film                                     Nguyễn Xuân Hưng

Tác phẩm,chia sẻ kinh nghiệm, tư liệu...V.V

nxh999.googlepages.com
"Gate, gate, pàragate pàrasamgate bodhi sàhà"

Bài trong trang:Tư thế Hội Nhà văn tại Liên hoan phim 15; Những chuyện chưa biếtvề phim "Hà Nội, Hà Nội"; Trò chuyện sau Liên hoan phim 15: Về "Hà Nội, Hà Nội" và những chuyện khác...;Xem phim Mỹ


Trang chủ>chuyện làm phim

Xem phim Mỹ

Ông bạn tôi bảo: “Khen phim Mỹ khác nào khen con mèo dài đuôi. Cũng như chê phim Việt tương tự như chê… lúa hợp tác xã”. Thoạt nghe có vẻ có lý. Chê phim Việt đã nhiều, khen phim Việt cũng lắm. Nhưng nói thế thôi, chứ mấy ai đã khen phim Mỹ thế nào, lại càng hiếm thấy ai chê phim Mỹ.
Chắc là thiên hạ họ khen chê phim Mỹ đầy ra rồi. Đó là ý kiến của các nhà phê bình, nhưng tiếng khen của họ có tính chuyên môn, thông thái. Người Việt muốn đọc nó cần có ai đó phiên dịch rồi in, lại cần có kiến thức điện ảnh tý chút. Thành thử điều khen chê ấy ít đến được quảng đại quần chúng, cái quần chúng chỉ biết xem phim rồi trầm trồ hoặc lắc đầu bịt mũi, chứ cóc cần lý luận với kiến thức phê bình gì hết.
Tôi là một loại quần chúng, khán giả xem phim như thế.
Ai bảo tôi không được khen chê phim ảnh, hả?
Vừa qua, hơn mười ngay tôi phải nằm điều trị thiểu năng tuần hoàn não ở bệnh viện. Bác sĩ kê đơn thuốc, dĩ nhiên rồi. Ông ấy còn kê cả đơn nghe nhìn cho tôi. Ông cấm tôi xem các loại tin tức, phóng sự có tính chiến đấu chống tiêu cực, tham nhũng, vì dễ làm thần kinh căng thẳng. Nhưng rất bất ngờ, ông ấy bảo: Phim Mỹ, phim Việt Nam thì được. Ông giải thích vắn tắt: “Phim Mỹ, dù bắn nhau ì ùng, hay đấu tranh tâm lý đều nhanh gọn, nhẹ nhàng không lắt léo, có tính giải trí và cái chính là có tính điều trị bệnh đau đầu. Còn phim Việt thì ngô nghê chân thật, có thể thư giãn, nếu như cậu chịu đựng được nó”
Tôi có chương trình truyền hình cáp của đài Truyền hình Hà Nội, có chương trình truyền hình VietnamNet, có truyền hình số mặt đất, lại có HTV9… Tha hồ xem phim, tiêm thuốc. Quả là một thời gian vừa đau khổ vừa sung sướng.
Phim Mỹ – dĩ nhiên là những phim đã chọn chiếu trên các kênh HBO, Move Star, HVTV, VCTV…- có thế mạnh ở mảng đề tài. Không cái gì phim Mỹ không nói đến. Không có gì cấm kỵ cả. Nhân vật phim Mỹ trải dài từ loại khốn nạn nhất đến Thủ tướng, Tổng thống. Thủ tướng Anh nhảy disco, cãi nhau với tổng thống Mỹ, cũng có. Tổng tư lệnh quân đội Mỹ nhát như thỏ hoặc thích gái, cũng có. Có thể thấy nhân vật Tổng thống Mỹ, chính khách lịch duyệt ở đầu phim, cuối phim thế nào hiện nguyên hình là tên phạm tội. Còn chuyện cảnh sát tham nhũng, giáo viên dốt nát… thì là thường. Và, đan xen trong giới nhân vật ấy, có những tên cướp mà nhân cách đúng là anh hùng vô song, một công dân lại hành động rất cao thượng. Loại nhân vật cao bồi miền Tây thì đã thành kinh điển, đại diện cho một thể loại phim Mỹ từ lâu rồi. Hoặc các phim gọi là “phim hành động” cũng là một thể loại phản ảnh văn hóa Mỹ, cũng đã thành mẫu mực.
Hai loại phim Mỹ rất tuyệt vời- đó là tôi tự phân loại- đó là loại phim thảm họa và phim giả tưởng. Phim giả tưởng của Mỹ rất thú vị. Với thế mạnh khoa học kỹ thuật phát triển và sẵn có một đội ngũ trình độ cao làm kỹ xảo, phim Mỹ quả là bá chủ thế giới về các loại gải tưởng. Có giả tưởng như biến con người bé bằng cỡ phân tử, chu du trong cơ thể, tiết ra cùng nước bọt. Có giả tưởng điều khiển được thần kinh, hoặc bắt được quá khứ, tương lai, hoặc du hành vào vũ trụ… Vân vân loại giả tưởng. Một điều thú vị khi xem loại phim này, đó là biết là không phải thật mà vẫn thích xem tiếp “xem nó thế nào”. Một lần, tôi đã xem một phim, trong đó nhân vật chính bị xóa hết thông tin về nhân thân, cô ta không còn có số công dân, không còn hộ khẩu, không thể rút tiền, không thể xin việc… Lúc đó xã hội đã số hóa hết, chỉ cần một cái bấm chuột, lệnh “delete” của giới công quyền là một người dù sống nhưng coi như chả ai biết. Bố mẹ có thể biết đó là con mình, nhưng bố mẹ không thể sống mãi với mình, còn xã hội thì người ta nhún vai “làm gì có cô”. Toàn phim thì rõ là thể loại hành động, giải trí, mà nói với người ta rất nhiều điều thấm thía. Nó có rao giảng lý luận hay giáo dục ý thức quái gì đâu, mà khiến người đang giải trí như tôi cũng phải suy tư về sự cô đơn của con người giữa cộng đồng.
