Tuyệt vọng và bất tử


Truyện ngắn: Phạm Hồng Danh

 

TUYỆT VỌNG VÀ BẤT TỬ

Sau giờ đóng tuồng và múa may trên sân khấu, hắn quay về nhà với một tâm hồn trống trải. Những khát vọng vô biên dằn vặt trí não hắn. Lời nói vô tình của một người bạn “Mày diễn tồi quá” như một nhát dao cứa vào tim hắn. Một cái nhìn hững hờ của một người đi đường, hắn ngỡ là cái nhìn khinh bỉ.

Hắn muốn cả nhân loại mỉm cười với hắn. Hắn muốn làm quen và tặng quà cho tất cả mọi người. Nhưng hắn đâu có gì để tặng ngoài trái tim khô héo vì vắt sức để kiếm sống. Hắn thích đi vào vùng cấm. Hắn muốn ôm đồm nhiều thứ, nhưng chỉ có một đôi tay; và hắn biết ôm đồm nhiều thứ thì sẽ không làm trọn vẹn được gì.

Tuyệt vọng. Hắn thất thểu quay về nhìn biển động. Nghe trong tiếng sóng lời ca dao của mẹ. Một chút yên bình khi nhớ lại tuổi thơ. May mà, thời thơ ấu của hắn êm đềm và thơ mộng. Cám ơn đôi tay gầy guộc của mẹ đã che chở và dìu dắt hắn. Hắn chợt nghĩ ra rằng hắn phải đi theo con đường mà mẹ hắn đã qua, để lấp khoảng trống vô cùng trong tâm linh. Hắn cần có một đứa con để nuôi dưỡng, chăm sóc và yêu thương. Con đường tìm đến sự bất tử thông thường nhất là truyền sự sống của mình qua thân xác và tâm hồn một đứa con. Hậu thân của một con người là những đứa con

Hắn nhớ đến người đàn bà đứng tuổi, đã chăm sóc hắn những lúc hắn một mình bệnh hoạn. Hắn hiểu cái nhìn dịu dàng, tha thiết của nàng. Nhưng hắn đã làm ngơ. Hắn sẽ kết hôn với nàng, và đám cưới chỉ có hai người với sự chứng kiến của trời đất, mây nước và trăng sao. Hắn sẽ có con. Chỉ cần tưởng tượng có một đứa con với khuôn mặt và nụ cười giống mình đủ để hắn run lên như kẻ sắp bước qua ranh giới của thiên đường.

Hắn từ biệt sân khấu và viết bài hát “Giã biệt một phần đời”. Bài hát diễn tả tâm trạng của người đào mồ chôn những khát vọng và một phần đời mình yêu thương. Hắn đã chết. Hắn không để lại đứa con nào bằng xương bằng thịt. Hắn chỉ để lại một đứa con tinh thần cho người đời. Đặc biệt là cho những ai đã từng trầm luân trong thế giới của tuyệt vọng.

Tôi đã từng phiêu du vào những thiên đường ảo vọng và từng ngụp lặn trong biển khổ mênh mông, nên tôi hiểu hắn. Tôi quì xuống cảm ơn bản nhạc. Đúng hơn là cám ơn hắn đã tặng một bảo vật đủ sức làm cho tôi biết yêu chính tâm hồn tuyệt vọng của mình. Có phải bản nhạc này chính là đứa con bất tử của hắn?

NGÀY XẢ TANG

Con về quỳ trước mộ ba

Nén nhang tẻ lạnh nhạt nhòa khói hương

Lẽ thường chia biệt âm dương

Nơi sâu thẳm đó còn vương tình đời.

Ba ra đi bất ngờ như định mệnh. Hai năm trôi qua con vẫn bàng hoàng. Bao nhiêu tuổi con vẫn là đứa bé trước ba. Con cố lục lọi trong ký ức tuổi thơ một phần đời không có tình thương của ba. Nhưng chưa bao giờ con không có ba. Dẫu thân xác ba không còn trên trần gian này, nhưng ba vẫn còn tồn tại trong tâm linh con mãi mãi.

Con nhớ đến hình ảnh cô độc của một người đàn ông 70 tuổi. Ông có 15 người con. Mười lăm người với mười lăm cuộc đời, mười lăm tổ ấm. Họ đã quá bận rộn với cuộc sống, bỏ quên người cha cô độc, chiều chiều ngồi một mình với ly trà đắng, đôi mắt ngó mông lung.

