bút ký          Nguyễn Xuân Hưng

Tác phẩm, chia sẻ tư liệu...v.v

nguyenxuanhung04@gmail.com

Gate,gate,pàragatepàrasamgatebodhisàhà"


giới thiệuTrang chủ
truyện ngắn
chuyện làm phim

Thủ thuật làm web
tiểu thuyết
liên hệ


BÚT KÝ CHỌN LỌC

1.Hải phòngtrong lòng tôi/ Kinh môn nơi đâu? /Một ngày nơi của các ni cô/ Chung sống với một người đàn bà//Hội xuân Ba Bể//Người Việt ở Quảng ChâuCha, con và đất nước Tuỳ bút vùng biên cực Bắc



Tuỳ bút vùng biên cực Bắc
1.
Tôi đến Phó Bảng vào một ngày đông nắng ấm. Nắng nhưng vẫn se se lạnh. Đi từ Hà Giang đến đây 117 km, chỉ còn cách Đồng Văn vài chục cây số nữa, địa đầu Tổ quốc Lũng Cú đã trước mặt, Phó Bảng như một trạm dừng chân, một nơi nghỉ ngơi cho du khách trước khi đến nơi xa nhất về phía Bắc của non nước Việt. Nếu so với Quản Bạ, Yên Minh, những thị trấn thung lũng giữa miền núi đá, thì Phó Bảng ở vị trí cao hơn. Cũng ba bề bốn bên là núi non trùng điệp, nhưng Phó Bảng được thiên nhiên ban tặng một thế phong thuỷ đắc địa. Một đô thị nhỏ xinh xắn giữa một khu vực bằng phẳng với ruộng nương tràn vào phố, phố nối với sườn núi chênh vênh, núi đưa suối đến…
Bây giờ thì Phó Bảng là một thị trấn tĩnh lặng. Nhịp sống êm đềm nơi đây khiến cho du khách ngỡ như Phó Bảng là một phố thị bị lãng quên. Một dãy nhà rất cổ, có lẽ những ngôi nhà nơi đây cứ tồn tại như hồi người ta mới làm ra nó. Tường trình bằng đất dày, mái nhà thấp, những cửa lùa áp mái mở ra một sàn để đồ, treo ngô. Trên đường đàn gà cục tác, những con chó con mèo cùng nằm sưởi nắng. Cánh cửa mở hé có cụ già ngồi lim dim nhìn ra ngoài. Đang đi vài tiếng đồng hồ từ thị xã Hà Giang đến, tưởng như cuộc sống đang chậm lại ở nơi này.
Bây giờ thì bạn có thể nhìn thấy nhiều chữ Hán kiểu phồn thể ở trên tường một số ngôi nhà. Nhưng cách đây hơn ba mươi năm, toàn bộ nhà cửa ở Phó Bảng đều dày đặc chữ Hán. Đây là thị trấn của người gốc Hoa. Cô bạn Đỗ Thuỵ Liên, giờ là cán bộ của một công ty kinh doanh văn hoá phẩm ở Côn Minh cùng đi với tôi lên Hà Giang, đã từng là cư dân Phó Bảng. Thuỵ Liên kể, hồi những năm bảy mươi, cả thị trấn chỉ có một nhà người Mông, một nhà người Dao, còn lại toàn là người Hoa.
Trong câu chuyện của Liên, ký ức của cô về Phó Bảng là một thị trấn phồn thịnh. Thanh niên nam nữ hồi những năm sáu mươi, bảy mươi thường tụ tập khiêu vũ, chơi nhạc. Con trai thường chơi được một hai thứ nhạc cụ. Nhà người Hoa Phó Bảng thường giàu có hơn người Hoa Hà Giang, nhưng khi quân tử Phó Bảng về Hà Giang thường chịu tiếng là anh nhà quê ra tỉnh, một phần vì người Phó Bảng nói tiếng Hoa Vân Nam, còn người Hoa Hà Giang nói tiếng Quảng Đông, thứ tiếng Việt cổ xưa gần gũi với người Việt dùng âm Hán Việt. Chính vì giàu có nên người Phó Bảng có tiếng «ăn chơi» hơn cả Hà Giang, con cái thường được học hành tử tế, học nhạc, chơi thể thao, giữ gìn văn hoá Hoa truyền thống.
Tôi đến Phó Bảng cùng với cô Dương Kim Liên, dân Hà Giang hiện ở Canada, nhưng một thời cùng đã qua lại Phó Bảng. Cô Kim Liên đi một đoạn phố Phó Bảng, gặp khoảng mươi người, đã nói đến bốn, năm thứ tiếng. Người Phó Bảng từ mấy chục năm trước, sinh sống ở đây phải giao dịch được bằng tiếng Hoa Vân Nam, tiếng Mông, ai đi chợ thì phải nói được tiếng Tày, tiếng Nùng, tiếng Thái. Từ phố Phó Bảng, ngẩng lên nhìn thấy những đỉnh núi ngay trước mặt, leo qua sườn núi thì bên kia là đất Trung Quốc. Cư dân hai bên qua lại bình thường, cư trú xen cài nhau nhiều đời. Hoa hay Mông, Tày hay Nùng đều thân thiết, gần gũi, mộc mạc. Bây giờ thì Phó Bảng không còn giữ được vẻ phồn hoa của nó mấy chục năm về trước. Vẫn là nơi giao lưu, nối giữa Đồng Văn với Hà Giang, nhưng lại chỉ đơn thuần là điểm dừng chân cho du khách hiếu kỳ. Còn đâu bóng dáng của nó nửa thế kỷ, gần một thế kỷ trước, chính là con đường thuốc phiện đã nhiều đời. Vua Mông Vương Chính Đức có nhà ở tại Phó Bảng, sau này mới xây dinh cơ ở Sà Phìn cách Phó Bảng gần mười cây số. Chính họ nhà Vương đã làm vua vùng sơn cước này, kiểm soát toàn bộ thuốc phiện của vùng biên cương, làm nên Phó Bảng sầm uất cái dáng vẻ riêng có của nó từ xưa.
Đi trên một con đường bằng phẳng, nhưng cỏ mọc xanh lút bàn chân, có vài ngôi nhà đổ nát còn tường nham nhở, Dương Kim Liên bảo, đây chính là một phố ngày xưa. Cuộc chiến năm bảy chín đã tàn phá đô thị cổ sần uất này. Pháo bên này hay bên kia? Không ai còn phân biệt nổi bên nào bắn nhiều hơn bên nào. Nhưng những con người Phó Bảng thì chịu khổ đau hơn cả. Họ là những người Việt như bất kỳ người Việt nào ở sâu trong đất nước, chỉ có khác duy nhất là họ ở gần biên cương phía Bắc mà thôi. Bây giờ thì những người Việt ấy đã định cư khắp nơi trên thế giới, hàng năm vẫn họp mặt đồng hương Phó Bảng, nhớ về nơi thị trấn nhỏ giữa một vùng cao nguyên đá mênh mông… Dương Kim Liên kể, đã có người từ nước ngoài về Phó Bảng, sẵn sàng đầu tư để giữ gìn phố cổ, hoặc khôi phục khu phố mới, nhưng ý tưởng vẫn là ý tưởng, chưa có điều kiện để thành hiện thực.

2. Trên đường về Đồng Văn, từ Phó Bảng, phải qua Sà Phìn, nơi có một «đặc sản» là nhà của «Vua Mèo». Thực ra, ông Vương Chính Đức chỉ là một Bang tá, chức quan hàng huyện của thời Pháp thuộc, nhưng người ta gọi ông là vua, dần thành quen. Ông Chính Đức tìm được mảnh đất phong thuỷ tuyệt vời, đó là nơi có dinh cơ nhà Vương bây giờ ở Sà Phìn. Trên thế đất bằng phẳng hình Kim Quy, tựa vào thế núi hình tay ngai, trước mặt là thung lũng Sà Phìn có một trái núi cao vút nhọn hoắt như măng mọc, như cái đầu con rùa. Có lẽ vì vậy mà cơ nghiệp của ông vua Mèo này ngày càng lấn át các ông vua khác chăng ? Cũng có thể là do ông Vương kiểm soát hết việc buôn bán thuốc phiện, hàng hoá ở khu vực này mà trở nên giàu có, thế lực và thách thức cả sự cai trị của người Pháp. Năm 1936, chính quyền Pháp triệu tập các tù trưởng ở vùng Hà Giang về Hà Nội họp rồi giam họ lại, hệ quả của việc này dai dẳng đến sau này. Trong số các con của 3 bà vợ ông Vương Chính Đức, chỉ có Vương Chí Sình, người con thứ hai là giỏi giang nhất. Ông đã về Hà Nội ra tay cứu bố. Câu chuyện cứu cha này như một huyền thoại, cuối cùng ông bố được tha, và Vương Chí Sình trở nên là người kế tục vương vị của Vương Chính Đức. Ông Sình đã mua căn nhà 55 Hàng Đường, Hà Nội để qua lại thủ đô, củng cố cơ nghiệp. Có lẽ bất đồng với Pháp, mà cha con nhà Vương đã tổ chức quân đội riêng, đến năm 1945, đoàn quân của Vương Chí Sình đã đánh một trận và thắng huy hoàng quân đội Nhật. Lẽ dĩ nhiên, ý chí của Vương Chí Sình trùng với mục tiêu của Việt Minh. Sau cách mạng tháng Tám, ông Vương Chí Sình đã ủng hộ Việt Minh 22 triệu đồng tiền Đông Dương và hàng vạn cân bạc hoa xoè, trở thành đại biểu Quốc hội của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trở thành Chủ tịch huyện Đồng Văn. Ông Vương Chí Sình còn kết nghĩa anh em với Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Hồ Chủ tịch tặng thanh kiếm khắc tám chữ : «Tận trung báo quốc, bất thụ nô lệ» và ông tiếp tục là đại biểu Quốc hội khoá 2.
Bây giờ thì khu nhà họ Vương đã được tu bổ, trở thành di tích quốc gia, xung quanh con cháu họ Vương quây tụ. Dinh cơ hoa lệ một thời, nay cũng tịch mịch, cái tĩnh lặng của một ông già lim dim nhớ thời thanh niên sôi nổi. Song, trong câu chuyện của người đến thăm, người còn sống thì còn nhiều điều trăn trở. Ông Vương Chí Sình hiện còn con cháu đích tôn ở nước ngoài, chuyện dòng trưởng dòng thứ là chuyện của nội tộc họ Vương, nhưng còn vấn đề vài trò của Vương Chí Sình đối với vùng nước non Đồng Văn này thì vẫn còn chưa lý giải thấu đáo. Vẫn còn những cách nhìn khác nhau về đoạn đời của người anh hùng sơn cước này, mà thời gian càng lùi xa, có lẽ cách nhìn về ông cũng khác. Gạt ra những quan điểm về giai cấp bấy lâu nay, đặt ông Vương vào dòng xoáy của thời cuộc, sống cùng ông với cảm quan thời đại ông đã sống, may ra mới có thể hiểu để xây dựng chân dung về một nhân vật có tầm vóc này.
Nơi sơn cước xa xôi, cũng có những huyền thoại lớn. Chuyện về con người, chuyện về vùng đất này có sức hấp dẫn lạ kỳ.

3. Phiên chợ Đồng Văn chăc chắn cuốn hút rất nhiều du khách và đã là đối tượng miêu tả của nhiều nhà báo. Tôi đã đến Đồng Văn, ngủ lại một đêm ngay tại nhà một người dân Đồng Văn chính cống. Ông Bọc ở Đồng Văn đã hơn bốn mươi năm, hành nghề chữa răng, nhà ngay cổng chợ. Một ngôi nhà cũ kỹ, rêu phong, tưởng như thời gian ngấm vào từng cái vết nứt ở tường nhà. Nhưng đi vào bên trong, qua cái gian nhà cũ ấy thì lại là gian nhà hiện đại, lát gạch men, bê tông toàn khối. Ông Bọc kể, xây một ngôi nhà ở Đồng Văn thì chi phí gấp ba lần ở Hà Giang, vì mọi thứ vật liệu đều phải chở ở Hà Giang lên đây.
Chợ Đồng Văn cổ kính ngay từ vật liệu xây dựng, kiểu những gian nhà lớn như quán chợ ấy đã hầu như mất hẳn ở miền xuôi. Kiểu họp chợ như ở Đồng Văn, cũng mất dần ở các làng quê Bắc Bộ. Thành ra, chợ Đồng Văn gần như một bảo tàng về nếp sống người dân miền Bắc bấy nhiêu năm.
Đặc sắc ở chợ Đồng Văn là màu sắc chói loá của váy áo. Người Mông, người Tày, người Dao, người Nùng, người Hoa… khắp nơi cứ chủ nhật là đến chợ. Đi chợ hay là đi hội không khác nhau là mấy. Những ngôi nhà phố chợ như nhà ông Bọc đều mở cửa, người đi chợ cứ tự nhiên vào soi gương, thay cái áo mới. Ông Bọc cũng vui vẻ không khó khăn gì, nói dăm câu tiếng dân tộc của người khách. Thật là một nếp sinh hoạt thuần hậu, chất phác có lẽ tự ngàn xưa vẫn vậy.
Tôi và Dương Kim Liên đi quanh phố Đồng Văn xem người ta đi chợ. Hồi những năm bảy mươi, Liên đã đi chợ ở đây, thú vị nhất là mang tiền mới đi mua bán, vì nếu có tiền mới, người bán sẵn sàng bán rẻ. Bây giờ thì người dân tộc Đồng Văn vẫn chất phác, nhưng đã biết giá trị của đồng tiền qua số đếm chứ không phải là tiền mới hay tiền cũ. Tại Đồng Văn này, chợt tôi nghĩ đến Sa Pa. Cũng những người Mông với chợ truyền thống miền núi, nhưng người Mông Sa Pa đã sống với thị trường và mất cái tính thuần hậu mất rồi, hoặc giả đã bị mang tiếng là tinh quái. Nếu anh muốn chụp ảnh với người dân tộc đi chợ Sa Pa, anh phải cho tiền, và họ không ngần ngại đòi tiền. Còn ở Đồng Văn, việc chụp ảnh không ảnh hưởng gì đến chuyện người ta đi chợ. Tôi bỗng buồn khi nghĩ đến cảnh một hai chục năm nữa, Đồng Văn cũng tiến lên bằng với Sa Pa…
Kim Liên đi tìm con phố có huyện đội Đồng Văn khi xưa, nơi có một rừng đào tự nhiên, khi mùa xuân về, hoa đào nở trùng trùng điệp điệp. Ký ức tuổi thơ của cô về Đồng Văn là màu hoa đào tươi tràn ngập phố núi. Bây giờ thì phố xá vẫn trồng đào, nhưng không còn đâu rừng đào tươi thắm ngày nào. Sau chiến tranh, mọi sự đều như phải làm lại, cả cái vườn đào của người Đồng Văn cũng vậy.

4. Trên đường trở lại Hà Giang, đi qua vùng đá lởm chởm, đá như chông như mác, đá mọc như măng như nấm, đá ngồi như cóc như ếch… tôi cứ có cảm giác phấp phỏng bất an vì bất chợt thấy một lò vôi đang cháy nghi ngút và bên cạnh nó một khu núi be bé đã bị phá đi lởm chởm. Quê tôi Kinh Môn, Hải Dương, người ta đã ăn đi cả một vùng núi non bề thế. Thế thì nơi này, nếu họ khai thác đá, có thể cũng sẽ hết chứ sao? Nếu Hà Giang hết đá núi, Hà Giang sẽ còn gì?
Một hốc đá có một nắm đất cũng mọc lên một cây ngô. Người Đồng Văn đã trồng ngô để tự nuôi sống một cách khó nhọc như vậy. Sáu tháng không mưa, lấy nước trong hốc núi. Cuộc sống khắc nghiệt vô cùng. Làm cảnh cho người tứ xứ mà mình vẫn nghèo khó quá. Câu hỏi lớn từ thời những cuộc chiến thuốc phiện, đến cuộc chiến giai cấp, rồi đến cuộc chiến sô –vanh dân tộc lầm than đã tàn phá cảnh quan và tâm hồn con người ở chính nơi cao nguyên đá này. Bây giờ của tin còn một chút này, đất nước còn Đồng Văn, không biết có gìn giữ được Đồng Văn bản sắc bao lâu nữa?

