Gia phả họ Nguyễn Quang Sơn Lễ

    Gia phả họ Nguyễn Quang

    (Sơn Lễ, Hương Sơn, Hà Tĩnh)

    Home

     

    GIA PHẢ HỌ NGUYỄN QUANG

    ________________________________________________________________________________

    Xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh

    (Bản tóm tắt theo bản gốc của ông Nguyễn Quang Đào)

    ĐỜI THỨ NHẤT

    Thái tổ Nguyễn Quý Công tự Công Đạo hiệu Thiện Đường, là em trai thứ 3 trong 3 anh em từ Thanh Hoá vào lập nghiệp (hoặc ẩn thân) ở Hương Sơn đời Vĩnh Thịnh, Bảo Thái khoảng 1705 – 1720. Người anh đầu ở Đô Lương. Anh thứ 2 ở Can Lộc; sau theo đạo Công giáo, có khoa bảng, học trường dòng, thụ chức linh mục.

    Thái Tổ Công Đạo được sắc phong Thái Tổ khảo tiền cận sự lang cai hạp phó đoan sự nhân lý tử. Ngày giỗ tổ 4 tháng 7 Âm lịch. Hiện vẫn còn mộ ở Sơn Lễ.

    Ông có 2 vợ và 2 chị em đều họ Nguyễn. Bà cả hiện Diện Thành sinh con trai là Nguyễn Đĩnh Đạt. Bà hai Diệu Tín sinh được hai con trai là Nguyễn Công Tuyển và Nguyễn Công Tuân.

    ĐỜI THỨ HAI

    1- Nguyễn Đĩnh Đạt, con trưởng dòng chính thất, vợ họ Nguyễn. Được sắc phong đặt giả công Thái Lang, phủ quân.

    2- Nguyễn Công Tuyển huý Huy cung phủ quân, vợ chính thất họ Ngô hiệu Từ ý nhụ nhân.

    3- Nguyễn Công Tuân, vợ chính thất Nguyễn Thị Tính hiệu Trường sinh nhụ nhân. Được sắc phong Tín nghĩa nam tự  Trường thọ, phủ quân.

    ĐỜI THỨ BA

    Từ đời thứ 3 Gia phả chỉ ghi tên người kế tục mà không cho biết rõ là con của ai trong 3 người đời thứ 2. Chỉ có một số trường hợp lấy tên hiệu của tổ phụ để xác định dòng trực hệ nhưng không đầy đủ. Có những vị sau đây:

    1- Nguyễn Công Thông, dòng trưởng, chính thất là Phạm Thị Nương. Quan viên (chức sắc cho người có học có tài sản trong làng)

    2- Nguyễn Mạnh Lang, tự Công Tích chi linh. Vợ là Ngô Thị Băng. Chánh hương mục.

    3- Nguyễn Trung Lang, tự Duy Cầu.

    4- Nguyễn Bảo Huấn, xã trưởng.

    5- Nguyễn Trọng Công, tự Thế Kỵ phủ quân. Vợ họ Nguyễn, hiệu Thục Cẩn nhụ nhân. Phong sắc Thập lý hầu thăng bản xã, cai xã hương trung kỳ cựu.

    ĐỜI THỨ TƯ

    1- Nguyễn Đình Du, tự Ôn Hoà, huý phó chế. Vợ là Đinh Thị Miện.

    2- Nguyễn Công Tiêu, quan viên, tổ bá, chính thất họ Nguyễn, tự nhụ nhân.

    3- Nguyễn Đăng Tam, có 3 con trai là Nguyễn Sửu, Nguyễn Lưu và Nguyễn Thiện.

    4- Nguyễn Mạnh Lang tự Đình Kiêm, phủ quân.

    5- Nguyễn Lịnh Công tự Đình Chương. Giỗ ngày 8/5

    Và 3 con gái:

    Nguyễn Thị Tính,

    Nguyễn Thị Khản,

    Nguyễn Thị Khôn.

    ĐỜI THỨ NĂM

    1- Nguyễn Quý Công tự Oanh Thế, Tổ bá, phủ quân. Vợ chính thất họ Phan, nhụ nhân.

