Cánh đồng mới gặt

 

Truyện ngắn của Nguyễn Quang Thân 

M

ênh mông những gốc rạ chạy đến chân trời và gió mùa đông bắc thỉnh thoảng lại ào đến qua truông Mưng, thổi thốc vào mặt mũi hai người. Họ nắm chặt cánh tay nhau, vì cánh đồng vắng, vì trời đã về chiều và thật  sung sướng khi được đi bên nhau thế này mà không sợ bọn trẻ con chạy theo hay giả vờ xua trâu để lấy cớ chạy theo mà reo hò như đi phá cỗ : “ Ê, Ê, anh Cu đi với chị cu...”, không phải đỏ mặt lên, không phải né người để khỏi chạm vào nhau ở ngoài đường, giữa thanh thiên bạch nhật.

Cách đây năm ngày, Luân về nhà, dắt cái dao rựa chặt cây lên vách, bảo mẹ : “U ơi, mai tôi gọi người bán bầy lợn!”. Mẹ Luân ngạc nhiên : “ Mày không đợi được đến ngày cưới vợ à ? Hay là mày thua bạc ?”  Luân nói :” Tôi cưới vợ! U bán bầy lợn lo cho tôi.”

Đám cưới tổ chức mới được năm ngày. Năm con lợn con, một con lợn tạ đổi thành đôi vòng tai vàng ròng và các thứ quần áo. Còn con lợn thịt mới vỗ chưa đầy tháng được vật ra, ăn uống lu bù nội ngoại. Cỗ không to, không nhiều món rắc rối nhưng ai muốn là sà vào ăn. Luân bảo mẹ : “ U không được ghi tiền mừng. Ai mừng thì nhận, bao nhiêu không cần biết. Ai không mừng thì thôi. Người ta không sẵn tiền, mình vật lợn ra là để làng ăn cho vui chứ không phải quán cơm”. Ý con trai là ý trời, từ ngày bố nó chết, hai mẹ con ở với nhau, Luân là ông Trời con của bà. Cũng may là tiền mừng vừa đủ mua đôi lợn giống và mấy bao ngô cho con nái sề đã lấy đực. Hai vợ chồng mới cưới dung dăng dung dẻ dắt tay nhau đi chào bà con trong họ. Lần đầu tiên trong làng mới có đôi anh chị bạo gan thế.  Bà mẹ Luân thì ngạc nhiên phân bua : “Nào tôi có biết nó lấy con Liên!” Liên là gái goá. Con bà lại trai tân. Rổ rá cạp lại mà đem đựng đũa ngọc cũng là chuyện thường, không phải ngày nay mà xưa cũng đâu có hiếm. Vậy mà đến lượt con trai, bà mới thấy xót thế nào ấy. Giá nó lấy được gái trinh thì  cũng mát mặt hơn. Nhưng cũng may cái Liên nó đẹp, nó goá chồng được mấy năm, không chịu lấy ai, đêm hát chèo nào của xã nó cũng đóng vai Thị Mầu. Vậy mà chẳng có tai tiếng trai gái gì. Thời này được thế cũng coi là gái ngoan.

Đúng ngày thứ năm sau ngày cưới, Liên bảo chồng :

“ Anh thu xếp lên Bình Dương một hôm.”

Bình dương là xã nằm phía thượng nguồn sông Phố, sát cửa rừng. Luân đi ngược ngàn thường qua đó ngủ một hôm ở nhà người quen để sáng tinh mơ vào rừng cho lợi việc. Cũng nhờ thế mà quen được Liên. Liên người làng Mỹ xá nhưng lấy chồng về Bình Dương năm nào Luân chẳng biết. Có lẽ dạo đó anh đi đào vàng. Cái thời anh không để ý đến ai, đến bất kỳ cái gì ngoài chuyện kiếm tiền. Mà phải thật nhiều tiền. Ngược ngàn lấy song, mây, chặt nứa đóng bè thả trôi sông Phố nếu không dính sốt rét thì còn để dành được chút ít. Nhưng dính là thua. Đi một chuyến về phải nằm mất nửa tháng, ăn trả bữa bằng ba bốn người, bán cả một bè nứa được bao nhiêu mà vớt vát nổi. Phải tìm cách khác thôi.