về đầu trang

Cha, con và đất nước…
1.
Không ở đâu trên đất nước như miền Đông Bắc, di tích về thời đại nhà Trần dày đặc, chiều sâu tâm linh Việt được gìn giữ lưu truyền hầu như nguyên vẹn. Dường như ký ức dân tộc qua bảy trăm năm vẫn còn như tươi mới trên dải đất miền duyên hải này. Một vùng non nước quy tụ quanh hai đỉnh cao thắng địa là Yên Tử và Yên Phụ đã là mảnh đất hùng phát của họ Đông A, làm cho dân tộc quật khởi, chung đúc nên khí phách, cũng là mảnh đất đau thương chiến địa chống ngoại xâm và nội loạn khi vương triều tàn lụi.
Yên Tử thì có lẽ hầu hết người dân Việt Nam đều biết, đó là thủ đô tâm linh, địa danh chuyên chở tầm cao tư tưởng của người Việt thời cận đại, gắn liền với hai vị vua anh hùng thời Trần là Thái tông và Nhân tông. Suốt chiều dài lịch sử, chỉ có Yên Tử là duy nhất đã khai sinh một Thiền phái thuần Việt, một hệ thống triết luận của người Việt, do người Việt lập nên có ảnh hưởng đến toàn dân. Đó cũng là nơi đầu tiên, một giáo hội được tổ chức, đưa đạo vào đời, đưa triều chính đến gần với đời sống bình dân. Đó là niềm tự hào của tư tưởng Việt.
Nhưng còn Yên Phụ…? Yên Phụ ở đâu? So với Yên Tử uy nghi vút lên giữa ngút ngàn rừng, thì Yên Phụ chỉ là một đỉnh núi hơn ba trăm mét so với mực nước biển, đỉnh cao nhất trong một dãy núi làm nên xương sống của huyện Kinh Môn, là một chi nhánh của vòng cung Đông Triều trong phân loại của các nhà địa học. Nhưng nơi đây chắc hẳn đã là một vùng đất quan trọng của họ nhà Trần. Trang ấp của An sinh vương Trần Liễu ngay dưới chân núi Yên Phụ, Sông Kinh Thày, sông Bạch Đằng uốn mình chảy quanh, cửa biển xa xa phía Đông, đồng bằng miền Bắc phía Tây. Nếu thật sự dòng họ Trần, cho đến Trần Thủ Độ, đã trải qua nhiều thế hệ sinh cơ lập nghiệp rồi mới tiến vào triều chính ở Thăng Long, thì dòng trưởng chính là ăn lộc đất này, trong đó trưởng họ là Trần Liễu, đến Trần Quốc Tuấn. Có một sự thật mà ít có sách sử nào nói đến, đó là Trần Quốc Tuấn chắc hẳn cũng được sinh ra và gắn bó tuổi thơ ấu tại đây, nơi trang ấp của cha mình. Cuối thế kỷ hai mươi, các nhà lãnh đạo tỉnh Hải Dương có sáng kiến chọn phía dưới đền Trần Liễu, trên đỉnh núi, dựng một bức tượng đá hoa cương người con anh hùng của Trần Liễu là Trần Quốc Tuấn, thật là một việc làm ý nghĩa và đúng đắn, phù hợp với lịch sử tâm linh lưu truyền trong dân gian ở vùng này.
Đến bây giờ nhiều người vẫn còn nhớ giai thoại tâm linh siêu việt khi dựng tượng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến đặt bệ tượng. Ngày hô thần nhập tượng, bầu trời đang yên ổn bỗng nổi gió, giáng mưa, rồi lại bình yên. Người ta còn nói, trước đây, Hải Dương là nơi làm ăn bê bết, cán bộ bất hoà, sau khi dựng tượng, những người chủ trương việc này đều phát đạt, cán bộ thì lên cấp, dân tình thì khấm khá. Cũng có thể thời điểm dựng tượng Đức Thánh Trần trùng với thời điểm Đổi Mới, việc này vận với việc kia cũng chả có liên quan duy vật biện chứng gì cả, nhưng đôi khi những chuyện tâm linh lại nuôi dưỡng một hạt nhân sự thật là truyền thống được tiếp nối, lịch sử văn hoá được trường tồn.
2.
Tiến sĩ Đoàn Nam Đàn ở Học viện Hồ Chí Minh bảo tôi: “Hội đền Yên Phụ ông có về với tôi không?”. Rồi anh tự nói ngay, không đợi tôi trả lời: “Về chứ. Phải về chứ”. Hội đền Yên Phụ ngày mồng Một tháng Tư ta, đó là ngày giỗ của An Sinh vương Trần Liễu. Từ Tết, qua ba tháng mùa xuân, người đi đền An Sinh vương và chùa Cao nườm nượp, nhưng hội to nhất là vào ngày Một tháng Tư. Từ thuở bé, tôi đã thấy người ta nói: “Tháng Tám giỗ cha, Tháng Ba giỗ mẹ, Tháng Tư nói khẽ mồng Một giỗ ông”. Cũng có dị bản: “Tháng Tư sang hè mồng một giỗ ông”. Chỉ có người miền quê tôi, chí ít là người dân quanh núi Yên Phụ nói thế chăng? Vì khi đi đến khắp nơi trên đất nước, tôi chỉ còn nghe thấy câu nói về giỗ cha và giỗ mẹ. Tháng Tám ngày hai mươi giỗ Trần Quốc Tuấn, đức Tháng Trần ở Đền Kiếp Bạc. Tháng Ba ngày mồng Ba giỗ mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Giày. Còn tháng Tư ta, ngày mồng Một, giỗ người cha của Đức Thánh Trần, một nhân vật có thể nói là “khó hiểu” nhất trong các vĩ nhân vương giả của nhà Trần.
Trần Liễu không được chọn tiếp nhận ngôi vua từ họ ngoại, người được Thủ Độ chọn lại là Trần Cảnh. Dân gian lâu nay cho rằng Trần Thủ Độ chọn một đứa bé tám tuổi để cho dễ bảo, dễ uốn nắn, chứ tại sao không chọn Trần Liễu lúc đó đã mười sáu tuổi?. Những sự kiện sau đó trong đời những bậc vĩ nhân này cho thấy Trần Thủ Độ quả là một người làm “công tác tổ chức” rất đúng đắn. So với em, Trần Liễu giữ đất bản nguyên của tổ tông, lại có quyền hành từ sớm, nên hành xử có lẽ dân dã hơn, ít học hơn. So với anh, Trần Cảnh có lẽ hiền hoà hơn, được học hành từ nhỏ trong cung nên tiếp thu văn hoá đậm chất “hàn lâm” hơn ông anh có máu giang hồ. Trần Thủ Độ hẳn đã nhận ra chân mệnh đế vương ở Trần Cảnh, nên ông không chọn Trần Liễu mà thôi. Nhưng nếu chỉ có thế thì Trần Liễu không khởi loạn vào năm 1237, đến nỗi bị Trần Thủ Độ toan giết đi, chỉ nhờ có con thuyền nhỏ gặp vua Thái tông mà thoát. Đó bắt nguồn từ mưu ép đổi vợ của Trần Thủ Độ. Bi kịch của một cá nhân không là gì so với lợi ích của một dòng họ. Một con người phải chịu sức ép trắc ẩn để cho dòng họ “lấy được nước”. Đó là nỗi bi phẫn của Trần Liễu, đến nỗi sau này ông đã phải dốc sức cho Trần Quốc Tuấn ăn học, mong làm cái việc lấy lại ngôi báu cho dòng trưởng. Cho dù toan tính của Trần Liễu hay Trần Thủ Độ có thế nào, người tính không bằng trời tính, lịch sử đã cho thấy những kết quả phi thường mà hợp nhân tâm. Trần Quốc Tuấn nếu chỉ có lấy ngôi vua dễ như trở bàn tay, thì ông hẳn đã không hiển thánh giữa đời. Từ cha, đến con, đến muôn đời sau… Đó là sợi giây làm nên dân tộc. Dù cho sử gia phong kiến, nhất là sử gia thời Lê ảnh hưởng nặng của Nho giáo, đã đánh giá anh em nhà Trần thế nào, thì nhân dân vẫn là một phía nhân tâm công bằng nhất. Ngày giỗ của An Sinh vương Trần Liễu vẫn là một trong những ngày hội quan trọng nhất ở vùng này. Tiến sĩ Đoàn Nam Đàn ở Học viện Hồ Chí Minh cũng coi việc về chính hội, “giỗ ông” là một nghĩa cử bắt buộc. Quê anh ở Hiệp Sơn, chân núi Yên Phụ, quê hương Phạm Sư Mạnh tể tướng của bốn triều vua Trần, nhu cầu tâm linh gắn bó với quê hương ắt hẳn vô cùng mạnh mẽ khi nghĩ đến ngày hội đền Yên Phụ. “Người ta nô nức đến cầu khấn ở đó, mình ở nơi trang ấp của ông, mình lẽ nào không trở về?”, anh nói.
3.
Lên núi Yên Phụ bằng đường ô tô. Xe đi qua bức tượng Đức Thánh Trần thì đỗ dưới mỏm cao đền Trần Liễu. Tôi đã nói chuyện với Kỹ sư Lê Văn Phụng, người đã trực tiếp chỉ huy thi công con đường lên núi từ những năm chín mươi. Phụng cho biết, đã có ý kiến muốn làm một con đường lên đến đỉnh cao nhất của Yên Phụ, nhưng rồi người ta chọn phương án này. Anh Phụng người xã Bạch Đằng, ở một làng ven sông Bạch Đằng của huyện Kinh Môn, nói theo anh “ngước mắt lên là thấy núi Yên Phụ, úp mặt xuống dòng sông còn tiếng thuỷ chiến đánh quân Nguyên”, anh bảo “mình không biết lý luận, nhưng mình chỉ biết, không đỗ xe ở đây mà leo một đoạn đến đền là không phải lẽ lắm, tâm không an”
Leo vài trăm bậc lên đỉnh cao nhất, đền Trần Liễu phía trên, hơi thấp hơn là chùa Cao, tên chữ Tường Vân. Trên đỉnh núi mà có giếng nước trong vắt, cây xanh rợp, gió mênh mang. Từ đây, ngày trời trong, có thể nhìn rất xa, trông rất rộng.
Hồi tôi còn bé, những năm bảy mươi thế kỷ trước, bố tôi vẫn hay kể rằng, ông nội tôi đã từng lên đỉnh núi này, ông cụ mới hiểu vì sao lại nói Kinh Môn, Đông Triều, Thuỷ Nguyên là một “Hạ Long cạn”. Kinh Môn, phủ thời Lê, có ba thắng tích lạ. Một là núi Yên Phụ, hai là Hạ Long cạn, ba là Hội Đúm Thuỷ Đường. Hội hát Đúm Thuỷ Đường nay thuộc huyện Thuỷ Nguyên (Hải Phòng), đỉnh Yên Phụ thì đây rồi, còn “Hạ Long cạn” thì là vinh danh cho cả một vùng núi non sông nước hiện nay giáp giới ba huyện thuộc ba tỉnh: Kinh Môn (Hải Dương), Đông Triều (Quảng Ninh) và Thuỷ Nguyên (Hải Phòng). Từ đỉnh Yên Phụ, có thể nhìn thấy nhấp nhô những quả núi trải dài đến phía Biển Đông. Gần nhất là những núi đá vôi thuộc quần thể Động Kính Chủ, rồi đến những quả núi muôn hình ngàn vẻ bỗng nhô lên trên khu vực ruộng đồng thuộc ba xã “khu đảo” của huyện Kinh Môn, kéo dài đến biển, qua Đông Triều, Mạo Khê, Uông Bí, nhập với “Hạ Long thật”. Tại đây, núi đá vôi cứ nhô lên trên ruộng, như là những ngọn núi anh em của nó nhô lên trên mặt nước Hạ Long. Rồi xa xa là những rặng núi đá vôi Thuỷ Nguyên và Đông Triều, Mạo Khê nữa chứ… Đến nỗi, có một câu chuyện dân gian nói về “Thần Trụ trời” trong kho tàng truyện cổ Việt Nam, ngày xưa trời đất âm u, có một vị thần đã làm một cái trụ trời, khi trời đất phân cách, thì ông ta đánh đổ cái trụ ấy, nay dấu vết còn vung vãi ở khu vực Động Kính Chủ.
Vùng có Hạ Long cạn và Hạ Long nổi, thời Trần chắc hẳn là mặt tiền của đất nước. Dòng họ thuyền chài làm nên vương triều hẳn hiểu hơn ai hết sự lợi hại của mặt tiền sông nước, nên phủ đệ của các vương hầu sau này phần lớn dựa vào thế sông, thế biển. Đặc biệt là phủ đệ của Hưng Đạo đại vương và các con ông, cùng với Vạn Kiếp, những vùng từ sông Kinh Thày, Bạch Đằng, đến cửa biển Cửa Ông, đều có các vương hầu trấn ải. Nhưng… Có một chữ “nhưng”. Câu chuyện “Hạ Long cạn” trên đây giờ đã lùi xa rồi. Có lẽ nó sẽ biến mất vĩnh viễn, có chăng chỉ còn lại trong câu chuyện của tôi kể cho các con tôi. Từ khi khởi động xây dựng Nhà máy xi măng Hoàng Thạch, khi vực mệnh danh “Hạ Long cạn”, giáp giới ba huyện, ba tỉnh bây giờ dày đặc nhà máy xi măng. Hoàng Thạch, Phúc Sơn và hàng trăm nhà máy xi măng lò đứng phía Kinh Môn, Mạo Khê; Chinh Phong, Xi măng Hải Phòng mới phía Thuỷ Nguyên… Tất cả những nhà máy này đã gặm hầu hết các mỏm núi lô nhô ở đây, nó ăn hầu hết rặng núi đá vôi Tràng Kênh, Thuỷ Nguyên. Theo một quan chức Bộ Kế hoạch và Đầu tư bạn tôi, ba mươi năm nữa vùng này hết núi, người làm xi măng có lẽ phải tính đến khai thác đá vôi dưới lòng đất, như hiện tại khai thác than vậy.
Bây giờ, đứng trên đỉnh Yên Phụ, nhìn về Đông, lô nhô ống khói, một vùng phủ một màu trắng lơ mơ, nếu chụp ảnh sẽ thấy một màn sương trắng. Bầu trời rỗng không. Cái giá phải trả cho việc làm xi măng sẽ vô cùng to lớn, mà ngay bây giờ người ta chưa thế lường hết được. Tôi là một người con ở chân núi Yên Phụ, tôi cảm nhận được nỗi đau không gì bù đắp được khi nhìn những quả núi “Hạ Long cạn” bị mất đi. Nếu trước mặt Yên Phụ phẳng như đồng, những dòng sông nối với Yên Tử trơ ra vô duyên đổ ra biển, Yên Phụ không còn là Yên Phụ, Yên Tử cũng chả còn Yên Tử trong sợi dây linh thiêng tâm linh nữa. Truyền thuyết và truyền thống không còn cơ sở để tồn tại, sẽ rơi rụng nhanh qua một vài thế hệ mà thôi.
Hồi khánh thành Xi măng Phúc Sơn, tôi có hỏi một tay quản lý người Đài Loan: “Sao nước ông nhiều núi đá vôi thế, mà các ông lại đi ra nước ngoài làm xi măng?” Ông ta lảng tránh, chỉ nói: “Việt Nam rất ưu đãi đầu tư”. Hồi đó, tôi trở về ngôi nhà quen thuộc, nhìn sang phía ấy, thấy rặng núi đá vôi Tràng Kênh như một con sư tử mất tai nằm bên sông Kinh Thày, còn hôm nay, cả một con sư tử khổng lồ đã mất đầu, chẳng mấy chốc nó sẽ biến đi không sao cưỡng nổi. Tôi mỗi khi đứng trước ngôi mộ của ông và bố tôi, lại cứ hiện lên câu chuyện về Hạ Long cạn và thấy mình có lỗi vô cùng. Cho dù tôi chỉ là một công dân bình thường, việc phá đi cảnh quan của vùng Đông Bắc là ngoài tầm trách nhiệm của tôi, nhưng tôi thuộc về một thế hệ đã ăn mất từng quả núi, nơi thế hệ ông cha tôi đã tự hào, nâng niu và gìn giữ.
4.
Chưa bao giờ miền Đông Bắc chính thức là địa danh cấp hành chính hoặc được chính thức khu biệt với các vùng miền khác (như cách nói về Tây Bắc, Việt Bắc). “Đông Bắc” tôi nói ở đây là theo cách hiểu dân dã của tôi, thừa hưởng tập quán ở quê tôi, đó là một vùng gồm mấy huyện Chí Linh, Kinh Môn của Hải Dương, Đông Triều, Uông Bí và phần lớn miền ven biển của Quảng Ninh và bao gồm hầu hết thành phố Hải Phòng. Chiếu theo Đại Nam nhất thống chí, đó là địa phận của lộ Hải Đông thời Trần, là phủ Kinh Môn và Yên Bang thời Lê Trung hưng. Cách phân chia lộ của nhà Trần có lẽ cũng có lý. Nếu soi xuống mạch đất, thì những quả núi, hay dãy núi đá vôi “Hạ Long cạn” vùng quanh Yên Phụ, Yên Tử hẳn là cùng địa mạch với Hạ Long nổi trên biển cả.
Có một sự thật là để có đỉnh cao tâm linh Yên Tử, nhà Trần cũng phải đến thế hệ thứ Ba mới vươn tới được. Đầu tiên chắc hẳn chỉ là Yên Phụ. Ngay thế hệ thứ nhất chấp chính, Thái tông Trần Cảnh cũng chỉ có ý định đến Yên Tử mà không thực hiện được, như bài kể trong Khoá Hư lục, vua đã toan đi tu mà phải trở về. Như vậy, trước Trần Nhân tông, Yên Tử thuần tuý là nơi tu hành của các vị cao tăng, trung tâm Phật giáo, đơn thuần truyền bá giáo lý của Đức Phật xuất phát từ Ấn Độ. Nó chỉ trở thành địa danh chuyên chở tầm cao trí tuệ Việt khi xuất hiện Điều Ngự Giác Hoàng, vị vua bỏ ngai vàng trở thành cao tăng sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm.
Nghiên cứu sự di dịch từ Yên Phụ đến Yên Tử chắc hẳn sẽ có ích rất lớn cho việc tìm hiểu truyền thống tâm linh. Hưng Đạo đại vương được sinh ra và lớn lên tại chân núi Yên Phụ, sau đó đã làm phủ đệ ở Vạn Kiếp, trấn giữ một điểm yết hầu đường thuỷ tới Thăng Long, đưa con cháu trấn giữ một vùng biển miền Đông Bắc. Cho tới Nhân Tông, mới có thể ung dung lên Yên Tử đó chăng?
Nhà Trần sau Nhân tông, chắc hẳn coi vùng đất nối hai đỉnh núi Cha- Con này là nơi linh thiêng, nên hầu hết các vua đều xây lăng ở An Sinh, theo các nhà sử học thì An Sinh có lăng các vua Trần nay thuộc Đông Triều. Sau này, Trương Phụ nhà Minh đã tàn phá toàn bộ khu lăng mộ các vua Trần. Tôi đã đến An Sinh (Đông Triều) nhiều năm trước, tôi cũng thường đến An Sinh (Kinh Môn), cách đây mấy chục năm vẫn nhiều phế tích lắm, nền nhà cổ, những ngôi mộ đá đổ nát, con nghê con ngựa đá còn vứt lung tung. Rồi qua những năm người ta đào bới cổ vật, nghèo khó… Cho đến nay thì hầu như những vết tích ấy đã biến mất khá nhiều.
Tiến so Đoàn Nam Đàn và tôi có lần lên Yên Phụ, gặp “ông từ” nguyên là một thày giáo phổ thông trung học, thực ra chức danh của anh là Trưởng ban quản lý di tích huyện, chúng tôi chứng kiến nỗ nực của “ông từ” là xây dựng lại chùa Hạ, nơi xưa kia có ngôi chùa cổ mà tương truyền gia đình Trần Liễu đã xây dựng và tu tập tại đó. Ông từ và lãnh đạo huyện Kinh Môn còn mơ ước xa hơn, có thể thiết lập một tua du lịch tâm linh xuyên suốt miền Đông Bắc, lộ Hải Đông xưa. Từ Hà Nội có thể đến đây bằng đuờng Năm, viếng đền Trần Liễu và tượng Trần Quốc Tuấn, thăm chùa Cao, chùa Hạ, rồi có thể đi thuyền qua Kiếp Bạc, Côn Sơn, ra Yên Tử, đến Hạ Long và tới Cửa Ông, Móng Cái với một hệ thống đền thờ các con Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư đã từng trấn thủ đất này… Nhưng giá như không có chuyện những nhà máy xi măng… Ai ai cũng hiểu, nếu đến đây, du khách phải bịt khẩu trang, đi qua thì đầu đầy bụi, thì khó mà có tu du lịch nào. Chùa Hạ cũng như những ngôi chùa khác sẽ dựng lại đuợc, nhưng những dãy núi đá vôi Đông Bắc với vùng sinh thái quý giá của nó thì không sao giữ được. Đó không phải là việc của một huyện, một tỉnh, mà là việc nước. Có một vị lãnh đạo đến nhà máy xi măng Hoàng Thạch nói: “Cứ đất với đá là làm ra xi măng, tại sao ta không làm nhiều xi măng để công nghiệp hoá?” Hỡi ôi, đất với đá của cha ông, sao lại tính theo giá thị trường bằng đất xúc đổ đi? Rồi đến lúc chúng ta sẽ thấy giá của từng hạt xi măng nặng trĩu, giá của tâm linh, giá của hàng ngàn năm biết bao thế hệ đã giữ lại cho ta.
Trần Liễu khi nhắm mắt trối trăng gì với Trần Quốc Tuấn, Đại Việt sử ký toàn thư đã viết rõ rồi. Người con khác thường của ông không theo, chúng ta đã rõ. Cha quan niệm lấy ngôi là vì nước, con quan niệm không lấy ngôi cũng là vì nước. Cái ngôi vua so với non sông gấm vóc và bách tính thì chả là gì. Một thế hệ mà tư tưởng đã khác hẳn. Như Yên Phụ đến Yên Tử vậy. Như thế đất nước và dân tộc thì được vô giá, có thể nói đó là đạt tới đỉnh cao văn minh Việt vậy.
Tôi là một công dân bình thường nơi trang ấp xưa của Trần Liễu, phải nhận rằng tôi xấu hổ trước anh linh của ông, cũng như có lỗi trước linh hồn ông và cha tôi. Bởi vì một thế hệ tôi có lẽ đã đi ngược lại, từ Yên Tử trở về Yên Phụ, rồi ăn hết những quả núi, rặng núi nối liền hai đỉnh cao thắng địa ấy, rồi chui sâu xuống lòng đất tổ, ăn tiếp vào những vỉa chân núi của Hạ Long chăng?

