Văn học Việt Nam đi Mỹ


Văn học Việt Nam đi Mỹ

Dạ Ngân

    

     Ngay từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, một số nhà văn và dịch giả trong nước đã dùng lợi thế ngoại ngữ và mối quen biết cá nhân lặng thầm làm cái việc không hội đoàn nào nhờ vả. Họ đã làm gì để thường xuyên bị hiểu lầm là làm cho cánh hẩu, làm để được mời đi Mỹ, làm để vinh danh chính mình?. Bất kể thói thường của người mình “tao không làm thì đố thằng nào làm được”, những người tâm huyết ấy vẫn âm thầm tổ chức những đợt bản thảo từ những tác phẩm đã được xuất bản trong nước để đưa sang Mỹ. Chiếc cầu nào cũng phải có hai phía, chiếc cầu nào cũng phải được xây bằng tiền và sự tiếp nhận của phía bên kia. Hồi ấy chính phủ Mỹ chưa dỡ bỏ cấm vận với Việt Nam, lòng dân hai nước bời bời, các nhà văn nhà thơ và dịch giả hai phía đã phải rạp mình bước đi giữa hai làn dư luận. Nay thì chúng ta đã nghĩ, rằng cái gì qua thì phải qua đi, nỗi đau phải được lên tiếng, vết thương phải được hàn gắn và văn học là cái nơi để người ta ngồi lại với nhau, giãi bày, thấu hiểu.

Người đầu tiên đi trên chiếc cầu ấy sang Mỹ là nhà văn Lê Lựu và tác phẩm Thời xa vắng. Tác phẩm đầu tiên tự nó “hữu xạ tự nhiên hương” với độc giả Mỹ là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Những thiên đường mù của Dương Thu Hương. Chưa thấm tháp gì, những người tự quàng vào trách nhiệm xây cầu thấy phải nhanh chóng đưa được nhiều, nhiều nhiều nữa sang Mỹ bằng truyện ngắn và thơ, hai thể loại mà nhà văn Việt Nam có vẻ mạnh. Hai nhóm tác giả tự phát hình thành, ăn ý và hiệu quả. Phía Việt Nam có Hồ Anh Thái, Lê Minh Khuê, Nguyễn Quang Thiều, Phan Thanh Hảo, Nguyễn Nguyệt Cầm, phía Mỹ có nhà văn Wayne Karlin, nhà thơ Kevin Bowen, dịch giả Rosemary Nguyen và dịch giả Peter Zinoman. Còn nhiều, nhiều người nữa không ở khâu tổ chức nhưng đã đảm nhận một việc không kém khó khăn là chuyển ngữ một cách cẩn thận nhất có thể, bởi độc giả của họ là người Mỹ.  

Dự án lớn đầu tiên được đề xuất từ Hồ Anh Thái, Lê Minh Khuê, Wayne Karlin và Trương Vũ, tập hợp 40 truyện ngắn của 40 tác giả gồm những người đi từ chiến tranh ra ở cả ba phía: Mỹ, Việt Nam trong nước và Việt Nam ở hải ngoại. The Other Side of Heaven dày gần 500 trang in khổ lớn, thực sự là đầu sách giá trị ra mắt năm 1995 bởi Curbstone Press và được dư luận Mỹ đánh giá rất cao. Trong tuyển tập, các nhà văn trong nước được giới thiệu gồm (tôi liệt kê theo trình tự của mục lục): Lê Minh Khuê, Bảo Ninh, Dạ Ngân, Hồ Anh Thái, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Ngô Tự Lập, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Quang Thiều, Vũ Bảo, Xuân Thiều.

Gần như cùng lúc với dự án của Curbstone Press, trường đại học Yale của Mỹ cũng gửi sang dịch giả Rosemary Nguyen. Đích thân dịch giả phải vào tuần báo Văn nghệ để tự chọn một tập truyện ngắn, đó là cách làm việc điển hình kiếu Mỹ, nghĩa là vai trò cá nhân của người thực hiện công trình được chú trọng hoàn toàn. Năm 1997, tập Literature News Stories From Viet Nam Writers Vnion newspaper Báo Văn Nghệ ra đời giới thiệu được 8 nhà văn gồm: Nguyễn Quang Thân (2 truyện), Dạ Ngân, Trần Trung Chính, Ngô Ngọc Bội, Lê Văn Thảo, Phạm Hoa, Kim Sa Trung, Nguyễn Quang Lập. Đặc biệt, tập truyện được in song ngữ rất công phu và có lẽ, đây là đầu sách văn học Việt Nam duy nhất được in song ngữ ở Mỹ tính tới thời điểm này. Cùng lúc với công việc của Rosemary Nguyen, đôi vợ chồng dịch giả Nguyễn Nguyệt Cầm - Peter Zinoman đã âm thầm chuyển ngữ tiểu thuyết Số Đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng ra tiếng Anh để người Mỹ được khám phá một văn tài kỳ lạ của Việt Nam và Dumb Luck đã ra mắt bởi University Michigan Press vào tháng 6/2002.  Một vài nhóm khác nữa dịch thơ Hồ Xuân Hương và dịch thơ của các nhà thơ đương đại của ta sang Mỹ.

