Chuyện tình của đại tá Sinh Tồn

 

Truyện ngắn của Nguyễn Quang Thân

 

Điều lạ lùng là ông đại tá chưa từng trở lại Điện Biên. Gần nửa thế kỷ rồi chứ đâu có ít. Vậy mà ông vẫn chưa một lần trở lại. Nay thì ông trở chứng. Ông đóng cái phòng đọc “nâng cao dân trí” gồm gần đủ những thứ báo chí hàng ngày hàng tuần lá cải và không lá cải mua bằng tiền lương hưu cũng khá dư dả của ông để cho mấy ông hàng xóm đọc miễn phí. Những ông hàng xóm này có cả giáo sư, tướng tá về hưu sẵn sàng bỏ mỗi năm 15 triệu đồng để sơn lại tường hay vài trăm ngàn đi Đồ Sơn “lấy thêm nhuệ khí” nhưng lại thích đọc báo chạc nghĩa là đọc chỗ ông, không mất tiền mua báo, không mất tiền mua trà thỉnh thoảng lại còn cà phê nữa. Ông đại tá chê họ tính tình bủn xỉn nhưng ông vẫn giữ bề ngoài bao dung vì ông muốn “nâng cao dân trí”, ít nhất cũng chữa được cho mấy ông già ham tiền này cái nết bủn xỉn.

Ông đại tá đóng cửa tiếp khách và tuyên bố với các con lần này ông đi Điện Biên. Kỷ niệm mười, hai mươi ba mươi bốn mươi năm Điện Biên Phủ đơn vị này mời đơn vị kia chèo kéo ông không đi. Nay không ai mời không ai nhắc ông tuyên bố sẽ đi. Đám con cái cho ông trở chứng. Thằng con út bị người tình đá, đi xem bói, “cô” bảo rằng năm nay nhà cậu có đại tang. Mẹ mất rồi, chỉ còn bố, chắc năm nay bố đi. Nhưng ông không đi Văn Điển mà đi Điện Biên. Mấy đứa con hùn tiền lại cho ông dối già. Ông trả lại hết: “Đời khó mà dễ. Tao còn tiền, dù có hết tiền tao cũng không chịu nhịn đói ở đất Điện Biên đâu mà lo!”

Trước đây ông không đi, không ai hiểu, cả ông nữa cũng không biết tại sao mình không muốn đi. Nhưng nay ông đi vì ông nhớ. Ông nhớ một người ở Mường Phăng. Cái tuổi già kể cũng lạ. Đã bảy mươi lăm cái xuân xanh mà vẫn thương với nhớ. Ông đại tá Nguyễn Sinh Tồn xuống sân bay, anh đại đội trưởng hai mươi lăm tuổi ngày trước tưởng đang hạ cánh xuống một nơi nào khác chứ không phải Điện Biên. Ông cũng không thắc mắc chuyện ấy làm gì, đời người là cái chong chóng, có lúc nó không quay về hướng mình là quyền của nó. Ông chưa thăm chiến trường xưa vội, đang nóng ruột tìm đường về Mường Phăng.

Đến bản thì trời vừa xẩm tối. Ông nhận ra ngay cánh rừng nơi có hầm chỉ huy của đại tướng đục vào núi đang nhòa dần vào bầu trời hoàng hôn. Có mấy chiếc ô tô chở khách tham quan hối hả chạy ra sợ tối dọc đường. Ông ghé lại chỗ dân bản tụ họp bán hà thủ ô,  rượu sâu chít chữa liệt đương và khăn piêu, áo thổ cẩm để hỏi đường về nơi cũ. Họ cũng đang lục tục dọn hàng về, một thằng bé tưởng ông là khách tham quan dí chai rượu ngâm sâu chít trắng hếu liến thoắng: tuổi cụ nên uống thứ này, uống thứ này là cụ bà cháu khen ngay, mời cụ ba mươi ngàn một chai rượu chít không mua thì uổng. Ông thót tim nhớ lại hồi đó, trẻ con trong bản chỉ có áo mà không quần, không biết nói tiếng Kinh, trò chơi duy nhất là thi xem đứa nào đái được xa nhất, phần thưởng là những chiếc vỏ đạn súng trường. Đời người đúng là cái chong chóng! Ông không mua rượu chít mà chọn một cái khăn piêu, chiếc khăn này để tặng người ông sẽ gặp, còn rượu chít thì còn lâu ông mới phải dùng đến, thứ này để dành cho dân du lịch lên Điện Biên mua các thứ chữa bệnh liệt dương. “ Này ông, túi thổ cẩm nhà dệt đây, ông mua cho em một cái...” Trước đây người Thái thường xưng tao với bất kỳ ai nên tiếng em làm ông đại tá chú ý tới bà lão vừa nói. Dù đời là cái chong chóng đi nữa thì ông vẫn nhận ra một nét quen quen ở bà lão người Thái dong dỏng cao, mặt mày nhẹ nhõm này. Với cái quyết đoán của người từng chỉ huy trăm trận ông hỏi ngay: “ Lý phải không?” Bà lão bán túi thổ cẩm ở Mường Phăng tự dưng thả lỏng tay, những cái túi xanh đỏ rơi xuống đất. Bà lắp bắp: “Ai như anh Sinh Tồn?”