Ba rời bỏ trần gian này quá sớm. Ba đi, con lớn thêm một chút. Con hồi tưởng cả cuộc đời ba hình như chỉ toàn cay đắng và khổ nhục. Khi con hiểu được tấm lòng ba thì đã muộn. Có phải người ta chỉ hiểu nhau thực sự khi không còn nhìn thấy nhau nữa? Ba làm ăn thất bại

nên bị mẹ và các con coi thường. Ngoài xã hội, vì nghèo, ba bị người đời khinh khi. Về nhà, ba lại không được sự chia sẻ dịu dàng của vợ con. Ba chôn nỗi đau trong lòng và mỉm cười.

Ba mất, mọi người nhìn lại và hiểu Ba đã vì mọi người nhiều hơn là vì bản thân. Ba vì con “mà con đâu có hay”. Những tiếng khóc thống thiết và tức tưởi trong ngày tang lễ không lấy lại được điều đã mất. Con tiễn ba đến nơi an nghỉ cuối cùng bằng đôi chân xiêu vẹo của kẻ mồ côi ý thức được sự đốn mạt của mình. Đất cát vùi lấp thân ba như khép lại phần đời con được sống bên cạnh sự yêu thương và lo lắng của ba . Khi mất, con nghĩ vẫn còn. Khi còn ba, đôi lúc con quên mình đang có một người cha, quên mình là một đứa con. Con biết ba chẳng bao giờ trách con, nên chưa bao giờ con phải nói: “Xin ba tha thứ”

Con đốt mảnh khăn tang theo phong tục. Nhưng trong suy nghĩ và trong trái tim con vẫn còn mãi mảnh khăn tang buồn bã của ngày ba ra đi.

QUA PHÀ

Nhà văn nào đó đã viết: “Người ta gặp nhau rồi chia tay. Nhưng cái chính là người ta đã mang lại cho nhau cái gì? Đôi khi cái đó nhiều đến nỗi nó đủ dùng cho cả cuộc đời”. Một cái nhìn, một nụ cười, một lời khuyên, một lần nắm tay, một cái tát tai sẽ được lôi ra từ ký ức để thấy ấm lòng hay xót xa. Tôi đã gói nguyên chuyến phà bỏ vào bộ nhớ và bây giờ tôi lôi ra.

Xe đò đến bến phà. Hành khách xuống xe, đi bộ lên phà. Tôi ra tận mũi phà đứng ngắm cảnh. Dòng nước cuồn cuộn chảy, sông mênh mông dài và những hàng dừa xa xa. Gió mơn man trên mặt tôi, làm những sợi tóc bay lòa xòa. Tôi thấy sảng khoái, ngỡ như mình đang giao cảm với thiên nhiên, đang hòa nhập vào không gian. Qua phà sướng như thế này mà ba tôi lại nói: “Tao ghét nhất là qua phà. Mỗi người chờ mất một giờ. Mỗi ngày có mười ngàn người chờ, mỗi giờ mất một đôla. Mỗi ngày mất mười ngàn đô. Sao không làm một cái cầu hay cầu treo để người dân đỡ cực. Người ta còn làm những con đường xuyên qua đại dương”. Tôi không thích đi dưới đường hầm, tôi không thích qua cầu, tôi chỉ thích qua phà.

Có ai cấu vào ngực tôi. Tôi chưa kịp hoàn hồn. Bỗng nghe tiếng la: “Ăn cướp, để tôi bắt cho”. Tôi nhìn

xuống ngực mình, hai tay tôi tự ôm ngực từ bao giờ. Một mảnh áo rách, để lộ một phần ngực. Tôi vừa tức, vừa ngượng đến lịm người. Dưới sông có hai người đang bơi. Tôi nghe loáng thoáng: “Con nhỏ bị giật dây chuyền”. “Đừng hy vọng, tụi nó là đồng bọn”. Tôi uất ức quá. Nếu có súng, tôi bắn chết con vật đó ngay, rồi sẽ ra sao thì ra. Giỏ quần áo tôi để trên xe. Có ai vỗ nhẹ trên vai. Tôi quay lại, thấy một chàng còn trẻ. Tôi rủa thầm: “Người đâu mà tự nhiên đến lố bịch”. Hắn nói: “Đừng buồn, chuyện đời thường vẫn thường bất trắc. Rồi cũng qua. Lần sau cẩn thận hơn”. Tôi nghĩ thầm: “Ai cần mà dạy đời!”. Nhưng nhìn đôi mắt vừa dịu dàng vừa lạnh băng của hắn, tôi muốn run. Đôi mắt như muốn nói rằng tôi còn trẻ dại và còn yếu đuối lắm, tôi cần được giúp đỡ, che chở. Không cần biết tôi nghĩ gì, muốn gì _ hắn lấy trong túi xách một cái áo sơ mi trắng và nói: “Tôi tặng cô. Mặc đi, đừng ngại”. Động tác của hắn tự nhiên, cứ như hắn là người thân của tôi. Tôi đâm ra tự nhiên, cầm chiếc áo mặc chồng lên chiếc áo rách và không thèm cảm ơn. Rất vừa, hình như chiếc áo dành sẵn cho tôi. Tôi muốn hỏi tên và địa chỉ của hắn, nhưng ngại. Tôi chờ hắn hỏi tên và địa chỉ của tôi, nhưng hắn phớt lờ.Tôi vẫn thường tự hào về vẻ đẹp bề ngoài của tôi. Sao hắn lại dửng dưng đến thế?