Cũng là giả tưởng, nhưng có thể xếp loại riêng, đó là thể loại phim thảm họa. Đủ loại thảm họa được dàn dựng rất hoành tráng. Các nhà làm phim bịa ra giả thiết về núi lửa phun; về thiên thạch va vào trái đất; người ngoài hành tinh tấn công; người ở mộ cổ sống dậy; về người xanh bị phóng xạ trở thành vô dịch tóm được tên lửa; về ngày tận thế khi đổi cực trái đất khiến băng tuyết phủ dày đến cổ tượng thần Tự do… Vân vân thứ giả tưởng thảm hoạ. Gần với đời sống thì có giả sử cháy một tòa nhà chọc trời, một tên điên bỗng vào siêu thị bắn lung tung, hoặc ông Tổng thống ngẫu nhiên bị mất chìa khóa lệnh ấn nút vũ khí nguyên tử... Ngay chuyện máy bay đâm vào nhà chọc trời thì Hollyut cũng nghĩ đến trước cả AlKeda, và có lẽ bọn khủng bố chỉ cần làm đúng những gì phim Mỹ đã dựng nên mà thôi. Mấy năm trước, Hollyut cho thế giới xem khủng long nuốt người, người bay như dơi, năm nay lại cho xem con khỉ KinhKong biểu diễn, mà người ta vẫn đua nhau đi xem như phát rồ lên. Xem loại phim thảm họa, với kỹ xảo điện ảnh Mỹ, có cái thú riêng. Kinh khủng nhỉ, nhưng đó là giả ấy mà. Có điều này khiến cho phim Mỹ được chấp nhận: Điều giả tưởng ấy có thể xảy ra lắm chứ, đó là sự hợp lý trong sự phi lý của thể loại phim này.
Nhưng phim Mỹ có nhiều sự vô lý đến buồn cười. Thứ nhất, đó là sự lạm dụng súng đạn đến mức như trò diễn. Đối với những cựu chiến binh thì khi xem những đoạn bắn nhau trong phim Mỹ, họ mỉm cười coi khinh. Bất cứ phim nào có cảnh bắn nhau, cũng có trường đoạn một người cầm súng bắn như vãi đạn vào một người đang chạy- thường là nhân vật chính- mà không trúng. Hoặc là tên bắn súng là ngố, hoặc là súng Mỹ chả ra gì. Tuy vậy, phim Mỹ vẫn đầy rẫy nhân vật người hùng đi qua lưới lửa đạn, mà đạn chỉ sượt sạt chứ không trúng hắn. Thứ hai, đó là những cảnh đuổi nhau bằng các loại phương tiện giao thông. Nào là ô tô, máy bay, tàu lướt sóng… đuổi nhau lung tung. Những pha đâm nhau rất ngoạn mục. Rồi trong cảnh lật xe đó, một cái xe có nhãn hiệu nào đó chiến thắng. Đấy là một màn quảng cáo, cách cư xử của một nền điện ảnh chuyên nghiệp hoặc đó chính là phương thức hợp tác giữa nhà làm phim với nhà tài trợ… Nhiều khi, những cảnh quảng cáo phi phàm đó hơi lộ liễu. Thứ ba là những cảnh sống chết trong gang tấc. Đang đuổi nhau, thế nào cũng sẽ đến vực thẳm, mà một người suýt rơi, chỉ bám vào cái rễ cây mà trèo lên. Đại loại như vậy. Đẩy nhân vật vào hoàn cảnh tột cùng là một nghệ thuật đặc trưng của điện ảnh, nhưng hình như các nhà điện ảnh Mỹ có phần lạm dụng, đến mức người xem tầm thường như tôi đoán trước được. Rồi cung cách ấy có nguy cơ cũng là một con đường mòn. Một loại phim theo tôi là rất dở, đó là loại phim theo kiểu “kim cổ giao duyên”. Loại phim này không ra thần thoại, không ra hiện đại, có nhân vật xưa, nhưng ứng xử như cao bồi miền Viễn Tây. Như phim Robin Hút, hoặc nữ chúa rừng xanh nhiều tập hoặc ngay như “Chúa Nhẫn” ầm ĩ khắp thế giới, với tư duy của người Việt tầm thường như tôi, khó mà tiêu hóa được. Loại phim này thường thì giả tưởng không có ý đặc sắc, thảm họa không độc đáo. Nó chơi vơi giữa cổ và kim, có thể người Mỹ hoặc phương Tây thích, chứ người phương Đông chắc là thích loại phim như Anh hùng, Thập diện mai phục hơn nhiều, vì đó là khung cảnh phương đông, tâm lý người phương đông, dễ xúc cảm hơn.
Thực ra, với người thừa thời gian và lẩm cẩm như tôi, mới chê phim Mỹ như vậy chăng. Đó là chi tiết. Nhưng còn cái đáng chê hơn hết, đó là phim Mỹ tuyên truyền lối sống Mỹ. Kể cả khi ca ngợi nhân tính, ca ngợi hành động anh hùng, chê trách điều xấu… thì tư duy của nhân vật cũng đượm phong cách văn hóa Mỹ. Ví dụ cách sống của nhân vật thanh niên thường là tự do ít nghĩ đến gia đình, do vậy họ hành động phù hợp với xã hội của họ, chứ với xã hội phương Đông thì nhiều điều khó chấp nhận. Hoặc vấn đề tự do tình dục, vấn đề ứng xử với môi trường… Không phải tất cả những điều tốt trong nhân vật phim Mỹ đều là chuẩn mực. Điều này cần một sự phê phán nhất định khi xem phim Mỹ.