    2- Nguyễn Chính Thất. Vợ họ Đinh. Giỗ 7/12

    ĐỜI THỨ SÁU

    1- Nguyễn Quý Công tự Công Lịch, tổ bá. Vợ họ Nguyễn, nhụ sinh. Sinh đồ sau làm cai xã.

    2- Nguyễn Lĩnh Công tự Hữu Quý, xã trưởng, phủ quân. Vợ họ Lê, nhụ nhân.

    3- Nguyễn Quý Công tự Đĩnh Thức, sinh đồ tái thụ, phủ quân. Vợ họ Nguyễn, kế thất.

    4- Nguyễn Khắc Thiệu, ân tứ lão nhiêu, trùm trưởng. Vợ chính thát họ Nguyễn, quý nhụ nhân.

    5- Nguyễn Đình Mậu, xã trưởng.

    6- Nguyễn Duy Lương, xã trưởng. Vợ chính thất họ Nguyễn.

    7- Nguyễn Dĩnh Hiến.

    Và 3 người con gái: Nguyễn Thị Mịch, Nguyễn Thị Biện, Nguyễn Thị Lang.

    ĐỜI THỨ BẢY

    1- Nguyễn Huy Điểu, thí sinh trúng nhất trường, bản xã trương mục, quản trưởng. Vợ cả họ Đinh. Vợ thứ họ Đào.

    ĐỜI THỨ TÁM

    1- Nguyễn Trọng Công tự Kim Đĩnh. Dòng thứ. Có thể thuộc dòng Nguyễn Trọng Công tự Thế Kỵ đời thứ 3. vợ họ Đinh Phùng. Sinh 3 con: Nguyễn Đình Thấu, Nguyễn Đình Bản, Nguyễn Tế Trị.

    2- Nguyễn Trọng Lang, tự Quang Tốn, sinh đồ, điếm trưởng, vợ họ Đinh.

    ĐỜI THỨ CHÍN

    1- Nguyễn Quý Công tự Đình Thấu. Tổ bá. Tả vệ tinh binh, ngụ trưởng. Con ông Nguyễn Kim Đĩnh.

    2- Nguyễn Mạnh Công tự Đình Bản. Con ông Nguyễn Kim Đĩnh. Sinh đồ, sau di lính tinh binh Hoàng Triều. Hương trung trưởng lão.

    3- Nguyễn Tế Trị. Con ông Nguyễn Kim Đĩnh.

    ĐỜI THỨ MƯỜI

    1- Nguyễn Lĩnh Công tự Đình Chương. Giỗ 8/5

    2- Nguyễn Trọng Lang tự Quang Cận.

    ĐỜI THỨ 11

    1- Nguyễn Mạnh Công tự Đình Chiên. Xã quan. Dòng trưởng. Giỗ ngày 29/11 ÂL. Chánh thất là vợ họ Đinh. Hiệu trường sinh giỗ 3/11 ÂL.

    2- Nguyễn Mạnh Lang tự Đình Bảng. Dòng bá (con bác)

    3- Nguyễn Trọng Công tự Công Báo. Dòng thúc (con chú)

    4- Nguyễn Trường Tộ (chi ông Tần) ông Đường Diệu, ông Thấu.

    5-  Nguyễn Hữu Quý.

    6- Nguyễn Đình Xướng.


    GIA PHẢ CŨ CÒN GHI LẠI CÁC CHI CỦA ĐỜI SAU ĐỜI THỨ 11 NHƯ SAU

    ________________________________________________________________________________________________________________

     

    A- Chi ông Nguyễn Đình Chiên, con trưởng, vợ họ Đinh gồm 6 người con: 4 trai, 2 gái; gồm:

    1- Nguyễn Quang Mại, con trưởng

    2- Nguyễn Huy (cố Hoe)

    3- Nguyễn Trọng Công tự Cán Nhiêm

    4- Nguyễn Đăng Ninh

    5- Tổ cô thứ nhất lấy chồng về Hàm Lại, không rõ tên.

