưng người ta lại cũng thích sự ngang tàng bạt mạng, một kiểu phá cách so với những khuôn mẫu có tính khế ước trong hành động sống của cộng đồng.

Đỗ Trung Lai thi sĩ có cái tính mà người đời gọi là “gân”. Không phải gàn, không phải tự cao tự đại, mà là “gân”. Trong một đám trà dư tửu hậu, tôi là đứa ít tuổi hơn, ngồi im thì đáng rồi. Nhưng những bác già cũng “tắt điện” luôn. Vì đã có Đỗ Trung Lai đang chỉ chỉ ngón tay và nói. Không phải anh nào cũng có thể nói và nói. Phải có cái gì mới nói được chứ.

(Tạm cắt một đoạn)

Nhà văn Hà Phạm Phú nói với tôi: “Một đức tính cuả thiên tài là “mục hạ vô nhân”, dưới “con mắt thơ” ta đếch có ai, tức là cá tính phải rất mạnh. Nghệ sĩ tài đều phải như vậy. Đỗ Trung Lai có một chút phẩm chất ấy. Có thể điều đó làm cho đời anh ta thiệt, nhưng thi ca và cộng đồng thì được lãi”.

Như thế là anh thi sĩ bị trời đày. Phẩm chất thiên tài làm nên thi sĩ Đỗ Trung Lai, nhưng đã làm cho anh long đong. Tôi gặp Đỗ Trung Lai khi anh cởi áo “Đại tá phá khung” để làm báo Tiếng nói Việt Nam. Nhà văn Hà Đình Cẩn đùa với tôi: “Tiếng nói Việt Nam và tiếng nói Đỗ Trung Lai không cùng tông được đâu”. Ông Hà Đình Cẩn quả là một tiên tri. Không lâu sau, thi sĩ Đỗ Trung Lai từ giã chân Phó tổng biên tập để về nhà dịch thơ Đỗ Phủ. Tôi thấy có lẽ như vậy lại may, có đâu một nhà thơ cứ phải sớm tối lọ mọ với mấy trang báo như thế mãi. Cả khi làm báo, anh cũng không tách mình khỏi cái vỏ thi sĩ được, thế là tiềm ẩn sự không bền rồi.

Không có mấy anh có chức vị lại bỏ một cái chức nhẹ như bỏ tờ báo cũ. Nhưng Đỗ Trung Lai đã làm như vậy. Con người thi sĩ trong anh không thể đồng hành được với con người công chức. Hành xử thi sĩ của anh có thể không hợp thời với kiểu ứng xử bầu tròn của cộng đồng. Nhưng điều đó làm nên sự cao cả trong nhân cách Đỗ Trung Lai. Người khác có thể nói kiểu “ngoại giao”, nhưng Đỗ Trung Lai thì nói thẳng toạch. Thằng đứ đừ. Khi lãnh đạo H.T gợi ý Đỗ Trung Lai làm phó cho một vị ..., anh nói “Bác thế là hạ thấp em quá”. Giá như người khác thì từ chối sẽ khéo lắm, có khi người nghe từ chối mà lại sướng hơn nghe nịnh. Nhưng Đỗ Trung Lai nói thế thôi. Chính xác, ngắn gọn, rõ ràng…

(tạm cắt vài đoạn)

Hồi Đỗ Trung Lai làm chủ tịch hội đồng sơ khảo kỳ thi viết truyện cho thanh niên sinh viên do Nhà xuất bản Giáo dục tổ chức, tôi cũng có truyện dự thi, và khi đó đã quen nhau rồi, nhưng chỉ đến khi công bố giải, Đỗ Trung Lai mới biết đấy là tôi. Anh có vẻ rất vui, anh nói: “Nếu mà cậu bảo tớ trước, thì tớ coi cậu là cái rác”. Tôi biết, có một vài vị đã đến ngỏ ý bảo “mình có cái dự thi” và Đỗ Trung Lai đã trừ điểm ngay. Trong xu thế quan hệ phong bì ngày nay, có một người gàn như vậy quả là không nhiều. Sống kiêu hãnh được đâu có dễ gì. Đỗ Trung Lai đã sống kiêu hãnh được. Có lẽ phẩm chất thi sĩ khiến anh làm được điều mà không nhiều người làm được.