... Bên kia sông Đà giặc còn chiếm đóng - Bên kia sông Đà đồng bào ta mong chờ - Đang sống cuộc đời lầm than - Có ruộng không được cày - Có nhà không được ở - Con trai phải đi phu đi lính - Con gái đêm đêm phải đi ngủ đồn - ức hếnh khổ hếnh bộ đội ơi à ơi! -  Đại đội về Mường Phăng bảo vệ sở chỉ huy, ông trưởng thôn vét được bảy cô gái tận mấy cái bản đi nửa ngày đường mới tới, làm một đêm xòe đãi bộ đội. Bộ đội thì mệt đứt hơi, hành quân cấp tốc từ Phú Thọ sang quần áo chưa kịp giặt mà cũng chẳng ai biết xoè, anh nào cũng lần đầu lên Tây Bắc. Đại đội trưởng đành xuất chinh hát đơn ca. Hồi bốn chín vừa đỗ tú tài Sinh Tồn từ Hà nội bị chiếm ra kháng chiến về trường lục quân rồi cứ ở mãi bên kia sông Đà. Tây Bắc là chỉ nghe nói mà chưa được thấy nhưng nhờ tài trời cho Sinh Tồn viết được bài ca Ức hếnh khổ hếnh trước khi sư đoàn hành quân sang đây. Đơn vị có một anh người Thái, anh thường nói ức hếnh khổ hếnh mà chính Sinh Tồn cũng không hiểu hếnh là mô tê gì cứ viết đại. Không ngờ bài hát được lính sư đoàn ngêu ngao, đêm xoè ấy có ngay cây nhà lá vườn đáp lại các noọng. Trong đám các cô gái có một người khóc. Tan xoè, cô này có bà con với chủ nhà nên ở lại. Cô nói: “Em tên là Lý, bộ đội dạy em bài hát hay hôm nay nhá anh bộ đội.” Lửa cháy trên nhà sàn, dưới rừng trám. Hai người không ngủ. Bóng cô nhảy múa trên vách. Cô khóc suốt buổi. Cứ đòi anh chỉ huy dạy lời bài hát tiếng Kinh dù cô nói cũng chưa thạo. Có ruộng không được cày - có nhà không được ở - con trai phải đi phu đi lính - con gái đêm đêm phải đi ngủ đồn...Tập mãi không nên vì cô khóc. Anh nhạc sĩ đại đội trưởng lấy làm lạ. Cuối cùng thì Lý cũng kể chuyện mình. Bọn quan lính Đèo Văn Long ở đồn Noong Nhai vào bản giết cha mẹ cô với gần chục người khác, bắt cô về đồn mười ngày... Con nai chết vì có bộ sừng đẹp, con họa mi mắc bẫy vì tiếng hót hay. Vai cô rung lên. Mấy ngày sau đó Sinh Tồn bận bịu chuẩn bị phòng tuyến bảo vệ ngoại vi chỉ huy sở, phải đi suốt ngày. Đêm về Lý vẫn chờ anh bên bếp lửa, khuôn mặt xinh như mộng hết héo hon và thân thể ngọt ngào, bí ẩn run rẩy trong bộ váy bó chặt. Anh tập mãi cho cô hàng chục đêm mà cô vẫn không thuộc bài hát. Cứ đến câu con gái đêm đêm phải lên ngủ đồn là cô lại khóc. Nước mắt cô ướt thấm vai, làm nhão trái tim người thanh niên Hà Nội. “Em cũng họ Đèo mà sao chúng tàn ác với em anh bộ đội?” Sinh Tồn không trả lời. Anh không thể trả lời. Rồi em sẽ hiểu hết. Khi tiếng pháo ta gầm lên thì em sẽ hiểu. Nhưng chuyện đó thì bây giờ chưa nói được. Khi Sinh Tồn ôm cô vào lòng nói anh sẽ lấy cô làm vợ, nếu anh còn sống, anh sẽ đưa cô về xuôi sau ngày chiến thắng, tất nhiên nếu anh còn sống, cô lại càng khóc dữ hơn. “Đời em nhơ nhuốc rồi, em không muốn lây bẩn sang đời anh!” Anh bảo: “Em không còn cha mẹ cũng không còn nhà. Em ở với ai?” Cuộc tình của Sinh Tồn không dấu được. Ông trưởng thôn đưa cô cháu họ gửi cho một người bà con dưới Tuần Giáo “để anh chỉ huy được yên trước ngày nổ súng” ông nói với cô. Sinh Tồn bị hạ chức, được điều sang một trung đoàn trợ chiến. Nhưng quả ổi xanh đắng chát nếm bên bếp lửa anh nhớ mãi suốt đời.