Về đầu trang

Trò chuyện sau Liên hoan phim 15: Về "Hà Nội, Hà Nội" và những chuyện khác...

(theo haphamphu.vnweblogs.com)
Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XV đã diễn ra tại thành phố Nam Định từ ngày 21 đến 24-11-2007. Tại liên hoan phim lần này, bộ phim “Hà Nội, Hà Nội” do Hãng phim Hội Nhà văn Việt Nam và Xưởng phim Dân tộc Vân Nam (Trung Quốc) hợp tác sản xuất đã đoạt giải Bông sen Vàng duy nhất. Sự kiện này đã gây ra nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về chất lượng liên hoan phim cũng như những bộ phim tham dự. Nhà văn Trần Đức Tiến ở Vũng Tầu có phỏng vấn tôi. Dưới đây là những câu hỏi và trả lời.
TRẦN ĐỨC TIẾN (TĐT):Liên hoan phim bế mạc và trao giải vào buổi tối 24-11, ngay sáng hôm sau, hàng loạt tờ báo đã đưa tin với những từ “bất ngờ”, “khác xa với dự đoán”, “trái ngược với dự đoán của giới chuyên môn và công luận”, thậm chí còn “trao giải như thế là giết chết điện ảnh VN”, và … “không làm hài lòng các nhà báo”! Người ta đang nói về kết quả Bông sen Vàng được trao cho phim “HN, HN” đấy. Ông có bất ngờ tí nào không?
HÀ PHẠM PHÚ (HPP):- Thú thật tôi cũng bất ngờ khi được tin phim “HN, HN” được nhận Giải thưởng cao quí của Liên hoan phim ViệtNam lần thứ XV, giải Bông sen Vàng. Vì Hãng chúng tôi, do có những khó khăn nhất định đã không thể làm - có muốn cũng không làm được - một công việc mà chúng tôi cho là cần thiết: vận động hành lang, tiếp thị và quảng cáo. Người ta nói, muốn đạt đến một mục đích nào đó, thì phải chuẩn bị dư luận trước. Trước khi Liên hoan phim lần thứ XV diễn ra, không ít tờ báo đã “định hướng” bằng cách đưa ra những bầu chọn không chính thức, dồn phiếu cho một vài phim… Nhưng tôi không bất ngờ về động thái của một số tờ báo và ngôn luận của một số người sau khi giải thưởng được công bố như ông vừa nêu trên.
TĐT: - Ông có thể nói rõ hơn một chút về sự “định hướng”, “bầu chọn không chính thức”, “dồn phiếu”… ấy không?
HPP: - Ồ, tất cả đều lồ lộ trên mặt báo. Đó là những bài khen phim này, phim nọ. Đó là phiếu bầu của những nhà làm điện ảnh khả kính cho một số phim…
TĐT: - Ông nói ông không bất ngờ vì động thái của một số tờ báo sau giải thưởng, có lẽ vì ông là người trong giới, đã quen lường trước việc này việc nọ. Nhưng tôi là người đọc báo bình thường, tôi không thể không ngạc nhiên... Giải thưởng nào cũng do một ban giám khảo (BGK) lựa chọn. BGK có tinh tường đến mấy thì cũng không thể làm hài lòng tất cả mọi người. Điều này các nhà báo biết quá đi chứ! Đạo diễn Đặng Nhật Minh, Trưởng BGK phim truyện nhựa đã trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong, đại ý: “HN, HN” là phim rất đồng đều, kịch bản chặt chẽ, đạo diễn vững tay nghề, diễn viên diễn xuất rất tốt, quay phim đạt chuẩn quốc tế, âm thanh xịn…, “một phim có thể gọi là đầy ắp tình người, tính nhân văn rất cao”. Tôi nghĩ đó là đánh giá của một người có uy tín cao trong giới điện ảnh. Vả lại, hình như nhiều người đã quên là trước đó không lâu, chính “HN,HN” đã đoạt giải Cánh diều Vàng - giải thưởng cao nhất hàng năm của Hội Nghệ sĩ điện ảnh. Cánh diều Vàng là kết quả bầu chọn của một BGK khác, và càng không thể nghĩ là BGK này… ít tính chuyên môn! Ở liên hoan lần này, “HN, HN” không những chỉ đoạt Bông sen Vàng mà còn đoạt luôn cả giải “phim được khán giả yêu thích nhất”. Tất nhiên, không phải vì thế mà cấm các nhà báo “bất ngờ”. Nhưng lẽ ra, họ phải nói cho rõ: bất ngờ như thế nào? Nếu bảo “HN, HN” dở thì phải chỉ ra chỗ dở của nó chứ? Bảo có phim khác hay hơn, xứng đáng hơn thì cũng phải nói rõ hay hơn, xứng đáng hơn ở chỗ nào? Bảo ông Đặng Nhật Minh còn nợ khán giả lời hứa “thượng tôn giá trị nghệ thuật” thì cũng phải chỉ ra cho ông ấy thấy vì sao ông ấy nợ, nợ bao nhiêu? Chứ cứ áp đặt, kêu làng lên một cách vu vơ như thế thì ông ấy chẳng chịu, mà độc giả như tôi cũng khó lọt tai. Phần lớn công chúng chưa xem “HN, HN”. Vì các ông đã bán được phim cho phát hành mấy đâu? Nên họ càng có nhu cầu biết rõ lý do vì sao nó được trao giải mà báo chí lại phản ứng.
HPP:- Đối với bất kì Liên hoan phim nào cũng có những ý kiến trái chiều, những điều ong tiếng ve. Cái đó bắt đầu từ góc nhìn, từ những lợi ích. Có thể do thiếu hiểu biết, thiếu thông tin, cũng có thể do những lí do khác ngoài nghệ thuật. Về phim “HN, HN”, ông có thể đọc bài của nhà văn- nhà báo Văn Chinh công tác ở báo Nông nghiệp Việt Nam đăng trên báo Văn Nghệ số 48, ngày 1- 12- 2007. Tôi cho đấy là một bài báo có những đánh giá thoả đáng. Tác phẩm điện ảnh hiển nhiên không phải là một tác phẩm báo chí. Nó là nghệ thuật thứ bẩy, có văn chương, có hình ảnh, có hội hoạ, có âm nhạc, có âm thanh, có ánh sáng… Nó là sản phẩm của một tập thể: đạo diễn, quay phim, thiết kế mĩ thuật, phục trang, hoá trang, ánh sáng, âm nhạc, âm thanh... và diễn viên. Một đạo diễn (hay diễn viên, quay phim…) được coi là vững tay nghề, trước hết phải học qua trường, phải lăn lộn trong thực tiễn và quan trọng hơn phải có tài, phải có tâm và biết hợp tác phát huy hết tài năng sáng tạo của một ê-kíp, mới làm ra được một tác phẩm điện ảnh. Vì thế phê bình điện ảnh là một nghề đòi hỏi nhiều công phu. Ở các nước có một đội ngũ chuyên làm công tác phê bình điện ảnh. Cũng giống như nghiên cứu phê bình văn học, đội ngũ này phải được đào tạo. Nhiều người làm phê bình điện ảnh trên báo chí của chúng ta hiện nay, theo nhận xét của riêng tôi, phần lớn là làm tay ngang, vì thế có phần chưa chuyên nghiệp. Chẳng những thế một số ít người còn bị nhầm lẫn, cứ ngỡ chỉ có họ mới nắm được chân lí, mới có quyền phán xét. Họ cũng nhầm lẫn luôn rằng, họ đại diện cho công chúng. Thiếu tính chuyên nghiệp, lại tắc trách, họ sử dụng diễn đàn để hướng dư luận theo chiều hướng chủ quan của họ. Đã thế thì họ có thể bất chấp thực tế…
TĐT:- Ông có hơi bị… quá lời không?