Về đầu trang

Nhà văn Tô Đức Chiêu, con người chất phác

1.

Tôi đến gặp ông Tô Đức Chiêu lần đầu tiên khi ông làm Chánh văn phòng Hội Nhà văn. Đó là một người ít dáng dấp văn nghệ sĩ nhất mà tôi gặp. Không trịnh trọng, không chải chuốt, không lôi thôi như các anh văn nghệ thông thường. Ông Chiêu cao lớn, đi lại mạnh bạo, ăn nói dứt khoát. Có ấn tượng ngay đó là một người ưa hành động. Hôm ấy tôi đã rất ngạc nhiên vì sao Hội Nhà văn lại có một người có phong cách công chức đến thế làm Chánh văn phòng. Công việc của anh văn phòng đúng là một tên đầu bếp, phải dọn món, phải chọn khẩu vị cho thực khách. Anh văn phòng cũng như làm dâu một đại gia đình, ai cũng có thể sai khiến, việc gì không tên thì đến tay. Hồi ấy cơ quan tôi cũng đang khuyết chân Phó văn phòng, tôi nhìn thấy ông Tô Đức Chiêu một hình ảnh mà cơ quan tôi rất cần. Nhưng lạ thay ở Hội Nhà văn lại có người như vậy.

Nhưng con người cao to quán xuyến ấy lại viết văn rất nhẹ nhàng. Những bài bút ký ông Chiêu đưa tôi đăng báo được viết rất kỹ, có phần ít tính báo chí, mà nhiều văn chương. May thay, với một tờ báo kinh tế, loại viết như vậy rất hiếm. Ông Chiêu đến tận nơi lĩnh nhuận bút, lại còncẩn thận gọi điện báo “cậu không phải bận vì tớ”.


2.

Mỗi nhà văn đều có một miền quê suối nguồn cho tác phẩm, với ông Tô Đức Chiêu, đó là đời lính (ông đã từng là lính cối mặt đất) và quê hương Hải Dương. Đọc sách của nhà văn Tô Đức Chiêu, như thể nghe thấy hơi thở một thời của thị xã Hải Dương và một vùng Tứ Kỳ sát thị xã nhỏ bé. Nhiều lần về qua Hải Dương thành phố, tôi lại nhớ tới những trang viết ấm áp tình người, tình đất của ông. Nơi những ngôi nhà cao của Công ty Nam Cường bây giờ, Tô Đức Chiêu đã tả thời của ông là những ao đầm hoang dại, những con cá con cua từ đó theo ông vào trang sách.

Tôi đã cùng nhà văn Tô Đức Chiêu lang thang ở cái thị xã nhỏ bé ấy, đi xa hút về phía nghĩa trang trên đường đi Gia Lộc. Nơi đó những người thân yêu thế hệ trước của ông đã yên nghỉ. Một thời, họ là địa chủ, những phú ông giàu có của một vùng không giàu có. Tô Đức Chiêu có dự phần trách nhiệm về sự giàu có ấy, đó là sự sang ngang không được học lên, chuyện thường thôi của một thời đã qua rồi.

Đó là một ngày cuối năm, ông Chiêu và tôi lần mò trong nghĩa trang thắp hương vái linh hồn những tiền nhân. Ông Chiêu thủ thỉ kể về các cụ giữa không khí nhuốm màu trang nghiêm, huyền bí của nghĩa trang chiều xẩm tối. Tôi đọc thấy trong lời nói của ông Chiêu sự tự hào, bởi vì ước nguyện của các cụ là các con phải học, chứ không phải là mong muốn làm giàu. Của cải rồi sẽ biến động, như ngôi nhà ở phố Quang Trung (Hải Dương) xa xưa của nhà ông nay đã cũ quá rồi mà không xây lại được, nhưng có tri thức thì còn mới mãi, dày dặn mãi. Con người cao to mạnh mẽ này tưởng như không có gì lay chuyển được, thì lại là người dễ động lòng nhất. Tôi đã thấy ông Chiêu sống với thời gian đa chiều, với ký ức và hiện tại trộn lẫn nhau trong một khoảng khắc trở về quê quán, trong giây phút ấy, tôi bỗng nghĩ nhà văn là con người đáng trọng, bởi vì bao giờ nhà văn cũng nghĩ đến hồn người. Nhà văn không chỉ biết tiêu thụ tiền của vật chất của cha ông, mà nhà văn tiêu thụ cái phần hồn của thế hệ trước để lại. Ông Chiêu đã ngấm cái hồn thiêng hiếu học của người xưa, nên dù cho ông không vào trường đại học, cuối cùng ông thành một nhà văn.


