Vợ lính


Vợ lính

Truyện ngắn của Dạ Ngân

 

Họ gần như là một hội. Không tôn chỉ mục đích, không được chính quyền kỳ vọng như những hội đoàn chính thức. Thuần túy những người vợ lính  ở cùng một xã, thời đó gọi là vợ bộ đội. Họ chung nhau những người chồng là lính trung đoàn, chung nhau tuổi trẻ, chung nhau nỗi niềm và chung nhau một cuộc chiến ở trên đầu.

Chiến tranh leo thang, nghe thật hình ảnh nhưng ráo hoảnh. Ai có thể hình dung được nó nếu không phải người trong cuộc? Nhóm người tôi gọi bằng chị lấy chồng những năm trước năm Mậu Thân còn được mặc áo dài, được xem đồng đội của chồng hát “lúa khoai ta gắng trồng, sườn non đến bờ sông”. Những người trang lứa với tôi thường cưới vội với bộ bà ba, cưới lẻ, bằng bữa tiệc trà qua quýt giữa tiếng máy bay đêm hoặc những đợt pháo kích của đối phương. Đến em gái tôi thì không có gì cả, từ vùng tản cư má tôi đưa nó vào nơi chồng nó đóng quân rồi phát máy đuôi tôm chạy tháo về, đêm tân hôn của nó nghe đâu dở khóc dở cười, đứt đoạn. Đó, chiến tranh dồn đuổi như vậy đó, từ những góc nhỏ phận người thấy nó là nanh vuốt của một con quỷ chứ không giống một chiếc thang để giới chính khách leo trèo và ví von.

Tự nhiên, không ai hô hào mà các chị hàng xóm, các bạn tôi và em gái tôi trở thành một hội. Tôi không nằm trong số họ, đơn giản vì tôi rời gia đình sớm để vào cứ. Nói cách khác, tôi không gắn với ruộng vườn, tôi là chiến binh theo nghĩa rộng, tôi không là cô thôn nữ hậu phương chỉ được vui khi bộ đội đáo qua đóng quân trong vườn nhà và cuối cùng ưng lấy một anh số đó để khởi đầu tâm trạng nàng vọng phu có tính gia truyền! Họ và tôi là những phận người khác nhau do may và rủi, sau nữa, là những bà góa và người kể chuyện không dám chắc mình đã trung thành và thấu hiểu họ.

Tính chất hội thuyền của họ dần chuyển thành keo sơn khi chiến tranh ném họ khỏi xóm làng và đẩy những người chồng của họ lên vùng ác liệt. Đàn bà con nít tụm vào nhau trong những xóm nhà lá ven thị xã người ở lẫn với heo, bởi có nuôi heo thì mới có tiền gọi là bỏ ống mỗi năm vài lần rủ nhau đi thăm chồng. Sáng sớm thức dậy dội phaan heo xuống sông, nước đó múc lên giặt giũ và lắng phèn nấu ăn. Không kịp chờ xem cứt người và cứt heo trên dòng chảy ấy có trôi xa chưa, ai cũng quáng quàng cơm nước để còn phóng xuống vỏ lãi về với ruộng vườn trồng tỉa thu hoạch. Chân đi như chạy, tay làm như máy, miệng nhai để có cái vào bụng nhưng bụng thì luôn nhớ đến người đang ở rất xa. Có bình an không, không nghĩ đến đói khát hay bệnh tật, chỉ nghĩ đang sống hay là đã… Mọi thứ như được lên dây cót, mỗi ngày, sáng bật dậy lách vỏ lãi qua mấy lượt đồn bót, về đến vườn nhanh nhanh giấu vỏ lãi vào lạch, ba chân bốn cẳng lên đồng, xế chiều đã phải phóng về vùng tản cư để tránh bom đạn về đêm và khi đã lịm đi trong chiếc mùng cũ mèm thì cả người mới được thả lỏng ra vài giờ. Người đi lính không lương, vợ nhà càng không được gì, cứ thế, năm này chí năm khác.