HPP:- Không. Rõ ràng như ông thấy: phim “HN, HN” đã được hai BGK khác nhau thẩm định. Ở giải Cánh diều năm 2006, theo ông Trần Luân Kim, Chủ tịch Hội Điện ảnh VN, “HN, HN” đã giành được 5/9 phiếu của BGK cho danh hiệu Cánh diều Vàng (phim “Áo lụa Hà Đông” được 4/9 phiếu). Ở giải Bông sen năm nay, theo NSND Đặng Nhật Minh trả lời phỏng vấn, in trên báo Tiền Phong, trong khi bỏ phiếu thăm dò, chỉ có “HN, HN” lọt vào vòng xét Bông sen Vàng, và điểm trung bình do 7 thành viên BGK bình chọn là 9,5. Ai cũng biết, mỗi BGK có một “gu” riêng, và mỗi một Liên hoan phim có một tiêu chí riêng. Nhưng dù là BGK của Hội Điện ảnh hay BGK Liên hoan phim quốc gia thì các thành viên trong ban đều là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực của mình. Chả lẽ sự đánh giá thống nhất của cả hai BGK lại là… ngẫu nhiên? “HN, HN” phải đạt đến một tầm nhất định cả về nghệ thuật và tư tưởng, phải chứa đựng một triết lí nhân sinh thế nào đó mới làm người xem đồng cảm và thoả mãn, mới chinh phục được những nghệ sĩ lớn, những vị giám khảo đáng kính chứ? Ông cũng đã biết “HN, HN” còn nhận được giải “phim được khán giả yêu thích nhất”. Rõ ràng là nghệ thuật khi đạt đến đỉnh cao không chỉ làm hài lòng các chuyên gia, mà còn có sức cảm hoá, chia sẻ với người xem, cuốn hút người xem, làm cho người xem như được hoà vào với câu chuyện, khóc cười cùng với nhân vật. Nó trở thành của mọi người.
TĐT: - Vâng, có vẻ như ông rất tự tin. Nhưng… hỏi thật nhá: ông có thoáng chút ngần ngại, “lăn tăn” nào khi cùng với những đại diện khác của bộ phim lên nhận giải thưởng cao nhất không?
HPP:- Tôi nghĩ là ông chưa xem phim, chưa xem “HN, HN”, chưa xem cả những phim phim khác trong Liên hoan nên ông mới hỏi câu ấy… Đã thế tôi phải nói rõ thêm một tí về phim “HN, HN”. Bộ phim “HN, HN” miêu tả diện mạo tinh thần của hai ba thế hệ người Việt và người Hoa, nó cắt nghĩa vì sao tình hữu nghị của hai dân tộc có thể bền vững, lưu truyền từ đời này sang đời khác, mãi mãi xanh tươi. Nó nói rõ nhờ ai và nhờ đâu mà làm nên kì tích. Có người bảo môtíp phim này không có gì mới, cách kể chuyện không có gì mới. Tôi không nghĩ vậy. Tình yêu là một đề tài muôn thuở, người ta lạc nhau rồi đi tìm nhau cũng là một môtíp quen thuộc. Mới nhìn qua “HN, HN” có vẻ là như vậy. Cái mới của “HN, HN” và nhờ thế có thể giữ người xem từ đầu đến cuối, lúc khóc lúc cười, và xem xong thấy tình cảm như được gột rửa, trong sáng thêm lên, ấy là nó đã khéo léo khai thác, triển khai câu chuyện trên một tổng thể là sự bất đồng ngôn ngữ. Lạc vào một thế giới ngôn ngữ bất đồng thì có khác gì câm và điếc, vậy mà người ta có thể hiểu nhau. Chân lí thì giản dị, nhưng con đường dẫn tới chân lý thì rất dài và không phải ai cũng đến được. Một tác phẩm điện ảnh, thậm chí một tác phẩm truyền hình muốn đến được với công chúng phải vượt qua cửa ải đầu tiên là kĩ thuật. Phim “HN, HN”, về mặt kĩ thuật, được hội đồng duyệt phim quốc gia và các Ban giám khảo đánh giá là đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tôi có thể nói rằng rất tự hào được cùng các nghệ sĩ hai nước Việt Nam và Trung Quốc lên nhận Bông sen Vàng.
TĐT: - Xin ông nói rõ hơn về chuyện hợp tác làm phim “HN, HN”? Hợp tác như thế có lợi ở chỗ nào và không có lợi ở chỗ nào? Lý do ông chọn đối tác là một hãng phim chỉ có “tầm”… địa phương như thế?
HPP:- Tôi quan niệm hợp tác làm phim là một sự giao lưu văn hoá. Giao lưu nghĩa là đối thoại. Vậy thì phải bình đẳng, phải tôn trọng nhau và phải cùng có lợi. Trong lĩnh vực điện ảnh, Trung Quốc có một lịch sử lâu đời, trong khi chúng ta dù sao vẫn còn non trẻ. Vì thế chúng tôi chủ trương, hợp tác là phát huy hết thế mạnh của mình, lấy cái mạnh của bạn bổ sung cho cái yếu của mình. Năm 1999, chúng tôi đã hợp tác với Xưởng phim Dân tộc Vân Nam làm bộ phim tài liệu “Bác Hồ ở Vân Nam”. Năm 2002, chúng tôi hợp tác với Hãng phim Châu Giang (Quảng Đông) sản xuất phim “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”. Năm 2006 hợp tác với Xưởng phim Dân tộc Vân Nam làm bộ phim “HN, HN”. Phim đầu tiên là phim vidéo, phía bạn chỉ cung cấp dịch vụ. Phim sau chúng tôi được nhà nước đặt hàng, tài trợ 2/3 kinh phí. Phía bạn góp 1/3 kinh phí. Phim “HN, HN” mỗi bên góp 1/2 vốn. Ê-kíp làm phim được lựa chọn trên nguyên tắc đồng tác giả. Việc lựa chọn hợp tác với ai phải căn cứ vào dự án làm phim, bối cảnh và sự hiểu biết lẫn nhau. Cái mà chúng ta cần ở họ là tay nghề, sự chuyên nghiệp. Chẳng hạn với phim “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”, chúng ta dự tính thời gian quay phải 3 tháng, nhưng phía bạn dự tính chỉ có 45 ngày. Và thực tế diễn ra đúng như thế.
TĐT:- Là hãng phim của Hội Nhà văn, có vẻ như ông sẽ có nhiều thuận lợi về khâu kịch bản. Ý tôi muốn nói là sẽ có nhiều nhà văn cộng tác với hãng để viết kịch bản phim, và các ông sẽ tha hồ được lựa chọn?
HPP:- Hãng phim Hội Nhà văn được coi là đơn vị sự nghiệp có thu. Nhưng trên thực tế, chúng tôi không được cấp kinh phí để làm phim như các Hãng phim nhà nước. Vì thế không có chỉ tiêu, không có việc có kịch bản thì gửi đến chọn rồi dùng. Chúng tôi phải nghiên cứu thị trường, tìm đề tài, sau đó mới lựa chọn người viết kịch bản. Tôi có thể nói thế này, phàm những nhà văn mà chúng tôi lựa chọn mời viết kịch bản đều chưa có ai từ chối.
TĐT: - Sắp tới hãng phim của ông dự định làm những gì?
HPP: - Chúng tôi đang tiến hành chuẩn bị làm một phim truyện truyền hình nhiều tập, dự kiến là 26 tập với nhan đề là “Hà Nội, Hà Nội”. Cốt truyện được phát triển trên cơ sở phim truyện nhựa “HN, HN”. Đối tác vẫn là Xưởng phim Dân tộc Vân Nam, tỉ lệ góp vốn ta 1/3, bạn 2/3. Và một phim truyện nhựa về thời kì Bác Hồ hoạt động ở Thượng Hải được bà Tống Khánh Linh và ông Cuturie giúp đỡ thoát khỏi sự truy đuổi của kẻ thù sang Liên Xô năm 1934. Phim sẽ hợp tác với Hãng phim Châu Giang, tỉ lệ góp vốn là: ta 2/3, bạn 1/3…