3.

Nhà văn Tô Đức Chiêu là nhà văn có tác phong chất phác. Ông nói rằng, cuộc sống không biết đến quan chức đã rèn cho ông tâm lý mình là một người của đám đông. Một lần đi dự lễ hội ở tỉnh xa, là nhân vật được mời, nhưng tôi thấy ông Chiêu chuẩn bị một cái bánh chưng. Sáng ra, ông bóc bánh chén ngon lành, bảo chủ nhân rằng cậu không phải tiếp đón quái gì tớ, đi mà lo cho “các ông ấy”. Ông Chiêu bảo tôi: “Tớ nói thật đấy. Mấy lão ấy không có ăn sáng tử tế thì nguy, bởi vì các lão được chăm sóc kỹ. Phải lo cho họ, rồi thì việc nào ra việc ấy mình mới đỡ khổ”. Đó là tâm lý “được việc” của ông Chánh văn phòng.

Ông Tô Đức Chiêu quả là một con ong thợ cần mẫn giữa một bầy bướm sặc sỡ ở cơ quan Hội Nhà văn. Ông nhận việc, biết bắt đầu thế nào, làm từng thao tác gì để đạt đến mục đích. Xung quanh toàn những tên tuổi lớn, bạn đọc thấy họ trên báo, trên sách đã giật mình, còn ở cơ quan Hội, chả mấy khi thấy các bác ấy đâu cả. Nhưng rất lạ là ông Chiêu không thật sự trách móc ai vì họ quên việc. Nhà văn là như vậy thôi, việc lơ mơ là thường. Nếu có bực ai, ông ấy chỉ cau mặt nói: “Thằng ấy (lão ấy) sao nó lại như vậy nhỉ”.

Ông Chiêu có cách nói khiến người ta nhận ra thực chất vấn đề. Tôi đã nghe qua người khác kể lại rằng, một lần, có một nhà văn đã quá cố, bà quả phụ đến xin Hội Nhà văn hỗ trợ. Nhà đã xây, tiền đã hỗ trợ, nhưng ý chừng bà ấy muốn Hội hỗ trợ thêm, diễn tả là xin tiền để đủ tiền công xây cái hàng rào. Tiễn bà ấy về rồi, có người hỏi vì sao từ chối. Ông Chiêu bảo Hội có thể hỗ trợ thì đã hỗ trợ, nhà nước ưu đãi thì đã ưu đãi, nhà xây rồi, vườn rộng rồi, còn cái hàng rào muốn hỗ trợ nhân công thì tôi đề nghị ông Nam (Vũ Tú Nam) đi làm thợ nề, ông Điềm (Nguyễn Khoa Điềm) đi đánh vữa, ông Thỉnh (Hữu Thỉnh) đi phu hồ, còn anh em mình thôi thì đi chuyển gạch, nấu cơm nấu nước cho các ông ấy xây tường rào.

Tôi có thời gian tiếp xúc với ông Tô Đức Chiêu khi ông về Ban sáng tác. Ông Chiêu làm việc nhiều hơn bất cứ ai, hơn dăm ba người, bảy tám người khác cộng lại. Ông thường nói về những nhà văn xung quanh là “lão”. “Cái này tôi gửi lão Thỉnh rồi”, hoặc “cái này lão Hồ cầm, chưa đưa cho tôi”, hay “lão Phương lâu rồi không thấy mặt”

Từ “lão” với ông Chiêu nghe rất đằm thắm, ai nghe ông Chiêu nói về các “lão” cũng lây cái chất gần gũi của ông. Có cái gì đó thương mến, thân thiết như những người anh em, cùng một hội một thuyền. Những “lão Kháng, lão Lê, lão Thắng, lão Hàm” còn cánh trẻ, nếu ông mến thì gọi là “thằng”, là “con”. Ai được ông Chiêu gọi là “thằng” thì chắc là người tử tế.