Những lần sau, khi qua phà tôi mong tình cờ gặp hắn. Nhưng sự tình cờ đó chưa xảy ra. Tôi còn lại quá nhiều từ chuyến phà đó. Hắn nói: “Rồi cũng qua”, nhưng tôi thấy chưa qua. Có lần soi gương, nhìn đôi mắt mình thiếu vắng một cái gì đó?! Tôi chợt hiểu thêm về đôi mắt

hắn. Đôi mắt ẩn chứa sự từng trải và bao dung. Đôi mắt như dòng sông mênh mông, nhận chìm sự bướng bỉnh và kiêu hãnh của tôi. Sự căm uất thằng ăn cướp đã nguôi đi. Nhưng chiếc áo trắng và đôi mắt dịu dàng của hắn vẫn còn xốn xang trong tôi.

1991

NHỮNG BƯỚC CHÂN

Sau 8 giờ ngồi trên tàu TN khởi hành từ Sài Gòn, Diễm và tôi đã đến ga Mường Mán. Bước xuống tàu, kêu hai tô cháo gà, tìm một góc ngồi ăn. Trước mặt tôi là một em bé khoảng 3 tuổi đang ngồi “ị”.

“Ị” xong một bãi, em đứng dậy bỏ đi. Một người đàn ông trạc 32 tuổi đến rửa cho em. “Phế phẩm” vẫn nằm chơ vơ trên đường đi, trước mặt tôi và trước tô cháo gà.

Người qua kẻ lại. Những bước chân hờ hững, những bước chân dứt khoát, những bước chân chậm rãi, những bước chân vội vã. Hầu như không một ai nhìn dưới chân mình. Tôi âu lo và thấy hết người này đến người khác suýt dẫm lên “phế phẩm” đó. Đến vài chục người, bước những bước chân sát kề “phế phẩm”, lướt qua “phế phẩm”, gần chạm vào “phế phẩm” .

Tôi bưng tô cháo, vừa ăn vừa canh chừng “phế phẩm”, với nỗi hồi hộp lạ kỳ. Tôi chờ đợi cái cảnh: có người dẫm lên “phế phẩm” đó. Tôi muốn bỏ tô cháo, đến hốt “phế phẩm” đi. Tôi muốn lại nắm cổ áo người đàn ông và bắt hắn dọn sạch “phế phẩm” thối tha đó.

Nhưng kìa! Tôi chưa kịp thực hiện những ý nghĩ của mình, đã có người dẫm lên một phần “phế phẩm”.

Rồi hai người, ba người, năm người, bảy người, và mấy chục người đã lần lượt dẫm lên “phế phẩm” ấy! Mỗi người tha đi một ít.,,, “Phế phẩm” biến mất. Khoảng đất trở lại bình thường.

Hình như người ta đã vô tình mang theo những dơ bẩn đi vào cuộc đời. Con người bước đi, quên mình đang bước trên cái gì, quên nền tảng cơ bản là trái đất nâng đỡ bàn chân, quên nhìn xuống đất. “Phế phẩm” đó có thể là một cạm bẫy thô thiển. Còn những cạm bẫy khác tinh vi hơn, được che đậy bằng những hình thức tuyệt đẹp, thơm tho.

Thấy khuôn mặt tôi đờ đẫn vì những suy tưởng, Diễm hỏi: “Anh nghĩ gì vậy?” Tôi buột miệng: “Nghĩ về cục c.” Diễm tức giận: “Anh ăn nói thô bỉ quá!” và đứng dậy bỏ đi. Tôi biết Diễm hiểu lầm, nhưng vẫn ngồi yên.

CÁI TÁT…

Ba tôi nói: “Bà Hồng là người không đoan chính – quan hệ nam nữ lung tung”. Cũng ba tôi nói: “Nhân vật nữ trong tiểu thuyết “Tìm quên” của Nhân Tâm là tấm gương về lòng chung thủy và độ lượng”. Nhưng ba tôi chưa biết rằng dì Hồng và nhà văn Nhân Tâm là một.

Dì Hồng là mẹ Cường. Chúng tôi chia sẻ nhau tận tình, có gì buồn vui tôi cũng tìm Cường để kể lể, ba hoa.

