Sống bằng gì bây giờ?

SỐNG BẰNG GÌ BÂY GIỜ?

Nguyễn Quang Thân

Hai ngàn năm trước Chúa  Giê-su nói với ma quỷ muốn thách thức Ngài rằng: “Người ta sống không chỉ bằng bánh mì mà còn bằng lời của Thượng Đế” (Kinh Thánh bản tiếng Anh: Not by bread alone does man live, but by  every word that come forth from the mouth of God ). Cơm ăn áo mặc nuôi dưỡng sự sống phần xác. Nhưng cái phần hồn nặng gấp ngàn lần thể xác không cần đến cơm áo thì phải được nuôi dưỡng bằng cái gì bây giờ? Chúa Giê-su nói: “Bằng lời của Thượng Đế”. Cha ông ta thì bảo: “Sống phải có tình người”. Tình nghĩa là câu cửa miệng của ông bà ta.

Nếu trong chúng ta ai đã từng trải qua những ngày khó khăn của thời sau Cách mạng tháng Tám, những ngày chết chóc, máu lửa chiến tranh ở miền Nam, miền Bắc, khi cơm áo gạo tiền không thừa thãi như bây giờ mà vô cùng quý hiếm, đều hiểu rằng nếu không có tình người thì không ai vượt qua nổi những thử thách cam go ấy. Thời ấy, con người thương yêu, đùm bọc nhau, coi trọng chữ tín, tình thương, danh dự hơn tiền bạc, của cải. Dân với quân như cá với nước. Cán bộ với dân như người một nhà. Quý hiếm thường đi đôi nhưng đồng tiền hiếm mà lại không được quý. Những người nông dân lấy bọc tiền gói trong mo cau đưa ông chỉ huy nào đó vay mua gạo cho lính, nhận một cái giấy biên nhận với chữ ký loằng ngoằng, không cần biết tên người ký là ai, thuộc đơn vị nào, lại gác lên bếp, quên luôn. Người giàu như bà Nguyễn Thị Năm, ông Trịnh Văn Bô, GS Trần Văn Giàu góp cho kháng chiến cả ngàn cây vàng, nuôi cơm dài dài mấy trung đoàn bộ đội. Không ai mặc cả, đòi hỏi một lời khen hay bất cứ cái gì. Vì thương bộ đội, vì tình người, tình kháng chiến chứ không ai nghĩ tới chuyện góp tiền đầu tư kiếm lãi. Bạc vàng bỗng nhiên bị coi nhẹ như lông hồng. Hồi đó nếu ai bảo “Tình bạn là tạm thời, quyền lợi là vĩnh viễn” thì chắc đã bị nhổ vào mặt.

Ngày nay, dù nước ta vẫn là một nước nghèo, đa số dân chúng vẫn còn thiếu thốn nhưng so với trước thì của cải dồi dào hơn, kiếm tiền dễ hơn, hàng hóa phong phú hơn. Nhiều người có tiền để dành trong tài khoản ngân hàng, không ít người trở nên giàu có (chính đáng hoặc bất chính) cỡ triệu phú đô la. Nhưng có cái lạ là tiền càng nhiều, tiền lóe sáng khắp nơi, cả trong phòng hợp cẩn đêm tân hôn thì tiền lại càng được quý, được vồ vập. Quy luật hiếm mới quý không còn nữa. Người ta hô hào, khuyến khích, coi việc làm ra tiền nhiều hơn người khác là “ưu việt”. Tiền được tôn lên thành Tiên thành Phật…và đương nhiên có tiền là có tiện nghi, thước đo “hạnh phúc” của homosapiens  hiện đại như vỏ sò của người tiền sử xa xưa. Người có tiền thì lập tức có quyền sai khiến, khinh khi, thậm chí coi rẻ kẻ khác, có quyền ngồi ô tô tung bụi vào người đi xe máy, xe đạp, có quyền không đổ mồ hôi giữa trưa hè, không phải run bần bật đêm đông lạnh giá. Ba ngàn cái “nhà nghỉ” giữa thủ đô Hà Nội không phải dành chỗ nghỉ cho người lao động quần quật chỉ ao ước thở vào một hơi cho lại sức mà chỉ dành cho người có tiền, những kẻ vốn đã nhàn hạ quanh năm. Cái lý thường đè bẹp cái tình. Nhưng tình người lại quá dễ dàng bẹp dí trước đồng tiền và tiện nghi, dù là thứ đồng tiền thất lý, phi nghĩa, dù đó là những thứ tiện nghi nhiều khi rất quái đản của xã hội tiêu dùng.

