Những kỷ niệm thiêng

         (Nhân 30 năm Trường Viết văn Nguyễn Du – bài in ở báo Văn Nghệ số 45 và đã bị cắt bỏ nhiều)        

                                                                                            Dạ Ngân

Ấy là năm 1993, tháng 9. Ai có thể quên ngày mình đặt chân vào bậc thềm đại học? Chắc không ai cả. Bởi thời điểm đó nó quan trọng, nó trang trọng, nó tinh khôi như ngày cưới, như ngày sinh đứa con đầu. Liệu tôi có nói quá lên không? Với tôi thì không, bởi vì tôi đã mở một trang khác, chính tôi thiết kế một trang khác của đời mình và từ đó tôi đã có một cuộc sống dài lâu với Hà Nội. Tại sao phải là Hà Nội chứ không phải Sài Gòn? Tôi biết, chỉ riêng tôi biết tôi phải thử sức ở Hà Nội, lấy tấm bằng đại học ở Hà Nội và tắm trong hương vị đất đô, những thứ mà tôi cần cho mình, lúc đó.

    Tám năm trước đó đã trôi qua kể từ khi các thầy của Trường Viết văn Nguyễn Du nghĩ tôi sẽ ra học, cùng lứa với Bảo Ninh, Thùy Linh… hay chí ít cùng vào khóa IV với Tạ Duy Anh, Y Ban, Bích Ngân…Nhưng Cần Thơ – Hà Nội xa đến gần 2000 cây số, tôi một nách hai con cơm cơ quan nhà trụ sở, tôi vứt chúng ở đâu bây giờ? Thời gian bứt rứt như một con ốc sên chậm chạp. Có là tôi thì mới thấm thía vì sao tôi không an tâm khi chưa có tấm bằng và vì sao Hà Nội lại quan trọng đến vậy? Quê tôi là vùng kháng chiến hết căn cứ đánh Pháp đến căn cứ chống Mỹ, 14 tuổi tôi đã vào bưng, thâm niên kháng chiến dài hơn thời gian ngồi ghế nhà trường. Chiến tranh và hậu chiến đã cho tôi bằng mấy cuộc đời, thiên tư trong tôi thôi thúc nhưng cái trần của tỉnh lẻ như một thứ vòng kim cô khắc nghiệt. Khát vọng tự do nhiều lúc khiến tôi như con chiên ghẻ trên quê hương của mình. Tôi sẽ thoát ra, nhất định phải là như vậy. Ngay từ sau năm 1976, khi hai con còn bé tí, tôi đã phải vừa công tác và học bổ túc văn hóa để chuẩn bị cho mình một nền tảng cao hơn. Gần hai mươi năm trụ ở Cần Thơ tôi đã âm thầm viết lách âm thầm nuôi con và cũng âm thầm nung nấu con đường văn chương, nhất định tôi sẽ đục thủng cái trần chật chội ấy để thoát ra cho dù nơi đến sẽ là một cái trần khác tinh vi hơn. Dù sao đó cũng chính là nơi tôi muốn thử thách mình, Hà Nội.

      Năm 1993 ấy tôi 41 tuổi, sinh viên đặc cách. Thầy Phạm Vĩnh Cư dần đầu một nhóm đi dọc đất nước chiêu sinh khóa V, thầy rỉ tai tôi: “Sẽ có nhiều bạn sinh viên đáng tuổi con của em đấy!”. Có nghĩa là khóa V là cơ hội cuối cùng cho tôi, không có ngoại lệ vào 4 năm sau nữa. Lúc ấy con gái tôi sắp vào đại học năm thứ 2 (tôi nghĩ sẽ mang cháu theo khi nó thi chuyển giai đoạn) và con trai út của tôi sắp vào năm cuối PTTH. Nếu tôi có quyền lựa chọn mọi thứ, ví như tôi không phải kiếm sống bằng đồng lương công chức, ví như tôi là cư dân của Sài Gòn muốn học ngành gì cũng sẵn, ví như tôi không bị lỗ hổng khổng lồ về kiến văn bởi cấp II và cấp III đều phải học kiểu 2 năm ba lớp v..v...phải, nếu tôi được tự do với tiền bạc, công việc và tuổi trẻ của mình thì cái đích học thức đầu tiên tôi muốn vươn tới chính là tấm bằng ngoại ngữ. Điều quan trọng nhất với một nhà văn Việt Nam theo tôi, ngoài tài năng, người ấy rất cần chiếc chìa khóa ngoại ngữ để nâng mình lên chứ không chỉ là giao tiếp hay du lịch. Hà Nội sẽ cho tôi tất cả: cuộc sống lứa đôi, hàm lượng trí tuệ, không khí văn chương và cả những bức xúc thường trực của môi trường nhiều va chạm căn bản, sâu sắc. Mặc ai hoài nghi, mặc ai châm biếm, thậm chí đến phút chót nhà thơ Lê Chí (lúc đó là ủy viên BCH Hội nhà văn VN) còn can gián tôi, anh muốn tôi mãi là đồng đội, là cánh tay của anh trong tâm nguyện miền Tây phải vùng văn học đồng nhất, lớn mạnh. Nhưng tôi vẫn ra đi.