Tôi cầm tấm hình Cường, nhìn chăm chú, cúi xuống hôn khuôn mặt thân quen. Có giọt lệ ứa ra trong mắt tôi. Gom hết can đảm – tôi xé tấm hình ra từng mảnh, từng mảnh. Tôi lấy lá thư ra đọc lại: “Phượng là cô gái đỏng đảnh, trống rỗng, bất tài. Lâu nay, Cường thích Phượng vì Phượng có khuôn mặt dễ thương. Nhưng khi lớn lên, Cường không thể chấp nhận một hình thức mà không có nội dung. Phượng đừng tìm, gặp Cường nữa.” Tôi vừa thi rớt đại học, lại thêm lá thư đáng ghét của Cường. Tôi buồn cho sự bất tài của tôi. Tôi tự hỏi:“Tôi có trống rỗng, có đỏng đảnh lắm không?” Được rồi! Tôi sẽ trả thù lời nhận xét này. Tuần sau, tôi nghe Cường chuyển về Sài Gòn.

Hiện nay, tôi là sinh viên trường Y. Cái tát tai bốn năm trước tôi còn nhớ. Tôi cố gắng đến điên cuồng để chứng tỏ tôi không bất tài. Nhưng khi tiếp xúc với những căn bệnh nan y và nỗi bất hạnh của bệnh nhân, tôi chợt thấy tôi còn may mắn. Và lòng kiêu hãnh của tôi là lố bịch. Sáng nay, thực tập ở bệnh viện Gia Định. Tôi rụng rời. Bệnh nhân tôi đang thực tập là dì Hồng. Dì kể: “Hồi đó, dì bán nhà để đưa Cường vào Sài Gòn chữa bệnh. Cường bị u xoan sọ não. Sáu tháng sau Cường mất. Những ngày cuối, nó thường nhắc đến con. Cường nói rất tiếc là nó không được chia sẻ với con lâu dài hơn.”

Tôi cắn mạnh môi. Lá thư ngày cũ là cái tát nhân đạo hay là một lầm lỗi? Từ chối sự chia sẻ của bạn bè để riêng mình gánh chịu nỗi đau là cao thượng hay là coi thường người khác ??

VẾT MÁU KHÔ

Tôi nhìn đăm đăm tấm giấy xét nghiệm với kết quả “dương tính”. Tôi đã mắc bệnh lao. Bác sĩ hẹn ngày mai nhập viện. Tôi thấy choáng, ngước nhìn bầu trời mênh mông như cố tìm một sự cứu rỗi.

Tôi lỡ hẹn học trò sáng mai học bù. Hơn nữa, chỉ còn một tuần, học trò tôi sẽ nghỉ để ôn thi tốt nghiệp. Tôi cố gắng dạy nốt trước khi nhập viện. Sáng mai tôi sẽ đi dạy. Rồi sẽ ra sao thì ra! Tôi không muốn bỏ dở công việc, không muốn đồng nghiệp phải gánh giờ của mình. Tôi ít có can đảm làm phiền người khác, dẫu tôi vẫn biết rằng “bất hạnh cho ai không dám làm phiền người khác”.

Đã mười giờ rưỡi đêm, chồng tôi vẫn chưa về. Anh dạy thêm buổi tối. Thông thường anh về lúc mười giờ kém mười lăm. Rất ít khi anh về trễ, vì biết tôi chờ. Đã có hàng trăm lần tôi phải chờ một điều gì đó, nhưng tôi vẫn không quen được với sự chờ đợi. Tôi bồn chồn, âu lo. Trái tim bé nhỏ của tôi như muốn ngừng đập.

Tôi nhìn đăm đăm chiếc kim đồng hồ, nghe rõ từng tiếng tích tắc. Mười một giờ, rồi mười một giờ rưỡi, rồi mười hai giờ. Tiếng gà gáy vang trong đêm tĩnh mịch. Tôi muốn bật khóc. Nỗi lo dâng cao. Điều gì đã xảy ra cho anh? Tôi hy vọng anh ghé nhà một người bạn cũ nào đó, vui quá, ngủ lại. Không. Không bao giờ anh

ngủ lại ở đâu khi biết tôi chờ! Tôi hiểu anh. Gần như tôi đã thức trắng đêm, với tâm trạng rã rời, tuyệt vọng. Gần sáng, tôi thiếp đi trên chiếc ghế, cho đến khi có tiếng gõ cửa. Một người phụ nữ bước vào. Chị có khuôn mặt phúc hậu, đôi mắt sâu, quầng thâm. Chị nói:

- Chồng chị bị cướp đâm, đang nằm điều trị ở lầu I khu D Bệnh viện G.Đ nhờ tôi báo tin cho chị.

