PNvaGD4

Văn Hiến Vĩnh


Nhân vật   Du lịch   Giai tri  giadinh  Banbe  Cac loai anh Nghiencuu

  Van Hien Vinh Website

          HÔN NHÂN VÀ TÌNH YÊU

              Không ít bạn gái phân vân trước ngưỡng cửa hôn nhân khi phải lựa chọn "nên lấy người mình yêu hay lấy người yêu mình?". Hoặc cũng có thể tình yêu bị xem là yếu tố thừa khi người kia có những điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho mình một cuộc sống sung túc, giàu sang khiến họ nhắm mắt lựa chọn.

Các bạn gái ấy quên rằng không chỉ những người lịch lãm, trải nghiệm, các nhà tâm lý học và cả luật Hôn nhân Gia đình cũng công nhận rằng: "Hôn nhân phải đặt trên nền tảng tình yêu tự nguyện giữa người nam và người nữ".

Tại sao hôn nhân phải có tình yêu? Bởi hôn nhân là cơ chế đặc biệt, đó không chỉ là một "hợp đồng" khi hai bên thỏa thuận được những điều kiện cần và đủ cho nhau mà chính sự hòa hợp về nhiều mặt của hai con người, hai trái tim. Chỉ có tình yêu mới làm được điều đó mà không mối quan hệ nào có được.

Ngoài việc họ có chung những lo toan, chung vui sướng họ còn chung nhiều thứ khác như tài sản, chăn gối, con cái, tương lai, những buồn vui của người này cũng là của người kia. Họ có thể hy sinh cho nhau nhiều thứ mà chẳng hề thấy mất mát, trái lại càng được nhận nhiều hơn.

Mục đích chân chính của hôn nhân là mang lại hạnh phúc cho con người, đó là trạng thái hân hoan, vui sướng, bình yên, tin cậy, bay bổng khi được sống với người mình yêu và yêu mình.

Hôn nhân hạnh phúc có lợi gì?

Tất cả những nghiên cứu khoa học đều chứng minh rằng hôn nhân hạnh phúc mang lại những lợi ích to lớn không gì so sánh được. Vợ chồng thương yêu, hòa thuận luôn có lợi trong việc phát triển kinh tế gia đình: "Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn". Họ có sức đề kháng tốt hơn, ít bệnh tật và có tuổi thọ cao hơn, trẻ lâu hơn.

Những đứa trẻ sinh ra trong những gia đình hạnh phúc không chỉ có một tuổi thơ êm đẹp mà chúng được phát triển cân bằng về nhiều mặt và cũng dễ tìm được thành công trong cuộc sống riêng. Gia đình hạnh phúc là sức đề kháng với những tệ nạn, là động lực phát triển xã hội.

Tình yêu có đến sau hôn nhân?

Chuyện gì cũng có thể xảy ra, nhưng hy vọng tình yêu đến sau hôn nhân giống như người không mang theo tiền vào một nhà giàu ăn uống ngon lành rồi hy vọng có người đến trả tiền hộ.

Dù giàu sang, thành đạt đến đâu nhưng phải sống trong một cuộc hôn nhân không tình yêu thì đó vẫn là một cuộc sống nhạt nhẽo, buồn bã và ẩn chứa nhiều nguy cơ lẫn bi kịch. 

Từ những phân tích và dẫn giải nêu trên, chúng ta thấy hôn nhân phải trên cơ sở tình yêu chân chính. Những cô gái vội vã có chồng nước ngoài do mai mối hoặc qua 1, 2 lần gặp, ngôn ngữ không hiểu nhau, thì có thể khẳng định đó là cuộc hôn nhân không tình yêu, nếu không muốn nói là gã bán hoặc vì tiền, hoặc vì một nghịch cảnh éo le nào đó. Mong các cô và gia đình hãy xem xét và suy nghĩ kỹ lưỡng trước ngưỡng cửa hôn nhân, đặc biệt là hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

 

               Làm thế nào để giảm thiểu rủi ro trong hôn nhân

                                                        có yếu tố  nước ngoài?

  

Truyền thông đại chúng và sự điều chỉnh dư luận xã hội

                Dư luận xã hội qua các phương tiện truyền thông đại chúng  không chỉ phản ánh thực trạng đời sống hôn nhân có yếu tố nước ngoài, mà còn cho thấy quy trình của việc tuyển chọn “cô  dâu”. Bên cạnh đó, điểm nổi bật qua các bài viết trên phương tiện truyền thông đại chúng đã cho thấy sự biến đổi về quan niệm, về giá trị hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Cộng đồng, xã hội không còn cái nhìn phán xét nghiêm ngặt như trước, trong khi lên án những hành vi môi giới mà thực chất là buôn bán phụ nữ, thì có sự khoan dung hơn với các em gái lấy chồng xứ người.

