Trả lời phỏng vấn báo VĂN NGHỆ về tiểu thuyết HỘI THỀ

TRẢ LỜI NGUYỄN CHÍ HOAN ( Báo Văn Nghệ)

 

Ngoài các mối liên hệ về dòng dõi, anh có những cảm hứng đặc biệt nào đối với chủ đề và câu chuyện anh đã chọn cho tiểu thuyết Hội Thề của anh không?

 

Tôi chỉ là cháu ngoại của họ Lê, nếu tính từ ông nội của Lê Thái Tổ là cụ Lê Hối (Lam Sơn động chủ) thì mẹ tôi, cụ Lê Thị Phương đời 23 thuộc dòng Lê Trừ, anh trai của Lê Lợi, dòng này đến đời 25 hiện nay phiêu dạt vào Hà Tĩnh, họ Lê ngũ chi ở Hương Sơn có tới hàng ngàn con cháu nội ngoại trong đó có GS Hoàng Xuân Hãn, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện). Là cháu ngoại nhưng tôi đã được sống trong dòng tình cảm không dứt đối với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, thường được mẹ tôi hễ có dịp là kể lại cho chúng tôi nghe như là để nuôi dưỡng tình yêu nước và lòng biết ơn tổ tiên. Đó là cái duyên kỳ ngộ của một đứa cháu ngoại xa vời. Sau này đã là nhà văn, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, với kho tàng sử cứ, sử liệu còn lại đến ngày nay như phế đô Lam Kinh, bia Vĩnh Lăng, Lam Sơn thực lục, Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo và gần như toàn bộ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi…tất cả đã là nguồn cảm hứng thôi thúc tôi phải viết một cái gì đó về Lam Sơn. Theo tôi, đây là một cuộc khởi nghĩa giải phóng mẫu mực với chiến lược chiến thuật tài tình và đặc biệt cách thức kết thúc chiến tranh mà “cổ kim chưa từng có” ( Lê Quý Đôn). Bài học sáng giá ấy của cha ông vẫn còn giá trị cho đến ngày nay. Tiểu thuyết Hội Thề không chỉ đóng khung trong phạm vi bảy ngày của cuộc chiến tranh giải phóng. Trong bảy ngày đó, tư tưởng nhân văn kiệt xuất của Lê Lợi, Nguyễn Trãi được xuất thần bằng Hội Thề, “mở đường hiếu sinh” cho mười vạn quân xâm lược phương Bắc đang chịu trói và nhen tình hòa hiếu giữa nhân dân hai nước cừu địch, đặt móng cho nền độc lập và giấc mộng thái bình kéo dài 365 năm cho Đại Việt. Cũng trong bảy ngày ấy những con người là nhân vật trong tiểu thuyết đã bộc lộ được bản chất của mình, trong đó nổi bật mối liên hệ phức tạp nhưng cũng rất người giữa vị lãnh tụ được lịch sử chọn “vi vương” Lê Lợi với nhà thơ, nhà tư tưởng “vi thần” Nguyễn Trãi. Mối quan hệ này cũng là mối quan hệ muôn thuở giữa quyền lực và trí thức trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, từ Lũng Nhai đến Lệ Chi Viên. Âm vang của nó vẫn đang chi phối rất nhiều cuộc sống chúng ta, nhất là trong thời đại kinh tế tri thức được đưa lên ngôi hôm nay. Và tôi muốn những trang tiểu thuyết của mình thắp lên ngọn đèn để làm sáng rõ bài học quý báu, có hào quang và nước mắt, có thương yêu lẫn hận thù của cha ông để lại. Tôi nghĩ không nhà văn nào viết tiểu thuyết lịch sử chỉ là để kể chuyện lịch sử không thôi.

      

Anh hình dung ra các nhân vật Lê Lợi và Nguyễn Trãi như thế nào? Có sự giúp đỡ đáng kể nào từ các nguồn lịch sử và khảo cổ hiện đại hay không?

 

Với tôi, những anh hùng Lam Sơn áo vải đã thực sự “sống” trong tôi từ thời thơ ấu. Các hình tượng nổi bật như “vua ta” ( lời mẹ tôi thường nói về Lê Thái Tổ), Nguyễn Trãi ( đã lấy của tôi nhiều nước mắt với kỳ án Lệ Chi Viên vì với suy nghĩ của một đứa trẻ, tôi không thể nào hiểu nổi vì sao lại có “rắn báo oán” và cảnh đầu rơi máu chảy tang thương ấy ), những anh hùng tướng lĩnh khác như Lê Sát, Đinh Lễ, Trần Nguyên Hãn…và cái chết bi thảm sau này của họ bởi chính tay Lê Thái Tổ hay Thái Tông và triều thần tân triều cũng đã dệt nên trong tưởng tượng non nớt của tôi những giấc mơ hãi hùng, khó hiểu. Tôi muốn viết để giải mã những cơn ác mộng đầu đời. Sử liệu khảo cổ chủ yếu nuôi dưỡng cảm hứng và kiến thức lịch sử của tôi chứ không phải là yếu tố có thể can thiệp vào trí tưởng tượng của người viết tiểu thuyết. Tôi mô tả các nhân vật, y phục, lời ăn tiếng nói, cử chỉ của họ như họ đã “sống” trong tôi từ ngày thơ ấu đến hôm nay. Tôi muốn họ là sản phẩm của chính sự tưởng tượng của mình.