Tôi bàng hoàng, ngỡ như chẳng nghe thấy gì, ngớ người ra. Chị lặp lại:

- Chồng chị đang nằm ở bệnh viện, nhờ tôi báo tin cho chị.

Tôi như muốn ngất xỉu, hốt hoảng:

- Trời ơi, chết tôi rồi!

- Không sao đâu. Ảnh còn nói được và đôi mắt vẫn sáng.

Tôi vội thay đồ. Đến bệnh viện, bác bảo vệ nói chưa đến giờ thăm bệnh. Tôi năn nỉ:

- Bác thông cảm chồng cháu bị cướp đâm hồi tối, đang cấp cứu ở đây.

- Chờ đã. Giờ này bác sĩ cấm thân nhân vào thăm.

Tôi chạy đại vào. Bác bảo vệ đuổi theo. Một số người lợi dụng chạy ùa vào. Bác buộc lòng phải quay trở lại.

Tôi chạy vào những hành lang thênh thang. Lính quýnh một hồi mới tìm được khu D. Tôi bước lên lầu một, gặp phòng y vụ, hỏi cô y tá trực:

- Chị làm ơn cho tôi biết anh Phạm Xuân Long nằm ở phòng nào?

Cô nhìn tôi định nói không phải giờ thăm bệnh. Không hiểu vì sao (có lẽ vì khuôn mặt xanh xao hốt hoảng của tôi), cô dịu dàng:

- Phòng thứ ba, phía bên trái.

Tôi không kịp cảm ơn, chạy vội đến căn phòng. Anh nằm trên chiếc gường trải ra trắng. Khuôn mặt xanh xao. Anh mặc bộ đồ trắng của bệnh viện. Các khuy áo không cài để lộ vết thương được băng bó cẩn thận phía ngực phải. Một vài vết máu khô đen đúa, xám xịt bám trên bụng anh. Tôi ứa nước mắt:

- Sao thế anh? Khổ cho chúng mình quá! Anh có sao không?

- Không nặng lắm đâu. Nhưng anh phải nghỉ dạy ít nhất hai tuần, sau đó dạy bù mệt nghỉ. Máu và khí tràn vào phổi nên khó thở, phải lấy xi-lanh hút máu bầm và bọt khí trong màng phổi ra. Nghề bán cháo phổi mà phổi bị thương!

Ánh mắt Long vẫn sáng ngời, lạc quan và tự tin. Vẫn cái nhìn đầy quyết tâm và nhiều khát vọng. Ai đã hiểu những khát vọng của anh hơn tôi. Tội nghiệp anh, anh đã không thực hiện được những ước muốn lớn lao của mình, cứ đứng ở lưng chừng nhìn lên đỉnh cao mà u uất. Tôi ngậm ngùi:

- Anh kể em nghe đi. Tụi cướp đã làm gì anh?

Long nói, giọng rõ ràng chậm rãi như không hề bị thương, như đang giảng bài:

- Hồi tối, anh đi dạy về, ngang qua Lăng Ông, thấy hai thằng ăn cướp chận một em bé khoảng mười bốn tuổi, bạt tai và giật chiếc xe đạp. Em bé la lên:

 “Cướp, cướp...”. Anh dừng xe lại, can thiệp. Hai thằng cướp bỏ đứa bé tấn công anh. Một thằng cầm dao vờn trước mặt. Trong bóng tối nhá nhem, anh không biết dao hay súng. Anh hơi hoảng, nếu là súng và nếu nó bắn bậy thì em thành góa phụ. Anh phóng tới đá vào cánh tay hắn. Cú đá không chính xác, trúng vào vai tên cướp. Hắn lảo đảo. Thêm hai đồng bọn từ trong bóng tối nhảy ra, cầm cây bổ xuống đầu anh. Anh lách mình và đưa tay lên đỡ. Tên cầm dao nhảy xẹt vào đâm một nhát vào ngực anh, trúng cái kiếng đeo ở ngực. Cái kiếng vỡ. Con dao lệch qua bên phải. Anh không cảm thấy đau, chỉ nghe buôn buốt ở ngực. Hắn rút dao ra đâm thêm một nhát nữa. Anh tránh khỏi. Con dao sướt qua nách làm rách một mảnh áo. Người đi đường dừng lại khá đông, đứng nhìn một cách bàng quan. Anh la lên: “Bọn cướp, bắt lấy chúng.”. Chúng bỏ chạy. Cảm thấy ướt ở rốn, anh đưa tay lên sờ, biết là máu. Cảm giác nhơm nhớp khi máu dính ở kẽ những ngón tay làm anh rùng mình. Anh vội vàng đạp xe chạy thẳng vào bệnh viện cấp cứu. May mà hồi nhỏ anh có học võ chút đỉnh.