Thường, chiếc vỏ lãi nào còn khả dĩ nhất thì được hội trưng dụng cho chuyến đi của đợt ấy. Phải nhân lúc nông nhàn, phải biết rõ trung đoàn đang ở địa bàn nào và cái chính là phải đông đủ. Đông đủ, theo cách thầm thì của những người đàn bà vọng phu ấy là phải nhằm lúc “không đứa nào trục trặc hết!” “Con Thắm sạch chưa?” – chị Sáu thủ lĩnh của nhóm bỗ bã như chị có sứ mệnh phải thuộc lòng hết vòng kinh của các thành viên. “Lần nầy con Mận không để vuột nữa nghen, cái bụng đàn bà cũng như cái cây, rung mạnh thì trái nó phải rụng chớ!”. “Con Kha, mùa nước chân cẳng nổi rơm nổi rạ nhưng chỗ đó là phải ráng giữ cho lành lặn nghe chưa?” “Con Út ( Út là em gái tôi), con Út nhỏ nhứt, mấy lần thăm mà chưa có gì, thôi, chờ khi nào nó giữa tháng mình hẳng đi, được hông tụi bây?”

Họ kể vô số chuyện buồn cười của những chuyến đi. Không nghe thấy chuyện nhịn ăn nhịn mặc để có quà mang cho chồng và đồng đội của họ. Không than thở những khi phải rạp mình trên vỏ lãi tránh đạn pháo tiểu khu dội sang hay những lượt máy bay nghiêng ngó trên đầu. Không kể người này không biết bơi, người kia bị sét đánh tưởng chết hay chuyện bị lính đối phương đổ quân lùa đi vòng vòng trên đồng để “thử thần kinh mấy bà vợ cán binh cộng sản chơi!”. Những chuyến về vườn ấy thực sự mật thiết với những chuyến thăm chồng mặc dù nhìn từ bên ngoài thì nó chẳng liên can. Sở dĩ phải đi đi về về với ruộng vườn là để có gạo cho gia đình của mình, có lúa để đóng đảm phụ nuôi quân, có rau và củi cho bữa ăn hằng ngày giữa bốn bề châng lâng ở chốn tản cư. Cũng có nghĩa là con người còn lây lất được, còn có cơ hội để nhận nguồn tin từ người kháng chiến, mà những cái tin bất chợt ấy mầu nhiệm còn hơn cả thuốc men khi đau ốm.

Từ chị Sáu trưởng hội tôi biết chị Mận đẻ dày thuộc loại “chồng mới động mùng là chửa”; biết chị Kha ước sinh đôi một lèo trai giống hệt cha gái giống hệt mẹ, không cần gì thêm; biết chị A ban đầu mồm miệng “kỳ lắm kỳ lắm” giờ đâm ghiền ai không rủ đi thăm chồng thì giận; biết chị B có tính đỏ mặt lần nào cũng bị lính của chồng trêu chọc đến nỗi khóc tấm tức suốt… Riêng chị, chị lấy chồng sát Mậu Thân, tuần trăng mật vừa kết thúc thì anh vào chiến dịch, mấy tháng sau mới chồng vợ thêm có mấy ngày rồi thành bà góa luôn. Chị hay làm vui cho nhóm bằng việc bộc bạch những lần hai người gần nhau và quả thật, chị đúng là người chưa hết đau thì đã khổ!. Chết danh “chưa hết đau thì đã khổ” chị không giận, chỉ giận những đứa chị đã tạo điều kiện mà vẫn viện cớ này kia để khỏi đi thăm chồng. Lần nào chị cũng đứng mũi chịu sào, khi các em đang vui với chồng ở góc bờ hay góc chòi nào đó thì chị làm khách của trung đoàn, chắc chắn chỉ có bóng đêm mới biết những khi ấy chị buồn khô hay là buồn có nước mắt.

Chuyến ấy họ không còn được chung nhau một chiếc vỏ lãi nữa. Một phụ nữ đường dây nửa công khai nửa bí mật đã về tận xóm tản cư tổ chức cho họ đi thăm chồng bằng đường bộ. Chị Sáu thủ lĩnh tự thấy mình là người thừa, chị  tự nguyện ở nhà coi sóc giúp những đứa con của các thành viên. Chị Thắm chị Kha chị Mận cô A cô B cô C và cô em út nhà tôi. Không thể dùng vỏ lãi được, đơn giản vì chỉ có những chiếc xuồng nhỏ mới có thể lách đi trên những dòng kênh đặc nghẹt lục bình của vùng căn cứ Phụng Hiệp. Con quỷ chiến tranh đang hồi sung mãn nhất, mùi chết chóc từ những trận bom bừa B52 ngự trị khắp nơi. Dân kháng chiến rúc vào những bờ ngàn trên đồng bưng lốm đốm xanh vàng bởi những đợt thuốc khai hoang tận diệt. Những phụ nữ vợ lính xuất hiện ở những nơi đó chắc chắn sẽ là gánh nặng cho các chàng trai trận mạc. Nhưng, chồng không về phép được, vợ ở cách chồng có một huyện, nói như chị Sáu thủ lĩnh, thương chồng là phải ráng mà đi, nhìn tao nè, lần nào cũng có thể là lần cuối, biết đâu!