Tôi cũng lây cái câu “lão” của ông Chiêu. Rồi tôi gọi “lão Thỉnh”, “lão Kháng”, “lão Hồ” lúc nào không biết, giữa đám trà dư tửu hậu. Nó cứ buột miệng ngon ơ đi, trong lòng yên ổn kiểu ông Chiêu, mà sau này mới biết có người ngồi đó đã nghĩ khác. Chuyện thế nào cũng đến ông Hữu Thỉnh. Căn vặn mãi rồi cũng lộ ra nguồn, hoá ra là tôi gọi ông Thỉnh là “lão Thỉnh”. Tôi đã sai bởi vì tôi không phải ông Chiêu, vì tôi là đứa trẻ ranh chứ không phải là một ông già, từ tôi đến các ông nhà văn lớn tuổi ẩy là một khoảng cách xa không đo được. Mà tường nhà bao giờ cũng có tai…

Ông Chiêu phân các nhà văn thành hai loại, một bên ông gọi là “lão”, là “thằng”, một bên ông hoặc là không nói gì đến, hoặc gọi trịnh trọng bằng cả cấp hàm, tên tuổi rõ ràng. Ông giải thích: “Đó là siêu nhân rồi”. Tôi hay đùa ông, hỏi thêm mấy câu, thế là ông bảo: “Thằng này lằng nhằng, đã là siêu nhân thì còn bàn gì nữa”.


4.

Ông Chiêu cũng như nhiều nhà văn thuộc thế hệ ông mà tôi gặp là những người rất trọng tình. Ông lần mò đến nơi, trắc ẩn vì một nhà văn lão thành viết “Phá vây” đang sống ở Hải Dương. Khi nghe tin Hãng phim làm phim 50 năm Hội Nhà văn, ông Chiêu bảo: “Cố gắng nhớ đến những người đã dự đại hội khoá 1 còn sống, không còn mấy đâu, ví như ông Sao Mai, ông “Phá vây” và còn ông gì ở Lạng Sơn để tao nhớ lại”. Nhưng tôi không thể làm được chuyện ấy. Làm phim đâu phải viết văn chỉ mình là làm được...

Khi đọc văn của một người trẻ ở Hải Dương, nhà văn Tô Đức Chiêu rất hăng hái giới thiệu, rồi đi đâu cũng nhắc đến. Tôi hỏi kỹ, mới biết ông chưa hề gặp. Sau này gặp rồi, ông càng nhiệt tình giúp đỡ, nhưng tôi biết đã có trường hợp ông Chiêu nhiệt tình giúp đỡ, rồi thì cũng nhạt nhẽo lắm. Ông bảo: “Mình biết văn nó thì nói cho nó, chứ bây giờ ít anh đọc văn nhau lắm, lại càng hiếm đọc cánh trẻ”

Nguyên mẫu cho một nhân vật của cuốn tiểu thuyết “Một thời để nhớ” của ông, tôi cũng biết. Trong ký ức buồn thảm của thời bao cấp ở thị xã nhỏ bé, có thể đọc thấy tên người thật, việc thật thời đã qua. Nhưng có một nhân vật liên quan đến cuộc vượt biên, thì nhà văn đã nhặt được qua hồi ức của một người ở Hải Phòng. Mỗi lần đi qua Hải Phòng, ông Chiêu đều gặp anh ấy như người tri kỷ. Một nhà văn sống gần được với cuộc đời, quên mình là nhà nọ nhà kia như ông, cũng không phải là nhiều.

