Bài giới thiệu tiểu thuyết GIA ĐÌNH BÉ MỌN của Wayne Karlin


HOME


  
       

Tác phẩm của 

NHÂN VẬT ĐI CÙNG SỐ PHẬN ĐẤT NƯỚC

Wayne Karlin ( nhà văn Mỹ)

 

Wayne Karlin sinh năm 1945 tại 
New York trong một gia đình Ba Lan gốc Do Thái sang Mỹ lánh nạn phát xít. Ông là tác giả của nhiều tiểu thuyết như Những đội quân biến mất, Đường cắt, Cho chúng ta, Vai phụ... Năm 2003 tiểu thuyết lịch sử Xứ sở ao ước (The Wished-for Country) của ông đoạt giải thưởng 20.000 USD của Hội đồng Nghệ thuật Quốc gia Mỹ.

Đã nhiều lần đến Việt Nam, kể từ những năm chiến tranh, Wayne Karlin là người am hiểu văn học VN và đã tham gia dịch, hiệu đính nhiều tác phẩm văn học VN, gần đây nhất ông là đồng chủ biên tuyển tập truyện ngắn VN xuất bản ở Mỹ Love after War. Ông hiện là giáo sư văn học Đại học Maryland. Lời giới thiệu tiểu thuyết Gia Đình Bé Mọn ( An insignificant family) của D Ngân được viết cho lần xuất bản bản đầu tiên tiếng Anh ( do Rosemary Nguyen dịch) của cuốn tiểu thuyết này  ở Mỹ năm 2009.

             

Tiểu thuyết Một Gia Đình Bé Mọn, cuốn sách lần theo cuộc đời của Lê Thị Mỹ Tiệp, người đàn bà từng có một thời con gái là nữ du kích góp phần vào cuộc chiến tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và một xã hội lý tưởng, đến tuổi trưởng thành, lại đấu tranh cho giải phóng con người và tình yêu cá nhân. Hành trình của cái “gia đình bé mọn” của Tiệp trùng hợp với hành trình của đất nước nàng từ đoạn chót của cuộc chiến Việt – Mỹ đến thế kỷ 21, từ ngày đầu cuộc giải phóng và tái thống nhất đất nước ( ít nhất cũng cho bên chiến thắng) đến sự vỡ mộng và suy thoái do những chính sách hậu chiến có tác dụng khuyến khích tham nhũng, sự làm ăn kém hiệu quả, tiếp tục lòng hận thù giữa kẻ thua người thắng và cuối cùng là đến tận thời Đổi Mới, thời kỳ được cho là đất nước đang hướng tới sửa chữa nhiều sai lầm trong quá khứ - khi thành công khi không nhưng luôn luôn phải đối mặt với những phức tạp mới. 

Trong khi câu chuyện của Tiệp xẩy ra giữa và có thể tương ứng cho ba thời kỳ này – giải phóng, suy thoái, và đổi mới – bản thân Tiệp không bao giờ chỉ là vai trò tượng trưng: Dạ Ngân đã sáng tạo ra một cá nhân hiện thực đầy đặn, một sự đối lập của kiểu nhân vật thuần túy mang lý tưởng cách mạng rất có giá trong chiến tranh và sau chiến tranh và trước thời kỳ đổi mới, trong văn học Việt Nam cũng như trong tư tưởng Khổng giáo với người phụ nữ tam tòng tứ đức. Tác giả đã làm chúng ta nhận thức được cuộc đấu tranh là có tính cá nhân như thế nào khi bà xây dựng nhân vật Tiệp là một nhà văn, và một vài nhân vật khác như vậy nữa – không giống chút nào với những phần còn lại của cái gia đình quy ước của nàng – những nhân vật mà chân trời và ý nghĩa của sự lựa chọn đã rộng mở, được phơi bày ra trong văn chương của bà:
“Quả tình, giữa nàng và những người thân là hai thế giới, phía kia không có Tầng đầu địa ngục, không có Sông Đông êm đềm, không có Người Tình, không có cả Rôbinxơn và Những người khốn khổ còn nàng thì lúc nào cũng sách vở bút mực, xê dịch và ham muốn. Những lúc như lúc nầy Tiệp thấy công việc viết lách của mình thật dị thường, những suy nghiệm của mình thật phù phiếm, những việc khiến mình đau khổ hoặc khát thèm thật vô bổ. Những người đàn bà rất biết tận dụng sự chi phối ấy chỉ quan tâm đến tôn ti và trật tự, đến công dung và ngôn hạnh cổ truyền, đến yên ổn và sung túc, ai là cán bộ thì phải làm rạng danh thân tộc bằng cương vị ngày một cao hơn, ai là nông dân thì phải chăm chỉ và giỏi nhang đèn. Những bài báo của nàng còn có thể hiểu được, thứ văn chương mà nàng lọm cọm hằng đêm kia thì thật đáng hoài nghi vì nó không có hình thù, không có quyền lợi, suy ra nó hư vô và không quan trọng.”     