TĐT:- Vậy thì xin chúc cho các ông hoàn thành các dự án, và tiếp tục gặt hái nhiều Bông sen, Cánh diều… Ở trên ông “tố” tôi là không chịu khó xem phim. Đúng thế, tôi xin nhận. Có lý do cả đấy. Các bố đạo diễn càng ra sức bảo vệ phim dở thì tôi càng ra sức bảo vệ… sức khoẻ của mình, tức là cạch, không xem nữa. Nhưng sau cuộc trò chuyện với ông, có lẽ tôi phải nghĩ lại. Ông có thể cho tôi xin một cái đĩa VCD phim “HN, HN” được không?
(theo haphamphu.vnweblogs.com)
Về đầu trang

Những chuyện chưa biết về phim “Hà Nội, Hà Nội”
Những chuyện chưa nói ra về việc làm phim Hà Nội, Hà Nội thì rất nhiều, ở đây chỉ điểm một số.
  • Khi bắt tay vào bàn chuyện làm phim, thì Phó giám đốc Hãng phim Hội Nhà văn lúc đó là nhà văn Nguyễn Khắc Phục xin về hưu. Hãng khuyết hẳn một người chỉ đạo điều hành có kinh nghiệm đáng quý như nhà văn Nguyễn Khắc Phục, một người làm phim có kinh nghiệm. Khi khởi thảo đề cương, Cao Húc Phàm viết Sử Vô Hương làm chủ quán cà phê. Lê Ngọc Minh sửa lại là Hiệu thuốc Trung y, mọi tình tiết sửa theo hướng đó. Sau đó Cao Húc Phàm sửa tiếp, rồi Lê Ngọc Minh lại bồi đắp lên nữa. Cứ như vậy, kịch bản được viết trong vài tháng...
  • Khi Trình Uất Nho, Quyền giám đốc Hãng phim Dân tộc Vân Nam đang cùng đoàn làm phim quay phim tại Hà Nội, thì tại Hãng phim ở Côn Minh xảy ra một sự cố, dẫn đến việc Trình Uất Nho bị mất chức. Nội bộ Hãng phim Dân tộc Vân Nam có mâu thuẫn, dẫn đến việc tung tin đồn Uất Nho mang tiền đi chơi ở Hà Nội, nên có đơn kiện của công nhân viên. Cục Điện ảnh Vân Nam tạm thời cho Trình thôi chức để điều tra. Trình vừa làm phim, vừa buồn như nhà có đám ma.
  • Do thời tiết, dự kiến quay phim xong trước tết không xong, đoàn làm phim phải nghỉ 1 ngày ăn tết, rồi lại làm cả Tết. Thời tiết không thuận, phía những người làm phim Việt Nam cho rằng quay phim trong điều kiện như vậy là khó khăn, nhưng sau đó khâu hậu kỳ làm tốt, những thước phim sản phẩm không ai nhận ra là quay trong điều kiện xấu.
  • Do nhiều lý do nên làm phim bị kéo dài, nội bộ Hãng phim Dân tộc Vân Nam thay lãnh đạo, nên có khó khăn cho kế hoạch của Lý Vĩ, đạo diễn, nên ông Lý Vĩ làm xong tiền kỳ đã “chào tạm biệt”. Hai bên đứng trước nguy cơ bỏ không làm phim nữa. Trình Uất Nho lên Bắc Kinh, mời được Công ty Văn hoá Ốc Sâm bỏ vốn làm tiếp. Trương Kinh là phó đạo diễn phía Trung Quốc bắt tay vào làm hậu kỳ. Trương Kinh đã từng có công ty riêng, làm doanh nghiệp, nhưng anh đã bán công ty để theo đuổi làm phim.
  • Khi đoàn làm phim đến làm hậu kỳ ở Bắc Kinh, tiền hầu như không có, nên không ở khách sạn, mà hai bên cùng ở trọ một nhà rất xuềnh xoàng, đi chợ tự nấu lấy ăn, ngủ ở sàn, ngủ ở ghế, suốt 3 tháng trời như vậy.
  • Phịm làm xong, ra mắt ở Việt Nam có tiếng vang, Trình Uất Nho được phục chức nhưng không được làm chủ tài khoản nữa. Khi tham dự Liên hoan phim Trường Xuân xong, thì bộ phim đã có dấu ấn khá tốt ở Trung Quốc, là phim được khán giả xem nhiều nhất tại Liên hoan, là 1 trong 10 phim trong năm được chọn chiếu cho Bộ chính trị Đảng cộng sản Trung Quốc xem. Đó cũng là thành công lớn của Hãng phim Dân tộc Vân Nam.
  • Khi làm phim, Cam Đình Đình đang là sinh viên Học viện hý kịch Bắc Kinh, mới đóng một vài phim truyền hình, chưa đóng phim nhựa bao giờ. Sau “Hà Nội, Hà Nội”, Cam Đình Đình đóng phim liên tục, trưởng thành lên nhiều, được dư luận Trung Quốc chú ý.
  • Điều lo lắng cho lãnh đạo đoàn làm phim là sự ăn ý của diễn viên hai nước. Nhưng điều này đã nhanh chóng được giải quyết, ngay từ những ngày quay đầu tiên. Cam Đình Đình và Minh Tiệp vào vai rất tốt, quan hệ bạn bè thắm thiết giúp cho việc làm phim trôi chảy.
  • Hiện nay, Trình Uất Nho, người có công lớn trong hợp tác làm phim Hà Nôi, Hà Nội không làm ở Hãng phim Dân tộc Vân Nam nữa, mà đang làm luận án Tiến sĩ, anh đang giảng dạy môn Tiếp thị Phim tại Trường Đại học Kinh tế Côn Minh.