Ông Chiêu cũng không có lý gì chán ghét cuộc sống, ông ghét là ghét thời bao cấp, chứ không ghét chế độ. Ông đã là nhà văn kiêu hãnh đi nhiều nước, nhìn nhận cuộc đời với cái nhìn bao dung, hài hước. Tôi đã đăng báo những bài ông kể về nước Nga, nước Lào, nước Mỹ… Ông rất yêu tâm hồn Nga. Nước Nga với ông Chiêu như là một tri kỷ có mối lương duyên. Ông kể cho tôi nghe một lần ông và vợ đến nước Nga giữa lúc rối loạn, lạm phát, En-xin đang liên tục cách chức thủ tướng, ông Chiêu đến một bảo tàng ở một nước Cộng hoà, nơi Phát xít Đức đã từng đánh vào đất Liên Xô đầu tiên trong những năm chiến tranh thế giới thứ hai. Những người đàn bà Nga vẫn cần mẫn hướng dẫn ông và ca ngợi Tổ quốc Nga, mặc dù họ bảo, họ đang rất nghèo khổ. Tại sao họ không chán ghét và chửi bới chế độ? Thì họ trả lời: “Vì chúng tôi tin tưởng chúng tôi sẽ vượt qua. Nguời lãnh đạo sẽ không ở chức ấy mãi, sẽ có người khác đưa nước Nga đi lên”. Khi ra ngoài, gặp một đám thanh niên chơi công viên, có 5 thanh niên nam nữ, nhưng chỉ có 4 điếu thuốc. Họ đang chia nhau thì ông Chiêu đi tới, một người tiến đến ông và xin ông 5 kôpek, ông có mấy rúp, đưa luôn cho họ, bảo cho luôn. Sau một lúc, họ mua thuốc lá xong, trả lại ông tiền, chỉ lấy đúng 5 kopek để mua một điếu thuốc. Cho tiền, họ lắc đầu… Tâm hồn nhà văn trong ông bị lay động mạnh, ông Chiêu bảo tôi: “Tại sao con người Nga nhân hậu và chất phác như vậy? Vì một nền văn hoá”. Ông Chiêu nói: “Cậu là nhà văn, lúc ấy cậu có nghĩ đến nước mình không? Trông người lại nghĩ đến ta, chúng ta đang ở đâu trong bản đồ văn hoá nhân loại?”

Tôi đã đọc bài báo ông Chiêu kể đi thăm bức tường ghi tên lính Mỹ chết trong chiến tranh Việt Nam, ông Chiêu bảo: “Nhiều người viết về nó lắm. Còn tớ thì chỉ nghĩ, tại sao mình không học tập ngay người Mỹ. Nó khoa học đến mức không bỏ quên tên ai, còn mình thì bao nhiêu người bỏ xương máu vì Tổ quốc mà thành vô danh? Sao ta không học nó ngay đi”.


5.

Năm 2007 có lẽ là năm vận hạn của nhà văn Tô Đức Chiêu. Ông bị va xe máy, rồi ốm lên ốm xuống, vào bệnh viện mấy lần. Sức vóc đã hao gầy hơn nhiều. Mắt thì sau vụ va xe, phục hồi rất chậm. Tôi đến ông, thấy ông buồn lắm. Câu đầu tiên là: “Không viết được nữa rồi, không đọc được nữa rồi, mày ơi”

Tôi thường nghe thấy trước kia ông Chiêu hay nói: “Khoẻ gì tao, viết gì tao, chết đến nơi rồi” mà báo vẫn viết, sách vẫn ra. Nhưng bây giờ, có lẽ ông Chiêu yếu thật, chứ không phải là thường.

Ngồi một phút, ông bảo: “Hội mình chán quá, không khí nó cứ rời rạc, rã đám thế nào ấy”. Tôi bảo: “Ôi anh ơi, anh thế này, lo nghĩ gì việc Hội nữa cho mệt”

Ông bảo: “Tao đã bảo lão Thỉnh, thôi tôi nghỉ hết, không tiểu thuyết sơ khảo gì nữa. Mà phải nghỉ thật chứ dỗi diếc gì đâu. Cô Khuê làm tốt quá chứ”

Tôi nhìn thấy nỗi buồn của ông nhà văn này. Nhiều năm ở báo Văn Nghệ, rồi ở Văn phòng Hội, dù sao đó cũng là nơi gắn bó một phần đời, nơi ấy đã lấy đi một phần đời ông. Giờ thì cái nơi ấy tâm thế xào xạc sao không buồn cho được. Ông Chiêu nói: “Giờ sao mà nhiều siêu nhân quá”.

Về đầu trang