về đầu trang

Người Việt ở Quảng Châu

1. Người Việt năng động và người Việt lười nhác.
Nói “người Việt” tức là tôi muốn nói đến người “Việt Nam” ta. Quảng Châu, vốn là thủ phủ Phiên Ngung cách đây hơn hai ngàn năm của nước Nam Việt với vương triều nhà Triệu, mà Giao Chỉ là một quận. Cho đến nay, người Hoa vẫn gọi vùng đất này là vùng Việt, kinh kịch xuất xứ phương Nam Trung Quốc gọi là Việt kịch, các xe ô tô chạy ở Quảng Đông có chữ Việt bộ “ngoã” làm đầu biển số xe (khác hẳn chữ Việt bộ “qua” chỉ Việt Nam)...
Thoạt đầu, mới đến Quảng Châu, có vẻ như không có nhiều người Việt Nam như ở Nam Ninh. Nam Ninh thủ phủ Quảng Tây có biên giới với Việt Nam, lại được Chính phủ Trung Quốc cho chế độ ưu đãi thương mại, là cửa ngõ hợp tác Trung Quốc với các nước ASEAN trong chương trình 10+1, dĩ nhiên Nam Ninh nhiều người nói tiếng Việt, nhiều người Việt đến làm ăn, du lịch. Nếu chỉ đi một tua du lịch thôi, “tua gai” sẽ dẫn bạn đến những cửa hàng Nam Ninh có 100% nhân viên nói tiếng Việt, dường như bạn cảm thấy đang đến một cửa hàng ở Hà Nội vậy. Hoặc có khách sạn ở Nam Ninh đầy chặt người Việt, ăn món Việt...
Với Quảng Châu, có lẽ vì quy mô thành phố khá lớn, mà người Việt đến làm ăn ở Quảng Châu bị mất hút trong biển người, biển phố phường mênh mông hai bên bờ sông Châu.
Do công việc mà tôi phải tìm kiếm một người phiên dịch, nên tình cờ có dịp thâm nhập và hiểu đôi điều về những người Việt Nam, hay đúng hơn là biết một vài người trong số những người Việt Nam ở Quảng Châu. Mỗi người một hoàn cảnh, họ đã đến Quảng Châu để sinh sống, để hy vọng và thất vọng.
Hai cô phiên dịch đầu tiên hoá ra chính là những người Việt Nam, vẫn mang quốc tịch Việt Nam, nhưng đã sinh sống ít nhiều ở Quảng Châu. Một cô tên là Thu đã đến Quảng Châu 10 năm nay, lăn lóc trong các khu lao động, làm đủ mọi nghề chân tay để kiếm sống, cuối cùng trụ ở nghề làm phiên dịch, chạy hàng cho những người Việt Nam đến đánh hàng ở Quảng Châu. Cô phiên dịch thứ hai, Hạnh, là một ngưòi Hà Nội, đến Quảng Châu làm tại một công ty Trung Quốc có đại lý tại Việt Nam. Chính bố cô đứng chủ đại lý ấy. Nhưng công việc ưa thích của cô không phải là làm thuê cho người Trung Quốc trong những công xưởng bụi bặm, cô đã đi ra xung vào đội quân phiên dịch cho những người buôn bán Việt Nam đến Quảng Châu.
Điều đáng ngạc nhiên là sau một số ngày làm việc, tôi mới vỡ lẽ là các cô phiên dịch của mình đều không biết chữ Trung. Tuy rằng các cô đã giúp tôi rất nhiều, tôi nhờ các cô mà thâm nhập vào một chút ngóc ngách của người Việt Nam ở đây, mà sau đây tôi sẽ kể. Tuy vậy, tôi cũng buộc phải đi tìm người phiên dịch khác. Lý tự nhiên là tìm đến các trường đại học ở Quảng Châu, trường nổi tiếng nhất có khoảng hơn vài trăm sinh viên Việt Nam đang học là Đại học Trung Sơn.
Một sinh viên đầu tiên tôi được giới thiệu, đòi cái giá phiên dịch “ngất ngưởng” là 400 tệ một ngày (tỷ giá lúc đó là 1/25). “Chúng em toàn làm thế. Mùa Hội chợ còn không có sức để làm”. Tôi còn chưa định nói gì thì cô này đã quay ngoắt đi, để lại câu nói: “Em học ở đây bỏ học một ngày là bỏ hơn trăm tệ. Đi làm cho anh 400 anh còn tính thì thôi...”
Theo giới thiệu của Hạnh, tôi gặp một cô sinh viên thứ hai, cô này biết tôi quen Hạnh nên thật thà nói: “Chúng em đang mùa thi, chỉ đi tranh thủ một hai ngày được thôi. Nếu là người sang làm ăn ký kết hợp đồng, tóm lại là đại gia thì đi kiếm vài trăm tệ thêm vào tiền học”
Tôi chán nản lắc đầu. Chưa tính giá cả, mà là công việc đòi hỏi người làm liên tục trong một hai tuần, phiên dịch mới lại phải nắm lại công việc vài ngày thì dở dang lắm. Thấy tôi có vẻ không vui, cô này nói, giọng tưng tửng: “Ở đây chúng em không phân biệt người nói tiếng gì, vì thực ra đều là người Việt cả. Người ở đây chỉ có hai loại, một là người Việt làm lụng, như chị Hạnh và những người sang buôn bán, còn loại thứ hai là người Việt lười nhác. Đa số dân Quảng Châu là người Việt lười, chúng em cũng lười lắm...” Tôi ngạc nhiên: “Vì sao vậy?”
“Thì đấy, anh ra đường mà xem. Sáng họ ngủ đến chín giờ chưa mở hàng, tối đêm còn mua sắm, chơi bời. Đi một bước là có xe cộ công cộng. Chả phải chạy đôn chạy đáo vì xe máy như ở ta. Hi hi... Hay là em giới thiệu cho anh một chị khác nhé...”
Hoá ra, trong mắt các cô, tiến đến ngưỡng “người Việt lười” là một đích mơ ước. Đa số dân Việt Nam và một bộ phận người Quảng Đông, được các cô liệt vào loại “người Việt làm lụng”

2. Ăn ở ở Quảng Châu
Đỗ Thị Minh đến Quảng Châu bằng con đường khá đặc biệt. Gần nhà cô ở Cẩm Khê, Vĩnh Phúc có một người Hoa trước kia sinh sống, nay họ đã về Quảng Châu, một lần ông người Hoa về Việt Nam chơi, thấy gia cảnh bố mẹ Minh khó khăn, nhà có chín anh chị em, làm ruộng rất vất vả, cô lúc đó mới khoảng ngoài hai mươi, khoẻ mạnh nhưng không có nhan sắc, người Hoa này nói nếu cô muốn thì có thể đi lao động ở một xưởng đá ở Quảng Châu. Thế là cô đi đến một xưởng đá ở cách Quảng Châu hai trăm kilômét để thành một thợ đá. Cách đây khoảng mươi năm, Trung Quốc đang “khai phát”, các khu công nghiệp mọc như nấm, thiếu nhân công trầm trọng. Lực lượng công nhân chủ yếu là do từ nông thôn ra. Minh cũng hoà vào dòng người Trung Quốc “ly nông, bất ly hương” nhưng cô khác họ, cô còn “ly hương” nữa. Không ai biết cô là người Việt Nam, vì lao động đến từ Tứ Xuyên, từ Vân Nam hay các tỉnh khác nhau đều nói tiếng địa phương, không ít người nói tiếng phổ thông Bắc Kinh còn ngọng. Minh làm thợ mài đá, cắt đá. “Công việc nặng nhọc mà thu nhập chẳng đáng là bao”- Cô nói. Tôi hỏi thu nhập bao nhiêu, cô không nói mà lặp lại với giọng chán nản: “Chẳng đáng là bao, chỉ đủ một mình em”.
Minh yêu một người con trai Quảng Châu hơn cô bảy tuổi hay đến khu vực xưởng đá lấy hàng. Yêu nhau cũng nghiêm túc, vì anh này dẫn cô về Quảng Châu chơi, giới thiệu với bố mẹ, nhưng với chỉ một yêu cầu là không đuợc nói cô là người Việt Nam. Vì cô nói tiếng Quảng rất tốt, nên nhà anh kia tin rằng cô ở một huyện nào đó của Quảng Đông. Nhưng rồi, anh người yêu vẫn mãi cứ chưa định nói thật với bố mẹ, đến mức cô không chờ đợi được nữa, cô cho rằng anh ta không thật lòng. Cô quyết định đến Quảng Châu làm phiên dịch cho những người Việt Nam buôn bán, tự lập để đứng chân ở một thành phố lớn.
Trước kia, người Việt lấy hàng ở Quảng Châu phần lớn là dân tự do, người phiên dịch cũng tự lo liệu. Khi Minh lò mò đến Quảng Châu, thì sự phân công lao động đã hình thành một kiểu “chủ”, đại loại như kiểu “nhà cái”. Một vài người Việt ở Bằng Tường đến Quảng Châu mua nhà, hoặc thuê được nhà rộng, có kho để hàng làm trạm trung chuyển. Tại đó, người Việt đến mua hàng có thể trọ tại đó, mua hàng về đóng và gửi tại kho. Cần phiên dịch và hướng dẫn tìm hàng thì chính nhà chủ đã có sẵn một số người để giới thiệu cho chủ hàng. Người phiên dịch có thể ở trọ ngay tại nhà “chủ” đó.
Khi Minh mới đến Quảng Châu, mọi người đều bảo cô bắt đầu công viêc ở những nhà chủ ấy, nhưng cô vốn có sẵn mối quan hệ với nhiều người ở Quảng Châu, nên cô đã tự thuê nhà ở riêng. Với tiền thuê nhà 800 tệ/tháng, có thể có một căn phòng hai mươi mét vuông, có toa let riêng, đi lại chung lối với nhà chủ. Việc thuê nhà cũng còn tuỳ khu vực, tuỳ loại nhà. Minh thuê nhà ở khu vực Quảng Châu cũ, ở chung với chủ, không được dẫn người khác về ở qua đêm. Cô Hạnh thì thuê nhà hơn 1.000 tệ, có thể ở 2 người, có thể tự do dẫn bạn trai về.
Ăn ở Quảng Châu cũng có nhiều mức độ. Những quán cơm bình dân với 6-8 tệ là có thể ăn qua bữa. Một đĩa cơm với vài cái rau, mấy miếng đỗ, miếng thịt mỏng và một ca canh loãng. Nhưng nếu muốn ăn tử tế và tươm tất thì không dưới 20 tệ. Vào các nhà hàng gọi món thì nên đi nhiều người, ba hay bốn người trở nên, vì nhà hàng chỉ tính giá tiền theo đĩa thức ăn.
So với năm 2000, thực phẩm ở Quảng Châu đã đắt gấp 3 lần. Nhưng với mức lương công chức ở đây, mức lạm phát đó vẫn chịu được. Một giáo viên về hưu lương khoảng 4.000 tệ, đại tá về hưu khoảng chín đến mười năm ngàn tệ. Như vậy thì ăn một bữa thịnh soạn ỏ nhà hàng khoảng 30 tệ, chi cả tháng 900 tệ cho ăn uống không phải là vấn đề gì đáng lo lắng. Còn nấu lấy ở nhà thì dĩ nhiên không đến mức đắt đỏ đến thế.
Nhà ở Quảng Châu khá đắt, có lẽ mặt bằng giá tương đương với Hà Nội. Người phiên dịch thứ ba cho chúng tôi là một bà giáo viên về hưu, có một căn hộ 90 mét vuông ở khu chung cư kiểu mới, nói có thể bán 1 triệu tệ (khoảng 2 tỷ rưỡi đồng), nhưng cách đây vài năm đã được hỗ trợ với tiêu chuẩn hai vợ chồng giáo viên, được mua chỉ với giá 12 vạn tệ. Như vậy, công chức được hỗ trợ mua nhà khá rẻ so với thị trường.
Với tôi, một người Việt không biết tiếng Hoa, thì ăn và ở (khách sạn) ở Quảng Châu là một ác mộng, thì đi lại ở đây lại là một trải nghiệm vô cùng thích thú. Có thể có nhiều cung bậc khác nhau trong chuyện này. Có thể lang thang ở các quán bình dân, còn cũng có thể như ông sếp tôi, thạo tiếng Trung, là một nhà văn lão luyện, ông đã la cà cùng bạn bè Trung Quốc vào các nhà hàng sang trọng, đủ mọi loại dịch vụ ở dọc bờ sông Châu, trong đó có những quán ăn đêm nổi tiếng đậm chất Quảng truyền thống. Ông có bài phóng sự “Những kiếp bướm đêm” nói về tầng lớp “trai bao” của Quảng Châu cũng rất kỳ thú. Đó phải chăng là tận cùng của một tầng lớp “người Việt lười” mà không ít người mơ ước. Với GDP lớn nhất Trung Quốc, thành phố phương Nam này vẫn là nơi nhắm đến của các tỉnh đại lục, để tận hưởng sự xa hoa, tất nhiên sẽ đẻ ra các loại dịch vụ rất quái chiêu, trong đó cũng có người Việt Nam tham gia.

3. Đi lại ở Quảng Châu.
Giao thông và cửa hiệu Quảng Châu rõ ràng là bố trí cho một người không hề biết tiếng Hoa đi lại. Tôi võ vẽ một số chữ Hán, nên càng có thể tự đi lại, chỉ cần có hướng dẫn ban đầu một cách sơ lược.
Nội thành thành phố dài gần 100 km, chiều ngang hai bên bờ sông Châu vài chục kilomet nữa, với hơn 10 triệu dân, nếu không giải quyết được vấn đề đi lại, cứ như Hà Nội, thì có lẽ thành phố sẽ chen chúc xe máy. Nhưng không, thành phố của họ tịnh không có bóng chiếc xe máy nào. Hầu như các chỗ giao cắt là lập thể, đường tầng tầng lớp lớp, mở cửa căn hộ tầng 10, có thể thấy ô tô lao ngang qua trước mắt. Những tầng đường và đường dẫn phủ đầy màu xanh cây lá là hình ảnh đặc biệt của đô thị Quảng Châu.
Người Quảng thật có tính thực dụng, taxi của họ toàn xe cũ, phần lớn là xấu xí. Bao giờ cũng có lớp ngăn cách lái xe với ghế sau, là chấn song sắt hàn rất vững. Có thể thấy cách người ta làm kinh doanh ngay cả trên cái xe taxi 4 chỗ bé tí, dù xe cũ xấu, nhưng lại có màn hình tinh thể lỏng chiếu quảng cáo liên tục, hở ra chỗ nào trên xe là có dán quảng cáo rồi.
Một phương tiện khá phổ biến là xe buýt. Cách làm xe buyt của họ cũng khiến tôi ngậm ngùi nhớ đến xe buyt Hà Nội. Nếu tôi từ tỉnh khác về Hà Nội, muốn đi xe buyt, tôi chắc phải học qua một lớp ngắn hạn về tuyến đường, nếu không phải hỏi tỷ mỉ ai đã đi rồi, hoặc hỏi phụ lái. Vì ở Hà Nội, mỗi bến xe buýt, nếu có, thì dán một cái bản đồ mạng lưới xe buýt Hà Nội. Bến nào cũng dán cùng một cái bản đồ như nhau. Xem bản đồ phải có chút trình độ tối thiểu nào đó. Hoá ra xe buýt Hà Nội hầu hết là lớp bình dân, thì lại trưng ra cách chỉ dẫn rất bác học. Ở Quảng Châu, mỗi bến xe có một bảng kê mỗi tuyến qua thứ tự các bến nào, trong đó nơi đang đứng là chữ màu đỏ (tức là mỗi bản chỉ dẫn chỉ dành cho duy nhất một cái bến ấy). Thế thì bạn sẽ biết bạn phải xuống bến nào sau mấy bến nữa, và phải đi tuyến số mấy. Chỉ cần biết chữ là được, không cần biết xem bản đồ rồi đoán, vì bản đồ làm sao có thể hiện rõ tuyến ấy qua bao nhiêu bến?. Một cách làm ấy chắc hẳn người ta đã khảo sát tình hình thực tế và xác định xe buyt là dành cho đối tượng nào rồi. Một cái khác nữa, xe búyt Quảng Châu không có phụ lái. Chỉ có một anh lái chính, bên cạnh, ngay lối lên, có một cái hộp. Ai lên xe thì nhét vào đó 2 đồng, không có chuyện trả lại tiền, một thói quen của người đi xe là phải chuẩn bị sẵn 2 đồng tệ rồi. Còn nếu dùng vé tháng? Vé tháng là một thẻ từ, hãy áp vào bên cái hộp ấy, có một cái mắt quét, thẻ áp vào, kêu “tit” là Ok. Tôi đã quan sát cách người ta đi xe búyt, không kể hai người cũng xếp hàng lên, thì hoá ra cung cách đi xe của họ biểu hiện một trình độ văn minh công cộng khác hẳn ở Việt Nam. Anh lái chính có cái thước, nếu có ai vội vàng để tiền không kín, lộ ra, anh ta sẽ dùng thước ấn vào miệng hộp. Trên xe bao giờ cũng có 3 đôi loa, lúc chuyển bánh nói một lần, lúc sắp đỗ nói một lần nữa. Tức là lái xe buyt có nhiều chức năng hơn anh lái xe ở Hà Nội, vừa quản lý tiền vé, vừa bật loa, có phải vì thế mà anh ta đi từ tốn hơn anh lái xe buýt ở Hà Nội không?
Khu vực trung tâm thì có xe điện bánh hơi, loại này tôi chưa đi, nên không biết nó thế nào. Nói chung Quảng Châu cũng còn nhiều điểm có giao cắt đồng mức, khi cao điểm đều có nhiều người đeo băng đỏ, cầm cờ đỏ giữ trật tự, hướng dẫn người đi bộ. Một anh bạn Trung Quốc nói, họ là những người dân phòng ở phường, lao động công ích, và những người bảo vệ ở các công sở gần đó. Bảo vệ công sở phải chia nhau ra, lên lịch luân phiên trực một nút giao thông gần chỗ anh ta nhất. Đó là lợi ích cho chính cơ quan ấy. Đôi khi, có những cụ về hưu chiều chiều xin làm công ích cho vui, cũng đến làm chỉ dẫn giao thông.
Nhưng điều thú vị nhất ở Quảng Châu là những bến tàu điện ngầm, là đi tàu điện ngầm. Hoá ra người đi bộ là chui hết xuống đất. Ba phút một chuyến tàu, như cái chổi quét vĩ đại quét đi bao nhiêu là người. Hệ thống tàu điện có 4 đường, xếp thành hình chữ thập ngoặc, có thể đưa người ta đi đến khắp nơi trên thành phố rộng mấy ngàn cây số vuông trong có vài chục phút. Cách đi tàu ở đây là phương pháp tiên tiến nhất thế giới, từ lúc mua vé đến lúc ra khỏi ga, hoàn toàn tự động, du khách có thể thấy mình vừa đi qua một bộ máy tự động khổng lồ không có người điều khiển. Mỗi ga tàu điện ngầm là một kỳ quan, một trung tâm mua sắm, văn hoá rất lớn. Thành ra, người Quảng Châu không có xe máy, mà họ hoàn toàn không phải đi bộ đi đâu quá vài trăm mét. Một cách giải quyết đi lại cho dân thật hoàn hảo. Tôi ở Quảng Châu mấy tuần, không nhìn thấy ông công an nào, không gặp chính quyền bao giờ, nhưng lại thấy chính quyền hiện diện ở khắp nơi, thấy lực lượng giữ gìn an ninh hiện diện khắp chốn. Bàn tay vô hình của chính quyền không chỉ biểu hiện trong thị trường thương mại, mà ở cả đời sống của cư dân đô thị như vậy. Hệ thống tàu điện ngầm mới khai trương dăm năm nay, nhưng để có nó, chính quyền thành phố đã có kế hoạch và bắt tay vào làm từ cách đây hơn 10 năm. Họ tính cho thành phố của họ nửa thế kỷ nữa.