    6- Tổ cô thứ 2 lấy chồng vè Kẻ Đọng, không rõ tên

     

    Chi tiết các chi trên đây từ đời thư 12 như sau:

     

              1. Nguyễn Quang Mại, đời thứ 12

     

    Nguyễn Mạnh Công tự Bá Anh, đậu tú tài khoa Mậu tý Hoàng Triều, hàn lâm viện cung phụng. Cháu nội Nguyễn Mạnh Công tự Đình Bản đời thứ 9 (ông Nguyễn Đình Bản là con trai thứ 2 của ông Nguyễn Kim Đĩnh đời thứ 8). Đời thành thái năm giáp ngọ được cấp 12 tốt hầu.

    Giỗ ngày 15 tháng 11 ÂL. Mộ táng tại núi Bút Sơn – xã Sơn An, Hương Sơn Hà Tĩnh.

    Chánh thất là con gái đầu họ Nguyễn làng Thọ Lộc, hiệu từ thuận, hàn lâm viện cung phụng. Được hưởng 12 tốt hầu đời Duy Tân (Quý Sửu – 1913).

    Táng tại đỉnh Đồi Mun.

     
    Hai ông bà sinh được 8 người con; gồm 6 trai, 2 gái.

     

                       ( Phụ lục chi tiết: Đời thứ 13: con cụ Nguyễn Quang Mại; gồm 6 trai, 2 gái

     

    Nguyễn Nguyên tức cố phó Nguyên, tộc trưởng đại tôn. Được 3 người con: ông Nguyễn Quang Hanh con trai cả, 2 con gái là bà Thuận lấy chồng về Tứ Mỹ, bà Triêm lấy chồng người Sơn Ninh. 2 Nguyễn Quang Đoàn, hàm cửu phẩm, lấy 3 vợ, sinh hạ được 5 trai, 4 gái; gồm: NQ Tiêu, NQ Quát, NQ Tài, NQ Mai, NQ Giai, các cố bà: Đồng, Hạn, Đắc, Lâm. Nguyễn Quang Viện tức là cố Tứ, được  phong Tứ đại đồng đường. Cố bà người họ Bùi sinh hạ 2 trai 3 gái; gồm: NQ Liêu, NQ Hoàn, bà Hân lầy chồng người Sơn Hoà, bà Loan, bà Bình cũng đều lấy chồng người Sơn Hoà. Nguyễn Quang Bốn (ông Tư) mất sớm chưa thành gia thất. Nguyễn Quang Năm (ông Nho Năm) bà vợ người họ Nguyễn thuộc làng Phúc Nghĩa, Sơn Ninh, sinh 3 con trai, 2 con gái; gồm: NQ Liên, NQ Nhạ, NQ Chơn, bà Uyển, bà Trinh. Nguyễn Quang Hoài (ông Tú Hoài), vợ người họ Nguyễn hàm lại sinh 1 trai, 2 gái; gồm: NQ Tiền, bà Thụ, bà Nho Ý. Bà Tham Khiều lấy chồng về họ Nguyễn Khắc Sơn Hoà. Bà Khoá Đàm lấy chồng họ Nguyễn Duy, Sơn Tiên. Nguyễn Quang Duật, con trai út, tú tài hán học vợ là bà Nguyễn Thị Bốn người họ Nguyễn Khắc sinh 4 trai, 3 gái; gồm: NQ Tấn, NQ Đậu, NQ Lưu, NQ Quýnh, bà Phấn, bà Thiền, bà Lục.

    2. Nguyễn Huy (cố Hoe)

    Con trai thứ 2. vợ chính thất họ Phạm, được 1 trai tức ông NQLạng (cố Lạng) và 1 gái.

             3. Nguyễn Trọng Công tức Cán Nhiêm  

    Con trai thứ 3 lão nhiêu. Chính thất người họ Lê sinh 2 trai gồm: ông Nguyễn Quang Nhiêm (ông phó Nhiêm, sinh ông Bồng, ông Tiêm, bà Nho Ba, bà Tự). Ông Nguyễn Quang Em và bà Quản Cường lấy chồng ở Sơn Tiến.