Nhưng đào vàng cũng chẳng ra tiền. Cũng không ai thoát khỏi trùng sốt rét. Luân về làng, thân tàn, ma dại. Mẹ Luân phục thuốc, phục ăn cho con mất nửa năm mà không lại hồn. Khỏe, Luân lại lên rừng. Trong toán đi bè có thằng San táo tợn, bất cần. Nó bảo : “Chặt một cây gỗ lim bằng cả một bè nứa. Sao không chặt ?” Nói là làm. Gỗ lim đâu còn nhiều. Chỉ còn loại bằng bắp chân, vừa vặn làm cột nhà cho mấy anh tham nhũng vặt ở xã học đòi ăn chơi kiểu địa chủ. Hai đứa lồng cây gỗ xuống dưới bè nứa. Nhưng giấu đầu hở đuôi, trông cái bè chẳng chở gì mà nặng nề khác thường. Qua trạm kiểm lâm, đã gần nửa đêm. Một ngọn đèn ngái ngủ vàng khè hắt qua hàng song cửa nứa tép. Thằng San cười ngất. Nó hô khẽ: “ Chèo nhanh lên mày ! Chúng nó đang ngủ.” Nhưng một hồi còi ré lên. San nhảy tùm xuống sông. Nó lặn mất. San là con rái cá, có lần nó lặn tay không mà bắt được một con chép hai cân trên sông Phố. Chỉ còn Luân với cái bè, run lập cập bước lên bờ. Tay kiểm lâm soi đèn pin vào mắt anh. Luân gạt phắt cái đèn rơi xuống sông : “ Để người ta lên, chiếu đèn cái đếch gì !” Thế là mất cả chuyến bè. Đêm ấy Luân bị nhốt trong bếp trạm kiểm lâm. Anh nghe tiếng đàn tiếng hát bên kia sông vọng tới mà buồn. Có ai hát dặm hay quá, da diết quá. Tay kiểm lâm nói : “ Cả trạm đi xem văn nghệ bên tê sông. Bây giờ ta đàm phán ngoại giao.” Luân hỏi : “ Ngoại giao thế nào?” Tay kiểm lâm đáp: “ Tao thả bè,  mày để lại tao cây gỗ.” Luân nói : “ Ông lấy gỗ bằng cách nào ?” Tay kia đáp : “Mày cho bè sang bãi, chỗ nông nông ấy, chặt giây thả cây lim. Sau đó tao làm thế nào mặc tao!” Luân nghĩ: mình lận rừng nửa tháng, nó thổi một hồi còi đòi cưa đôi. Chẳng thà nộp nhà nước! Anh vung tay. Tay kiểm lâm lùi lại, tránh được quả đấm nhưng lĩnh trọn một câu nói tục hết cỡ tục tĩu của dân đi bè. “ Mày phạm pháp, lại còn đòi đánh kiểm lâm. Tao phải trói mày lại”. Và gã trói Luân vào cột bếp.

Tiếng hát bên kia sông đã tắt. Có tiếng gọi đò. Tay kiểm lâm chèo chiếc tam bản sang đón người của trạm đi xem về. Lát sau sân trạm đã sáng ánh đèn, ánh đuốc. Một cô gái đứng giữa bọn, son phấn loè loẹt, rõ là cô vừa bước từ sân khấu ra nên đẹp và duyên sắc lạ lùng. Liên! Luân từ trong bếp gọi to tên cô gái làng lấy chồng xa. Không biết Liên thương lượng thế nào và có lẽ nể người đồng hương của cô mà Luân được trạm trưởng cởi trói. Cây gỗ lim bị tịch thu vào kho nhà nước, Luân được trả lại bè nứa. “ Khuya rồi, anh về nhà em ngủ, sáng mai hãy đi!” Đến nhà, Luân mới hay chồng Liên đã mất được hơn năm nay. Cô đang ở với mẹ chồng. Đêm đó cả ba không ngủ. Bà mẹ chồng nấu một nồi chè đỗ đen. Lần đầu tiên Luân để ý đến một người đàn bà. Anh thấy cuộc sống nghèo khổ, cục cằn của mình đang thay đổi khi ngồi bên bếp lửa, nồi chè sôi sùng sục và mùi đỗ đen váng vất bao quanh. Liên gột hết lớp son phấn bôi bằng phẩm đỏ, gội đầu rồi ngồi hong bên bếp. Cô nhờ Luân khều hộ đám than hồng trong bếp ra, nghiêng đầu rồi túm mớ tóc dài quay tít. Những giọt nước bắn ra xung quanh, bắn cả vào bếp nổ lách tách. Mùi bồ kết cháy gợi một cuộc sống an bài, ổn định và ấm áp. Sau hôm đó Luân thôi không ngược ngàn. Anh lên mấy khu rừng gần Bình Dương lấy mật ong định gom tiền mua lợn giống. Một hôm, ghé quà nhà Liên nhưng cô đi vắng, anh nói với bà mẹ chồng : “ Bu ơi, nếu con yêu Liên thì bu có giận con không ?” Anh hồi hộp nhìn bà già hễ mỗi lần nhắc tới con trai là lấy vạt áo chấm nước mắt, tưởng như mình đang mang đến một tai vạ đến cho ngôi nhà vốn đã neo đơn, hiu quạnh này. Bà già im lặng một lúc. Rồi bà nói : “ Anh tưởng bu không biết gì hết à ? Nếu anh không chê nó là gái nạ dòng thì bu mừng cho nó lắm!”