4. Người Việt làm lụng…
Nếu đi một chuyến xe Bằng Tường -Quảng Châu hoặc đến các thành phố lân cận như Ma Cao, Thâm Quyến, Chu Hải, Tô Châu… hẳn sẽ thấy nhiều người Việt Nam. Có chuyến xe hầu hết là người Việt. Mà điều bất ngờ nhất là hầu hết những người bươn chải ấy lại là phụ nữ.
Một phụ nữ nói với tôi: “Hồi xưa, người Hoa đi làm ăn xa xuống phương Nam, bao giờ cũng là người đàn ông kéo cả đầu tàu gia đình, còn bây giờ người Việt Nam mình đi kiếm sống lại chỉ có đàn bà. Những ông chồng thì ở quê cả anh ạ” Thật là một phát hiện dân dã mà đáng suy nghĩ.
Trường hợp cô Đỗ Thị Minh cách đây mươi năm sang làm lao động tại ngoại thành Quảng Châu không hiếm, còn ngày nay người Việt đi tìm việc ở các tỉnh Nam Trung Quốc lại càng nhiều. Trên một chuyến xe đi Chu Hải, anh bạn tôi biết đến một nhóm các cô gái Thái Bình, đi Chu Hải đến lần thứ ba, chỉ để kiếm việc. Các cô biết tiếng Hoa do đi lại lấy hàng ở Quảng Châu, giờ không muốn lấy hàng cò con nữa, mà muốn kiếm một việc gì đó “cơ bản” hơn. Đó có thể là bán hàng, làm lao động chân tay cho các công ty lớn, hoặc đơn giản là giúp việc gia đình. Các cô đã có thâm niên “lăn lộn” rồi, biết tiếng rồi, không dễ bị bắt nạt, có thể chọn việc tử tế. Trong số này, không ít người đã phải trả giá kinh nghiệm qua những năm tháng đi giúp việc gia đình ở Đài Loan. Vì ở Đài Loan điều kiện xã hội khác, lúc đó ngơ ngác trẻ người non dạ thì khác. Còn ở Trung Quốc thì lại khác…
Cũng có trường hợp đến Trung Quốc không phải vì buôn bán, mà vì du lịch, chữa bệnh, ký kết hợp đồng. Đỗ Thị Minh đã kiếm sống nhờ việc đưa người đi Thâm Quyến chữa bệnh. Có những bệnh mà ngưòi ta đi Thâm Quyến còn rẻ hơn đi Singgapo, đấy là tôi nghe chính người đi kể thế.
Dĩ nhiên có khá nhiều trường hợp thương tâm. Có những người bị lừa, bị bán. Trong cuộc mưu sinh khốc liệt, có đủ mọi số phận. Chính Đỗ Thị Minh đã kể với tôi, cô trực tiếp giải thoát cho 2 cô gái bị lừa bán sang một huyện cách Quảng Châu hơn 100 km. Một cô bị lừa sang làm vợ một ông già, một cô tự nguyện đi kiếm việc, sa vào một ổ chứa.
Nhưng không phải người Trung Quốc là xấu. Đó chẳng qua những tệ nạn thì lên phương tiện thông tin đại chúng mà thôi. Đại đa số người Việt Nam đến làm ăn đều được giúp đỡ. Tôi biết một người Việt gốc Hoa vốn ở Hà Nội, giờ ở Quảng Châu, anh ta giao du với nhiều người Việt làm ăn ở đây, các cô gái đều được anh giúp đỡ, giới thiệu khách buôn, hướng dẫn ăn ở rất tận tình.
Tất nhiên, do việc khá nhiều người Việt Nam sang Quảng Châu buôn bán, làm lụng vất vả, mà hình ảnh về người Việt Nam không mấy tốt đẹp. Một anh bạn tôi khi vào quán cà phê đêm ven sông Châu, biết anh là người Việt, mấy cô phục vụ nháy nhau chuồn cả. Các cô thích chăm sóc khách Đài, khách Nhật chứ. Đâu ngờ anh bạn tôi là dân buôn bán bất động sản. Anh ta khoạng chân, đập một nắm nhân dân tệ lên bàn, khiến cho chủ nhà hàng phải đến xin lỗi và điều tiếp viên rối rít. Đại khái tình cảnh của người Việt Nam ở đất láng giềng với ta không mấy vui vẻ. Có nên nói thẳng điều này không? Có chứ, vì ở nhà nhất mẹ nhì con, báo chí ta tự khen ta nhiều quá. Không thấy chúng ta yếu kém thế nào? Một người Quảng Châu vốn là người Việt gốc Hoa ở Hà Nội, về Quảng Châu năm 1978, nói với tôi: “Hồi xưa, người Hà Nội nhìn người Hoa là “chú khách”, là “chú Tàu nghe kèn”, nhưng bây giờ thì tôi về Hà Nội thăm bạn bè, thấy được tôn trọng, tôi tự hào về Tổ quốc tôi” Đó là anh ấy khiêm tốn mà nhún mình đấy. Nói khéo đấy. Chả lẽ anh ấy lại bảo “lẽ nào người Việt ở Quảng Châu bây giờ lại tráo đổi địa vị của người Hoa tha hương ngày nào?” Có những điều khó nghe vẫn phải nghe, có những món thuốc khó nuốt, vẫn phải uống chứ.
Chuyện Quảng Châu còn dài dài, hy vọng những lần sau không phải kể chuyện làm lụng buồn nữa, mà tôi sẽ kể những chuyện vui.

về đầu trang

Hội xuân Ba Bể

Năm nay, chúng tôi ước hẹn với đồng nghiệp Thái Nguyên đi dự lễ hội Lồng tồng của đồng bào Tày. Có thể đến Định Hoá, quê hương cách mạng thuộc Thái Nguyên để dự lễ hội lồng tồng, được coi là lễ hội lớn nhất trong số những địa phương có người Tày sinh sống, như mấy năm trước. Nhưng năm nay, chúng tôi quyết định đi xa hơn, về Ba Bể, Bắc Kạn, nơi có những bản Tày cổ nằm sâu trong rừng, bên hồ Ba Bể... Vừa dự lễ hội, vừa làm một tua du lịch mùa xuân.

1. Hy vọng “lồng tồng”...
Lễ hội Lồng tồng được các bản tổ chức không cố định vào ngày nào, từ ngày 3 tết đến hết tháng Giêng. Hàng năm, lễ hội lớn nhất được xã Nam Mẫu (huyện Ba Bể) tổ chức. Nam Mẫu là xã nằm trong vùng rừng do Vườn Quốc gia trực tiếp quản lý, với khoảng 700 hộ sinh sống trong 10 bản, nằm sâu bên dãy núi từ xưa vẫn được coi là trung tâm kinh tế, văn hoá của vùng hồ.
Trước ngày chính hội Nam Mẫu, thời tiết trở nên rất đáng hy vọng. Vẫn rét, nhưng nhiệt độ đã vượt qua 12-14 độ. Trời có âm u mà không mưa. Những hoạt động chuẩn bị cho lễ hội đã diễn ra rất khẩn trương ở bãi đất rộng thuộc bản Bó Lù. Hoạt động chuẩn bị sôi nổi nhất lại là những quán hàng. Ô tô tải chở hàng đồng thời những lều vải đủ màu xanh đỏ tím vàng. Đáng buồn là hầu hết hàng xuất xứ từ Trung Quốc. Hàng địa phương chiếm một tỷ lệ khá nhỏ, ngoài mấy quả bầu khô, tép chua, mấy hàng mía tím...
Linh hồn của Hội Lồng tồng xưa là Nghi lễ tạ ơn Trời đất, cầu một năm mùa màng tươi tốt. Nếu cứ theo tín ngưỡng ấy thì năm nay Nam Mẫu đứng trước thử thách nghiệt ngã. Bởi vì ngày chính hội, mưa bắt đầu dày từ đêm, kéo dài đến gần trưa mới ngớt được một chút. Các hoạt động chính phải diễn ra chủ yếu buổi chiều, song cũng bị ảnh hưởng vì rất nhiều người không đến dự hội. Các trò diễn, tiết mục buộc phải cắt gọn. Tuy nhiên, chính vì vậy mà mọi người lại tập trung chính vào hội ném còn, nét xuân hứng khởi nhất trong dịp lễ hội lồng tồng. Ngôn Hoà, một thanh niên 25 tuổi ở Bó Lù, nói: “Xem bóng chuyền, cầu lông xã mình cũng hay, nhưng không hay bằng xem trên ti vi đâu. Ném còn thì ti vi không có, bản mình mới có”.
Khách du lịch tham dự lễ hội cũng ít, có thể vì mưa rét... Song, lễ hội không vì ít khách mà không vui. Bà chủ nhà chúng tôi nghỉ đêm nói: “Mình làm lễ hội cho mình mà, mưa thì đợi tạnh, đi đâu mà vội. Mình tạ ơn Trời đất xã mình, cầu mùa xã mình chứ có phải chỉ làm cho khách xem đâu...” May thay, ngay đêm trước chính hội, một lễ lửa trại với hội hát múa của người Tày đã được diễn ra, vui vẻ và không hề khuôn sáo...
Người đi tham dự lễ hội đúng là chỉ “xem” là chính, nên mới kêu ầm lên là nhạt chất truyền thống, lên án biến lễ hội thành chợ. Nếu không phải chạy xe từ xa đến chốc lát rồi về, mà ăn ở với dân bản vài ngày, sẽ đo thấy cái hồn lễ hội vẫn sống thuần hậu ngay chính trong lời ăn, tiếng nói, cách nghĩ, niềm tin của người dân. Nơi vùng sâu vùng xa này, chỉ có lễ hội là dịp sinh hoạt cộng đồng đáng kể, ngoài nghi lễ truyền thống, thì đây là dịp để người lớn mua bán, để con trẻ gặp gỡ, trêu ghẹo và tán tỉnh nhau. Nếu bên cạnh lễ hội mà cái chợ lớn cũng tốt chứ, cái chính là tổ chức thế nào, và nhìn nhận lễ hội thế nào...

2. Bài toán du lịch
Chúng tôi nghỉ tại bản Pac Ngòi, một bản có khoảng 80 hộ, nằm trong một thung lũng hẹp, một bên là sông Pé Lèng, một bên là dãy Pù Lỳ và Phia Muàng. Phong cảnh sơn thuỷ hữu tình. Bản Tày nhà sàn cổ, sinh hoạt dân dã, giữ được nếp sống cũ là làm ruộng nương, đánh cá, dệt vải. Nhà nhà không có tường ngăn, đêm ngủ không cài cửa, xe máy để ở hè cửa sát với đường quốc lộ cả đêm, máy cày và bơm nước và trâu bò thì để ở ngoài đồng không cần trông nom... Nếp sinh hoạt này vùng nông thôn Bắc Bộ chỉ còn trong kỷ niệm bốn chục năm về trước. Một nét thanh bình hiếm có. Nơi đây lý tưởng cho việc du lịch sinh thái, và thực sự đã là địa chỉ cho các tua du lịch.
Quan sát cách làm du lịch của người Tày Pác Ngòi, có thể có cơ sở hy vọng vào tương lai Ba Bể. Khách du lịch có thể ở ngay trong nhà dân, trong những ngôi nhà sàn gỗ, ăn với gia chủ bên bếp lửa... Ông Ngôn Văn Toàn, một thiếu tá về hưu, một trong 6 chủ hộ có đăng ký đón khách, vui vẻ giới thiệu cho chúng tôi quyển sổ đăng ký ghi khách đến. Năm 2007, ông đón 567 khách quốc tế thuộc 25 quốc tịch, nhiều nhất là khách Pháp và có đến hơn 200 khách trong nước nữa. Nhà ông Toàn cũng như nhiều nhà ở đây, có khung dệt vải và có đàn tính. Ông Toàn có thuyền đưa khách du lịch lòng hồ, khép kín lịch trình cho du khách.
Du lịch lòng hồ Ba Bể chưa được bàn tay con người tác động nhiều. Không có mấy địa điểm để xem, chủ yếu là tham quan thiên nhiên hoang dã, mà thiên nhiên thì là cuốn sách câm lặng, cần có người hiểu biết thuyết giảng, hoặc chỉ kỳ thú với những người biết rõ giá trị của nó. Giá trị phổ biến của tua du lịch Ba Bể có lẽ là ở chỗ tìm hiểu văn hoá, giao lưu văn hoá. Nếu được sống vài ngày ngay tại một nhà người Tày Ba Bể, uống rượu ngô nhắm thịt trâu hun khói, ăn cá muối nướng với măng chua, nghe kể truyền thuyết những địa danh linh thiêng của Ba Bể mới thấy hết vẻ đẹp thuần phác của một vùng văn hoá.
Nhưng làm sao để toàn dân hưởng lợi nhờ du lịch Ba Bể? Nếu theo kế hoạch cũ, di dân toàn bộ khỏi vùng lõi Vườn Quốc gia, thì làm sao du khách còn được hưởng những tua du lịch như ở Pác Ngòi? Thời gian tới, giữ lại 8 bản, thì làm sao để giữ chân du khách, nếu như các bản Tày hiện đại hoá tự phát. Không còn nét văn hoá cổ thì còn ai muốn đến Ba Bể nữa?
Hiện tại, tại sao lại chỉ có 6 hộ có cấp phép đón khách, mà hầu như nhà nào cũng đón khách... Cơ quan quản lý hẳn đã quan liêu khi cho rằng, làm du lịch cần có cơ ngơi đàng hoàng, và đã đưa ra quy định thuế không hợp lý? Chúng tôi đã nhìn thấy những bó dây điện, dây dẫn nước như những vết cắt xoá mất cảnh quan một bản Tày thuần cổ, đó là điều đáng tiếc nhất mà ai cũng thấy, chỉ có người quản lý lại không thấy?

3. Đoạn cuối
Không gian văn hoá du lịch Ba Bể như vậy là một tổng hoà rất nhiều chiều: Lễ hội, cảnh quan, kiến trúc, tập tục, lối sống của người dân. Đến Ba Bể 3 ngày 2 đêm, đi một vòng du lịch lòng hồ, dự một lễ hội, tổng chi phí cho một người ở tại Ba Bể không quá 300.000 đồng. Không có tua du lịch nào rẻ hơn thế, mà chưa có tua du lịch nào để lại trong chúng tôi ấn tượng sâu sắc đến thế. Nhưng qua chuyến đi, cũng gieo vào lòng du khách nhiều băn khoăn lớn đến tương lai sinh tồn của không gian văn hoá du lịch nơi đây. Nếu không nhanh chóng giải bài toán này, thời gian sẽ xoá đi nhiều của cải vật thể và phi vật thể vô gía

về đầu trang

Chung sống với một người đàn bà

Chúng tôi không tuyển dụng sự phiền phức

Hiện nay, không ít doanh nghiệp khi tuyển dụng vào một vị trí làm việc thông thường, thường chọn tiêu chuẩn là nam giới. Có những thông báo còn đăng công khai là “không chọn nữ”. Về khía cạnh luật pháp và xã hội, các nhà quản lý sẽ nói tiếng nói theo đúng chức trách, sẽ viện dẫn các văn bản dưới luật và các nguyên tắc về bình đẳng giới để vận động giới chủ sử dụng lao động. Nhưng các ông chủ doanh nghiệp cũng có lý lẽ riêng. Một giám đốc DN nói: Không ai cho tôi lợi nhuận chỉ để giải quyết các vấn đề của phụ nữ, nếu có hai người để lựa chọn, tôi chắc sẽ chọn nam, bởi vì nam giới không nghỉ đẻ, không nghỉ cho con bú, nam giới không nghỉ vì con ốm... Nói chuyện với tôi, không phải tư cách một nhà báo, mà khi tâm sự như một người bạn, vị giám đốc ấy nói: Tôi không tuyển dụng sự phiền phức. Theo ông, một người nữ trong cơ quan nảy sinh biết bao phiền toái. Cách sống của một người phụ nữ trong cộng đồng cũng có những rắc rối riêng vì bản tính đàn bà của họ. Tính ưa giao cảm gần với thói ngồi lê đôi mách, tính nhạy cảm rất dễ lẫn với tính nhỏ nhen, tính tự vệ của phái yếu rất dễ dẫn đến sự đố kỵ… Sống trong một đơn vị càng nhiều đàn bà càng phức tạp, tổ chức công đoàn càng bận rộn và ít ông giám đốc nào thích điều đó.
Tôi hỏi: Nhưng còn các vị trí thích hợp với phái nữ như thư ký, tiếp tân, hành chính… thì sao? Thì vị giám đốc cười: Tại sao anh lại quan niệm đó là các chức danh thích hợp với phái nữ? Ông lập luận: Phải chăng người ta cho rằng nhân viên thư ký, hành chính, tiếp tân là dễ hơn, nhẹ hơncác chức danh khác, nếu không thì hãy lý giải cho tôi biết những công việc ấy có “nữ tính” hơn? Không- ông tự trả lời- đó chẳng qua là tàn dư sự phân biệt đối xử nam nữ của cánh đàn ông mà thôi; còn tôi cho rằng, sự bình đẳng nam nữ chính là để phụ nữ làm những việc phù hợp với thiên chức của họ, và hãy để cho họ chọn lựa công việc bình đẳng với nam giới, chiếu cố họ chỉ vì họ là phụ nữ thì đó là thái độ coi thường mới đối với họ.