Tiệp, luôn là một nhà cách mạng và luôn là một độc giả, từ chối nhìn thế giới qua cái lăng kính của truyền thống hay ý thức hệ. Chẳng hạn, có một thời kỳ khi mọi người bị cấm nói điều tốt cho những người Việt Nam từng ở phía bên kia cuộc chiến, và mặc dầu bản thân nàng cũng từng chiến đấu chống lại họ, nàng vẫn ngưỡng mộ lòng chung thủy và tính cách mạnh mẽ của người vợ và con gái của một cựu đại tá Nam Việt Nam không còn nhà ở và nghèo đói đến tận cùng vì đã từng dính líu đến phía thất trận, hơn cả những con người máy và đạo đức giả cùng cơ quan. Bằng cách này hay những cách khác, cuốn tiểu thuyết dựng lên hai hoàn cảnh xã hội – nơi lằn chia cắt đất nước vẫn còn giữ lại một thời gian sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975 – và sự mạnh mẽ của tính cách nhân vật Tiệp.

Gia đình nội ngoại của Tiệp, những người miền Nam bắt nguồn từ vùng châu thổ sông Mekong đều có truyền thống nho giáo và cách mạng. Sau khi cha nàng chết trong lao tù của chính quyền Nam Việt Nam trong chiến tranh, nàng và tất cả anh chị em bắt mối với những người được gọi là Việt Cộng, những du kích của Mặt trận giải phóng miền Nam đang chiến đấu chống lại chính phủ và người Mỹ, cuộc chiến chính nàng cũng tham gia từ năm 16 tuổi. Khi gặp Tuyên lần đầu tiên, người đàn ông sau này thành chồng nàng, anh ta cũng là một chiến sĩ Mặt Trận, thì mối quan hệ của họ càng khăng khít hơn và thực ra – như sau này nàng kể lại – phải chăng cũng vì chiến tranh  mỗi ngày càng ác liệt:

“nàng rụt sâu xuống hơn trong cái công sự với người thanh niên có thể chết cùng với mình bởi một quả pháo chụp pháo đào hay pháo trộn gì đó. Dàn đồng ca của súng đạn, đô la và giàu có chừng như bất tận, không mệt mỏi, như chúng muốn băm vằm cái ngã ba và cái cây trâm bầu trên đầu họ ra. Tai Tiệp ù đặc, mắt nàng long lanh cảm thán vì Tuyên đã nắm được tóc nàng kéo lên đúng lúc và đã ấn nàng xuống cái công sự như cái lỗ huyệt nầy. Nàng cười sằng sặc rồi nàng mếu máo khóc, bỗng nàng nín bặt vì nghe thấy có hai bàn tay đang áp vào, hàng nút áo bung ra tự bao giờ, hai trái ngực nàng đang săn lên run rẩy bởi đôi bàn tay ngốn ngấu trong thứ nước màu sữa đục, lạ quá, cảm giác được mơn trớn mà cũng được dày vò nâng lên hạ xuống trong mặt nước có mùi âm phủ, lạ quá. Hình như anh ta có hào hển rằng đã có ý với nàng từ lâu, ngay hồi mới đầu quân về cơ quan, đã chấm nàng và mơ được cưới nàng làm vợ... Không gian bỗng lịm đi, tai hoạ đã qua thật, nàng tót lên miệng công sự chống tay lên mép đất ngồi thở. Mùi của đất đai cây cỏ bị huỷ diệt, mùi môi của người thanh niên vừa khám phá được phân nửa nàng dưới công sự, mùi của thân xác lần đầu nghe thấy nó cồn từ bên trong ra, cấp rấp, kêu gào sống sót rồi, phơi bày rồi, tận hưởng đi buông xuôi đi. Tuyên dựng nàng đứng lên: “Giờ phải đi coi chiếc xuồng rồi kiếm chỗ, tụi nó cho pháo dọn bãi, thế nào hồi nữa cũng có đổ quân nhảy giò!” Thế là có ân tình, có kỷ niệm sống chết và có cả chữ tín trong sự trao gửi tiết trinh...”

Ở chỗ này Dạ Ngân trở thành một trong số ít nhà văn hiện đại Việt Nam phơi bày một cách trực tiếp sợi tóc mong manh giữa cái chết và tình dục phát lộ ra trong thời chiến và cũng có ý ám chỉ sự mù lòa đầy quyến rũ của bản thân chiến tranh. Người tình đậm đà, đầy dũng cảm chiến trận trở thành tay quan liêu tự mãn, cuồng tín và một người cha người chồng bàng quan trong những năm hòa bình sau chiến thắng, “ mẫn cán, cần cù và hoàn toàn đáng thương hại”. Chủ nghĩa lý tưởng nồng nhiệt xã thân cho đại nghĩa và sự gần kề cái chết đã từng làm họ yêu nhau, làm tình với nhau lần đầu trong nỗi kích động mạnh mẽ đã không sống sót nổi trước áp lực của cuộc sống trong hòa bình và Dạ Ngân dùng cuộc sống tình dục của Tiệp như là của đánh cược cho nỗi thất vọng đó:  

Sau đó, cái ngày có giặc đổ quân lò cò bằng trực thăng đó, những cái hôn đầu ma lực không sao ngờ nổi và thân xác cũng lần đầu tham dự, sau đó thì lúc nào Tuyên cũng dư thừa điều kiện vì hai người chung một mái nhà chòi Cứ, chung một chiếc xuồng, chung chết chóc, chung từng ngày sống và cái chính là chung sự đòi hỏi trai gái khi cái chết và sự sống được tính bằng ngày và bằng giờ. Đời sống tình dục bí ẩn bỗng trở nên nhàm chán sau khi có Vĩnh Chuyên, nỗi thất vọng về tính cách và tâm hồn, và cả trữ lượng nhân tính ít ỏi của chồng khiến nàng mặc cho Tuyên cư xử một cách đại khái với mình…”

Trong khi nhiều nhà văn Việt Nam, từ Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều và vào thế kỷ 18, nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương đã đi trước dùng tình dục để thám hiểm tính cách và tập tục xã hội (và ngược lại), chuyện mô tả tình dục một cách trực tiếp của Tiệp là hiếm hoi, ít nhất cũng trong những tác phẩm văn học Việt Nam đã được dịch ra tiếng Anh mà chúng ta có dịp đọc. Tiệp đã không thỏa mãn với Tuyên và cô ấy đi tìm một tình yêu lý tưởng, xúc động và đầy cảm hứng hơn, tự buộc vào những chuyện rắc rối tệ hại, thậm chí lâm vào những thách thức còn tồi tệ hơn nhiều khi muốn làm lành với chồng, và cuối cùng thì hai mươi năm lịch sử truyền kỳ, khi Tiệp và Đính, ông chồng nhà văn xứ Bắc mà nàng đã yêu, người có hoàn cảnh li hôn phức tạp, nào con cái, công việc, và cảnh tái hôn, cái vũ trụ nhỏ gọi là gia đình “bé mọn”, thực ra đó là ánh xạ của cuộc đấu tranh của chính đất nước. Trong khi phải đối mặt với một Việt Nam sau cảnh hoang tàn chiến tranh nặng nề, cảm nhận thất vọng của Tiệp khi thấy những chiến sĩ từng đánh giặc rất hiệu quả, thì lại kém cỏi tạo dựng một xã hội mà con người có thể sống được, cảm nhận ấy lan toả khắp nơi và bi đát. Gia Đình Bé Mọn tràn ngập mô tả sinh động những pha nhỏ nhặt chuyện tham nhũng, đạo đức giả và ăn trên ngồi trốc, sự nghèo đói tột cùng và cảnh xếp hàng vô tận để có chút hàng hóa và thực phẩm sau chiến tranh:                    