Cánh đồng vẫn không dứt, nuốt dần con đường sống trâu quanh núi Mít, nghe nói ngày xưa trên núi có nhiều mít, nhưng đó là chuyện ngày xưa, bây giờ chỉ lác đác những cây chuối rừng và lũ gai bốm. Sim, mua mọc giữa khe đá, hoa sim tím trải từng vạt, thỉnh thoảng nhô lên mấy cái vai đá đen đen.

“Nhanh chân lên không thì hết đò!” Liên giục chồng.

Họ còn phải qua sông, đi qua một quãng đồng nữa mới đến nhà. Chiếc túi cói trong tay Luân cựa quậy. Một con gà trống ngển cổ lên gáy te te. Luân nói :

“ Đến nơi là mình phải cắt tiết con gà ngay không thì cụ lại tiếc!”

“Phải đấy! Không hiểu sao nhà bà không gây được gà trống, hễ con nào gáy được là cáo lại bắt mất !”

Luân cười :

“ Tại nó đi kiếm ăn xa quá đấy mà!”

Anh nói vẻ nhuần nhị. Thực ra anh định nói những con gà trống đi tìm mái quá xa nên bị cáo vồ nhưng anh kịp chữa lại. Người làng cũng bảo từ ngày có Liên anh chàng ngược ngàn ngỗ ngược nhuần nhị ra nhiều lắm.

Đến bờ sông trời đã tối. Hòn đá tảng trên bến đò nổi lên như lưng trâu. Sông Phố chảy và reo đầu vực khi dòng nước gặp những ghềnh đá nhô ra. Không còn đò ngang. Ông già Kháng đã chèo đò về nhà cách bến hơn cây số, phía dưới vực, mỗi buổi sáng ông phải mất bao mồ hôi mới đưa được đò lên bến. Có một dạo ông đã làm ở đầu bến một cái nhà tạm trú đêm nhưng bom Mỹ phá tan mất.

“ Để em gọi ông Thường” - Liên nói.

Thường là trạm trưởng kiểm lâm. Sau đêm bị giữ ở trạm, Luân có ghé qua nhiều lần. Anh biết Thường mê Liên, xem cung cách ông ấy cứ tìm mọi cách nhắc tới vai thị Mầu trên sân khấu các làng và cuối cùng phán rằng chẳng có cô nào đóng vai này mà sánh được với Liên, Luân cho là mình nói không sai. Ông ấy nhìn cóc cáy, lập cà lập cập, nhưng có vẻ dễ tính và tốt bụng. “Ba mươi năm ở cái trạm này tôi chỉ tha bọn trộm gỗ một lần là cậu đấy!” Luân biết ông tha anh, trả anh cái bè nứa là vì Liên. Và mỗi lần nghĩ tới chuyện đó Luân lại thấy hối tiếc. Giá hôm đó mình bỏ luôn cái bè thì bây giờ chẳng có gì phải lấn cấn nữa. Trong đêm tân hôn, anh vồ vập người vợ mới như hùm sói, nhưng giữa chừng anh sững lại, như con hổ buông mồi xuống đất. “Sao thế này ? - Liên hỏi - anh lại nghĩ vớ vẩn rồi phải không ?” Chắc là Liên tưởng anh nghĩ tới anh chồng cũ. Luân không nói gì, anh thấy đời chẳng bao giờ gỡ được hết khúc mắc.