Quản lý doanh nghiệp- Yêu một người đàn bà đẹp

Nhưng cũng cần nói một cách khách quan là không phải ông giám đốc doanh nghiệp nào cũng có quan niệm về lao động nữ như ông giám đốc trên đây. Ông yêu cầu tôi giấu tên cũng nói lên rằng ông biết quan niệm ấy là thiểu số, gần với sự lạc hậu. Ông Trần Quang Hưng, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Trấn Gia thì lại có quan điểm rất cởi mở: Tránh tuyển lao động nữ cũng giống như hình dung thế giới sẽ toàn là đàn ông.
Tiến sĩ kinh tế Ngô Thành đang nghiên cứu tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, khi nói về nghệ thuật quản lý một doanh nghiệp, anh phát biểu như một triết gia: Một giám đốc DN giỏi, đó là một người đàn ông biết cách yêu một người đàn bà đẹp. Doanh nghiệp làm ăn tốt, sinh lãi, còn người đàn bà được anh yêu thì ngày càng xinh đẹp, sinh con đẻ cái, dạy con nên người, rồi chính chúng lại tiếp nối cha mẹ mà trường tồn. Như vậy, về một mặt nào đó, đồng vốn của DN chẳng khác với nữ tính của người đàn bà là mấy. Nếu anh không biết cách yêu, không được người đàn bà yêu thì người đàn bà ấy bỏ đi, mà nhiều cách bỏ đi, có thể tự tử, có thể hư hỏng và cũng có thể đi theo người đàn ông khác…
Với quan niệm như vậy, thì một giám đốc không hề sợ sệt khi nhận vào các vị trí của ông ta một người phụ nữ. Cơ chế thị trường tư bản đã có tuổi gần hai thế kỷ, nghệ thuật quản lý cũng đạt được nhiều thành tựu, nhiều lý thuyết ra đời… và cho đến nay, người ta không còn cho rằng, cách quản lý theo kiểu duy lý của phương Tây là duy nhất đúng. Người Nhật, người Hàn Quốc hay Trung Quốc đều có nghệ thuật quản lý riêng dựa vào nền truyền thống văn hóa. Còn ở Việt Nam thì sao? Tiếc rằng, các nhà kinh tế Việt Nam chưa định hình được một mô hình quản lý nào có tính đúc rút kinh nghiệm đối với một doanh nghiệp Việt Nam. Phải chăng chính vì VN còn có quá ít thời gian vận động theo cơ chế thị trường. Nhưng quan niệm về sử dụng đồng vốn như tình yêu với một người đàn bà có thể hoàn toàn cũng là một lý thuyết mới chăng?
Vậy thì đối với các giám đốc nữ thì sao? Tiến sĩ Ngô Thành trả lời: Cũng vậy, họ tự hiểu các nhu cầu của mình và trong công việc, họ phải tưởng tượng mình là một người đàn ông. Như vậy, nếu vấn đề của ông giám đốc là phải biết cách yêu người đàn bà của mình thì vấn đề nan giải của bà giám đốc lại là phải đóng vai người đàn ông yêu mình. Điều này thoạt nghe có vẻ phi lý nhưng cũng phù hợp với thực tế là các ông giám đốc thì quyết đoán hơn, mạo hiểm và có tính chinh phục, tính đường đi nước bước lâu dài hơn còn các bà giám đốc thì nhiều trí tưởng tượng, phiêu lưu hơn.

Văn hóa Doanh nghiệp- Một phong cách ứng xử tôn trọng phụ nữ
Từ tiên đề về quản lý doanh nghiệp trên đây, chúng ta có thể nhận thấy rằng, xây dựng một nền văn hóa doanh nghiệp cũng tương tự như cách xây dựng phong cách ứng xử với phụ nữ. Doanh nghiệp cũng là một thực thể xã hội, chứa đựng trong nó những mối quan hệ nhậy cảm đầy nữ tính. Những cuộc bãi công giống như người đàn bà dỗi hơn, cáu bẳn. Những cuộc phá sản giống như những vụ ly hôn dẫn đến tự sát. Có thể quan điểm nữ nhân hóa một doanh nghiệp có tính trào lộng hơn là một sự xem xét nghiêm túc, nhưng là sự trào lộng không phải không có lý. Xét cho cùng, nền văn hóa chung có tính phổ quát và truyền thống là dựa trên nền một tiền đề là tôn trọng phái nữ, một phần cũng bởi phái nữ là phái yếu, dễ tổn thương. Nếu anh xây dựng một phong cách ứng xử xoa dịu những tổn thương vổitong cộng đồng DN thì hấp dẫn được DN khác, phải chăng đó là một nền văn hóa doanh nghiệp đích thực. Đối với các doanh nghiệp không hề có nhân viên nữ cũng vậy, đừng tưởng doanh nghiệp toàn nam giới không có vấn đề dễ tổn thương. Một mặt nào đó, người đàn ông nhiều nữ tính càng có tính nết khó lường.
Bài này không có ý định thuyết phục bạn đồng ý rằng lập luận trên đây là duy nhất đúng. Cũng có cách ứng xử khác để xây dựng nên nền văn hóa ở một doanh nghiệp nào đó mạnh mẽ như chiến binh chẳng hạn. Và còn điều này nữa, một mệnh đề thuận đúng thì mệnh đề đảo chưa chắc đúng, bạn có thể dành tình cảm với doanh nghiệp như với một người đàn bà yêu dấu của bạn, coi doanh nghiệp như người đàn bà; nhưng tôi khuyên bạn không nên coi người đàn bà của bạn như là… doanh nghiệp.

về đầu trang

Một ngày Ni thất


Đón Pháp vương Lạt Ma...
Chúng tôi đến chân núi Tây Thiên là khoảng hơn 3 giờ chiều. Đã có rất nhiều người tụ tập để đón một vị Pháp vương Tây Tạng và các Lạt Ma. Mọi người đều biết ông Pháp vương này sẽ lên núi, đến Chùa cô, rồi nghỉ tại Am Ni Thất, nên nhiều người đã nườm nượp lên núi từ sáng. Khi chúng tôi đến chân núi, nghe nói trên núi đã có mấy ngàn người...
Chúng tôi là đoàn làm phim do một nhóm Phật tử thuê ghi lại một số hoạt động của Pháp vương để làm tài liệu tu tập và tham khảo. Trong Thông bạch, thấy nói Pháp vương là hoá thân của Phật bà quan âm, nên qua trò chuyện chúng tôi phát hiện ra nhiều người đến đây chỉ vì tò mò, hiếu kỳ, chứ không vì tín ngưỡng thực sự. Có người hiểu ông ấy là Vua, có người bảo ông là Phật sống, có người lại bảo ông ấy là Pháp sư trừ tà... Khoảng 4 giờ chiếu, đoàn làm phim chúng tôi bắt đầu lên núi.
Trên đường lên Ni Thất, khoảng hơn 6 cây số đường đèo núi, có nhiều người nườm nượp xuống núi. Không phải mùa lễ hội, nhiều người lên núi, đợi mãi không thấy Pháp vương nên trở về. Khi chúng tôi đến vùng Chùa cô, từ đó đi vào Ni Thất, chúng tôi mới thấy việc nhiều người trở ra cũng là may, vì khu vực Pháp vương nghỉ lại, giảng pháp rất nhỏ bé, không thể có chỗ chứa cho rất nhiều người được. Do vậy, đến sẩm tối, khi đoàn Pháp vương đến nơi, chỉ còn khoảng vài trăm người, thì đó phần lớn là phật tử mà tín ngưỡng đã giữ chân họ lại là chính và họ rất hiểu về Pháp vương và dòng thiền Mật tông Tây Tạng.
Đây là một khu vực sâu trên khu vực dãy Tây Thiên. Đầu nguồn suối, có một khu bằng phẳng nhưng hẹp, bàn tay con người đã làm thành mấy mức bình độ. Trên đó dựng vài dãy nhà tranh. Có một cái nhà khá lớn, hai tầng kiến trúc như nhà sàn lớn có thể hội họp vài chục người đến hơn trăm người. Kiểu nhà mái tranh, toàn bộ tường gỗ đơn sơ. Đây là nơi tu tập, học hành của mấy chục ni cô. Bình thường, không có tăng, mà chỉ có ni. Xung quanh mấy dãy nhà đều trồng hoa. Đâu đâu cũng thấy hoa.
Pháp vương Gyalwang Drukpa năm nay 42 tuổi, ông được lên ngôi Pháp vương nhờ phương thức tuyển chọn truyền thống Phật giáo Tây Tạng. Năm lên 6 tuổi, ông đã được một thày Pháp vương ấn chứng rằng ông chính là đầu thai của vị Pháp vương thế hệ trước kia. Con người cả đời tu hành này khi đến Ni Thất Tây Thiên đã nói trong đoạn đầu bài giảng pháp: “Tôi ngạc nhiên thấy nơi tu hành của các ni cô, thật là một nơi thích hợp để tu đạo, thân thiện với môi trường, tạo ra cảm giác yêu đời, đúng với tư tưởng nhập thế, độ chúng sinh của Phật Thích ca”

Đêm Ni thất
Pháp vương Gyalwang Drukpa lên đến Ni Thất liền cầu kinh. Đoàn các Lạt Ma Tây Tạng và những người đi theo khoảng năm chục người, cộng với các ni cô và khoảng vài trăm phật tử cùng đọc kinh. Tiếng đọc kinh làm thành một dàn âm thanh vang khắp núi. Trong khi hành lễ, có khoảng hơn một chục Phật tử và chừng ấy ni cô làm công tác hậu cần. Tôi thấy mấy ni cô, lúc trước đã gặp khi xuống núi, lại lên núi khi tháp tùng phái đoàn, bây giờ lại đi lại ngược xuôi như không có chuyện mệt. Trong khi đó, phần lớn Phật tử kể cả bọn thanh niên trẻ lên đến nơi đều kêu mỏi...
Ni cô Tường Vân cho chúng tôi biết, toàn bộ nhà cửa, công trình xây dựng ở đây phần lớn là do bàn tay các ni cô xây dựng nên. Cát lấy dưới suối. Điện có máy phát nhờ nước suối. Dựng nhà, xếp đá làm sân đều do các ni cô làm cả. Chuyện đi hơn sáu cây số đường núi xuống chân núi vác gỗ lên là thường.
Hành lễ xong là khoảng 9 giờ tối, phần lớn Phật tử ngủ lại khu Ni thất. Có một hai ni cô đi suốt lượt, hỏi mọi người có cần giúp đỡ gì không. Cơm thì nhà chùa có cơm chay, còn chăn chiếu thì chỉ có hạn, chỉ có thể cho các cụ già mượn. Một bắp ngô dưới chân núi bán ba trăm đồng, lên đến Ni Thất thì bán một ngàn rưỡi. Nhưng nhà chùa thì có thể phát không, song phần lớn Phật tử tự túc, bảo không làm vướng bận đến nhà chùa. Rất lạ lùng. Bỗng nhiên ở đây, tình thương mến của con người bộc lộ rất thuần hậu, người ta ít nghĩ đến mình hơn, mà nghĩ đến mọi người.
Chúng tôi vác máy đi tìm chỗ ngủ. Đi đâu cũng có thể đụng phải một đám người nằm trong đống chăn. Chân cầu thang cũng có, xó xỉnh nào cũng có người nằm. Người ta coi chuyện ngủ nghê chả là gì. Ngó đầu ra một ông trông rất quen, hoá ra ông ấy là một giảng viên đại học ở Hà Nội, tôi đã gặp lúc đi lên núi. Ông này đi nước ngoài như đi chợ, ở mòn các khách sạn vài sao, bây giờ chui rúc ở một góc núi, mặt cứ tươi tỉnh như không.
Suối bên cạnh rì rầm một thanh âm hoang dã tự nhiên, đều đều ru người ta ngủ rất nhanh. Các ni cô là người đi ngủ muộn nhất. Ni cô Tường Vân bảo: “Hôm nay có khách đông, nhà chùa ngủ muộn. Còn bình thường ngủ sớm, dạy sớm mới là khoa học”. Muộn, nhưng tôi nhìn qua ánh điện sang ni thất, vẫn thấy các ni cô niệm Phật im phăng phắc rất lâu mới đi ngủ.
Hành lý để lung tung không sợ mất trộm. Đêm có thể lần ra suối không sợ bị bắt nạt. Cuộc sống ở nơi heo hút mà thanh bình, lành mạnh. Chỉ có thể có ở vùng đất của các ni cô.

Lên núi
Sáng sớm, khi hơi nước còn bốc mờ mờ trên khe suối, đã nghe thấy tiếng mõ cốc cốc. Rồi tiếng đọc kinh đều đều trong vắt. Kẻng báo thức. Nhiều Phật tử còn ngủ lăn lóc, các ni cô đã đi lại, làm lụng từ lâu rồi. Suối buổi sáng nước trong văn vắt. Dòng nước nguồn còn được đưa qua ống nhựa dẫn xuống dưới núi. Thứ nước nguồn không ô nhiễm, không cần qua xử lý mà đảm bảo tinh khiết. Một “thổ công” ở đây, anh ta bán hàng ven đường lên núi chúng tôi thuê vác máy, đã kể rằng trước đây có cụ già vào núi sống không biết tự bao giờ, thọ hơn một trăm tuổi. Chuyện chẳng có bằng chứng gì, cứ khơi khơi, mà ai cũng tin cả. Bởi vì sáng như sáng hôm ấy, chưa bao giờ tôi thấy không khí sạch như thế, nước tinh khiết như thế, âm thanh của suối, của chim chóc lại hoang sơ thân thiện như thế.
Khi vừa ăn sáng quáng quàng xong thì mọi người đã chạy nhao nhác. Pháp vương và các ni cô đã đi theo đường sau những dãy nhà lên núi. Họ đi theo đường hẻm, lên cao hơn. Lên tận đỉnh một ngọn núi mà Ni Thất dựa lưng vào. Trên đường hẻm rất cheo leo, đi qua những khu ruộng bậc thang nhỏ đã được làm phẳng trồng rau. Tức là mỗi khi làm vườn, các ni cô đều phải trèo leo để lên núi. Mệt, đoàn Phật tử thở hổn hển, còn các ni cô thì im lặng đi thoăn thoắt. Các tăng cũng leo nhanh, có lẽ đời sống tu hành khiến người ta khoẻ khoắn. Trên núi, nơi có một khoảng bằng phẳng rất rộng, dự kiến sẽ xây dựng một ngôi chùa. Nơi có một cây tùng cổ thụ hàng trăm năm. Phải rồi, Ni thất hiện nay không có chùa. Chùa cô thì phải xuống núi khoảng 1 cây số. Nếu dựng chùa nơi đây, quả thật đắc địa.
Pháp vương làm lễ Hộ ma, đuổi tà ma và ấn chứng cho một phiến đá sẽ làm móng chùa. Hành lễ suốt mấy tiếng đồng hồ. Mặt trời gần đến đỉnh đầu mới xong. Khi chúng tôi xuống đến Ni Thất, đã thấy các ni cô chuẩn bị cho buổi đọc kinh trưa.

Suy tư một chút
Trong số các ni cô, tôi chỉ tiếp xúc được với một ni cô Tường Vân, vì có lần tôi đã gặp ni cô khi làm báo Phật học. Dường như cuộc sống tu hành khiến các ni cô kín tiếng. Có người đi tu vì lánh đời, ghét người, chán sống... Nhưng rồi vào cuộc đời tu tập, lại tìm thấy ý nghĩa cuộc sống ở một phía khác của cuộc đời. Giáo lý nhà Phật nguyên bản là nhập thế, giúp đời. Đó là một bộ giáo lý vừa duy tâm, vừa duy vật, là một loại vũ trụ quan của con người, do vậy mà khi thấm nhuần giáo lý nhà Phật, người tu có nhân sinh quan, có mục đích sống rõ ràng... Ni cô Tường Vân tôi thấy là một con người toàn diện, cơ thể khoẻ khoắn, dáng chuẩn, mặt tươi tắn mà kiến thức rất sâu rộng, giao tiếp đàng hoàng, tử tế. Tôi nghe nói ở nước láng giềng, thanh niên phải có thời gian mấy năm đi tu ở chùa. Khi tiếp xúc với các ni cô, mới thấy nếu có điều đó thật thì hay biết bao nhiêu.
Vác máy xuống chân núi sau một ngày ở Ni Thất Tây Thiên, có mệt mỏi, nhưng tôi thấy tinh thần thoải mái. Nếu cuộc đời này, Phật giáo lấy lại được vị thế đồng hành cùng dân tộc như hàng trăm năm trước, thì chỉ có lợi cho dân cho nước. Mỗi người sẽ có một bờ bến tinh thần để cân bằng tâm lý, cộng đồng sống có nhân bản, thân thiện với môi trường...
Các học giả dự đoán thế kỷ 21 là thế kỷ tôn giáo, có lẽ ứng nghiệm ngay tại Việt Nam những năm đầu thế kỷ này. Chuyến đi của chúng tôi chứng minh rằng Phật giáo hội nhập quốc tế nhanh và sâu rộng hơn hẳn nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội. Nguồn lực trong dân thể hiện trong lễ hội tôn giáo thật vô cùng lớn. Lễ đón Pháp vương Tây Tạng được các Phật tử tổ chức, nhà chùa chỉ cầm trịch, mà rất long trọng, đồng tiền bỏ ra không ít, song không lãng phí. Nhà chùa không bao biện, mà kiểm soát được tình hình. Cách tổ chức này, so với nhiều lễ hội tầm quốc gia, có phần chuyên nghiệp và quy củ hơn.
Tại ni thất, cuộc sống đạo hạnh của các ni cô có tầm ảnh hưởng nhất định đến xã hội. Đó là môi trường giáo dục đáng được cả xã hội biết đến. Nhà nước nên đầu tư và khuyến khích những hình thức tu tập của Phật giáo như thế. Tại sao thời Lý- Trần, cả nước là Phật tử mà đất nước cường thịnh, đánh thắng oanh liệt giặc ngoại xâm?
Một ngày ni thất Tây Thiên, tôi tìm thấy lời giải của nhiều vấn đề vốn đã đặt ra như những câu hỏi lớn...
về đầu trang

Hải phòng trong lòng tôi


1. Sự tích thần kỳ về một đô thị cảng

Lịch sử Hải Phòng nếu lần ngược về trước mấy trăm năm cũng đều nhất quán là vùng đất năng động, luôn luôn đi đầu với những biến cố đổi mới lay trời chuyển đất. Thời Trần, hầu hết lãnh thổ Hải Phòng lệ vào phủ Kinh Môn, dân cư thưa thớt. Cho đến cuối thế kỷ 19, miền đất duyên hải này là sào huyệt lý tưởng của những cuộc dấy binh chống đối. Vô cớ gì Dương Kinh của nhà Mạc ở đây, rồi căn cứ của Nguyễn Hữu Cầu ở Đồ Sơn… Những gì kinh đô chưa cảm thấy cũ kỹ, thì nơi cửa biển giao lưu với ngoại bang đã cảm thấy. Những gì kinh thành chưa biết thì ở thời đại giao thông chủ yếu là đường thuỷ, vùng cửa sông này đã biết rồi. Cho đến những năm tám mươi của thế kỷ này, điều đó vẫn đúng là như vậy.

Sự kiện quan trọng nhất thời thuộc Pháp cuối thế kỷ 19, gián tiếp thúc đẩy hình thành nên diện mạo Hải Phòng, có lẽ là việc chính quyền bảo hộ Pháp cử đến đây một viên Trú sứ tên là Bonnal. Chính Bonnal, với quyết tâm phi thường, đã là tổng công trình sư tạo nên thành phố tương lai.