Chỉ cần lướt mạng hoặc mở nhật trình vào bất kỳ thời điểm hay ngày tháng nào đó, chúng ta đều phải rùng mình đến ớn lạnh trước hàng đống tin tức không ai muốn thấy, muốn đọc, nếu có nhắc lại cũng chỉ thêm đau lòng. Tội ác của vị thành niên, của thành niên và cả của những người lớn tuổi tưởng đã thoát được tục lụy. Bức tranh khá ảm đạm xẩy ra hàng ngày ấy chi có một màu lạnh của đồng tiền. Giết cha, đánh mẹ, bán em gái, con gái sang Tàu cũng vì tiền. Bán rẻ, thọc lưng đồng chí, bạn bè, dù bằng dao găm hay thủ đoạn tinh vi bọc nhung cũng chỉ vì tranh ăn. Ai biết tình người là đâu?

Tất nhiên, giữa đống băng giá lạnh lẽo vẫn còn lóe sáng lên tình người. Nhà giàu làm từ thiện, con nhà nghèo cắn răng giữ gìn nhân phẩm, quyết sống “không chỉ bằng bánh mì”. Nhưng “lời của Chúa” hay đạo đức truyền thống của cha ông thường được cất lên yếu ớt nhiều khi tuyệt vọng. Con người chân chính không phải lúc nào cũng có thể vượt qua được sức cám dỗ của ma quỷ. Và tình người luôn luôn như cái mầm cây yếu ớt phải “liều mình như không có” để vươn khỏi sự đè nén của thói ty tiện, ác độc của lối sống phi nhân, phi tình nghĩa, lấy thành tích vơ vét tiền bạc vào túi làm “vẻ vang”, lấy đau khổ và sự nghèo đói của đồng loại làm so sánh để tự hào, làm “bánh mì” để sống tiếp.

Từ bao giờ người ta đã quay mặt, hoài nghi với tình người? Phải chăng từ những ngày người ta không tin vào người bên cạnh, dù đó là đồng chí của mình, trong những cuộc “chỉnh đốn” được cỗ vũ từ làn sóng “đấu tranh giai cấp ai thắng ai” bên kia biên giới tràn sang những năm 50 thế kỷ trước? Phải chăng từ khi những Nguyễn Thị Năm, Nguyễn Văn Bộ bị đối xử bất công? Phải chăng khi người ta chỉ phiến diện nhấn mạnh “làm giàu, làm giàu và làm giàu” sau hàng thập kỷ phải sống trong nghèo khổ của loạn ly và chiến tranh cũng như sai lầm bao cấp? Phải chăng người ta muốn thoát ra khỏi khủng hoảng khi công nhận quy luật khắc nghiệt của thị trường nhưng lại không kịp thiết lập một nền pháp trị có hiệu lực ngăn chặn sự lên ngôi của thói phi nhân vốn là nhân tố hủy hoại hiệu quả nhất sự lành mạnh của bất kỳ xã hội, chế độ nào? “Địa ngục là những kẻ khác” (L’enfer c’est les autres – Jean Paul Sartre)(1) vốn chỉ là một phát hiện về não trạng tinh thần của một xã hội bị băng hoại sau chiến tranh và giết chóc đã được mặc nhiên biến thành một slogan để sống. Tai nạn là chỗ người ta nhắm mắt đạp lên người khác để vươn lên.   Tình người, nhân tố kết dính con người bền vững nhất bỗng tan rã vô phương cứu chữa nếu không quay đầu về bến.

Không thể vì hoảng hốt trước một thực trạng xã hội vắng tình người mà lên án quy luật kinh tế thị trường. Cũng không thể trở lại thời “đức trị”, khi tình người được đề cao, được rao giảng nhưng không ít trường hợp là để che đậy những mưu mô chà đạp con người của những kẻ ăn trên ngồi trốc nhằm duy trì đặc lợi, đặc quyền và kìm hãn xã hội trong nghèo nàn, lạc hậu hoặc tệ hơn trong sự quân bình phản tiến bộ có tác dụng hiệu quả nhất để tạo ra nghèo đói và suy đồi văn hóa. Trong xã hội được coi là “đức trị” ấy, nhân dân vẫn rên xiết, thậm chí bị trói buộc cam chịu một cuộc sống không xứng đáng.

Trong xã hội mới, tình người được đề cao nhưng pháp luật vẫn là tối thượng. Pháp luật không chống lại con người, không coi rẻ tình người mà trái lại, đảm bảo quyền của con người – tất cả mọi người, mọi lớp người - được sống, được yêu thương, được “mưu cầu hạnh phúc”. Xã hội văn minh nhất là một xã hội có một nền pháp luật chan chứa tình người, có cái gốc nhân bản bền vững.

Mọi con đường đều dẫn tới một xã hội pháp trị lấy con người ( dân) làm gốc!

 

(Thời báo KTSG 30/08/2012)

Chú thích: L'ENFER C'EST LES AUTRES trong vở kịch Huis - Clos - Cám ơn anh Phạm Toàn đã giúp sửa sai trong bản trước đây ( l'enfer c'est l'autre) 

Comments