    *

    Hà Nội bắt đầu trở thu cùng với dòng sinh viên gập ghềnh từ các nơi đổ về. Năm 1993 ấy phố cổ vẫn còn nhiều rêu phong, bến xe điện Ngã Tư Sở vẫn còn nguyên tuyến đường ray, sông Tô Lịch còn nhiều thuyền thúng của người thu hoạch rau muống cung cấp cho các chợ trung tâm. Khóa V chúng tôi là những người đầu tiên được thụ hưởng ngôi trường ngói hóa, khang trang, xinh đẹp. Cơ sở hạ tầng của Trường Viết văn Nguyễn Du dạo ấy đáp ứng vừa đủ mục tiêu 4 năm một khóa cho vài mươi người, khuôn viên nhỏ nhắn khuất sau trường Đại học Văn hóa (đại học mẹ) nhưng nó vẫn biệt lập một cách trang nghiêm, kiêu hãnh. Văn phòng, thư viện, phòng học, chỗ ở…dưới ánh sáng “trụ trì” của thầy Phạm Vĩnh Cư nổi tiếng cầu toàn, thực sự ngôi trường là một mái thiêng cho những người biết tôn sư trọng đạo. Vọng lại chúng tôi dư âm gian nan ngọt ngào của 4 khóa trước với rất nhiều tên tuổi, họ chính là những bậc thềm để các khóa sau tự hào tiếp bước.   

Không ở đâu thỉnh giảng công phu như ở trường này. Một đội ngũ tinh túy của thủ đô. Tôi nhớ những giờ phi lộ hào sảng có tính chất đả thông của giáo sư Trần Quốc Vượng và sau đó là cua giảng của thầy Dương Trung Quốc, một gương mặt cấp tiến trong làng Sử những năm đó. Tôi sẽ không bao giờ quên những lần “truyền giáo” như nhập đồng của giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, người đã cho chúng tôi một ngọn lửa, nhà văn nhất thiết phải có ngọn lửa này trong tiếp nhận đời sống, tư duy và trong sáng tạo. Tôi nghĩ những câu nói rất sắc sảo, khúc chiết ngoài văn bản của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh về một giai đoạn của văn học Việt Nam chính là s khơi mở một ý thức khác ở chúng tôi về hiện thực. Cua giảng như một món quà lớn cho chúng tôi là những tuần liền về triết học Bách gia của giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một người từ phong thái đến hành xử đều toát lên ánh sáng của thiên lương và trí tuệ dấn thân. Và những giờ của giáo sư đầu bảng Dân tộc học Đặng Nghiêm Vạn; giáo sư Viện trưởng Viện Đông Nam Á Nguyễn Đức Dương, giáo sự nghiên cứu nghệ thuật Bành Châu, cua học chuyên về Lỗ Tấn của giáo sư Phương Lựu. Vân vân và vân vân. Ngoài ra, nết lên lớp kiểu mưa dầm thấm lâu của phó giáo sư Phạm Vĩnh Cư như thứ nước mạch lặng lẽ và len lỏi vỡ hoang cho chúng tôi từng ít một về thế giới của thơ ca và mỹ học, hành trang quý báu cho những sinh viên hãy còn ngỡ ngàng trước sự mênh mông của biển học. Và bản thân sự xuất hiện của nhà văn hóa Hữu Ngọc cùng những giờ phụ đạo của nhà văn Nguyên Ngọc giống như một  sự dìu dắt ân tình, từ đó các sinh viên trẻ tự nhận biết mình đang ở đâu và sẽ như thế nào trong tương lai.

