Chị Hường tôi

Truyện ngắn NGUYỄN QUANG THÂN

 

Cuối cùng thì chị Hường cũng đã đi lấy chồng. Nhiều người trong nhà tôi nói rằng đó là một dịp may cho chị và cho cả cô Hai tôi nữa.

Bởi vì không phải người con gái nào trong làng tôi cũng đều có chồng một cách suôn sẻ. Chiến tranh bao năm và trai làng đổ hết ra tỉnh dù chỉ để đứng dưới gốc cây chờ người ta đến gọi đi móc cống hay làm những việc dân thành phố không chịu làm. Kiếm ăn lần hồi, kẻ tích góp tiền cưới vợ hay gây vốn để rồi bỏ làng đến một nơi xa hơn như miền Nam chẳng hạn. Nhưng phần nhiều trong bọn họ ra thành phố kiếm việc làm, chỉ là để...ra thành phố. Người ta ngáp dài sái cả quai hàm sau mùa cày cấy. “Chán quá, chẳng có gì làm nữa đây!”. Những luỹ tre dày âm u ngay giữa trưa, con đường ruột làng lầy lội sau đợt mưa dầm, tiếng chó sủa trăng suông và chiếc loa truyền thanh của xã chưa bao giờ nói trọn một câu mà không kêu cọt kẹt như cối xay lúa, đám thanh niên đã qua tuổi tắm suốt ngày với trâu trong con suối chảy qua làng nước đục như sữa hay kéo nhau qua các khu vườn vắng chủ để vặt trái cây và phá tổ chim chích như lũ chíp hôi chúng tôi. Họ ngáp dài.

Chị Hường tôi ế chồng là phải. Làng không còn con trai cho ra hồn, không còn ai chí thú ở lại theo trâu thì chị lấy ai ? Với lại, chị cũng chẳng sắc nước hương trời gì. Cái được nhất của chị có lẽ là dáng người dong dỏng cao trong khi các cô gái làng tôi được nổi danh là “hạt mít”. Người ta còn khen tính chị tốt, chị ít lời, kín tiếng và hiếu thảo với bà cô tôi là người đàn bà có tiếng chua ngoa và khó tính, trái nết. Bà cũng goá chồng từ trẻ, người có tuổi bảo vì thế mà sinh ra cái tính nết không ai chịu nổi ấy. Mẹ tôi nói, có lẽ chị Hường là do Phật Quan Âm cử xuống để hầu mẹ, một bà già đi cà nhắc, không khen ai được lấy nửa lời kể cả cô con gái một của mình và chỉ thích ăn có mỗi món đã hầu như không còn thấy ai bán ở chợ quê nữa là bánh đúc nhân lạc. “ Không có bánh đúc nhân lạc à ? Con nuôi cha mẹ con kể từng ngày, có mỗi miếng bánh đúc mà cũng phải bóp miệng nhịn thèm, sao giời không cho tôi về với ông bà ngay đi cho rảnh nợ, giời ôi là giời !” Đó là tiếng kêu than thảm thiết mỗi lần bà cô tôi giở các thứ trong cái giỏ chị Hường đi chợ về. Mãi rồi cũng đâm quen, không ai buồn để ý tới tiếng kêu giời của bà nữa.

Nhưng chị Hường tôi vẫn không có chồng. Chị mỗi ngày một mình gầy xác ve vì chăm nom nuôi nấng bà mẹ khó tính và mấy sào ruộng khoán. “ Đi làm cán bộ còn muốn có giấy khen nữa là, tội con bé, suốt đời không được mẹ động viên an ủi một câu, nó sống sao nổi ?” Mẹ tôi bảo thế. Nhưng chị Hường vẫn sống. Mà sống đàng hoàng nữa là khác. Không ai thấy chị mặc áo vá hay áo rách bao giờ. Chị không kêu than túng bấn, vay mượn ai. Người ta còn thỉnh thoảng đến mượn tiền chị nữa đằng khác. Hỏi là chị đưa liền, tuy không nhiều, mỗi lần chỉ năm bảy ngàn chi đó. Nhưng chị không từ chối ai. Như là chị để sẵn tiền bên cạnh để làm chuyện đó. Được cái ai cũng biết chị nghèo, chị tử tế nên họ đều vay trả sòng phẳng, nhiều khi còn kèm thêm rổ khoai hay mớ rau muống vườn nhà. Mẹ tôi nói : “ Chị ấy chẳng có tiền nong gì đâu. Chỉ khéo vắt mũi bỏ miệng nên lúc nào cũng dư dả.”