Họ đi từng người một trên những chuyến xe lam đường ngắn nối Vị Thanh – Vĩnh Tường với Kinh Cùng. Áo sống màu tươi, quần áo gọn nhẹ bên dưới bánh trái như thể đi ăn giỗ. Điểm tập kết là một gia đình nông dân Phụng Hiệp tản cư lên ven tỉnh lộ, tại đây chị em phải thay áo màu tối như thể sắp đi làm đồng. Người đàn bà giao liên chỉ cho cả hội thấy một ven cây có tên là rạch Cái Cau, bảo từng người một đi rơi rơi ra, thấy máy bay thì cứ đội nón lá ngồi yên trên đồng, gom lại ở cụm trâm bầu gần vườn kia, người của trung đoàn đang chờ sẵn ở đó để đưa đi tiếp. Tôi biết giang đồng sinh tử ấy, nơi đêm đêm hàng đoàn người kháng chiến tràn từ U Minh lên căn cứ tỉnh và ban ngày, xe cộ dân sự và quân lính của đối phương chà qua chà lại kiểm soát rậm rịch. Dân chúng tản cư vẫn ra đồng làm ruộng, họ lẻn về vườn kiếm con cá lá rau và lại trở lên lộ, trà trộn vào đó là vợ lính đi thăm chồng và cả những cán bộ ra vô căn cứ như tôi.

Tôi biết nhóm vợ lính của trung đoàn đang có mặt ở Phụng Hiệp, nhưng em rể tôi cắm quân ở đoạn kênh nào thì không sao rõ được. Trong kháng chiến, có khi mình tương tư tiếng ghi-ta bập bùng của ai đó nhưng bãi lửa của từng chòi cứ đã chia cắt nhau, không ai nhìn thấy ai cả. Tôi hình dung em tôi đang hạnh phúc, vợ trẻ chồng trẻ gặp nhau ban ngày có những lùm cây còn đêm thì tối hút, a tòng. Nó, cô thôn nữ bị chàng trai Cà Mau ấy hấp dẫn từ hồi nó mới 16 tuổi, má tôi rên rỉ không yên, chị tôi kêu chàng sĩ quan đó lì lợm. Mãi hai năm sau, từ sự tác hợp ruột rà của chị Sáu, chúng nó mới được gia đình công nhận. Đám cưới không chú rể, một mâm cơm cúng bàn thờ ở chỗ tản cư, má và chị tôi “đưa dâu” bằng vỏ lãi về vùng trong và nhờ quen mặt nên lính đồn dễ dãi cho qua. Đêm tân hôn của nó phập phồng với ba lần xuống hầm tránh pháo và một lần “không thể xuống được vì chồng của nó không cho xuống!”.

Cuối chuyến đi thăm chồng không bằng vỏ lãi và không có chị Sáu thủ lĩnh ấy, vợ chồng chúng nó xuất hiện ở chỗ tôi vào gần nửa đêm để “hai chị em được ngủ chung với nhau mấy tiếng đồng hồ”, lời của chồng nó. Sớm mai em gái tôi lại đi bộ ra đồng, lên tỉnh lộ, trở về với xóm tản cư. Tôi đã nhắn cho em tôi rằng tôi muốn chị em có nhau giây lát trong dịp này và nghĩ, em út tôi cũng chung nguyện vọng ấy. Tôi biết chúng nấn ná với nhau tới nửa đêm vì lẽ gì. Chúng hiện ra trong bóng đêm bằng bước chân đặc công của em rể tôi và cũng cây đèn pin đưa đường, nó, đứa em rể gan lì ấy biến vào mịt mùng, như vậy. Lâu lắm, dễ chừng hơn năm rồi hai chị em tôi mới được nhìn thấy nhau. Em tôi đó, nó yên bề chồng con trước tôi, đó là một trong những lý do má và chị tôi chần chừ với người chồng bộ đội của nó. Má và chị tôi không tiếc tình thương với lính nhưng chị Sáu đó, chưa hết đau thì đã khổ, tránh được vẫn hơn!        