“ Thì  em thử gọi xem !”

Thường chở đò sang. Sông Phố hẹp tầy gang tay, vài cái đẩy sào là tới. Đôi vai ông trạm trưởng hơi gù, trông ông càng già, càng tội nghiệp hơn. Khi ghé thuyền vào chỗ đất lở cho hai người bước lên, ông đưa mắt nhìn xéo cô Thị Mầu đã từng làm ông bồn chồn nhiều lần trong nhiều năm nay. Một tiếng thở dài nuối tiếc cố nén lại mà không kịp. Liên nắm tay sào, bàn tay cô chạm vào tay người trạm trưởng trong đêm. Chị biết bóng tối che chở, a tòng nên khi ông nắm nhẹ vào tay mình, chị không rút lại. Có lẽ Luân không nhìn thấy, mà anh ấy có nhìn thấy cũng không sao. Suốt đời chị có bao nhiêu người theo đuổi, say mê nhưng chẳng có ai làm Liên cảm động, kể cả ông trạm trưởng, người tử tế nhất trong bọn,. Chị thương ông ta, nhưng chị không cảm động. Điều đó rất khác với đêm hôm ấy khi chị nghe từ trong bóng tối của cái bếp ụp sụp một tiếng kêu tên mình với tất cả hy vọng muốn chị đỡ đần, cứu giúp. Chị yêu Luân như một người chị, một người mẹ với con trai, một con nghé non chưa được vực, được dạy để chống chọi với đời.

Ông Thường cột chiếc tam bản vào cái cọc tre chôn sẵn, nói :

 “ Hai vợ chồng vào đây, tôi bảo cái này”.

Hai người bước vào. Người kiểm lâm hôm trước trói Luân vào cột đang ngồi vót nan đan cụp bắt cá. Đó là nghề kiếm thức ăn cho cái trạm xa chợ, xa phố và heo hút này. Anh ta đã làm lành với Luân từ lâu nhưng vẫn đỏ mặt vì không ngờ có Liên cùng đến. Ông Thường đưa cho Luân cái phong bì, nói :

“ Hôm trước bận đi họp không đến ăn cưới được. Xin mừng đây!”

 Liên nói :

“ Bọn em cũng có lỗi, không mời anh”.

Ông Thường cười buồn :

“ Không được mời nhưng cũng biết. Mà đã biết là phải đi. Tiếc quá, lại họp”.

Không ngờ món quà mừng đột ngột lại làm không khí lặng đi. Luân thấy ngượng và hối nữa. Hôm đó thiếp mời ông Thường đã viết rồi, nhưng anh không cho Liên gửi. Ông Thường thì sợ hai người biết mình đang nói dối. Thực ra hôm ấy ông nằm một mình trong trạm và khóc. Ông biết thế là không bao giờ có dịp được xem cô Thị Mầu nhặt táo rụng sân chùa nữa. Ông không có ý định gì với Liên. Ông goá, ông tự do. Nhưng ông biết mình đã quá già. Đối với ông Liên chỉ là cô Thị Mầu đầy sức sống, rực rỡ, đôi mắt cô, tà áo lụa ba màu của cô đã đưa lại cho cuộc sống nơi hẻo lánh núi non trùng điệp này, nơi cái trạm kiểm lâm của ông như cái tổ chim gắn vào vách đá cheo leo những giây phút hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc có mất đi đâu. Hạnh phúc đã chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, từ người này sang người khác. Ông lau nước mắt, ngồi dậy, cúi tấm lưng hơi gù nhưng đa cảm nắn nót cái phong bì mừng cưới. Và hôm nay ông đưa một cách thanh thản.

Con Mực đã nhận ra họ từ xa, có lẽ từ lúc họ đang đi giữa cánh đồng.

“Liệu đêm nay bà có cho mình ngủ chung không ?” Luân hỏi khi anh nghe tiếng chó sủa.

Liên bẹo má chồng :

“ Lại thế nữa, mấy hôm nay chưa chán ư ?” 