Sau tuyển tập truyện ngắn đồ sộ như một nghĩa cử đối với những người thoát ra từ ba phía, nhóm Wayne Karlin, Hồ Anh Thái, Lê Minh Khuê và Phan Thanh Hảo bắt tay vào một dự án nữa. Love after War ấn hành năm 2003, dày 640 trang khổ lớn, chở tới 45 tác giả xuất hiện chỉ từ nguồn trong nước. Ngoài những tác giả đã được giới thiệu ở tuyển tập trước và ở đầu sách song ngữ do Rosemary Nguyen chọn dịch, dự án giới thiệu thêm được rất nhiều tác giả của ba thế hệ đơn cử cho ba thời kỳ văn học ở Việt Nam, (tôi xin điểm tên theo trình tự mục lục sách): Bùi Ngọc Tấn, Chu Văn, Đoàn Lê, Dương Thu Hương, Mai Sơn, Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Phan Hách, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Tham Thiện Kế, Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Nguyễn Thị Anh Thư, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Nguyễn Mạnh Tuấn, Phạm Thị Hoài, Phạm Thị Minh Thư, Phạm Ngọc Tiến, Phan Thị Vàng Anh, Phan Triều Hải, Tạ Duy Anh, Tô Hoài, Trần Thanh Giao, Trần Thùy Mai, Trần Thị Trường, Trang Thế Hy, Triệu Bôn, Trung Trung Đỉnh, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Vũ Bảo, Y Ban. Độc giả Mỹ luôn có một biển sách để họ lựa chọn, nhưng dù sao chúng ta cũng đã xin được rất nhiều visa cho truyện ngắn của chúng ta vào Mỹ. Cho thấy, chỉ chưa đầy 20 năm, tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra tiếng Anh đã nhiều hơn bất kỳ ngôn ngữ nào, nó nói lên điều gì khi quốc gia láng giềng của chúng ta suốt nửa thế kỷ qua chỉ dịch có mỗi thơ Hồ Chí Minh và “Thư từ tuyến đầu Tổ quốc”!

Theo chỗ tôi biết từ kênh thông tin của Nhà xuất bản Curbstone Press, đến năm 2009, họ đã ấn hành cả thảy 13 đầu sách văn học Việt Nam chuyển ngữ, một công việc gần như thường niên của họ. Đó là Behind the Red Mist của Hồ Anh Thái; The Stars, the Earth, the River của Lê Minh Khuê; The Other Side of Heaven (nhiều tác giả); Distant Road (thơ) của Nguyễn Duy; Past Continuous của Nguyễn Khải; 6 Vietnammese Poets gồm Ý Nhi, Nguyễn Khoa Điềm, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Đức Mậu, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật; Against the Flood của Ma Văn Kháng, The Cemetery of Chua Village của Đoàn Lê; Crossing the River của Nguyễn Huy Thiệp; Green Rice (thơ) của Lâm Thị Mỹ Dạ; Love after War (nhiều tác giả); The Time Tree (thơ) của Hữu Thỉnh; và mới đây nhất là An Insignificant Family của Dạ Ngân.

     Như vậy là nhiều, khá nhiều tác phẩm và tác giả Việt Nam trong nước có mặt trên giá sách của nước Mỹ. Tiếc thay, không phải nỗ lực của cá nhân nào cũng được ghi nhận để an ủi chính họ và gây háo hức cho những người tiếp sau. Theo tôi, để chuyển ngữ tác phẩm văn học Việt Nam ra tiếng nước ngoài vừa cần dịch giả giỏi, vừa phải có nhà xuất bản của nước họ đỡ đầu và điều quan trọng nhất, là phải có những cá nhân xả thân cho việc quảng bá đó dù biết mình có thể bị hiểu lầm hay bị chê là “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”. 

Comments