Chuyện” dư dả” của chị Hường thì tôi biết quá rõ. Nhiều lần tôi bắt gặp chị ngồi ăn dưới bếp với bát cơm chan nước dưa! Khúc cá đồng hay quả trứng luộc dầm nước mắm chị dành cho mẹ ăn trên nhà. Mẹ tôi bảo chị: “Mày phải cố ăn vào chứ, con gái mà trông cứ trong suốt như tằm trong kén thế kia thì lấy chồng làm sao!” Chị cười buồn : “Cháu đọc báo thấy bên Tây người ta phải nhịn ăn mới lấy được chồng đấy, thím ạ” Mẹ tôi nói : “ Tây khác, ta khác !” Từ đấy mẹ tôi không bao giờ khuyên chị “cố gắng ăn” nữa. Tôi hiểu rằng chị Hường làm sao phải “cố gắng ăn”khi một mình chị phải nuôi hai cái miệng. Ngay cả đám thanh niên sức dài vai rộng son rỗi cũng phải ra đi nữa là!

Một hôm tôi nhờ chị thả hộ buổi trâu để đi thi hết cấp. Chiều xuống, chưa thấy chị dắt trâu về, tôi ra đồng tìm. Cánh đồng Mả Đói là một khu mộ mênh mông. Những nấm đất rải rác giữa những vạt cỏ không hiểu sao đàn trâu bò trong làng gậm cỏ quanh năm mà cỏ vẫn mọc lên và tươi tốt được. Tôi không thấy chị Hường đâu. Mùa này lúa bốn bên nghĩa địa mới vào đòng, trâu tôi là thứ ranh ma, khéo nó đi phá lúa người ta thì đền không xuể. Nhưng nó kia. Bóng nó mờ mờ trên nền cây cỏ đã chuyển màu chiều tím thẫm. Tôi lần theo con đường quanh các lùm cây để đến chỗ nó. Qua bụi tre gai xơ xác vì lũ trẻ chúng tôi hay cột trâu, tôi thấy chị Hường đang ngồi bó gối bên cạnh mộ Trộm. Chị cúi gầm, chăm chú nhìn xuống đất, miệng đang thì thầm chuyện trò với người nằm dưới đó, tay chị nhổ những ngọn trinh nữ đang vươn tới định bén rễ trên nấm mộ hoang. Nấm mộ Trộm quanh năm không thấy ai đến thắp hương, đúng hơn là thỉnh thoảng có người đến thắp hương, nhổ cỏ nhưng chúng tôi không bao giờ gặp, kể cả trong tiết Thanh minh. Chúng tôi thì suốt ngày quanh quẩn chỗ đó và gọi với nhau là ngôi mộ Trộm là do có lần tôi hỏi mộ đó của ai, mẹ tôi trả lời:“Một người ăn trộm bị đám làng Cót đánh chết. Đừng hỏi nữa !” Tôi ngồi xuống, nấp sau khóm tre, không muốn làm chị giật mình vì bị bắt gặp đang nói chuyện với người chết.

“ Em biết thế này là không phải nhưng ...” Chị Hường ngước lên và nhìn thấy tôi. Chị vẫy tôi lại.

“ Ngồi lại đây với chị một chốc rồi về” - chị nói.

Tôi ngồi bên chị. Con trâu gặm cỏ phía xa.

“ Em có biết đây là mộ ai không ? - chị như vớ được tôi để trút bầu tâm sự - Một người chị định lấy làm chồng đó.”