Về đầu trang


Tư thế Hội Nhà văn tại Liên hoan phim lần thứ 15

1. Ba dòng chảy “dư luận”

Hãng phim Hội Nhà văn Việt Nam đến Liên hoan phim lần thứ 15 tại Nam Định với hành trang rất khiêm nhường, chỉ vẻn vẹn 1 phim truyện nhựa, phim “Hà Nội, Hà Nội”. Tuy nhiên, đến Liên hoan phim này, Hãng phim Hội Nhà văn đã để lại ấn tượng từ Liên hoan phim lần trước với phim “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công” đạt giải đặc biệt và phim “Hà Nội, Hà Nội” có giải “Cánh diều vàng” của Hội Điện ảnh trong năm.

Năm nay, hạng mục phim truyện nhựa được đánh giá là được mùa phim hay, với 25 phim dự thi, số lượng vượt trội so với Liên hoan phim trước, và sự cạnh tranh tập trung vào mấy phim gây được dư luận. Ngoài phim “Hà Nội, Hà Nội” có các phim Mùa len trâu, Dòng máu anh hùng, Chuyện của Pao, Sống trong sợ hãi, Áo lụa Hà Đông, Giải phóng Sài Gòn, Đường thư, Nữ tướng cướp, Sài Gòn nhật thực, Vũ điệu tử thần...

Sự cạnh tranh lớn có dấu hiệu “nóng” nên ngay từ đêm khai mạc, ông Đặng Nhật Minh đã phát biểu thẳng thắn các tiêu chí chấm giải, trong đó có việc “không chịu bất cứ sức ép nào từ bất cứ đâu kể cả cấp chủ quản hành chính hay báo chí; việc phim được giải quốc tế hay trong nước không có giá trị chấm giải, mà chỉ là tham khảo; không phân biệt phim nhà nước hay tư nhân, hợp tác hay Việt kiều, không phân biệt người làm phim là nước ngoài hay trong nước; những phim đã vào giải để Ban giám khảo chấm là có nội dung tốt, không có tỳ vết về các vấn đề nhạy cảm...” Tiêu chí cuối cùng, cũng là tiêu chí quan trọng nhất mà ông Minh nhấn mạnh, là “thành viên Ban giám khảo trung thực với chính mình” và cho rằng, đó là một yếu tố làm nên thành công cho khẩu hiệu “Vì một nền điện ảnh đổi mới và hội nhập”.

Đối chiếu với những tiêu chuẩn ấy, chúng tôi tin “Hà Nội, Hà Nội” có nhiều khả năng vào đến vòng cuối cùng.

Thực tế kết quả đã cho thấy, Ban giám khảo đã làm tốt lời hứa mà họ long trọng hứa trong đêm khai mạc, khi họ không chịu sức ép từ phía dư luận của báo chí, cũng như sức ép từ bất cứ đâu. Ban giám khảo được bố trí ở riêng, sinh hoạt riêng, và vì phải xem một lượng phim khá lớn, nên hoạt động chấm giải cuả họ có thể diễn ra chủ yếu vào thời điểm trước Liên hoan phim. Bởi vì nếu thành viên Ban giám khảo tham khảo “dư luận” ngay trong Liên hoan phim thì thật là nguy hiểm.

Hoạt động maketing của một vài đoàn làm phim diễn ra rất sôi nổi, rầm rộ. Tôi cũng mơ ước Hãng phim Hội Nhà văn có được điều kiện tài chính, nhân lực để hoạt động như vậy, và phải nói thẳng thắn rằng những hoạt động đó là chuyên nghiệp đáng biểu dương, có phần rất cần thiết để Liên hoan phim thành công. Thử hỏi nếu không có đoàn diễn viên lộng lẫy đến từ Thành phố Hồ Chí Minh, thì Liên hoan phim sẽ mất đi nhiều không khí hội hè. Thử hỏi nếu không có anh Phước Sang và các nghệ sĩ của TPHCM hoạt động hăng say trong các buổi họp báo, toạ đàm, giao lưu... thì Liên hoan phim còn gì vẻ hào nhoáng, vui vẻ nữa. Hoạt động tuyên truyền quảng bá của họ mạnh đến nỗi, nhiều khi khán giả cũng có ấn tượng chỉ có họ làm được phim hàng đầu ở nước ta. Dư luận ngoài lề và một số nhà báo ngay từ ngày khai mạc đều loan tin diễn viên chính xuất sắc nhất là Trương Ngọc Ánh. Tôi có hỏi hai nhà báo, thì họ cho biết họ chưa hề xem phim “Hà Nội, Hà Nội”, không biết Cam Đình Đình diễn thế nào, nhưng vẫn quả quyết Ngọc Ánh phải là số 1 hơn cả Hải Yến Pao và Ngô Thanh Vân. Cho đến hôm đó, cô phóng viên này đã phỏng vấn được Trương Ngọc Ánh, còn Vân và Yến thì chưa gặp được.