- Anh có đau lắm không? Em nên làm gì để anh đỡ đau?

Anh chớp mắt và mỉm cười, hệt như hồi đi học, khi tôi đề nghị đánh máy hộ anh bản luận văn tốt nghiệp.

- Bây giờ thì hơi nhức, do sự co giật của những thớ thịt bị thương. Hồi tối bác sĩ khâu mà không chích thuốc tê. Đau khủng khiếp! À, kết quả xét nghiệm của em ra sao? Sáng nay em có giờ phải không?

Tôi nói dối:

- Bác sĩ hẹn em chiều hôm qua đến lấy kết quả mà chưa có. Sáng nay em tính đi dạy bình thường. Nhưng bây giờ em muốn ở lại đây với anh.

- Anh không sao đâu. Em đi dạy đi.

-Thôi em đi. Trưa em ghé.

Sợ trễ, tôi bước vội vã. Đến cổng, bác bảo vệ càu nhàu:

- Tôi không cho sao cô dám vào? Cô không biết luật lệ gì cả!?

Tôi muốn nói: “Cháu xin lỗi bác, cháu lo quá nên làm phiền bác”. Nhưng cảm giác mệt mỏi làm tôi nín lặng. Khuôn mặt tôi đanh lại và ngang nhiên bước ra. Bác bảo vệ nói với theo:

- Đồ thiếu văn hoá!

Tôi mỉm cười chua chát, bước đến chỗ gởi xe. Tôi đạp đến trường với nỗi lòng tê dại. Tôi căm thù lũ cướp. Nếu tôi có quyền, tôi sẽ bổ sung vào bộ luật hình sự: “Xử tử tất cả những tên cướp gây thương tích cho người khác”. Tôi thấy mình bất lực trước bao nhiêu khốn khó.

􀁕􀁕

Tôi vào lớp, trễ mười phút. Học sinh nhao nhao: “Tưởng cô nghỉ, tụi em đang chuẩn bị về”. Tôi bực mình nhưng vẫn cố dịu dàng:

- Xin lỗi các em, tôi đến trễ. Và bây giờ em nào muốn về thì về, vẫn chưa muộn.

Cả lớp im lặng. Tôi lặng lẽ đếm số học sinh có mặt: năm mươi em, vắng mười em. Tôi bắt đầu giảng, giọng khàn khàn, nhỏ như tiếng thầm thì. Tôi giảng mà

không nhìn học sinh. Trái với mọi hôm - tôi nói lớn, rõ ràng và nhìn vào ánh mắt từng đứa.

Sau giờ giải lao, tôi vào lớp. Vắng tanh. Chỉ còn 20 em. Tôi hỏi: “Sao lớp vắng thế này?”. Một em trả lời: “Thưa cô, tụi nó kháo nhau hôm nay có phim Người tình tử tế hay lắm, rủ nhau bỏ học đi xem”. Tôi đứng không vững, tì tay vào thành bàn, nghĩ thầm: “Chúng xem phim về người tử tế mà cư xử không chút tử tế với cô giáo chúng”. Tôi quyết định vẫn tiếp tục dạy cho đến hết giờ. Sự phẫn uất và nỗi đau đớn làm tôi hăng máu. Tôi giảng như đang gào thét với cả loài người. Có một thoáng tôi như rơi vào giấc mơ, trước mặt tôi là một lớp học trống vắng, chỉ có bàn và ghế. Tôi vẫn giảng và bước xuống vuốt ve từng cái bàn. Rồi tôi lại rơi vào một giấc mơ khác. Lớp học vẫn đủ sáu mươi em, ngước nhìn tôi chăm chú với những khuôn mặt trong sáng, những đôi mắt long lanh. Cuối cùng, tôi định thần lại, lớp học vẫn chỉ 20 em, chăm chú nghe tôi giảng. Những đôi mắt buồn buồn. Nhìn nét buồn trên khuôn mặt các em, tôi cảm nhận nỗi buồn vô hạn của mình. Tôi đang sửa một bài tập ôn, Áp dụng định lý Newton Leibnitz ta có... Tôi chợt hình dung một người đàn ông lang thang trong rừng, cúi xuống lượm trái táo rơi, ngước lên nhìn khung trời xanh thênh thang, suy tư và mơ ước. Tôi suy tư gì đây, mơ ước gì đây trước lớp học này? Tôi đã gắng sức bước qua những khốn khó riêng tư để đến lớp. Vậy mà... Hết giờ. Tôi cảm thấy tức ngực. Tôi bước vào nhà vệ sinh, đưa tay che miệng và ho. Máu và đờm nhầy nhụa trên tay tôi. Tôi rửa tay và bắt gặp cảm giác nhơm nhớp ở kẽ những ngón tay. Tôi đạp xe đến thẳng bệnh viện. Tôi lãnh phần cháo của bệnh viện và đút cho anh. Anh chỉ uống phần nước cháo. Anh nhìn đăm đăm vào ngón tay tôi và nói: “Có vết máu khô trên ngón tay em”. Tôi giật mình nhìn xuống. Hồi nãy tôi rửa không sạch. Vết máu khô đen đúa, xám xịt, trông dơ dáy. Tôi im lặng. Anh nhìn tôi như hiểu ra một điều gì và mắt anh rưng rưng. Tôi không dám nhìn mắt anh vì sợ mình bật khóc.