    4. Nguyễn Đăng Ninh, con trai thứ 4. vợ người họ Hà sinh một con gái lấy chồng người họ Lê trong xóm.

    5. Bà con gái thứ 1: là bà nội ông Nguyễn Dư nay ở Đội Vừ xã Sơn Lễ.

    6. Bà con gái thứ 2: là bà nội ông Minh , ông Tịnh ở làng Kẻ Đọng, xã Sơn Tiến.


                     B. Chi ông Nguyễn Mạnh Lang tự Đình Bảng: ông Nguyễn Mạnh Lang có những người con sau đây:

    1- Nguyễn Trường Khanh, con trưởng, sinh cố NQ Vận (bố ông Kiêm, công Yêm, ông Tạo)

    2- Nguyễn Quang Tài (Can Tài) sinh ông NQ Côn (bố ông Nguyễn Quang Đề)

    3- Can Nguyễn Phúc Chuyên (can Chuyên) sinh ông NQ Quyền (bố các ông: NQ Quý, Tuyên, Viên), NQ Truyền (bố ông Đồng, ông Đống, ông Tự), NQ Thái (bố các ông: NQ Đài, Sinh, Hoà) NQ Bảy (mất sớm) và 2 bà con gái.

                    C. Chi ông Nguyễn Công Báo (Mạnh Công) sinh 2 trai là:

    1- Nguyễn Công Các (trưởng) sinh ông Nguyễn Công Hanh (bố ông Hành).

    2- Nguyễn Công Tram tức bố ông Nguyễn Công Thuần, Nguyễn Công Nhưng và ông Học Nhượng.

     

                           D. Chi ông Nguyễn Trường Tộ:

    1- Nguyễn Quang Hào, làm ruộng, đan lát, thích thơ ca. có bài thơ tiên tặng ông như sau: Trong nhà phong nhã lại hào hoa/ Ba chén vừa say sức hể ha/ No đói giàu sang ừ cũng mặc/ Quý hồ đẹp mặt với người ta. Sinh ông Tần (mới Tần)

    2- Ông Đường Diện sinh ông cứu quyến. Con cháu hiện nay ở Sơn An nhưng không nhận họ.

                          E. Chi ông Nguyễn Hữu Quý: Chỉ có 1 con trai là Nguyễn Mạnh Tùng.
                   F. Chi ông Nguyễn Đình Xướng: làm ruộng, có tiếng khoẻ nhất vùng, sinh ông:

    1- Nguyễn Thanh Tùng (cố Trưởng Hường) vợ ngưòi họ Trần làng Thịnh xá sinh 5 trai 1 gái; gồm: ông Nguyễn Dư Khương (sinh ông NQ Thứ tức Thớ), cố phó NQ San (bố ông Hoan, ông Tiêm, ông Chiêm) cố NQ Lới (bố NQ Hậu, Phước, Đước, Đại), cố NQ Giá (bố các ông: Minh, Cảnh, Tình, Uýnh), cố NQ Bá (bố các ông NQ Thoàn, Noạn, Quán)

    2- Nguyễn Đình Cát: lấy 2 vợ sinh 5 trai và 2 gái; gồm: ông NQ Tao (bố ông Bồi), ông Phó Mỹ (bố các ông: NQ Quế, Liệu, Mạnh), ông NQ Quỵ (bố ông Sâm), NQ Khuế (bố các ông: ông NQ Hải, ông Vịnh, ông Viện).

    Hai người con gái là bà Dinh và bà Dung.

    _____________________________________________________________________________________________________________

    Lời ghi chú của những người ghi Gia phả

    Bản Gia phả làm trên máy tính này soạn theo một cách tóm tắt bản gốc của ông Nguyễn Quang Đào và Nguyễn Dư (Hàm Lại). Ngoài việc đính chính một đôi chỗ do nhầm lẫn trong ghi chép, bản này hoàn toàn ghi theo tài liệu của bản gốc. Đây chỉ là bước đầu làm hoàn chỉnh Gia phả đã bị thất lạc quá nhiều, cũng may nhờ công sức của ông Đào, ông Dư và con cháu mà được giữ lại như ngày nay. Xin trình cả họ để tiếp tục chỉnh lý, bổ sung, nhất là cháu từ đời 14 trở lại đây.

    Hà Nội đêm mồng 7 Tết Canh Thìn ( 1999)

    Comments