Vào năm 1875, miền đất này lệ thuộc quan tỉnh Hải Dương, nhưng là một vùng bị bỏ quên, chỉ có một đồn binh nhỏ trấn giữ ở cửa sông Tam Bạc. Dãy phố Tàu phía Hạ Lý có những ngôi nhà đáng giá nhất cả vùng. Theo ghi chép của chính Bonnal: “Không cảnh sát, phố xá và các bờ sông bẩn thỉu, các hố chân đê hôi thối, không có đường đi vào mừa mưa khiến cho Hải Phòng kém hấp dẫn người Pháp”. Nhưng Bonnal, viên Trú sứ mới, lại đứng về phía những thương nhân châu Âu, nhìn thấy tương lai của một thương cảng ở Hải Phòng. Cách làm của Bonnal có thể là một bài học không cũ về quy hoạch, về quyết tâm vượt qua mọi thủ tục quan liêu thời đó để xây dựng nên vùng đất “thuộc quyền quản lý của người Pháp”. Tại sao ngày nay, chúng ta quy hoạch thành phố lại hay lấp các ao hồ, thậm chí “cống hoá” các con sông? Hải Phòng hiện đang lấp đoạn sông chảy qua Hồ Sen, cũng như Hà Nội đã lấp nhiều đoạn sông biến nó thành cống dẫn nước thải. Nhưng tại sao Bonnal lại chọn giải pháp chống lụt cho thành phố tương lai bằng cách đào một con kênh, mà ông ta tính nó dài 2,8 km, sâu 7 mét, rộng 50 mét đáy, rộng 70 mét trên mặt? Tại sao các cụ quan lại nhà Nguyễn khi chinh phục đồng bằng sông Cửu Long lụt lội, lại ra sức đào nhiều kênh như vậy? Phải chăng những tính toán của người Pháp và của quan lại triều Nguyễn là lạc hậu chăng? Bonnal tính rằng, phải đào gần 1,2 triệu mét khối đất, và phải trưng dụng đất đai ở vùng hai bên con kênh phục vụ lợi ích công cộng, lập thành phố tương lai. Ông ta đã đền bù cho những người dân mất đất bằng đất đai màu mỡ ở Kiến An, ngoài ra, ông ta không cho chia nhỏ những mảnh đất hiện có của người Pháp, ngăn cấm mọi sự giao dịch đất đai trước khi quy hoạch để tránh sự đầu cơ đất. Cuối cùng Bonnal đã huy động được lực lượng phu khổng lồ để thực hiện dự án của ông. Trong ghi chép của Bonnal, ông ta cho chúng ta biết, cách huy động dân công của ông là hoàn toàn dựa theo “luật pháp của người bản xứ”, tức là dựa trên chế độ đi phu không công để đắp đê điều, sửa sang đường xá có từ lâu đời của các triều đại phong kiến, mà không phải là mệnh lệnh của chính quyền bảo hộ. Ông ta chỉ lợi dụng thời gian nông nhàn, lại cung cấp khẩu phần ăn tốt và có tiền công nhất định lấy từ ngân khố của tỉnh, khiến cho người đi phu tự nguyện và hăng hái. Nhưng điều đó khiến cho các quan chức ở Hà Nội nổi giận vì viên Trú sứ không xin tiền “mà chỉ với thiết chế của dân bản xứ, dám xấc xược tạo ra một thành phố” và họ “nóng lòng chờ đợi cơ hội để làm nó sụp đổ”.

Hồi đó, Lạng Sơn đang có biến cố chiến tranh của người Việt chống chính quyền Pháp, Toàn quyền Pháp đã huy động dân binh bao vây công trường xây dựng Hải Phòng, dùng điện tín ra lệnh cho Bonnal lùa dân phu đi phục vụ đánh nhau ở Lạng Sơn. Nhưng Bonnal cho biết, ông “sẵn sàng từ chức công sứ để không a tòng theo một hành động mà tôi cho là lạm quyền không thể tha thứ được”. Dĩ nhiên, cuộc lùa dân phu đó không thành, nhưng công trường của ông Bonnal đã bị ngừng trệ, phải đến một năm sau mới tiếp tục và thắng lợi.

Ngày nay, khi đọc lại những dòng viết của Bonnal, tôi quả thực cảm phục tinh thần của người công sứ Pháp này. Nếu không phải ông, chắc gì đã có Hải Phòng. Cách làm của ông xứng đáng để cho hậu thế nghiền ngẫm nhiều điều thú vị. Những bài giảng về sự bóc lột thuộc địa của người Pháp chúng ta đã học quá nhiều, nhưng bài học về cách xây dựng và đầu tư của người Pháp thì hầu như chúng ta đã và đang lãng quên. Hải Phòng ngày xưa có một vài địa điểm mang tên Bonnal, nhưng rồi mới biến mất. Người già vẫn gọi khu vực vườn hoa ngày nay là sân Bonnal. Tuy rằng Bonnal là viên công sứ Pháp, trước khi đến Hải Phòng, ông ta đã là Trú sứ tại Sơn Tây, mộ phu phục vụ quân đội Pháp đánh nhau với quân khởi nghĩa ở Lạng Sơn, nhưng với Hải Phòng, thì ông ta hoàn toàn là một người có công lớn. Phải chăng, Hải Phòng nên có một địa danh lưu dấu ấn của Bonnal. Với tư duy bao dung và rộng mở ngày nay, ông ta hoàn toàn có thể được ghi công sau những Yecxanh, Alechxan De Rop, Du-me…


2. Cảng già nua?

Như vậy, lịch sử ra đời của thành phố Hải Phòng với ý chí của viên Trú sứ Bonnal đã tiềm ẩn trong nó một sự “phá rào”, nói theo ngôn ngữ của những năm tám mươi thế kỷ hai mươi. Tập thể lãnh đạo thành phố dưới sự chỉ đạo của ông Đoàn Duy Thành mang lại cho Thành phố hy vọng về một cuộc lột xác mới. Nhưng tại sao sau hai mươi năm, người Quảng Ninh lại nhìn về Hải Phòng với cái nhìn kẻ cả, anh chị như thể Hải Phòng chỉ là một thị trấn láng giềng? Tâm lý ngang tàng anh hùng đất Cảng bị giáng một đòn quá nặng.

Cơ sở tiềm tàng làm nên cái tên đầy tự hào là “thành phố cảng”, đó chính là cảng Hải Phòng, thì giờ đây chịu nhiều thách thức. Dự án cảng Cái Lân đã hình thành. Tại phía Bắc, tương lai của cảng Nghi Sơn (Thanh Hoá) đầy triển vọng, đấy là chưa nói miền Trung với cảng Vân Phong, và cảng Bà Rịa Vũng Tàu ở miền Nam… Vị thế thành phố Cảng của cả nước, của khu vực đã mất. Hải Phòng còn lại gì? Khoảng những năm cuối cùng của thế kỷ hai mươi, tôi làm báo, nhận được nhiều thư phản biện, lên án mạnh mẽ khi triển khai làm cảng Cái Lân, muốn đầu tư tập trung vào cảng Hải Phòng. Tôi tự nhận là người Hải Phòng, gắn bó với Hải Phòng, tâm tư tôi muốn ủng hộ những tiếng nói ấy và tôi đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia Cục Hàng hải. Buồn thay, các chuyên gia có lý của họ. Cảng Hải Phòng nếu không chuyển mình ngay, có thể sa bồi và mất lợi thế rất nhanh, nhất là sau khi nối đảo Đình Vũ với đất liền. Dự án nâng cấp cảng do Nhật Bản tài trợ dù có triển khai tốt đến mấy, cũng chỉ là biện pháp tình thế. Trong lịch sử, đã có tiền lệ biến mất một thương cảng cỡ như Phố Hiến, thì viễn cảnh Hải Phòng trở thành thành phố cổ cũng không có gì lạ lắm.

Lật lại những ghi chép của người Pháp, lại chính Bonnal cho hậu thế một thông tin đáng suy nghĩ. Vào thời của Bonnal, người Pháp đã nhìn thấy Hải Phòng chỉ là một cảng tạm. Theo ông ta, ngay thời đó vấn đề chuyển cảng mới “đã gây ra cuộc tranh cãi sôi nổi, đặc biệt trong giới hàng hải”. Họ đã xem xét Quảng Yên, Hòn Gay, mà chưa quyết, “nhưng tất cả đều nhất trí yêu cầu chính phủ Pháp bỏ Hải Phòng vì không có lối vào cho các tàu trọng tải lớn” và “ bị các dòng chảy rộng và xiết cắt ngang cắt dọc tạo thành các trận ngập lụt lớn và tính ổn định kém của nền đất…”. Tuy nhiên, lý do để người Pháp như Bonnal vẫn xây dựng thành phố cảng vì nếu có cảng nước sâu ở Quảng Yên hay Hòn Gay thì Hải Phòng cũng vẫn là cảng sông… Như vậy, cho đến một trăm năm sau, việc khai thác cảng Hải Phòng là đã quá dài, đã đến lúc cơ sở hạ tầng cảng Hải Phòng già cỗi không còn đáp ứng được yêu cầu phát triển mới nữa. Ngày nay, dự án chuyển cảng Hải Phòng ra xa hơn phía biển đã có, khu vực Lạch Huyện của Cát Hải có thể trở thành một cảng biển tuyệt vời. Nhưng giá như dự án ấy được hoạch định trước, thực hiện trước khi làm cảng Cái Lân thì mọi việc có thể đã khác. Những người chống việc làm cảng Cái Lân cũng có lý của họ, vì sự xây dựng cảng này vừa tốn kém, lại vừa sát với Hạ Long, nguy cơ tàn phá môi trường Vịnh Hạ Long không phải nhỏ. Giá như việc chuyển cảng Hải Phòng cho đến hôm nay đã hoàn tất rồi thì chắc hẳn thành phố đã có tư thế khác, diện mạo khác, chứ không cam chịu tụt hậu như thời gian qua. Chuyện cảng chỉ là một chuyện trong rất nhiều sự kiện khiến cho Hải Phòng mất thế, công và tội của những con người, ngày nay có thể không cần ngoái lại nữa, tập trung vào việc của ngày nay, bề dày lịch sử sẽ như một bộ lọc công bằng. Và việc chuyển cảng càng nhanh thì mới có thể đồng bộ được với việc khai thác Đình Vũ, biến khu vực Đình Vũ, Cát Hải thành một khu dịch vụ cảng biển tầm cỡ kiểu Hồng Kông, Singapo.


3. Câu hỏi về kinh tế biển?

Hải Phòng có nhiều khu vực địa lý, có nông nghiệp, có công nghiệp, có cảng biển… Nhưng thú vị nhất, làm nên Hải Phòng chính là khu vực biển. Thuật ngữ “kinh tế biển” tôi đã nghe nói vài chục năm nay. Nhưng cho đến nay, nếu có một cái nhìn tương đối nghiêm túc đánh giá thành quả của việc xây dựng kinh tế biển, nếu anh là cán bộ nặng lòng với Hải Phòng, hẳn là anh không thể lạc quan. Những gì làm được không thể phủ nhận, nhưng nếu cứ làm như vậy, chắc sẽ không khỏi tụt hậu, nói gì tăng tốc phát triển.

Hải Phòng có hai đảo lớn là Cát Bà và Cát Hải. Tôi đã là dân cư Cát Hải thời cách đây hơn ba chục năm. Hơn ba chục năm có thể coi như khoảng thời gian sống làm việc của một đời người. Về thăm lại đảo, các thày cô giáo thời đó mới ra trường, thanh xuân phơi phới, thì bây giờ đã hưu, tóc bạc phơ. Có ông thày nói với tôi: “Chú thấy bộ mặt của đảo khác rồi. Đi lại sướng hơn, đường xá tốt. Thời đã khác nhưng thế lại kém đi”.

Hồi xưa, đi từ Hải Phòng ra Cát Hải là cả một sự nhiêu khê, đến Cát Bà còn khó khăn hơn và chỉ có đường biển với ca-nô chợ. Nhưng ngày nay thì khác. Người Cát Hải về Đình Vũ hết 60 phút đi phà, sang Cát Bà chỉ 25 phút. Ô tô, xe máy có thể đi ra đảo bình thường, điều mà hơn 10 năm trước chưa hề có. Điều trăn trở mà ông thày tôi gọi là “thế” của người Cát Hải vẫn là bài toán nghề nghiệp, là kiếm sống, nói rộng ra là lo nghĩ cho thế hệ tương lai. Đảo Cát Hải khi xưa có 2 khu vực dân cư, khu vực Mắm và khu vực Muối, cách phân loại dân dã dựa vào nguồn sống chính của người dân. Người làm mắm quy tụ quanh Xí nghiệp nước mắm, thương hiệu có tiền thân từ thời nhà tư sản Vạn Vân, còn người làm muối rải rác ven đảo. Mắm hay muối cũng đều trông vào con cá. Cát Hải thời tôi sống dường như bãi biển hoang vu hơn, vùng ngập nước với xú, vẹt, với năn, nác nhiều hơn. Người đánh cá trên đảo hồi ấy chủ yếu là đánh bắt ven bờ, dựa vào thiên nhiên. Bơi con thuyền nhỏ trên bãi có thể bắt cá, vác cái cuốc ra bãi có thể kiếm vô số con sâu biển (sau này nó là đặc sản xuất khẩu đấy), ra bãi trước nhà nhấc lên một nắm năn lấy củ rang bùi như lạc… Bây giờ thì sao? Những khu ngập nước hồi xưa đã khoang vùng thành hồ ao nuôi thả, nhiều diện tích đổ cát làm nhà. Sinh vật thuỷ sinh dường như rủ nhau trốn đâu rồi. Đồng muối chia nhỏ, những ô vuông bé tý, giống như những mảnh đất phần trăm trồng rau màu của nhà nông hồi hợp tác hoá. Hình ảnh về đồng muối bao la không còn nữa. Tôi nói chuyện với một ông chủ doanh nghiệp nước mắm, ông ấy cười: Muối chúng tôi mua hàng vạn tấn, phải mua của người thu gom, họ nắm kênh phân phối, còn họ mua ở đâu thì chịu”. Số phận người làm muối ở đảo không khá hơn tình hình chung diêm dân ở nước ta, một nghịch lý khó nuốt được ở một nước có bờ biển hàng ngàn cây số, mà phải nhập muối, mà diêm dân sống vất vưởng hàng chục năm qua.

Những người có tuổi trên đảo nói: “Gần thì không còn cá, xa thì không có thuyền…” Thành thử, con em dân đảo lớn lên đều nhìn ra xa, đi làm tứ chiếng, làm bất cứ việc gì để kiếm ăn. Cô hàng nước mắm Quang Hải ở gần bến phà bảo tôi: “Nhà nào có được 1 người vào làm ở xí nghiệp nước mắm. coi như ngày xưa có cái sổ gạo” Đã có hàng nghìn bài báo kinh tế, phân tích chi ly quan hệ của sự phát triển kinh tế và sự bền vững. Tại vùng biển như Cát Hải, sự phát triển bền vững có thể cảm nhận được, chẳng cần số liệu nhiều lời. GDP tăng trưởng, cơ sở hạ tầng khá lên, nhưng cơ sở kinh tế, việc làm, các vấn đề xã hội, vấn đề môi trường thì không tăng tương ứng, có thể nói là có chỗ đi xuống.

Nếu cảng Hải Phòng mới chuyển ra đây, nếu có cây cầu nối với đất liền, thì chắc rằng cư dân Cát Hải không còn chông chênh tính kế sinh nhai nữa, với dân số không bằng một phường trong thành phố, các dịch vụ cảng biển sẽ thu hút họ, nhân công từ đất liền đổ ra, hình thành một vùng kinh tế mới, ly “nông” bất ly hương. Nếu có cảng mới đúng như dự án, thì khu vực Cát Hải sẽ là mặt tiền của cả hai đảo lớn của huyện đảo này, khu vực Cát Bà trở lại là sân sau “tĩnh lặng” làm du lịch. Chắc chắn đến khi đó, việc di chuyển các cơ quan huyện lỵ từ đảo Cát Bà về Cát Hải hoặc chuyển toàn bộ thị trấn về phía Tây Bắc đảo là chuyện sẽ phải tính đến. Tiên đoán của tôi chả biết có sự thực không, nhưng một thực tế là thị trấn Cát Bà hiện nay nằm trên dải đất hẹp gần vịnh biển có bãi tắm, gần vườn quốc gia Cát Bà, rất khó phát triển mở rộng. Rồi đây, du lịch phát triển, bãi tắm, vịnh biển Hạ Long và vườn quốc gia phải nối với nhau thành một chỉnh thể thì đất đó “tấc đất tấc vàng”, mặt tiền kinh tế lại là cảng Lạch Huyện, vậy thì các cơ quan huyện đóng đô tại Cát Bà chưa phải là đắc sách.

Lại nói về kinh tế biển, đến Cát Bà, đứng trên tầm cao nhìn xuống vịnh biển, hàng trăm nhà nổi nuôi cá lồng bè trên một vùng vịnh hẹp giao tiếp với cửa ngõ Hạ Long, nhìn vui mắt nhưng thực ra hình ảnh ấy tiềm tàng một nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, làm giảm hiệu qủa khai thác của khu du lịch.

Cũng là bài toán khai thác môi trường biển, đi một đường xuyên đảo Đình Vũ, có thể thấy rất nhiều vấn đề khó hiểu, lo ngại khôn nguôi. Đảo Đình Vũ vốn là một khu sinh quyển ngập nước. Thuỷ triều lên, phần lớn đảo cũ chìm trong nước. Qua mấy chục năm chinh phục, đảo đã nối với đất liền, hình thành một khu kinh tế mới. Bao nhiêu đất đã mang từ thành phố ra đổ lên đó, bao nhiêu cát đã bơm từ lòng cửa sông phun lên đó. Được một diện tích đất trên đảo đâu phải là được cả. Có cái mất mà mất vĩnh viễn khó lường được chứ. Trước đây, dân đi săn thường đến đảo bằng con đường hẹp săn bắn vịt trời, chim chóc, câu cá… Và, dưới làn nước nơi đây là cả một thế giới rong rêu, rau câu nhiều vô kể. Bây giờ, nếu đi ra phà Đình Vũ, vẫn bắt gặp những toán người vớt rau câu trên những diện tích đầm bãi đang thu hẹp dần dần. Khu công nghiệp là một thực tế rõ ràng, hợp lý ở vùng đất mới này, nhưng phải chăng những vùng đầm bãi Đình Vũ sẽ biến mất, những mỏ rau câu và thế giới thuỷ sinh của nơi này sẽ biến mất? Năm ngoái, tôi đi qua Đình Vũ vẫn còn gió biển mát rượi tanh mùi rau câu, thế nhưng tuần trước, đi qua đó để về thành phố, lạ thay mùi xú uế kinh hồn. Mùi nồng nặc ô nhiễm ấy đuổi theo tôi một đoạn quá dài. Hoá ra người ta đang chôn rác ở mom đất gần biển, cái bãi rác Tràng Cát bị dân cư nổi giận chống lại chính quyền giờ không còn ở Tràng Cát được nữa, thì bây giờ được chuyển ra đây. Đình Vũ ở hướng chính đông thành phố, là đầu gió, hỡi ôi tại sao lại mang rác ra đây chôn lấp. Chôn lấp kiểu gì không biết, chôn nơi mà đất và cát tính bằng tiền để san lấp mặt bằng, hỏi rằng người ta chôn sâu không, lấp thế nào? Đó là chưa nói việc chôn lấp rác đã làm huỷ hoại môi trường ven biển ra sao?

Có một tổ chức của một nước Bắc Âu đã viện trợ cho Việt Nam để trồng lại những rừng sú, vẹt, khôi phục sinh thái ngập nước ven biển ở Việt Nam. Tôi thấy lạ, cùng một lúc, người ta cứ tàn phá đi, rồi lại mất công mất của làm lại. Lạ lùng.


4. Cái giá… vô giá của xi măng.

Lại nói về môi trường… Không chỉ là môi trường biển. Các nhà khác làm được nhiều cho miền đất mình yêu dấu, công trình nhìn thấy, sờ thấy, nhà văn chỉ có chữ, có tâm sự. Đó là phút dừng trong nhịp sống hiện tại, cái gạch nối quá khứ với tương lai. Bao giờ câu hỏi về được - mất cũng nhức nhối, khó chịu. Hai mươi năm qua, người Hải Phòng đã dày công xây đắp lên thành phố, sẽ có người bảo: Bao nhiêu thành quả anh không nói, không động viên, nay anh ném vào công cuộc xây dựng của người ta toàn chuyện lo ngại ư? Đành vậy, tâm sự thì nói thật, sự thật mất lòng, biết mà không thể không nói vậy.