1988

VẾT LEM TRONG LÝ LỊCH

Lần thứ ba Yên thi đại học. Có phải Yên đã hờ hững với vinh quang? Sự chai lạnh làm sao có ở một cô gái mới lớn? Nhưng sao Yên vẫn dửng dưng trước kết quả : Yên thi đậu thủ khoa vào đại học với số điểm 30/30.

Yên không được đi học ở nước ngoài vì đạo đức trung bình, lý lịch có vấn đề. Phóng viên Long hỏi Yên về phương pháp học tập và dự định tương lai. Yên trả lời qua loa. Nhà nước không công bình với Yên. Yên không muốn bày tỏ quan điểm. Yên muốn trốn chạy sự thiếu công bình trên chính quê hương mình! Phải chăng Yên chỉ nghĩ về cái tôi?

Những câu trả lời qua loa của Yên làm Long bực mình. Long nghĩ : “Đạt điểm mười cả ba môn thi, có lẽ Yên đã nỗ lực kiên trì. Hơn nữa, để đạt được kết quả trọn vẹn đó, lẽ ra Yên phải là người tinh tế, cẩn thận và nhạy bén”. Long lấy giấy giới thiệu của tòa soạn đến Ban giáo dục chuyên nghiệp mượn hồ sơ của Yên để tìm hiểu. Cha : trước 1975 là trung tá bác sĩ - năm 1975 học tập cải tạo -năm 1979 được trả quyền công dân - năm 1982 chết. Mẹ: thợ may. Từ lớp 6 đến lớp 12, Yên là học sinh giỏi. Riêng môn hóa Yên toàn được điểm10. Những giáo viên hóa đã phê vào học bạ của Yên những lời thật

đặc biệt. Long tìm gặp giáo viên dạy hóa của Yên. Thầy kể:

Yên là học sinh giỏi toàn diện. Ba năm liền Yên là cán sự hóa của lớp. Điều không hay đến với Yên vào giữa học kỳ hai năm lớp 12. Đầu tuần sinh hoạt dưới cờ, Yên bị nêu tên khiển trách vì có một ngày không đeo huy hiệu trong tuần trước. Yên cãi em chưa bao giờ quên đeo huy hiệu. Cô hiệu phó Liên bảo em im lặng. Yên nói: “Thưa cô cái gì đúng thì em nói”. “- Đồ vô lễ, tôi bảo em nín, em có nghe không?”. “- Thầy cô dạy em tôn trọng lẽ phải. Em chỉ nói sự thật”. “- Sự thật là em vi phạm kỷ luật mà còn dám hỗn và cãi lý phải không? Em lộn xộn tôi đuổi học bây giờ.” “-Thưa cô, em có lỗi gì mà cô đuổi học? Em chỉ muốn nói với thầy cô và các bạn là em vô tội”. Có tiếng học sinh lao xao: “Đúng rồi, Yên vô tội”. Cô Liên quát lên: “Tất cả yên lặng, giải tán và về lớp. Em Trần Lựu Yên lên văn phòng gặp tôi”. Lên văn phòng cô hiệu phó đòi đuổi học Yên, nhưng các thầy cô khác đã can thiệp. Cô Liên bắt Yên mang trả giấy khen học sinh giỏi của học kỳ một và ghi đạo đức trung bình vào học bạ của Yên.

Yên nhận thư, bưu cục quân đội và nét chữ không quen. “ Bây giờ Tất là lính, đủ can đảm nói sự thật và xin lỗi Yên. Thuở ấy, Tất rất mến Yên. Tuần lễ đó Tất trực cờ đỏ. Vì muốn đùa chơi, muốn Yên bị nêu tên dưới cờ, nên Tất ghi tên Yên trong danh sách những người không đeo huy hiệu. Không ngờ sự việc lại như vậy! Tất không dám nhận tội. Im lặng và cảm thấy ăn

năn. Bây giờ được xin lỗi Yên, Tất bớt ray rứt phần nào về trò chơi vô ý thức ngày xưa.”