“ Sao mẹ em lại bảo anh ấy ăn trộm ? “ tôi hỏi.

“ Đúng vậy chứ sao ? Em biết không ? Hồi đó làng mình ai cũng  nghèo...”

“ Thì  bây giờ cũng nghèo” tôi nói.

“ Bây giờ có khá hơn. Nhưng hồi đó thì gạo cũng không có đủ mà ăn nữa. Anh ấy yêu chị, hẹn cưới chị. Không ai trong làng biết chuyện anh chị đâu. Dạo đó chị mới mười chín tuổi, không già và xấu như bây giờ.”

- Chị cứ nói thế. Chẳng ai bảo chị già hay xấu cả,

Quả thật với tôi, chỉ những người như mẹ tôi, như bác Hấn, ông cụ Mão mới gọi là già.

- Chị không cãi nhau với em nữa. Để chị kể cho mà nghe. Chuyện này cả làng ai cũng biết. Nhưng không ai trong làng nói lại với ai vì nó đau lắm, nó nhục lắm. Anh ấy kín như bưng, không nói gì với chị, sang làng Cót dắt của hợp tác xã người ta một con trâu. Người ta hô hoán, đánh anh ấy, đuổi ra tận bãi tha ma làng mình mới bỏ về. Anh ấy nằm lết ở trạm xá ba hôm thì chết. Chị phải lén cơm cháo cho anh vì mẹ anh ấy mù, lại nằm một chỗ. Hỏi, anh ấy bảo: “Tôi định dắt con trâu về làm đám cưới em! Ôi, tình yêu !”

Chị Hường lấy hai tay ôm mặt, gục xuống đầu gối, không nói gì nữa.

Ba hôm sau chị đến nhà tôi, tay cầm một cái gói nhỏ. Chị nói với tôi :

“ Cây mưng đổ nhà em vẫn còn chứ ? Ta ra đó ngồi cho mát đi!”

Chúng tôi ra vườn, đến bờ ao. Gió chiều mát rượi.

“ Ta ngồi xuống đây đi!”- chị Hường nói.

Hai chị em ngồi lên cây mưng bị đổ trong trận bão ba năm trước, nay đã khô.

“ May ông Móng đi mất nên chị em mình mới còn cây mưng mà ngồi.” - tôi nói.

Khi cây mưng đã khô, mẹ tôi thuê ông Móng, người chuyên đi bổ củi thuê cho dân làng bóc dần để đun bếp. Ông ấy đến làm mấy buổi thì biến mất. Tôi không thể nào quên được con người này. To cao, ít nói đến nỗi nhiều người mới gặp cứ tưởng ông ấy câm. Nghe mẹ tôi nói ông đã gần năm mươi mà chẳng vợ con gì, một thân một mình và trú ngụ bất kỳ đâu ông thấy tiện. Một cái lều vó bè của nhà ai bỏ hoang. Gian nhà kho dột nát của hợp tác xã hay mái hiên trường làng. Có dạo ông Dinh làng tôi nghe nói làm cán bộ gì trên tỉnh mà giàu nứt đố đổ vách, cho ô tô chở nào gạch, nào xi măng, nào đá hoa cương về xây một cái nhà mộ cho bố vốn là một người ngày xưa sống bằng nghề soi nhái bán cho người trên tỉnh làm chả. Hồi máy bay, gia đình ông “chả nhái” về sơ tán trong túp nhà tranh tồi tàn của ông. Không hiểu anh Dinh tán tỉnh thế nào mà làm cô con gái lớn của ông “chả nhái” có chửa ra. Ông ấy đành cho cưới rồi đưa rể lên tỉnh tính kế cho làm ăn. Được hai năm thì anh Dinh đi học tiếng Anh rồi bỏ con ông chả nhái, yêu và sau đó cưới con gái ông nào đó. Cô ấy cùng học với ông Dinh. Mẹ tôi kể lại chuyện ấy và bình luận : “ Thế là mấy con nhái bén cõng nó ( tức anh Dinh ) lên tỉnh, vào chỗ giàu có, thơm tho.”Anh Dinh vừa hoàn công ngôi nhà mộ được ba bốn hôm thì ông Móng mang đồ lề gồm búa bổ củi, hai cái xoong nhôm, tấm chiếu và một hũ gạo đến ở. Ông còn lấy cái nia rách chăng lên một tấm vách che gió. Anh Dinh hay tin, cho một cô thư ký xinh như mộng đi xe con về làng, cho tiền Uỷ Ban đề nghị cưỡng chế ông Móng đi chỗ khác. Tất nhiên là ông ta phải bị bứng đi, lại về chỗ lều vó bè. Mẹ tôi nói: “ Thế cũng phải. Dù sao ông ấy cũng được ở nhà lầu mấy hôm!”