“ Bao giờ có thằng cu mới chán.” Luân đáp, anh liếc xéo lùm cây bên đường, rạo rực.

Đây là cây lim duy nhất còn sót lại trong vùng. Dưới cây lim là ô rô và dứa dại. Một lần nhân trong làng có hát bội, bọn trộm gỗ mang ô tô và cưa máy đến đẵn cây lim nhưng xẹt xẹt vài cái đã gãy mất lưỡi cưa. Vết cưa vẫn còn. Có người  bảo nó đã sống hai ngàn năm, gỗ cứng hơn thép.

Liên nhìn được trong bóng tối cái liếc xéo của chồng. Chị chập chờn trong cảm giác thèm muốn hoang dại. Năm ngày vừa qua chưa phải cả cuộc đời nhưng là năm ngày hạnh phúc, nhiều lúc chị tưởng đang sống trong mơ. Với người chồng trước, chị không được hưởng những ngày sau khi cưới như thế. Anh ấy yêu chị như một người cha, một người anh quyền thế, nhiều khi đến thô bạo. Còn hôm nay chị được yêu như chồng chị là một đứa em đang trả ơn vì được che chở, bao dung và bày vẽ anh ấy mọi điều. Bày vẽ cả trong “ chuyện ấy”. Luân đã bén hơi chị, một tấc không muốn rời. Thế này mãi thì khéo chết đói mất.

“ Chắc gì bà đã cho ngủ chung. Bà kiêng.” Luân nói vẻ tội nghiệp, mắt vẫn không rời lùm cây.

Họ ra khỏi lùm cây khi trời đã khuya. Con Mực chạy ra cổng đón họ rồi lại te tái chạy vào như để đánh thức bà mẹ.

“ Cả ngày nay mẹ cứ máy mắt. Chắc là chỉ có bọn bay về.”

Bà già mở cánh cửa gỗ. Liên nhìn thấy trên bàn một đĩa xôi và một con gà giò vắt vẻo qua.

“ Mẹ cũng định về dự cưới rồi ông bà thông gia một thể. Nhưng mới gặt xong, lưng với đầu gối ê ẩm như dần. Mẹ gửi quà mừng con đây.”

Bà đưa Liên một cái gói nhỏ như mấy viên thuốc. Liên lọng cọng vì tay đang run, mở ra. Một đôi bông Tàu cổ, có hai hạt vàng to bằng quả mùng tơi lúc lắc.

“ Đôi bông này là hồi cưới bà nội thằng Thế cho mẹ. Hồi đó nhà cũng khá lắm. Con thử đeo vào đi.”

Bà ngước nhìn cô con dâu từ nay không còn là dâu của bà nữa. Chợt bà thấy lủng lẳng dưới đôi tai là hai cái vòng mảnh bằng vàng, một đôi vòng khuyên tân thời.

“ Để con tháo nó ra. - Liên nói và tháo ngay - Con đeo đôi bông này”

Bà mẹ chồng nhìn cô con dâu. Bà bỗng nhớ lại ngày đó, đã mấy chục năm mà cứ tưởng như là hôm qua. Một đoàn rồng rắn đi qua mấylàng, bà đi ở giữa, trong sự bao bọc của họ hàng. Những cái nón quai thao, áo lụa ba màu, năm màu. Và những chiếc máy bay Pháp, chao ơi, nó xẹt qua đám cưới, ai cũng tưởng như nó rình thả bom đám cưới vậy. Bây giờ thì tất cả đã qua rồi, ngôi nhà mênh mông này chỉ còn mỗi mình bà và cuộc đời son trẻ của bà đang hiện ra trong hạnh phúc mà thấy qua đôi mắt cô con dâu.

“Ăn đi các con, bà mẹ nói, đi từ bên ấy sang thì cũng đói rồi!”

“ Sao mẹ chắc chúng con sang mà nấu xôi ?”

“ Thì  mẹ đã bảo máy mắt suốt ngày, lại chim khách kêu rồi chuột chù rít thâu đêm nữa.”

“ Để con thắp hương chồng con đã “

Liên đốt hương, bảo chồng :

“ Anh vào vái anh ấy đi !”

Như là một lời bảo ban và Luân bước đến cạnh vợ.

 

                                                            Kim Giang  1977

 

                                                                    N.Q.T

 

Comments