Từ căn hộ “nhỏ như cái lỗ mũi” được Nguyễn Quang Thân lót ổ từ năm 1990 bên bờ sông Tô Lịch, tôi đi học bằng chiếc xe đạp mi ni, mỗi ngày. Tại sao giáo sư Trần Quốc Vượng bảo nửa thế kỷ qua Việt Nam chưa có khoa học lịch sử; tại sao giáo sư Nguyễn Huệ Chi đặt Lão Tử lên trên tất cả các triết gia; tại sao giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh kết luận rằng văn học Việt Nam mấy mươi năm trước 1975 còn ở dạng minh họa và mô tả hiện thực; tại sao giáo sư Hoàng Ngọc Hiến luôn nhận định khác về Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh…; tại sao ngôi trường bé nhỏ của chúng tôi luôn bị xét nét rằng lũ thầy trò chúng tôi đang nghĩ gì, dạy gì, học gì và viết gì? Tôi thấy tim óc mình hăm hở cùng với những Trần Quang Hải, Nguyễn Quyến, Bùi Mai Hạnh, Lan Hoàng Miên, Lê Thu Thùy, Nguyễn Phúc Lộc Thành, Hòa Bình… những người thấy mình được lớn lên hàng ngày, thậm chí được tái sinh nhờ Hà Nội và mái trường yêu dấu. Những ngày đói theo nghĩa đen nhưng mọi thứ thật yên bình, sâu nặng. Không có 4 năm kẽo kẹt ấy chắc chắn đã không có tôi sau đó và tôi hôm nay. Và những chuyến đi dài rộng, những chói gắt của cự ly gần mặt trời khiến phản xạ công dân trong mình sắc bén hơn, cùng những chiêm nghiệm thong thả với nhịp sống chậm rãi của Hà Nội.

   *

Sau năm 1997, năm kết thúc khóa V của Trường Viết văn Nguyễn Du, một cuộc thu xếp tức tưởi đã khiến cho giá trị đào tạo của Trường không còn như trước nữa. Nó đã hoàn thành “vai trò lịch sử” của giai đoạn hậu chiến rồi chăng? Có thật đã cạn những anh tài cần một chỗ để bổ dưỡng tri thức và kỹ năng viết không? Có phải Trường Viết văn là nơi sinh ra hiểm họa cho đường hướng văn chương quen thuộc không? Chúng tôi không ngờ mình là khóa học bản lề để rồi bên kia thời gian là mấy thập niên vang bóng phủ bụi. Giáo sư Khái Vinh, một vị thầy rất biết mình biết người, một tay chèo của cơ chế lúc đó đã sớm qua đời. Thầy Phạm Vĩnh Cư cương quyết dứt áo ra đi. Nhà văn Nguyên Ngọc lẳng lặng thái độ “tôi không chơi với phán xét của các anh nữa”. Và sinh viên khóa VI sau đó đã thực sự nếm trải thiệt thòi vì không còn những cua giảng danh tiếng của những người danh tiếng hàng đầu.

Vẫn còn mãi quan niệm “Viết văn có cần đào tạo hay không?”.Tôi đi Mỹ và thấy, ở Mỹ mà người ta vẫn có những lớp Viết văn nữa là. Xóa bỏ bao giờ cũng nhanh chóng và dễ dàng hơn dựng xây, chăm chút. Chúng ta đã có một ngôi trường, chúng ta đã có những bậc thềm hoa cương bởi mấy thế hệ nhà văn cùng tâm sức của bao nhiêu là thầy cô, sao chúng ta không muốn trân trọng nó? Không có con đường duy nhất cho nhân loại và văn chương, thì cũng sẽ không có một mô hình chết cứng trong giáo dục cũng như trong đời sống. Mỗi lần nghĩ về ngôi trường ấy, tôi đã thấy bồi hồi đau huống chi mỗi lần thả chân vào khuôn viên đó, đứng dưới hàng liễu đó, đi trên nền gạch của khu văn phòng từng hết sức nghiêm ngắn đó và nhìn nhà giáo Văn Giá cô độc ở đó, tất cả đã bị ghẻ lạnh, đã bị lãng quên. Kỳ cục thay, chúng ta cứ đi vòng vèo để rồi lại phải trở về xuất phát điểm ban đầu thì mới hợp lý và hợp với lòng người. Xóa bỏ tư nhân để rồi phải khoán hộ và dồn điền đổi thửa. Phỉ báng tôn giáo để rồi giờ phải học cách bái lạy và thờ cúng. Những người muốn làm lu mờ ánh sáng nhân văn của ngôi trường chắc chắn phải có anh linh của cụ Nguyễn Tiên Điền giờ cũng đã khoan hòa và muốn mọi chuyện được sáng tươi lên như cũ.

Tôi thầm mơ nơi đó sẽ có những lớp cao học chuyên sâu về lý luận, ngôn ngữ, sinh ngữ và những nghiên cứu khác xứng đáng với văn chương. Tôi mơ lại những khóa học mà ở đó các nhà văn trẻ được kiêu hãnh, kỳ vọng, thậm chí bị săm soi. Cho dù họ sẽ vào đời bằng nghề báo, nghề biên tập, hay trăm thứ nghề loay hoay khác nhưng nhất định, đó là một quãng đời sang trọng mà họ cần được trải qua trước khi họ lăn lóc trải nghiệm để hình thành nên chính họ mai sau.

Comments