Chiến dịch được nửa tháng Sinh Tồn đã được lên chức tiểu đoàn trưởng, cùng trung đoàn vòng qua Hồng Cúm ngược lên Mường Khương chặn địch rút qua Lào. Ngày hiệp nghị ký kết anh đang ở Atôpơ, rồi Tây Nguyên, rồi tập kết ra Bắc. Lấy vợ, cuộc hôn nhân không có gì vui nếu không nói là thất bại. Sau đó là vượt Trường Sơn vào B2 mấy năm, trở ra Bắc anh đã phải tha thứ mới giữ được một gia đình vốn đã không mấy êm thấm. Anh vẫn nhớ một người ở Mường Phăng. Nhưng biết tìm đâu một cánh hoa ban giữa rừng Tây Bắc? Anh tự nhủ không bao giờ trở lại Điện Biên nữa. Ở đó anh để lại cuộc tình đầu. Ở đó anh để lại trong đất những đồng đội thân thiết nhất. Anh không muốn, thật tình anh không muốn. Về làm chi khi chỉ nhắc ta những chuyện không vui. Vậy mà cuối cùng anh đã trở lại.

Họ ngồi cạnh nhau bên bếp lửa. Mế Lý cho củi vào thật nhiều như không biết làm gì khác. Tất cả những gì đại tá hồi hưu Sinh Tồn định nói nếu như ông gặp lại người tình cũ đều tan biến đâu mất. Ông chỉ còn biết hỏi han chuyện nhà cửa, con cái của bà lão người Thái như một cán bộ về bản làm việc xóa đói giảm nghèo. Thế rồi, khi lửa bùng lên, người đàn bà ngước nhìn ông. Ông đại tá rùng mình nhận ra ánh mắt say đắm ngày xưa:

- Ông nghe chuyện này: đứa con gái đầu lòng của tôi cũng là của ông. Nó sinh ra không cha, may chồng tôi là người tốt, ông ấy thương nó như con ruột. Ông ấy bảo con trâu rừng mà vào ngủ chuồng tao là của tao. Nhưng ông ấy chết rồi. Con gái của ông thì đông con nuôi không xuể. Tôi nói thêm chuyện này ông đừng buồn: một đứa cháu ngoại của ông đi biệt tích hai năm nay. Nó mới lên mười chín. Nó giống tôi cái thời tôi gặp ông, còn đẹp hơn tôi hồi đó, cũng hát hay, múa dẻo, chắc là có máu huyết ông. Mặt mũi cũng giống cả ông nữa. Người Thái chúng tôi bảo cháu ngoại giống ông cũng hiếm như củ tam thất mà trắng như củ mài. Nhưng nó giống ông thật, tôi không nói dối. Nhờ nó giống mà tôi không quên được ông, gặp ông là tôi nhận ra ngay. Người ta bảo nó đi làm gì ở Hà Nội hay Hải Phòng gì đó, với mấy con bạn dưới Thuận Châu nữa. Ai cũng biết nó đi làm gì rồi nhưng không ai nói với tôi. Tôi cũng nửa tin nửa ngờ. Từ ngày có đường vào “khu hầm đại tướng” Mường Phăng có chợ, dân Điện Biên vào buôn bán nhiều lắm. Tôi già rồi, cũng không đi bán hàng làm gì. Nhưng tôi muốn có ít tiền để đi tìm đứa cháu ngoại. Ông nghe chuyện có buồn không?    

Ông đại tá nói:

- Đời khó mà cũng dễ, dễ mà cũng khó. Tôi lên đây không ngờ lại được gặp bà, tôi vui lắm sao lại buồn. Nhưng bà không phải bán khăn piêu nữa. Mai bà thu xếp cho tôi gặp con gái rồi cả hai mẹ con về Hà Nội với tôi. Tôi cũng chưa biết tìm cháu ngoại ở đâu. May mà nó đẹp nên cũng dễ tìm. Người mà đẹp dễ mắc cạm bẫy nhưng cũng dễ thoát ra khỏi cạm bẫy. Bà có ưng không hả bà?

Ông đại tá không nói dối. Đúng là ông không buồn. Dù cháu ngoại ông có “làm gái” thật đi nữa ông cũng không buồn. Ông chỉ thấy đau nơi ngực nhưng đó là cái đau đưa lại cho ông sự sống bấy lâu nay tưởng lụi tàn theo năm tháng già nua. Ông lại có việc to tát để làm, như chiếc đèn được đổ thêm dầu. Công việc ấy là cứu đứa cháu ngoại ông còn chưa biết mặt ra khỏi cạm bẫy nếu đúng là nó đang nằm trong cạm bẫy. Ông sẽ bắt chiếc chong chóng đời quay lại phía ông.

Trút nhẵn túi cho đàn cháu ngoại nheo nhóc ở lại với bố nó, ông lên ô tô về Hà Nội mang theo người đàn bà ông từng yêu dấu và giọt máu của chính ông cũng gần năm mươi tuổi rồi. Mãi hai năm sau, tử công phu như người tìm ngọc trong đá, khi tìm được cháu trong một cái quán đáng ngờ ở Đồ Sơn, hàng xóm và đám bạn hưu trí vẫn đến nhà ông đọc báo và uống trà miễn phí mới biết được câu chuyện tình của ông Đại tá Sinh Tồn @   

-      

 

Comments