Từ bao lâu rồi, ống khói xi măng từ biểu tượng của công cuộc công nghiệp hoá, biểu hiện của sự phấn khởi đổi đời, rồi chính những ống khói ấy lại chuyển thành hình ảnh lo ngại về ô nhiễm, là biểu tượng của công nghệ lạc hậu lúc nào không biết. Vẫn nhà máy ấy, ngày hôm trước còn là niềm tự hào, ngày hôm sau là món nợ. Việc chuyển nhà máy xi măng Hải Phòng mới ngày hôm nay gần như đã hoàn tất, nhưng phải chăng sau sự chuyển dời ấy, không còn điều gì đáng suy ngẫm nữa?

Hiện tại, một góc của huyện Thuỷ Nguyên đã trở thành khu vực công nghiệp sôi động của thành phố. Trước đây, khu vực Minh Đức của Thuỷ Nguyên chỉ có một nhà máy hoá chất, loanh quanh làm bột nhẹ, nhưng sau khi xuất hiện Xi măng Ching Phong, rồi nhà máy đóng tàu Nam Triệu, thì Minh Đức nhanh chóng sầm uất. Xi măng Hải Phòng mới cũng chuyển đến khu vực này, kề cận với Xi măng Ching Phong. Với triển vọng một nhà máy nhiệt điện mới sắp xây dựng, khu vực này có hàng vạn công nhân, thật sự thay đổi bộ mặt đô thị Hải Phòng.

Điều băn khoăn day dứt nhất của tôi chính là việc hiện diện của những nhà máy xi măng ở một vùng lãnh thổ miền Đông Bắc, trong đó có cả ở Hải Phòng, có cả ở Hải Dương và Quảng Ninh.

Một vùng đất ven sông Bạch Đằng, từ hạ lưu khoảng Phà Rừng cho đến phía thượng lưu Phà Đụn, nơi giáp ranh ba tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương có đặc điểm địa chất đặc biệt, vẫn gọi là vùng bán sơn địa. Trong sử liệu, thư tịch cũ đã gọi khu vực này là Hạ Long cạn. Lô xô hàng trăm quả núi đá vôi mọc giữa đồng bằng, quây quanh một dãy núi đá vôi đồ sộ trên địa phận Tràng Kênh, Thuỷ Nguyên, kéo dài đến Mạo Khê (Quảng Ninh). Tâm điểm của khu vực này theo truyền thuyết chính là gốc của cột chống trời, do Thần trụ trời sau khi khai thiên lập địa còn vết tích là các quả núi đã vôi vương vãi khắp nơi. Nơi đây, xưa kia được coi là thắng địa, một vùng di tích, đặc biệt là các di tích thời Trần. Các hang động truyền thuyết đã từng được Trần Quốc Tuấn dấu gỗ chuẩn bị cho trận Bạch Đằng, lại có các hang động di tích thời cận đại gắn liền với các cuộc kháng cự chống Tây của nghĩa quân Đốc Tít, nghĩa quân Bãi Sậy, có di tích núi Kính Chủ, núi thiêng từ thời Lý... Tôi lớn lên ở thị trấn Kinh Môn, nhìn sang bên kia sông Kinh Thày, là cả một vùng non nước những dãy núi đã vôi xanh xẫm của Tràng Kênh, trong đó có dải núi lớn gù lên như con sư tử khổng lồ. Chỉ sau ba mươi năm, dãy núi đá Tràng Kênh giờ đây giống như con sư tử cụt đầu, chỉ còn mỏm lưng và đuôi. Bao nhiêu hòn núi đá của Hạ Long cạn đã biến mất để thành xi măng rồi? Tuần trước, tôi có đến khu vực Nhà máy xi măng Hải Phòng mới, dân địa phương nói rằng, nhà máy xây dựng trên mặt bằng trước kia là một quả núi lớn đã bị Nhà máy Ching Phong ăn gọn. Bên cạnh nhà máy Xi măng Hải Phòng mới còn có một quả núi đã vôi được bảo quản kỹ càng, đó là quả núi có hang dấu cọc Bạch Đằng… Tôi tận mắt thấy những dãy núi đang bị ăn nham nhở, bị biến mất từ từ không thể nào cưỡng được. Ông anh tôi kể rằng, khoảng đầu những năm sáu mươi, tức là cách đây khoảng bốn chục năm, anh và các trai tráng phố huyện Kinh Môn còn sang sông Kinh Thày, đến khu vực Tràng Kênh này đốn củi, núi Tràng Kênh còn hàng đàn khỉ, ném bó củi trên đỉnh núi xuống là rơi xuống ruộng lúa nước. Một đặc điểm của các quả núi vùng này là thế, chân núi gọn như thể hòn xôi hòn oản mọc trên đất ruộng vậy, cảnh quan hùng vĩ, lạ lùng…

Có lẽ, mật độ các nhà máy xi măng của khu vực Minh Đức (Hải Phòng) còn thua xa so với khu vực các xã khu đảo của huyện Kinh Môn, nơi có nhà máy xi măng Hoàng Thạch, Phúc Sơn và hàng chục nhà máy nhỏ khác. Nhưng cộng gộp các nhà máy xi măng khu vực này, hàng năm công suất thực tế có thể lên đến hơn 10 triệu tấn, và còn tăng nữa vì các nhà máy đang ra sức mở rộng. Các chuyên gia tính rằng, cứ tốc độ khai thác thế này chỉ khoảng ba bốn chục năm nữa, những quả núi đá vôi của vùng này sẽ bị san bằng, khi ấy muốn tiếp tục làm xi măng, phải khai thác đá như người ta khai thác than, đào tiếp xuống lòng đất.

Đã có quá nhiều bài báo nói về nỗi thống khổ vì ô nhiễm của vùng Hoàng Thạch, Minh Tân (Kinh Môn, Hải Dương). Vùng Minh Đức chưa phải hứng chịu sự ô nhiễm như vậy, nhưng việc trả giá bằng ô nhiễm chỉ là mất mát nhỏ bé, mất mát không đáng kể so với việc mất đi cảnh quan, tài nguyên đất nước vô giá, một bài toán được mất mà mỗi thời lại có lời giải khác nhau, càng kinh tế phát triển, cái giá của cảnh quan mất đi càng lớn.

Có lẽ, nhu cầu về xi măng để phát triển đất nước rất cấp bách, nhưng đã đến lúc tính giá thành của một cân xi măng không chỉ có chi phí khai thác đá, chi phí thăm dò. Hàng triệu triệu năm mới có được một trái núi. Núi non sông biển chính là đất nước chứ đâu. Nhập xi măng dù có cao hơn so với làm trong nước như hiện nay, nhiều chuyên gia cho rằng vẫn là quá rẻ. Một anh bạn ở Nhà máy xi măng bảo tôi: Tại sao Đài Loan có nhiều núi đá vôi đến thế mà họ cứ ra nước ngoài làm xi măng là thế nào? Trong những ngày lang thang ở Minh Đức, tôi còn gặp một chủ doanh nghiệp tư nhân xuất khẩu vôi sang Đài Loan nữa chứ.

Hồi xưa, có một vị lãnh đạo cấp cao đến thăm xi măng Hoàng Thạch, nói một câu lạnh lùng: “Cứ đất và đá là làm ra xi măng, tại sao ta không làm thật nhiều vào. Núi đá và đất chúng ta không thiếu”. Nói như thế, chả hoá ra đất và đá nước ta rẻ rúng quá sao? Lãnh thổ không phải là vô hạn. Tôi là người con của vùng Đông Bắc này, tôi đau lòng khi nghĩ đến một ngày, những dãy núi của vùng Đông Bắc biến mất, cả vùng thành bằng địa. Chúng ta đang đứng trước nguy cơ có tội với các thế hệ mai sau. Chúng ta đang dùng chính cơ thể mình làm thức ăn nuôi cơ thể, một sự đấu tranh sinh tồn không có tương lai. Đây là vấn đề mà không chỉ lãnh đạo một thành phố như Hải Phòng giải được. Bài toán quy hoạch phát triển dài hạn này có tầm quốc gia, tầm mức vĩ mô. Nhà nước chúng ta có quá nhiều việc phải làm, nhưng tôi ngạc nhiên các nhà khoa học vật liệu mới ở đâu, các nhà kinh tế du lịch, các nhà sử học, các nhà môi trường… họ ở đâu rồi không tham mưu cho Nhà nước? Trước đây, chúng ta hay nói về các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nói ví von “giá từng thước đất”. Ngày nay, tư duy về xây dựng kinh tế đất nước, trớ trêu thay, có phải chúng ta đã không ý thức được “giá từng thước đất” chăng? Riêng tôi, tôi cho rằng, đã đến lúc Nhà nước ta cần phải quy hoạch lại, cân đối lại việc sản xuất xi măng. Đã đến lúc phải gióng lên cảnh báo việc phá vỡ núi non cảnh quan một số vùng đất nước.

5. Được mất vô lường…

Tôi không có ý lấy chủ đề những tâm sự này là nói về được- mất. Tự nhiên tâm sự thường hàm chứa sự hoài cổ mà thôi. Nhưng liệu có hy vọng hướng đến tương lai nào mà không bắt nguồn từ dòng chảy thời gian sống đã nuôi dưỡng người ta?

Có một anh bạn tôi vốn đã làm quan chức thành phố, giờ đã đến giảng dạy ở một trường đại học danh tiếng của Mỹ nói rằng: Một số dự án lớn Hải Phòng không làm được có khi lại là điều may cho Hải Phòng chăng?

Dự án không thành công mà anh nhắc đến đầu tiên là toà nhà dự định mọc lên ở vị trí Quán Phong Lan cũ, bên cạnh những quán hoa truyền thống ở dải vườn hoa trung tâm sát Nhà hát Thành phố. Do đối tác không có khả năng tài chính hay vì lý do gì nữa mà dự án đổ vỡ, bị rút giấy phép, nhường chỗ cho một vườn hoa, như một dấu nối đẹp với dãy vườn hoa kéo dài từ hồ Tam Bạcđến cổng cảng. Nếu như ở đó toạ lạc một toà nhà đồ sộ như dự án, thì không biết khu vực ấy sẽ ngịch mắt thế nào, và khi đó Nhà hát Thành phố chắc sẽ giống như cái nhà ngang, công trình phụ so với toà nhà chính ấy… Dự án không thành lại là điều may lớn.

Cái dự án lớn nữa không thành công mà anh nhắc đến, đó là Khu chế xuất Đồ Sơn. Đây là khu chế xuất khởi động sớm, thuộc loại hàng đầu so với cả nước. Lúc đó Tân Thuận và Linh Trung của TPHCM cũng mới hình thành, chứ chưa phải gần bảy chục khu công nghiệp như bây giờ. Tôi còn nhớ quang cảnh trống giong cờ mở ngày động thổ, và hôm sau thì báo Lao động tường thuật trong buổi lễ động thổ ấy, có vị quan chức dự lễ đã làm… gãy cuốc. Người chuẩn bị đã tiện cán cuốc bằng gỗ rất đẹp, quên hỏi vì sao ở quê người ta thường làm cán cuốc bằng tre. Không biết có phải vì điềm gãy cuốc là không lành không, mà sau đó, liên doanh xây dựng hạ tầng chỉ làm được cái hàng rào rồi ngừng hẳn. Bây giờ, con đường lớn nối Đồ Sơn với thành phố đã xong, tuyến xe buýt đã bước đầu khởi động, Đồ Sơn bắt đầu giống như một quận nội thành, khu vực dự định làm khu chế xuất chỉ cách Khu du lịch Đồ Sơn vài cây số, thế mới lạ cho tầm mắt những người hoạch định. Khi đó Hải Phòng chưa có khu Normura, chưa ai nhắc nhiều đến Đình Vũ, đường Đồ Sơn chưa làm xong, đường đến sân bay Cát Bi chưa có, người ta nghĩ đến Đồ Sơn là nghĩ đến một nơi xa lắm chăng? May mà cái dự án ấy không thành. Hải Phòng chả nhẽ thiếu đất làm công nghiệp đến nỗi đặt một khu chế xuất sát nách khu du lịch? Dự án đổ, có lẽ là sự may mắn lớn. Tình thế này đâu chỉ có ở Hải Phòng. Tỉnh Hải Dương sát với Hải Phòng có lẽ rồi đến lúc sẽ phải nhìn nhận lại và trả giá về cách phát triển các khu công nghiệp ven đường số 5. Con đường quốc lộ huyết mạch đã thành đường trong phố, trong khi Hải Dương còn có Chí Linh, Kinh Môn những vùng đồi núi vốn phát triển công nghiệp, giao điểm với những trung tâm công nghiệp lớn của cả vùng thì bỏ đấy, lấy ruộng đất nhất đẳng điền bao đời nay hai bên đường 5 để làm khu công nghiệp. Nhưng Hải Dương không may mắn bằng Hải Phòng, bởi vì các khu công nghiệp của họ triển khai nhanh chóng, mà không “được” bỏ đi như Khu chế xuất Đồ Sơn.


6. Đồ Sơn –viên ngọc ngủ quên…

Nói đến Đồ Sơn… Chuyện Hải Phòng không thể bỏ qua chuyện Đồ Sơn. Nhưng đó là nói đến một vùng đất nhạy cảm. Không nơi nào mà tốt và dở, đẹp và xấu, cũ và mới, hy vọng và thất vọng lại chung sống khó lường như ở Đồ Sơn. Những ngày này, dư âm về vụ “ăn đất” ở Đồ Sơn còn vang vọng lắm. Quan chức đã bị khởi tố, tham nhũng đã lộ mặt, song tương lai của Đồ Sơn thì chưa hiện ra rõ nét lắm đâu. Qua bao nhiêu năm tồn tại, đổi mới của Đồ Sơn du lịch hiện ra ở hai việc, một là khu Casino, hai là con đường thứ hai ven biển. Trớ trêu thay, Đồ Sơn mới vẫn lại dựa vào một Đồ Sơn cũ, đó là Đồ Sơn lễ hội. Hội chọi trâu vẫn là một nốt son thu hút khách đến với giải trí lành mạnh với vùng biển này, chứ không phải là bãi biển.

Lịch sử khai thác Đồ Sơn bắt đầu từ việc Pháp cho xây dựng con đường từ Hải Phòng đến Đồ Sơn vào năm 1891, cho đến 18/5/1909, Đồ Sơn được nâng cấp thành đô thị bằng một Nghị định của Toàn quyền Pháp và 2 năm sau, chia thành 3 khu nghỉ mát. Cho đến nay, việc phân chia 3 khu vẫn còn tồn tại một cách không chính thức.

Một bài báo vào năm 1941 cho biết rằng, lúc đó Đồ Sơn đã có “150 biệt thự, 3 khách sạn và nhiều nhà hàng ăn không đủ để phục vụ du khách”

Căn cứ những gì bài báo đó tả lại, thì Đồ Sơn ngày hôm nay có nhiều lĩnh vực hoạt động kém hơn hẳn cách đây hơn 60 năm. Hồi đó “Câu lạc bộ Hàng hải có cơ sở khá duyên dáng. Thuyền đơn, ván lướt, thuyền máy, phao hơi… Hàng năm, các cuộc đua thuyền thu được thành công và lôi cuốn những người nhiệt tình với thuyền buồm…” Du lịch Đồ Sơn từ chỗ là địa chỉ hàng đầu miền Bắc, bây giờ đang tụt xuống hàng chiếu dưới.

Ngay từ những năm bốn mươi của thế kỷ trước, nhà nước bảo hộ mặc dù phát triển khu du lịch phục vụ quan chức, cũng đã chú ý đến quy hoạch tổng thể của cả khu du lịch và dân cư, họ dự định “xem xét lại quy hoạch các làng cá, trong đó mỗi nhà từ nay sẽ có một vườn rau”. Đáng tiếc là sau đó chiến tranh xảy ra, người Pháp bỏ dở những dự định của họ.

Trong khoảng hai chục năm gần đây, Đồ Sơn mất dần khách đến tắm biển bởi vì biển Đồ Sơn nước đục ngầu. Bán đảo này nằm giữa hai cửa sông Lạch Tray và Văn úc, hứng chịu phù sa, và tình trạng ấy không thể sớm khắc phục được. Có chăng, bàn tay con người nên tác động vào Đồ Sơn bằng những công trình du lịch mới, mà điều đó thì ở Đồ Sơn mới chỉ dừng ở việc xây dựng khách sạn mà thôi. Có một “mầm non” casino thì dường như nó mới chỉ có địa lợi, chứ chưa được thiên thời và nhân hoà để phát triển. Đã có ai đặt vấn đề thẳng thắn rằng, làm một cuộc khảo cứu du khách đến Đồ Sơn làm gì, vui chơi giải trí thế nào chăng? Nhà nước thu được từ các dịch vụ ở Đồ Sơn bao nhiêu? Quản lý casinô là vẫn đề nhạy cảm, quản lý các dịch vụ giải trí ở Đồ Sơn cũng là nhạy cảm, nhưng không phải không có các hình mẫu khác để noi theo.

Nếu dũng cảm gọi đúng tên của các dịch vụ ở Đồ Sơn, làm cho nó thành một khu ăn chơi thực thụ, quản lý nó thì về dài hạn chỉ có lợi cho kinh tế, cho việc giải quyết các vấn đề xã hội mà thôi. Tấm gương Trung Quốc đã biến Hải Nam thành một trung tâm cạnh tranh với Ma Cao và Hồng Công là một ví dụ. Tiềm năng vô giá ở Đồ Sơn chưa được đánh thức. Nếu ai đã một lần ra đảo Dấu, thì đó là một lần phát hiện tuyệt vời về thiên nhiên hoang dã, hòn đảo đẹp đến nỗi tôi đi cũng không dám bước mạnh, cứ như sợ nó biến mất vậy.

…Hải Phòng trong lòng tôi, một vùng quê gắn bó, một quê hương thứ hai của tôi, tôi muốn viết một thiên bút ký để ngợi ca, nhưng tôi biết sau này tôi sẽ viết, chứ chưa phải bây giờ. Cũng như tôi và chúng ta đều yêu đất nước, nhưng sự đau đớn, bức xúc vì đất nước ta đang tụt hậu so với khu vực, với thế giới cũng chính là xuất phát từ tình yêu với quê hương đất nước đấy mà thôi…


1. KinhMôn vùng đất thiêng

Kinh Môn ngày nay là một huyện của tỉnh Hải Dương, một huyện tương đối đặc biệt so với các huyện khác của tỉnh vốn được mệnh danh là tỉnh nông nghiệp. Một dãy núi đất trong hệ thống núi vòng cung Đông Triều làm xương sống của cả huyện. Về núi non, Kinh Môn cảnh trí tương đối giống Chí Linh, nhưng Kinh Môn còn đặc biệt là có những núi đá xanh rải rác, sông bao bọc, cánh đồng rộng lớn. Trong các sách thường phân loại Kinh Môn là huyện bán sơn địa, nhưng nếu không đến Kinh Môn, thì không thể hình dung sự đặc sắc của thiên nhiên Kinh Môn. (Ảnh bìa sách An Lạc dưới trời viết về Kinh Môn thế kỷ 17)

Ngày nay, huyện Kinh Môn được xếp vào huyện miền núi, nhiều xã là xã miền núi trong danh sách hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước. Nhưng cũng chính nơi đây, một phần huyện Kinh Môn, nơi trước đây là khu vực chắn giữa sông Kinh Thày, Đá Bạc vốn là nơi đìu hiu, nghèo nàn nhất của huyện, chậm phát triển nhất tỉnh, thì nay lại là nơi có khu vực công nghiệp xi măng lớn nhất nước, đô thị hóa rất nhanh, ra đời đồng thời hai thị trấn lớn. Khu vực này đúng là một con gà gáy cả ba tỉnh cùng nghe, là nơi ngã ba tiếp giáp biên giới của Kinh Môn (Hải Dương)- Đông Triều (Quảng Ninh) và Thủy Nguyên (Hải Phòng). Dãy núi có đỉnh cao nhất là An Phụ chia huyện thành hai phần, phần Tây tiếp giáp sông Kinh Môn chạy song song với quốc lộ số 5 ruộng đồng bằng phẳng, từ Thăng Long, Quang Trung giáp Bến Tuần Mây kéo đến bến Nống (An Lưu) là một cánh đồng vựa lúa, sánh với bất cứ cánh đồng nào của Gia Lộc, Tứ Kỳ vốn nổi danh lúa gạo. Phần bên Đông núi An Phụ, dân vừa làm ruộng, vừa sinh sống với sông Kinh Thày, vốn là nơi trên bến dưới thuyền, nghề chài lưới lẫn với thương hồ hình thành tính cách quả cảm của dân Kinh Môn, có những con người còn lưu dậm dấu vết trong sử sách.