Chòi cứ chung đụng, nam và nữ cách nhau một tấm liếp mỏng. Chị em tôi nằm trở đầu trong chiếc mùng đơn nhỏ xíu của tôi trên nền chòi. Cây đèn dầu trên vách, gối cao trên chiếc thùng tài liệu, tôi nhìn rõ vẻ mặt nhiều tâm trạng của em tôi sau khi nó tạm biệt chồng. Mười chín tuổi, mấy ngày trăng mật trong bom pháo, lần này nữa là lần thứ ba người vợ lính được tắm hơi chồng, vẻ mặt ấy đang thông tin với tôi những gì? Tóc tràn, da không bắt nắng, nó thanh tân và rạng ngời như mùi hương của trăng mật còn ngây ngất trong từng tế bào, hơi thở, dáng điệu. Tôi chưa có chồng, tôi mò mẫm với bản năng nhưng tôi cũng biết em tôi như một bông hoa kỳ diệu trong đêm, thứ hoa có tên là đàn bà. Dù vậy nó vẫn ưu tư, cái cuống ưu tư ấy đỡ lấy nó, dã dượi, bần thần, luyến tiếc. Nó kể ảnh ngộ lắm, rất thích cõng em, đang đi mà chỗ nào ướt là đòi cõng, hồi nãy qua cây cầu dừa bắt ngầm qua con rạch, ảnh nói vùng này đỉa nhiều lắm, ngồi lên đi anh cõng. Nó lấy tóc che một bên mặt lỏn lẻn cười, chuyến đi thăm thứ ba rồi mà cứ thích thủ sẵn đèn pin trên đầu nằm để soi vợ. Lặng im. Rồi nó bỗng hất tóc ra, co người, tay ấp bên má: “Hồi nãy hai đứa đi qua một nghĩa trang có rất nhiều mộ mới, sợ quá”. Nó lào thào về giấc mơ con gái đầu lòng, chỉ thích con gái để nữa khỏi đi lính. Lại im lặng, khá lâu. Rồi lật nghiêng, bồn chồn. Chắc chắn dáng nằm và kiểu lật trở ấy có tên là nhớ chồng, thèm nhớ mùi chồng, không chệch đi đâu được. Rất lâu sau, trong lúc tôi tưởng nó đã thiếp đi, nó bỗng ngồi bật dậy, chực khóc: “Sao lần này em thấy ảnh buồn buồn. Sắp chuyển quân lên gần Cần Thơ rồi, chắc ác liệt lắm, khó đi thăm lắm!”

Tôi không thể tha thứ cho mình. Càng xa ngày tháng ấy tôi càng thấy mình ích kỷ, vô tâm, tệ hại. Sao tôi lại muốn em tôi đến với mình trong khi vợ chồng nó rất cần nửa đêm chồng vợ ấy? Mấy giờ đồng hồ trong chiến tranh là bao lâu, nó chỉ là một khoảnh khắc vút đi nhưng cũng có thể là cả một chuỗi kỷ niệm để lưu dấu và để sống. Chuyến ấy, quả nhiên, một bé gái hình thành trong em tôi nhưng người chồng yêu thương của nó không bao giờ thấy mặt con mình được nữa. Người đi, chiến tranh cũng qua đi và mầm cây đã gửi lại nhưng tôi không sao quên được vẻ bứt rứt đàn bà của em tôi khuya ấy.

Không sao bù đắp được nữa rồi. Dù sau này em tôi đi bước nữa và có những đứa con khác. Vô tình tôi đã tôi đã cướp mất mấy giờ thần tiên của một người vợ lính yêu chồng nhớ chồng và thèm chồng mà chỉ những người ấy mới biết được điều đó đeo đẳng họ như thế nào, phải, chỉ có họ mới biết nó quý giá ra sao ngay khi người chồng ấy không còn nữa.

                                                                                         

                                                                                           D.N

                                                                                           (TUỔI TRẺ CUỐI TUẦN 30/04/2011)

Comments