                Không chỉ dư luận xã hội trong nước mà dư luận xã hội ở nước ngoài cũng không tán đồng với những bài viết xúc phạm nhân phẩm các cô dâu Việt Nam lấy chồng nước ngoài (trường hợp bài viết trên báo Chosun vừa qua đã cho thấy điều đó).

Điều quan trọng hơn, qua dự luận xã hội, đã tác động đến các nhà lập pháp, những người xây dựng chính sách, để điều chỉnh pháp luật cho phù hợp với hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay. Bởi lẽ, các văn bản pháp lý hiện nay về hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã cho thấy có những bất cập so với thực tiễn.

Về vấn đề này, một lãnh đạo của bộ Tư pháp cho rằng “Bộ Tư pháp sẽ phải sửa đổi luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Theo đó, sẽ có những quy định riêng về các điều kiện kết hôn với người nước ngoài. Cụ thể, phải có đủ một số điều kiện (không quá chênh lệch về tuổi tác, có hiểu biết lẫn nhau) và mục đích hôn nhân phải tự nguyện, tiến bộ. Ngoài điều kiện kết hôn, thủ tục kết hôn hiện hành với người nước ngoài cũng cần được sửa đổi. Theo đó, sẽ bắt buộc bên nam bên nữ phải có mặt khi đăng ký kết hôn tại Việt Nam.”

               Năm 2005, quan điểm của các nhà làm luật về việc sửa đổi NĐ 68 trong lĩnh vực kết hôn có yếu tố nước ngoài cho thấy động thái điều chỉnh văn bản luật pháp trước thực tế hiện này “Hiện nay Bộ Tư pháp đang hoàn tất sửa đổi NĐ 68, quy định trong hồ sơ đăng ký kết hôn, hai bên vợ chồng phải có chứng chỉ chung (hoặc tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng Trung) và xác nhận của chính quyền địa phương về thời gian (tối thiểu) mà hai bên đã tìm hiểu nhau (ví dụ bắt buộc là 3 tháng). Thứ hai, bắt buộc hai bên phải trực tiếp nộp hồ sơ tại Sở tư pháp địa phương chứ không được uỷ quyền cho người môi giới. Thứ ba, trong hồ sơ kết hôn phải có biên bản phỏng vấn và cán bộ tư pháp được giao phỏng vấn phải chịu trách nhiệm nếu các “đương sự” có vấn đề”.

             Điều đó đã thành hiện thực, ngày 21 tháng 7 năm 2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2006/NĐ – CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10-7-2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài của Luật Hôn nhân và gia đình. Theo đó:

“...Sở Tư pháp có trách nhiệm thực hiện phỏng vấn trực tiếp tại trụ sở  Sở Tư pháp đối với hai bên nam, nữ để kiểm tra, làm rõ về sự tự nguyện kết hôn của họ, khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và mức độ hiểu biết về hoàn cảnh của nhau.

           Việc đăng ký kết hôn cũng bị từ chối, nếu kết quả phỏng vấn, thẩm định, xác minh cho thấy việc kết hôn thông qua môi giới bất hợp pháp; kết hôn giả tạo không nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững; kết hôn không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc; lợi dụng việc kết hôn để mua bán phụ nữ, xâm hại tình dục với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác” (Báo Hà nội mới, ngày 26.7.2006)

                 Đương nhiên, nếu chỉ có Luật pháp của Việt Nam sửa đổi thì chưa hẳn đã có hiệu quả cao, nếu như các nước liên quan đến hôn nhân có yếu tố nước ngoài không có những thay đổi về quy định, luật pháp. Sẽ rất tốt nếu như các nước trong khu vực cũng có quan điểm như HQ về vấn đề này, như thông báo của đại sứ HQ tại Việt Nam, về kết quả làm việc của tổng thống HQ với các cơ quan chức năng nước này “theo đó, HQ sẽ xây dựng một hệ thống tổng quát hỗ trợ phụ nữ nước ngoài đã kết hôn và di cư đến HQ, giúp họ sớm ổn định cuộc sống