Thuở xa, khi bà Lê Chân lập trang An Biên khai phát khu vực Hải Phòng ngày nay, chắc chắn Kinh Môn không xa biển. Đến năm Quang Thuận thứ 10 (1469), Thừa tuyên Hải Dương có 4 phủ, 18 huyện thì Phủ Kinh Môn là một trong 4 phủ, quản 7 huyện: Giáp Sơn, Đông Triều, Kim Thành, An Lão, An Dương, Nghi Dương và Thuỷ Đường. Đối chiếu với bản đồ ngày nay, Kinh Môn chỉ còn là danh chỉ huyện Giáp Sơn xưa, trừ các huyện Kim Thành, Đông Triều cơ bản là đất cũ, các huyện còn lại chính là nằm lọt trong phần lớn Thành phố Hải Phòng ngày nay.

Vùng đất thuộc phủ Kinh Môn chắc chắn có một giai đoạn phát triển mạnh, vì nằm giữa Chí Linh quê gốc và Dương Kinh nơi đất căn bản của họ Mạc. Nhưng cuối triều Mạc, bắt đầu Lê Trung hưng phải gánh chịu nhiều cuộc tàn phá ghê gớm. Một phần do sự suy tàn của triều Mạc, một phần đây chính là địa điểm đường thủy nối Tây đô Thanh Hóa với Đông đô, cuộc chiến phò Lê và tồn Mạc đã làm cho cả vùng thành chiến địa. Đại Việt sử ký toàn thư chép năm 1598, Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng đã từ Thăng Long, vâng mệnh vua Lê Thế tông, kéo về Kinh Môn thảo phạt “giặc ngụy”. Sau khi nhà Mạc chạy dài lên phía Bắc, thế lực chống triều đình mạnh nhất tập trung ở Thuỷ Đường (nay là Thuỷ Nguyên), rồi Đông Triều, Kim Thành, Thanh Hà, An Dương… đều không thần phục triều đình. Nhưng duy chỉ có Giáp Sơn là không thấy nói có “ngụy”, và chắc chắn Nguyễn Hoàng đã kéo quân theo đường thủy đến phủ lỵ Kinh Môn làm bản doanh để làm cuộc chinh phạt. Chính vùng sông nước từ Kinh Môn đến Đồ Sơn, nằm trong khu vực phủ Kinh Môn xưa, hai trăm năm sau lại là vùng đất hoạt động của Quận He Nguyễn Hữu Cầu chống lại triều đình. (Ghi chú: Quyển tiểu thuyết Vườn An Lạc của Nguyễn Xuân Hưng đang dự thi cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà Văn VN chính là viết về giai đoạn này của Kinh Môn)

Ngược dòng lịch sử, Kinh Môn có một vùng di tích vốn là trang ấp của An Sinh vương Trần Liễu, thân sinh Đức Thánh Trần Hưng đạo đại vương. Trang ấp này ngày nay thuộc xã An Sinh, dưới chân núi An Phụ. Chính sử chép nhà Trần phát tích từ Thiên Trường, nhưng hàn vi mấy đời đánh cá trên sông, cứu công chúa nhà Lý trên sông. Ngày xưa, con sông Bạch đằng đổ vào hệ thống sông Thái Bình rồi lên kinh thành chính là đường thủy quốc lộ chính, địa vật ngày nay chắc khác xưa nhiều, con cháu nhà Trần có thể đánh cá dọc sông Kinh Thày hay không, nhưng chắc chắn An Phụ có vị trí tâm linh cao quý đối với họ Trần. Bằng chứng là sau này, các đời vua từ Minh Tông trở về sau đều không phải an táng ở Thiên Trường (Nam Định) mà an táng tại An Sinh. Có sách nói An Sinh ngày nay thuộc Đông Triều, nhưng tôi ngờ là nhầm. An Sinh vốn là trang ấp cổ của dòng trưởng họ Trần, các đời vua sau đều là con cháu của cả dòng Trần Cảnh lẫn Trần Liễu, chắc chắn phải chọn nơi đất phát của họ để an táng. Tiếc rằng sau khi Trương Phụ đánh bại nhà Hồ, đã cho tàn phá tất cả những di tích của nước ta, nhất là những dịa danh gắn với các vị vua chống ngoại xâm. Ngày nay, tượng Trần Quốc Tuấn đặt tại đỉnh An Phụ, thấp hơn đền Trần Liễu quả là đắc địa và đúng với tâm linh lịch sử. Chính An Sinh chứ không phải Thiên Trường mới là nơi Trần Quốc Tuấn sống thuở ấu thơ, gắn bó với trang ấp của cha, gần với phủ đệ Vạn Kiếp chỉ vài giờ đi thuyền.

Một di tích nổi tiếng nữa của Kinh Môn là động Kính Chủ. Động nằm trong quần thể núi đá xanh cách An Phụ vài ba cây số. Chắc rằng thời Lý, Kính Chủ là nơi trung tâm Phật giáo, trước khi các nhà tu hành phát hiện ra An Tử. Chính sử chép nơi đây có 49 hang động, lầu son gác tía. Lý Thần tông được nhà Trần cho tu ở đó, thực chất là an trí. Nay di tích này không còn nhiều, hầu như chỉ còn phế tích. Vấn đề của Kính Chủ cũng là vấn đề chung nan giải của cả nước.


2.Ký ức một thời về phố Huyện.

Trong cuốn hồi ức của Nhà văn Nguyễn Công Hoan, ông kể rằng có thời (khoảng những năm ba mươi) ông dạy học ở phố huyện Kinh Môn. Ông cũng kể có lần được chính quyền bảo hộ vời sang Đông Triều bỏ phiếu dân biểu, ông đã tự làm cho lá phiếu của mình thành vô giá trị bằng cách khi đút phiếu váo hòm, đã cố tình ấn ngón tay cho rách lá phiếu. Các nguyên mẫu về tên quan huyện họ Lê là lấy nguyên mẫu từ tri huyện Kinh Môn, có nhiều truyện của ông viết trong thời gian ông dạy học tại Kinh Môn.

Bố tôi trạc tuổi nhà văn Nguyễn Công Hoan, bà nội tôi quê tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Hưng Yên, cùng làng với nhà văn, cho nên hai ông có qua lại biết nhau. Theo kể lại, ngôi trường ông Hoan dạy học là “trường con gái”, đặt tại Đèo Ngựa, hiện nay là dãy phố vòng qua thị trấn trên đường 188 vào Hoàng Thạch. Khi tôi lớn lên, khoảng thập niên sáu mươi, ngôi trường ấy đã bị phá, khu vực này hồi ấy người ta xây một cái sân khấu, chuyên để chiếu phim và biểu diễn văn công, hầu như không có nhà cửa. Bố tôi và nhiều người ít tuổi hơn ở Kinh Môn vẫn nhớ và kể rằng, bối cảnh của truyện ngắn “Tinh thần thể dục” chính là những sự kiện diễn ra tại các làng ven thị trấn Kinh Môn và chuyện đó có thật, nhà văn hầu như chỉ thổi vào câu chuyện hồn cốt của nhân vật mà thôi. Cái sân vận động mà nhà văn Nguyễn Công Hoan tả trong truyện ngắn ấy chính là Bàn Quần, một khu đất trống làm sân vận động từ những năm ba mươi, nó còn là sân vận động cho đến trước năm 1975. Sau này, người ta cho xây dựng ở đó trường Phổ thông trung học An Lưu ngày nay. Việc kiến thiết thị trấn đàng hoàng hơn, to đẹp hơn là tốt, nhưng một trong những điều đáng tiếc nhất là đã phá bỏ Bàn Quần, biến cái sân vận động ấy thành trường học và nhà ở. Những năm sáu mươi, sân vận động này thường đón các đội hạng A miền Bắc về đây thi đấu, huyện Kinh Môn có một đội bóng không phải tầm cỡ tỉnh, mà cầu thủ của đội cả miền Bắc nhiều ngươì biết.

Một điều hầu như đáng tiếc nữa là không giữ được nguyên vẹn khu Đồi Huyện. Đồi này nằm ở trung tâm thị trấn, xưa kia phủ đường phủ Kinh Môn đặt trên đồi, đường đi lên có khoảng ba chục bậc. Đồi bề thế, có cây đa tương truyền hàng trăm tuổi và rất nhiều cây phượng. Mùa hè, từ xa vài cây số đã nhìn thấy đồi hoa phượng như mâm xôi gấc. Trước năm 1975, hầu như xung quanh đồi không có nhà, nhưng những năm bảy mươi, do sáp nhập huyện với Kim Thành, các cơ quan chuyển sang Kim Thành, đồi bị bỏ hoang, rồi dân làm nhà ven đồi, vạc chân đồi thành thẳng đứng, thành ra ngày nay đồi còn lại hình thể như cái oản, chứ không còn hình đồi như cũ nữa. UBND huyện đặt trên đồi này, giờ thành ra chật chội, có lẽ cũng nên di chuyển để khu đồi phục vụ mục tiêu du lịch, công ích chăng?

Phố huyện Kinh Môn xưa có địa thế đẹp, hai quả đồi đăng đối nhau, bên này đồi huyện, bên kia là Núi Tòa. Gọi thế vì trước kia, trước năm 1945, trên núi này có Tòa nhà ngân hàng. Núi thấp, bao quanh núi là một vạt thung lũng có đầm lầy, tre pheo, sinh thái rất phong phú. Giờ đây, xung quanh núi đều mở phố, nhà nhà khoét vào chân núi, số phận núi cũng như đồi Huyện, còn lại bé tý. Hiện nay trên núi xây dựng một nhà bia tưởng nhớ liệt sĩ. Hồi xây dựng, lãnh đạo huyện có đi quyên góp đồng hương Kinh Môn ở Hà Nội, nhưng khi xây thì không hiểu duyệt bản vẽ thế nào, xây nên cái nhà bia trông rất ngộ nghĩnh, cầu kỳ mà không đẹp, người đi qua nhiều người hỏi đó là cái gì.

Kinh Môn những năm chống chiến tranh phá hoại của Mỹ từng hứng chịu nhiều trận bom. Dọc bờ sông Kinh Thày từ Kinh Hạ đến An Trung san sát thuyền bè, có các xí nghiệp đường sông, nhiều âu thuyền, nhiều lò vôi, lò ngói. Dọc bờ sông ấy, những năm sau mươi là một hệ thống đầm lầy, mùa mưa thành hồ nước mênh mông. Nay thì tất cả thành đất liền cả, nhà nhà san sát… Đông đúc hơn, nhưng không sầm uất hơn, bởi vì xung quanh thị trấn vẫn thiếu thiếu một nền tảng tạo nên công ăn việc làm vững chắc cho người thị trấn. Thanh niên lớn lên thiếu việc làm, những nghề ven sông như vôi, chài lưới hay buôn bán ở chợ huyện chưa đủ mạnh để có thể làm chủ được thị trường, tạo lấp cuộc sống cho đại bộ phận người dân. Vẫn là gật gấu vá vai kiểu mới. Thị trấn không có hàng ăn lớn, dịch vụ cũng lèo tèo, bởi vì thu nhập đại đa số không cao. Trước năm 1946, thị trấn đã là một trung tâm của cả vùng, tiêu thổ kháng chiến đã phá đi bao nhiêu phố xá. Nay Thị trấn Kinh Môn vẫn chỉ là một thị trấn phụ, không thể bằng Đông Triều hay Mạo Khê. Dường như Thị trấn Kinh Môn đang bị lãng quên.


3. Thế mạnh và mặt trái nan giải

Thế mạnh của Kinh Môn là có khu công nghiệp Nhị Chiểu, nhưng chính khu công nghiệp này mang lại mặt trái rất nan giải. Hàng chục nhà máy xi măng thi nhau nhả khói trên diện tích chật hẹp của bốn xã “khu đảo”, một mặt đã biến khu vực này thành đô thị, đời sống cải thiện, nhưng môi trường khu vực này bị phá huỷ nghiêm trọng. Cây cối khu vực Minh Tân, Phú Thứ bị bao phủ một màu bụi vàng, bệnh tật có nguy cơ đe dọa người dân. Mặt trái của phát triển nhìn thấy nhãn tiền. Nhiều báo đã đăng phóng sự về chuyện này.

Một mặt trái của phát triển sản xuất xi măng là phá hoại cảnh quan. Trước đây, Khu Nhị Chiểu được người Kinh Môn tự hào gọi là “Hạ Long cạn”, nó cùng với các dãy núi đá Thủy Nguyên hợp thành một quần thể cảnh quan kỳ thú. Đứng ở Hoàng Thạch, như là nhìn thấy núi núi mọc lên giữa đồng bằng như thấy hàng trăm cánh buồm vĩ đại. Tại đây, trước đây đã diễn ra những cuộc chiến đấu của nghĩa quân Đốc Tít, một nhánh quân của nghĩa quân Bãi Sậy, chống Pháp. Những trang sử ấy còn chìm lấp trong lau lách của những núi đá vùng Phú Thứ. Nay mới làm xi măng hai mươi năm, hầu hết núi non sạt hết, những dãy núi khổng lồ cũng dần tiêu vong, ngày biến mất trên mặt đất đã có thể tính được. Tôi đã đến đấy cùng với các chuyên gia Bộ Công nghiệp và những người làm xi măng đến từ Đài Loan. Họ tính dứt khoát 50 năm nữa vùng này sẽ thành bằng địa, rồi đến lúc khai thác đá phải chui xuống đất như khai thác than ở Quảng Ninh. Làm nên một dãy núi mất hàng triệu triệu năm, phá nó rất nhanh. Rồi đến một lúc, e rằng chính chúng ta mới đau xót thấy cái lợi làm xi măng chắc sẽ nhỏ hơn nhiều so với giá trị địa chính trị, lịch sử và để khai thác cho ngành du lịch. Con cháu chúng ta chắc sẽ phán xử chúng ta.

Nếu biết khai thác du lịch, có thể một tua du lịch Kinh Môn xứng đáng trở thành một tua du lịch đặc sắc có một không hai. Quần thể núi An Phụ với tượng Hưng đạo vương Quốc Tuấn chính là điểm nhấn. Quanh chân núi An Phụ, không biết các nhà khảo cổ có vào cuộc không, chắc còn tìm thấy nhiều di tích của vương triều Trần. Thời tôi còn bé, đã từng biết người ta đào thấy một một bà công chúa ở nơi này. Cách xa An Phụ vài cây số là quần thể Động Kính Chủ với những di tích độc đáo. Như đã nói, nơi đây có nhiều văn bia, mà nổi tiếng nhất là bài thơ của Phạm Sư Mạnh khắc ca ngợi thời Trùng Hưng. Đáng tiếc là cách đây 1-2 năm, khi tôi đến Kính Chủ, thấy cái bia đó vỡ một góc, người ta đã lấy xi măng trát liền cái góc ấy, trông thật phản cảm, chứng tỏ người quản lý cũng không biết giá trị của nó thế nào. Chí ít, người ta cũng nên lắp vào đó một mảng bia mới có khắc chữ, cho hợp với mảng bia cũ, và ghi chú rằng mảng bia này chắp mới chẳng hạn. Cả quần thể này gồm nhiều núi đá, qua thời gian chỉ còn rất ít, năm vừa qua, lại rộ lên chuyện một doanh nghiệp đánh đá lấy ở núi Lĩnh Đông, của cải của thời xưa chắc đang mai một dần đi.

Rồi đây, đường 188 sẽ làm, cùng với nó là cầu sang Hoàng Thạch, đi một mạch từ Hải Phòng, qua Phú Thái đến Quảng Ninh không còn phải qua phà nữa, thị trấn Nhị Chiểu, Phú Thứ sẽ phồn thịnh hơn, nhưng cái bụi đỏ vẫn đầy trời, những núi đá cảnh quan đẹp tuyệt vời của Khu vực ấy sẽ hết thì không biết sự phồn thịnh ấy sẽ mất hết dư vị đặc sắc, giống như người con gái đã mất hết duyên chăng?

Nói làm một tua du lịch không phải chỉ cho du lhách đến nhìn ngắm, mà còn để du lhách thưởng thức những đặc sản của nơi này. Kinh Môn là trung tâm của vùng rươi. Bạn tôi người Kinh Môn, cứ cuối tháng chín Âm lịch lại nhớ rươi, bỏ Hà Nội về Kinh Môn chỉ để ăn một bữa rươi ra rươi. Có người về Kinh Môn chỉ để ăn con “cà-ra” nó như thế nào. Rồi có ông ở Hải Phòng, mỗi tháng một lần lại về Kinh Môn xách một chai mắm cáy. Rau muống mùa hè chấm với mắm cáy, rồi bát mắm ấy chả nên đổ đi đâu phí phạm, đổ ngay vào bát nước rau, một bát nước rau muống ấy đố ai uống rồi không nhớ mãi cái mùi vị đặc biệt không đâu có được. Ông Phạm Văn Đại, Phó chủ tịch huyện Kinh Môn khi tiếp một đoàn chuyên viên, nói đi nói lại, mấy tay chuyên viên chỉ thích ăn con cà-ra và rau muống chấm mắm cáy. Chủ nhà cứ nghĩ những ba ba, dê bò lợn gà đâu đâu. Có những điều người sở tại cho là đơn giản, nhưng với khách xa, đó là đặc sản.


4. Lời kết:

Tôi không có ý viết một bài phóng sự điều tra, cũng không có ý viết một bài bút ký ca ngợi quê hương. Giữa hai thái cực ấy, tôi chọn cách viết tản văn… ngập ngừng. Nói gì cũng khó. Kinh Môn chỉ là một huyện trong tỉnh Hải Dương, chắc rằng Hải Dương kiêu hãnh vì có vùng đất này, và Kinh Môn cũng ý thức được sự kiêu hãnh ấy. Nhưng giống như nuôi một đứa con, giá như Hải Dương thấu hiểu Kinh Môn hơn thì đứa con ấy lớn khôn hơn, đẹp rực rỡ và lâu bền hơn… Chắc rằng trong chiến lược phát triển của các nhà lãnh đạo, có nhiều dự án ghê gớm, tôi qua lại Kinh Môn, cũng nghe các lãnh đạo nói nhiều về tương lai. Việc đó đáng mừng, những người con của Kinh Môn chỉ có thể nói vọng về một chút tấm lòng với vùng đất quê hương.


về đầu trang