Thế rồi ông ấy biến mất khỏi làng lặng lẽ. Nếu không có chuyện củi đóm thì có lẽ cũng chẳng ai nhắc tới ông Móng. Đầu tiên là các bà goá chân yếu tay mềm như mẹ tôi rồi cô giáo làng, cuối cùng là nhà khách uỷ ban xã, những nơi cần củi đun mà không có người bổ củi thuê thì cũng gay go. Người ta cuống cuồng lên, tìm ông, hỏi han tung tích ông, có bà goá bạo mồm còn nói : “ Chẳng thà không có ông X... chứ không thể thiếu ông Móng ! ” Nhưng tìm ông ở đâu bây giờ ?” Chị Hường nói với mẹ tôi: “ Thím ơi, bây giờ thì mới biết ai là người cần thiết cho người làng.”

“ Mai em lên tỉnh phải không ? ”- chị Hường hỏi.

Tôi trả lời phải, vì hồ sơ vào lớp năng khiếu của tỉnh nộp trên đó. Chị đưa cái gói cho tôi :

“ Em đến công ty xăng dầu, đưa hộ chị gói này.”

“ Cho ai hả chị? ”

“ Ông Móng ! Ông ấy làm bảo vệ ở đó.”- chị mỉm cười, mắt long lanh - Nói là chị gửi, bảo ông ấy về trước tháng sáu.”

“ Để làm gì hả chị ? “

Chị Hường cười rất tươi :

“ Để cưới vợ ! Cưới chị đấy.”

 

Từ lúc chị Hường ra về, ngồi trên chiếc xe khách lên tỉnh, tôi vẫn còn choáng váng. Chị Hường lấy ông Móng ư ? Tôi tìm đến công ty xăng dầu ngay và tôi đã gặp ông. Ông ôm lấy tôi, không nói gì nhiều, không hỏi thăm ai trong làng, kể cả Hường ( sau này tôi mới biết là nhờ anh bưu tá xã giúp, chị vẫn liên lạc đều với con người mù chữ ấy bằng thư và chắc chắn ông chồng chưa cưới của chị đã nhờ ai đó đọc giúp ). Câu duy nhất ông nói với tôi sau khi tôi định chào ông để tìm nhà trọ, là :

“ Cậu về nhà tôi mà ở, trọ làm gì cho tốn tiền !”

Tôi ngạc nhiên bước vào căn hộ của ông. Ông bảo hàng tháng trời chỉ ăn một bữa, đêm ông làm bảo vệ, ngày ông khuân các thùng phuy lên thùng xe tải và làm bất kỳ việc gì. Ba năm trôi qua, mồ hôi chảy quanh năm suốt tháng, con người hộ pháp “ trời đánh không chết” ấy đã mua được căn hộ này đây. Một gian nhà cấp bốn nguyên trước là lán thi công của một công trường làm cầu.

“ Tôi sẽ đón chị cậu lên phố. Nhưng phải chờ bà trăm tuổi cái đã!”

Rồi ông réo một điếu thuốc lào, mắt mơ mộng, xa xăm

 

                                            Kim Giang 1998

                                                   N.Q.T

 

 

 

 

Comments