Mỗi phim dự Liên hoan chỉ được chiếu duy nhất 1 buổi. Phim “Hà Nội, Hà Nội” được bố trí chiếu tại Nhà văn hoá Thanh niên, sinh viên, chứ không được chiếu tại 2 rạp chính khác ở Nam Định. Tại điểm chiếu này, không hề có một tờ áp phích quảng cáo giới thiệu nào cho phim “Hà Nội, Hà Nội” (tôi vấn không biết quảng cáo gửi cho Ban tổ chức được dán ở đâu), mà tràn ngập là quảng cáo của Phước Sang.Buổi chiếu diễn ra vào đúng ngày Ban tổ chức toạ đàm về phim nên hầu hết nghệ sĩ và nhà báo không đến xem được. Vì không có quảng cáo chiếu phim, nhiều người đến rạp không biết mình xem phim gì, của ai. Các nghệ sĩ và chúng tôi đứng ở cửa rạp, gặp gỡ người xem, chuyện trò và trực tiếp giới thiệu phim của mình. Buổi chiếu phải chiếu chậm 15 phút. Và vì buổi chiếu vào 8 giờ sáng, nên thành phần người xem khá ổn định, là thanh niên, sinh viên, cán bộ nên đã bầu phiếu rất tốt, họ có cảm tình với các diễn viên và đặc biệt là thích Tuấn Tú, diễn viên phụ và là MC cho Liên hoan đêm khai mạc (và cả lễ bế mạc).

Bên lề Liên hoan phim, có các cuộc ra mắt chiếu phim, tại đó chỉ có việc đoàn làm phim lên sân khấu trước giờ chiếu một phút đúng là “ra mắt”, chứ không có giao lưu. Một vài cuộc giao lưu với sinh viên, học sinh được tổ chức thì phần lớn là các nghệ sĩ TPHCM, cho nên hình như Liên hoan phim (có lẽ mọi Liên hoan phim đều như vậy) đã hình thành 3 “thị trường” dư luận khác hẳn nhau. Một là bề nổi, với sự tham dự mạnh mẽ của các nhà làm phim có tài chính mạnh, có “sao diễn viên” và nhà báo tham gia giao lưu, quảng bá. Một luồng dư luận là dòng chảy các đồng nghiệp đến Liên hoan giao lưu, gặp gỡ và luồng thứ ba là do Ban tổ chức cùng với Ban giám khảo cầm cân nảy mực. Tôi và Đạo diễn Lê Thi (Điện ảnh Quân đội) đã gặp khá nhiều bạn bè đồng nghiệp, lắng nghe và cảm nhận những vui buồn nghề nghiệp, đó thực sự là một dòng chảy có sức hấp dẫn lớn.Đó là những người làm nên những bộ phim, tạo dựng nên nhân vật, viết nên kịch bản, cả một thế giới đầy màu sắc đã âm ỉ trôi trong các cuộc gặp gỡ, đi chơi, ăn uống của các đạo diễn, nhà quay phim, nhà viết kịch bản, người làm chủ nhiệm, người thư ký trường quay, các diễn viên chưa thành sao... Tôi không hiểu tại sao các nhà báo không khai thác những câu chuyện của họ, tâm sự và trăn trở của họ về nghề mà chỉ bị lôi cuốn vào mấy diễn viên và một hai nhà làm phim mà thôi? Nhiều câu chuyện thú vị được kể ở những cuộc giao lưu không chính thức này. Có lẽ nói không quá, ký ức và lịch sử điện ảnh được gìn giữ, tương lai nền điện ảnh được thai nghén từ chính họ, những nhà làm phim đông đảo làm nên diện mạo điện ảnh Việt Nam.

Hầu hết đồng nghiệp đánh giá cao việc Hãng phim Hội Nhà văn giải quyết tốt khâu kịch bản và hợp tác quốc tế và cho rằng, “chỉ có Hội Nhà văn mới làm được như vậy”. Lại có người nói: “các cậu may có Hội Nhà văn chủ quản, dù sao cái hội của cậu cũng thoáng, nên mới làm được chứ”.

Trong Liên hoan phim, có 7 đoàn quốc tế tham dự, nhưng có cảm giác chỉ có đoàn Trung Quốc, trong đó có khách mời của Hãng phim Hội Nhà văn là được săn sóc tốt nhất, trừ đại biểu Hàn Quốc là người vốn đang làm hợp tác ở Hãng phim Giải phóng, có phiên dịch đi kèm. Tôi đã trực tiếp can thiệp, giới thiệu, tạo mọi điều kiện cho các nhà báo có thể tiếp cận các nhà làm phim Trung Quốc, cử phiên dịch cho các cuộc phỏng vấn. Nhưng không hiểu sao các báo vẫn phản ánh rất “dè dặt” và có phần không thoả đáng. Đó có thể là một câu hỏi lớn không phải là vô bổ. Hầu như không có giao lưu gì giữa các nhà làm phim Việt Nam với các nhà làm phim quốc tế, và cũng là một điều đáng tiếc ở Liên hoan phim 15. Riêng Hãng phim Hội Nhà văn đã gây được ấn tượng rất tốt với các bạn Trung Quốc, Nhật Bản, và các bạn khách quốc tế khác ở Liên hoan.
2. Lắng nghe chính mình