        Tăng cường  vai trò, trách nhiệm  của các đoàn thể, tổ chức xã hội

          Vấn đề kết hôn với người nước ngoài đã có từ lâu, và thực sự rầm rộ trong khoảng mươi năm trở lại đây. Tuy nhiên, từ phía cộng đồng, xã hội chưa thật sự quan tâm và các đoàn thể dường như cũng bỏ qua, không thấy có vai trò và trách nhiệm trong chuyện này. Ngay cả Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, là tổ chức chính trị xã hội của Phụ nữ mà cũng chưa thật quan tâm đến số phận các thành viên của Hội kết hôn với người nước ngoài. Có thể thấy điều này trong thư của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi Chủ tịch Hội LHPNVN Hà Thị Khiết:

            Tôi đã nhiều lần có thư nhắc nhở, kêu cứu đến các cơ quan chức năng, các địa phương có nhiều chị em làm dâu xứ người. Cả một hệ thống chính trị của Đảng từ trung ương đến các địa phương không thấy có định hướng, tác động gì, cứ để mạnh ai nấy làm một cách tự phát”. Chúng ta cần phải đi tìm lời giải cho câu hỏi của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt “Ai có trách nhiệm phải giữ gìn truyền thống của phụ nữ Việt Nam và ai là người có trách nhiệm trước nỗi nhục này, có khả năng làm giảm nỗi đau này chăng?”. Nhưng chúng ta biết rằng nhiều bộ, ngành còn thiếu trách nhiệm trước hiện tượng kết hôn với người nước ngoài. Ví dụ, trong khi Cục thống kê HQ có số liệu cụ thể về những trường hợp kết hôn với người nước ngoài, thì ở Việt Nam “Cục thống kê dường như “không thèm nắm mấy con số lặt vặt” đó. Bộ Tư pháp cũng không phân tích số liệu phụ nữ Việt Nam lấy chồng các nước. Toà án tối cao không thống kê tỷ lệ ly hôn với người nước ngoài, phân tích nguyên nhân. Sở Tư pháp cấp giấy kết hôn với người nước ngoài, nhưng đến xin số liệu  phải đợi tách ra từng nước”(Phụ nữ, 28.4.2006). Qua đó có thể thấy, các tổ chức xã hội, các ngành chức năng còn thiếu quan tâm đến hiện tượng hôn nhân có yếu tố nước ngoài của phụ nữ Việt Nam, và chưa có đơn vị xã hội nào coi đó là nhiệm vụ và trách nhiệm của mình.

 

 Vai trò của gia đình:

                Giáo dục gia đình, nếp sống và gia phong của mỗi nhà rất quan trọng không chỉ với việc hình thành nhân cách của con cái, mà còn trang bị cho con cái sự hiểu biết, bản lĩnh sống, khả năng thích ứng trước những biến động, rủi ro của cuộc đời. Với con gái, nếu người mẹ không quan tâm giáo dục con mình về “công, dung, ngôn, hạnh” về “nữ công gia chánh” mà lại chỉ mong gả bán con gái cho người ngoại quốc, thì nguy cơ với con gái họ thật khó lường.

         Hành trang cho các thôn nữ  kết hôn với người nước ngoài.

               Có một thực tế, “làn sóng” hôn nhân với người nước ngoài những năm gần đây đa số là các em gái từ các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, học vấn thấp, ít hiểu biết. Vì thế, không thể bỏ mặc các em ra đi làm dâu xứ người với hai bàn tay trắng, chỉ với ước mơ đổi đời. Cần chuẩn bị cho các em hành trang thật tốt để đi làm dâu xứ người. Hành trang cho các em gái có nguyện vọng kết hôn với người nước ngoài bao gồm:

       . Thông tin về thực trạng đời sống hôn nhân của những cô dâu Việt Nam ở nước ngoài: cần cung cấp cho các em và cha mẹ những thôn nữ có mong muốn lấy chồng nước ngoài về thực trạng đời sống của hôn nhân với người nước ngoài. Để gia đình và các em có suy nghĩ chín chắn trước khi quyết định. Trên thực tế, vì hầu hết các thôn nữ lấy chồng nước ngoài có trình độ học vấn thấp, nhiều em chưa bao giờ tiếp cận với các phương tiện truyền thông đại chúng, nên việc thiếu thông tin hoặc có thông tin sai lệch (qua môi giới) khiến cho không ít em gái đã vỡ mộng và nuối tiếc vì quyết định sai lầm của mình.

          Có những thông tin đầy đủ và chính xác về người chồng tương lai, về gia cảnh người chồng, về địa phương mà các em sẽ đến sinh sống với vai trò người vợ, người con dâu trong gia đình cũng sẽ góp phần giúp các em và gia đình cân nhắc trước khi quyết định lấy chồng nước nào, ở đâu cho phù hợp với mình.