Tiệp hỏi Đính: “Nếu anh làm công trình xã hội học về Hà Nội thời kỳ nầy thì anh đắc ý những hình ảnh nào nhất?” Đính trầm ngâm chép miệng, dấu hiệu bắt đầu cái giọng “giấm ớt” quen thuộc: “Công trình ấy nhất thiết phải có minh hoạ. Anh sẽ vẽ một dãy loằn ngoằn những gạch vỡ, nón mê, làn cũ, chỗi cùn, dép sứt, can nhựa hỏng, áo rách... đó là những vật hình rất hay được dùng để thay thế con người trong dãy xếp hàng ở chỗ người ta qui định cho đám đông, anh nghĩ nếu đứng riêng trong một cái phông thật tĩnh thì cái dãy ấy rất sinh động, chúng có thân phận, có dấu ấn, có ước vọng, có linh hồn, chúng có diện mạo của những người như anh, như em gái anh, như bạn bè, như các con anh sau nầy. Em chưa bao giờ được ngắm một dãy xếp hàng ngộ nghĩnh như vậy, nhỉ, trong Nam của em dễ chịu hơn nhiều, nhỉ?”        

Tiệp đấu tranh để được sống với người mình yêu, vật lộn để xác định rõ tình yêu của mình cũng như khuôn dạng con người nàng cần phải có trong đời, thì nước Việt Nam của nàng cũng phải đấu tranh để khẳng định bản thân mình và tương lai mà nó muốn đạt tới như thế. Tiệp phạm sai lầm, học hỏi để lớn lên, bị biến đổi như thế nào thì đất nước của nàng cũng vậy. Nếu đến thăm thủ đô Việt Nam hôm nay, thăm đường phố với san sát cửa hàng, những khách sạn và quán cà phê tràn ngập cùng với những con người kiên nghị và một tinh thần năng động có mặt ở khắp nơi, ai còn tưởng tượng được cái nghèo triền miên và cảnh đói khát của những năm bảy mươi, hơn nữa có thể tưởng tượng là những quả bom đã từng được rải xuống chính những đường phố này trong những năm chiến tranh. Vẫn còn đói nghèo và bất cập cùng tất cả những vấn đề mới mẻ đồng hành một cách căng thẳng giữa hiện đại và truyền thống trong bước ban đầu của toàn cầu hóa. Thế nhưng cũng đã có những biến đổi hầu như kỳ diệu. Cuốn tiểu thuyết đến với chúng ta năm 2005, với Tiệp và Đính, với đất nước của họ, vẫn còn nhức nhối bao vấn đề chưa có lối thoát, vẫn còn cuộc vật lộn để tự khẳng định mình, nhưng thời chiến tranh đã đi xa và sự hoang tàn cũng đã đi theo nó. Cũng như bản thân Hà Nội, đang cuộn lên với những đợt sóng ngầm của một thời đại mới: rào cản được hạ xuống, ý tưởng dám nghĩ dám làm được khởi sắc, những ý kiến được nói to, giây trói được cởi bỏ, hy vọng đang ló dạng…”            

(Nguyễn Quang Thân chuyển ngữ)

Comments