Tôi vốn là người làm báo lâu năm, nên còn chút năng khiếu “ăng-ten” khi hoạt động trong mấy ngày Liên hoan phim. Râm ran trong Liên hoan cho rằng, “Hà Nội, Hà Nội” sẽ được Bông sen bạc, Cam Đình Đình không sang Việt Nam nên chắc sẽ không được bầu nữa, mà là Trương Ngọc Ánh, rồi nhiều người rỉ tai nhau “Vàng chính là Mùa len trâu”. Một người biết cả ông Đặng Nhật Minh và ông Hà Phạm Phú (Giám đốc Hãng phim Hội Nhà văn) thì nói: “Hai ông này không cùng trường phái, nên các cậu sẽ không có may mắn như giải của Hội Điện ảnh đâu” Tôi hỏi: “Anh đã xem phim của chúng em chưa?” Thì ông bảo: “Xem ở đâu? Chúng mày chiếu ở đâu, có mời tao không?” Như vậy mới thấy độ chênh của các luồng dư luận đến mức nào? Dư luận nhiều khi không vì phim, mà vì cái gì đó. Nếu Liên hoan phim có những buổi giao lưu chính thức để các nhà làm phim nói với nhau, có chiếu phim cho chính những người xem phim xem của nhau, có diễn đàn sòng phẳng nói cho báo chí nghe, thì có lẽ dư luận sẽ được lợi hơn vì thông tin nhiều chiều, bình đẳng.

Vượt qua 2 ban giám khảo của hai giải Cánh Diều và Bông Sen với những gương mặt lừng danh của điện ảnh Việt Nam, trong điều kiện không vận động, không quảng bá, chưa phát hành, chắc chắc phim “Hà Nội, Hà Nội” được giải là bất ngờ nhưng là xứng đáng, chứ không phải như một vài phát biểu đầy thành kiến. Song, như đạo diễn Trương Kinh nói với các nhà báo trong Liên hoan phim, ngay cả những người làm phim cũng biết đó chưa phải là tác phẩm toàn bích, nếu làm lại vẫn có thể làm tốt hơn. Trương Kinh diễn tả sau đó, cách nói đó là phẩm chất anh học được từ các nhà văn Việt Nam anh đã tiếp xúc, chân thật và khiêm nhường.

Đến Liên hoan phim, mới thấy mình kém ở khâu nào. Phát hành kém, nên mới có việc phim chưa ra đến rạp. “Hữu xạ tự nhiên hương” thì đúng rồi, nhưng hương không lan toả được rộng thì tác dụng “hữu xạ” cũng kém. Khâu tiếp thị quảng bá cũng kém, nên mới có chuyện nhiều thông tin không đến được các nhà báo và công chúng. Thậm chí nhiều người vẫn tưởng “Hà Nội, Hà Nội” có kinh phí của Chương trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long vì thấy quảng bá cho Hà Nội. Phim “Hà Nội, Hà Nội” quay từ phim 35 ly, làm hậu kỳ ở Bắc Kinh, xử lý hình ảnh và âm thanh cực chuẩn tại nơi làm những phim “bom tấn” của Trung Quốc, nhưng ngay trong khi Liên hoan phim diễn ra, có tờ báo cứ khăng khăng khẳng định chỉ có Cháng Phương và Phước Sang là làm phim nhựa “tiêu chuẩn quốc tế”. Trong thời gian diễn ra Liên hoan, Đài truyền hình Trung ương dành nhiều thời lượng phỏng vấn Phước Sang và kể hàng loạt giải thưởng quốc tế, kể cả giải “Kim Kê” mà không hề đính chính gì... vân vân.

Không thể nói việc quảng bá là không tốt. Ngay cả việc làm cho độc giả có tâm lý giả tạo là sau đó phim không được giải thì không thoả đáng cũng là một cách tiếp thị vì sản phẩm của nhà sản xuất. Ngoại trừ một vài thông tin huếnh hoáng quá đáng, thì cách quáng bá phim của các nhà sản xuất tư nhân phía Nam là khá chuyên nghiệp. Và phải thừa nhận mình không làm được như vậy là biểu hiện yếu kém trong sản xuất, không chỉ ở Hãng phim Hội Nhà văn mà ở cả các hãng do Nhà nước quản lý. Có thể làm ra hàng rất tốt, nhưng bao bì và quảng bá kém, săn sóc khách hàng kém, săn sóc giới truyền thông kém. Điều đó là một thách thức lớn trong thời gian tới mà muốn tồn tại, các hãng bắt buộc phải làm.

Tôi còn nhớ trước đây, khi nghe tin Hãng phim Hội Nhà văn làm phim “Ông cố vấn” dự kiến 20 tập, hồi đó tôi đang làm báo, nên có điều kiện lắng nghe dư luận, hầu như mọi người đều bảo đó là ảo tưởng, vì khi đó chưa có ở đâu làm phim truyền hình quá 4 tập. Khi nghe tin hợp tác làm phim “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”, cũng có nhiều người cho rằng, phim “cúng cụ” từ trước đến nay tốn kém mà không thể làm hay. Nhưng cuối cùng, Hãng phim Hội Nhà văn đã có “Ông cố vấn”, mà khi mới chiếu mấy tập, đã có khá nhiều bài báo chê kịch liệt, nhưng ngày nay, nhìn lại, chưa có phim nào nói về “triều đình” Ngô Đình Diệm hay và chân thực như thế, chưa có phim nào nói về chiến sĩ tình báo chiến lược để lại ấn tượng như vậy và có được một Lệ Xuân –Minh Hoà sáng chói trên màn ảnh nhỏ. Và đã có “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” tạo dựng hình ảnh quả cảm của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong một giai đoạn bi tráng của cuộc đời Người.

Cho đến khi bắt tay làm “Hà Nội, Hà Nội” thì chưa có tiền lệ hợp tác bình đẳng hai ê kíp Việt Nam và nước ngoài như làm với “Hà Nội, Hà Nội”. Đó có thể là những dấu mốc sẽ được ghi vào lịch sử điện ảnh Việt Nam, lạ lùng thay, lại có dấu ấn Hội Nhà văn. Có thể nói, Hội Nhà văn có một tư thế mới trong dư luận xã hội và có sự tôn trọng nhất định của xã hội vì những việc làm được không chỉ cho văn học mà cả cho điện ảnh Việt Nam.

Về đầu trang