      Các em cần được đào tạo, được học  về làm vợ, làm dâu ở nước ngoài, với một số nội dung cơ bản, có thể là:

        Về Luật pháp, phong tục, tập quán của các vùng, miền của nước mà các em sẽ đến làm dâu. Theo ông Nguyễn Quốc Cường, Phó vụ trưởng Vụ hành chính tư pháp, Bộ Tư pháp thì “Hầu hết trong 3 năm đầu, các cô dâu Việt rất khó hoà nhập với gia đình chồng vì không biết tiếng, chưa hiểu gia phong, tập tục.

               Về điều này, lời khuyên của tuỳ viên báo chí và thông tin đại sứ quán HQ rất đáng để cho những phụ nữ Việt Nam đã, đang và sẽ có ý định lấy chồng nước ngoài nói chung và lấy chồng HQ nói riêng tham khảo “Tôi nghĩ trước khi có quyết định lấy chồng HQ, họ nên chuẩn bị cho những cách biệt văn hoá, ngôn ngữ và suy nghĩ. HQ tuy phát triển hơn Việt Nam, nhưng cũng có những người phải sống rất khó khăn. Các cô gái trẻ mang giấc mơ lấy chồng HQ để đổi đời cần suy nghĩ chín chắn, vì thực tế không phải lúc nào cũng vậy

            Về kỹ năng nội trợ, sử dụng các đồ dùng trong gia đình: các em gái cần được học sử dụng các đồ dùng, tiện nghi trong gia đình nước ngoài, biết nấu các món ăn cho người nước ngoài, nơi mà các thôn nữ sẽ đến làm dâu.Thực tế cho thấy, có những trường hợp hôn nhân tan vỡ vì cô dâu không làm tròn bổn phận của mình. Như trường hợp một đàn ông HQ 45 tuổi sau hai tháng lấy cô vợ Việt Nam 19 tuổi đã đòi ly dị và kiện Viện bảo hộ người tiêu dùng HQ, đòi lại cho phí thủ tục kết hôn vì cô vợ 19 tuổi dậy muộn, không lo bữa ăn sáng cho con trai đang học cấp 3 của chồng. Hay một ví dụ khác, một cô gái quê ở Đồng Tháp lấy chồng 2 năm mà không biết nấu món ăn HQ cho nhà chồng. Rõ ràng, công việc tề gia nội trợ là một nhiệm vụ không thể thiếu được khi lấy chồng nước ngoài như HQ, Đài loan. Vì thế, học để làm nội trợ phục vụ gia đình cũng rất cần thiết, và làm tốt điều này là yếu tố đảm bảo hôn  nhân bền vững ở xứ người.

               Về ngôn ngữ: sẽ khó có thể làm tốt vai trò làm vợ, làm dâu ở nước ngoài nếu các em gái không được học ngôn ngữ của nước đó. Vì thế, các em gái trước khi kết hôn cần phải học ngôn ngữ của quốc gia mà các em có ý định lấy chồng. Dù chúng ta không hy vọng các thôn nữ học vấn thấp (thậm chí có em còn không biết đọc, viết) nhưng ít ra cũng dạy cho các em biết được giao tiếp tối thiểu, có thể gọi tên các đồ vật/phương tiện sinh hoạt trong gia đình,v.v.. Đây là tiền đề cho các em có thể dần dần vượt qua được rào cản ngôn ngữ, dần dần hội nhập vào cuộc sống gia đình ở nước ngoài.

            Chỉ có như vậy, chúng ta mới góp phần làm giảm thiểu những rủi ro đối với các em gái lấy chồng nước ngoài và mới xây dựng được những cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài có được hạnh phúc gia đình. Đó cũng là điều quan trọng mà dư luận xã hội cần hướng tới.

                                                                                                  NVL

  Bao Tuoi Tre  Bao SGGP  Bao Thanh nien  Echip  TV ảnh   Nhung vong tron  Phong lan  Ho tron bi hiem  Loi tam su    Quái vật huyenthoai  Tranhthuymac   40 năm...  Cứu hộ máy tính    Quái vật huyenthoai  Loi tam su   Gởi anh Hưởng   Du lich Trung Quoc    Ảnh động hoa lá   Vịnh Hạ Long Tranhthuymac   40 năm... Du lịch   Giai tri  giadinh Phụ nữ và gia đình  PNvaGD2 PNvaGD3 PNvaGD4 PNvaGD5  PNvaGD6 PNvaGD7