  

Anh có nghĩ việc giải A duy nhất của cuộc thi này thuộc về Hội Thề là một dấu hiệu về sự quan tâm, ưa thích, xu hướng hướng đến tiểu thuyết lịch sử trong đời sống văn học chúng ta gần đây hay không?

 

Là dấu hiệu đáng mừng nhưng còn xa mới đến ngày mơ ước. Lịch sử, kể cả lịch sử dân tộc đang bị xa rời nếu không nói là lạnh nhạt trong nhà trường cũng như trong tâm thức người hiện đại. Nhân loại xưa nay vốn có thói quen đi thụt lùi về phía trước trong khi quay mặt lại quá khứ phía sau. Đi có thể chậm nhưng có quá khứ soi đường, con người đỡ lầm lạc. Hình như thế hệ trẻ ngày nay với dự đồng lõa ý thức hay vô ý thức của nhà trường, đang muốn sửa lại thói quen ấy. Nhưng tôi nghĩ người ta đã nhầm. Tưởng bỏ lại cái ba lô quá khứ là có thể bứt phá, đi nhanh hơn, tăng trưởng nhanh hơn, giàu có nhanh hơn. Không phải như vậy. Không biết sử nước nhà mà “khi cần mới hỏi Google” thì con em dân tộc ấy vẫn sẽ mãi mãi là trẻ con. Tương lai dân tộc ấy sẽ như thế nào? Đó không chỉ là sự bội bạc mà còn là một nhầm lẫn to lớn. Dòng tiểu thuyết lịch sử giúp tìm lại cảm hứng đang có xu hướng nguội tắt với quá khứ. Điều quan trọng là tiểu thuyết lịch sử phải kéo những gì chìm lấp dưới bụi thời gian thành ánh sáng trong cuộc sống hiện đại chứ không phải giúp độc giả nhâm nhi quá khứ như gậm nhấm một lạc thú của chính mình. Mong sao chúng ta sẽ có những nhà văn không biết để nguội lạnh tình yêu, những kỷ niệm vui buồn và những bài học sáng giá của cha ông.    

 

Có nhiều ý kiến về tình yêu trong Hội Thề, vậy anh nghĩ thế nào?

 

Yêu thì muôn đời đều vậy thôi. Trong Hội Thề ( và cả trong lịch sử, chính sử hẳn hoi) có hai cuộc tình tuyệt đẹp nhưng đều có kết thúc bi thảm. Đó là tình yêu của đấng quân vương Lê Lợi với người đẹp tài sắc Phạm Thị Ngọc Trần và mồi tình Hồ Tây giữa nhà thơ Nguyễn Trãi và cô gái Thăng Long Nguyễn Thị Lộ.

Không phải nói nhiều về mối tình thứ hai vì đã quá nổi tiếng. Lê Lợi đã yêu, đã lấy và tôn Ngọc Trần lên ngôi Hoàng Hậu sau khi mẹ Tư Tề là Hoàng Hậu Nguyễn Thị Ngọc Lữ đã bị quân Minh giết. Bà là một liệt nữ Lam Sơn. Ngọc Trần và cuộc tình với Bình Định Vương bị dòng họ Phạm vai vế ở Lam Sơn đặt vào cuộc sắp xếp đầy âm mưu, muốn dùng tình yêu của nàng làm vật hiến tế cho ngôi báu của đứa cháu ngoại họ Phạm là công tử Nguyên Long tức vua Lê Thái Tông sau này. Gọi là âm mưu vì tuy mục đích “đi đêm” của họ Phạm với nhau thì như vậy nhưng bên ngoài được công bố như là một sự hy sinh thần thánh để khích lệ quân sĩ trước chiến dịch cuối cùng, theo tập tục ra quân thời đó, vùng đất đó. Lê Lợi, người anh hùng đa tình ( hình như anh hùng, nhân vật lịch sử cũng như nhân vật tiểu thuyết thường đa tình như Hạng Vũ, Từ Hải, Trần Hưng Đạo, Quang Trung v.v.) đã phải gạt nước mắt giữa trận đồ bát quái của âm mưu chính trị. Nhà vua đã chấp nhận hy sinh, đã âm thầm khóc, kể cả trước ba quân, ngay giờ lâm tử của người yêu – Hoàng Hậu. Mối tình tuyệt đẹp và bi thảm ấy đã cũng đặt lên ban thờ để góp phần vào chiến thắng cuối cùng, cũng là phục vụ cho mục đích thiển cận và có thể gọi là độc ác của dòng họ Phạm. Nhà vua có thể biết tất cả những chuyện đó nhưng Người đã quyết định hy sinh trong đau đớn tột cùng. Hy sinh người yêu cho chiến thắng của quân khởi nghĩa, cho nền độc lập của xã tắc có ý nghĩa nhân văn cao cả, không mấy anh hùng trong lịch sử bị rơi vào hoàn cảnh éo le ấy và cũng không mấy người hy sinh được như thế.

Còn Vương Thông và cô gái Thăng Long cướp được trong chiến trận hay hàng tướng Thái Phúc và một ca kỹ “bò lạc” trên nguồn sông Hồng sao có thể gọi là “những cuộc tình” để so sánh?

 

( Nguyễn Chí Hoan thực hiện)  

BÁO VĂN NGHỆ HNV VN số 52 ngày 25 tháng 12/2010)     

Comments