Cố hình dung khuôn mặt người bạn học tên Tất- hồi đó Tất hay mượn vở Yên và thường nhìn Yên bằng cái nhìn ngồ ngộ. Yên chợt hiểu đằng sau cái nhìn ấy là một tấm lòng vừa nghịch ngợm vừa nhân hậu. Kỷ niệm ùa về trong trí nhớ. Ba chết, còn hai mẹ con. Má vất vả nuôi Yên ăn học. Hồi đó cô Liên nói: “Hãy nhìn lại thành phần gia đình của em đi, đừng bướng”. Yên rướm nước mắt, im bặt. Yên nghĩ: “Thành phần gia đình đâu phải là cái tội. Khi sinh ra con người đâu có quyền lựa chọn gia đình nào hay đất nước nào”. Yên chua chát với ý nghĩ: “Một số thanh niên lo âu vì lý lịch gia đình hơn là tài năng của bản thân. Họ xấu hổ vì vết dơ trên khuôn mặt hơn là vết dơ trong tâm hồn. Thế giới đang chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, sao thanh niên Việt Nam còn bị chia thành nhiều đối tượng.”

Đã nhiều năm trôi qua. Mọi học sinh đã bình đẳng trước ngưỡng cửa đại học. Chính sách đổi mới đã xóa đi vết lem trong lý lịch của Yên.. Bây giờ Yên là giảng viên trường đại học X. Sáng nay, Yên gác thi vào đại học. Đứng trước những thí sinh, Yên chợt nhớ năm nào. Tuổi học trò đã qua. Nhìn những khuôn mặt ngây thơ, Yên hiểu hơn nhiệm vụ của mình. Yên sẽ cố gắng không để “bụi đời làm nụ hồng hoen ố và lòng mình chai lạnh những ước mơ”.

TÌNH THẾ ĐẢO NGƯỢC

“Tôi muốn nhắm mắt

để không còn nhìn thấy điều bất nhân

những khuôn mặt kênh kiệu, những tự hào lố bịch

những thằng ngu tranh giành quyền lực,

lén lút đâm nhau bằng những con dao bọc nhung.

Tôi muốn bịt tai

để đừng nghe lời thừa thãi

những câu nhân ngãi che đậy tâm địa đê hèn.

Tôi trách tôi hay trách ai

đã bỏ tôi giữa trần gian đầy giả trá

không dám nói điều muốn nói,

phải nghe điều không muốn nghe

phải làm điều không muốn làm.”

-Bài thơ vậy mà anh dám duyệt cho đăng à? Chuẩn bị làm đơn xin về hưu non là vừa! Anh không còn sáng suốt để làm việc nữa.

- Anh gợi ý thật đúng lúc! Làm việc với những người như anh làm sao tôi chịu nổi. Tôi cần gì đồng lương hưu mà xin về hưu. Tôi sẽ nghỉ việc.

- Tôi đùa thôi mà anh lại xúc phạm đến tôi như thế à! Nghỉ việc anh làm gì để sống!

- Làm gì cũng được, miễn thoát khỏi sự kiểm soát của những thằng ngu như anh. Tôi sẽ đạp xích lô, sửa xe đạp hoặc làm bất cứ chuyện gì mà một động vật có thể làm, để nhìn cơ quan này suy tàn đến đâu, nhìn những thằng ngu như anh còn chi phối người khác đến bao giờ.

- Anh loạn óc rồi. Tôi phải đưa anh vào nhà thương điên hoặc cho anh vào khám.

- Tôi không điên đâu! Anh đừng chụp mũ tôi là điên hay phản động. Tôi có một cái đầu để suy nghĩ, một cây viết để viết, một cái miệng để nói.

- Nhưng không được nói bậy!

- Nói bậy à! Anh lại áp đặt nữa rồi. Các anh chỉ có một khuôn khổ. Nói theo các anh là đúng, nói ngược các anh là bậy. Các anh thừa biết rằng không có đối kháng thì không có tiến hóa. Vậy mà các anh đã dập tắt những đối kháng ngay trong trứng nước.

- Tự do phải có khuôn khổ. Muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, sẽ loạn ngay, anh biết không?

- Trong khuôn khổ à! Có nhiều loại khuôn lắm. Cái khuôn của các anh quá nhỏ để đôi cánh tự do vùng vẫy. Quần chúng rất độ lượng, sẵn sàng tha thứ chúng ta những sai lầm. Nhưng chúng ta sẽ sửa sai và đổi mới như thế nào? Tin hay không tin, đó là một vấn đề. Không phải tin bằng lời, bằng bài viết, mà từ trong tư tưởng. Làm sao đọc được ý nghĩ người khác khi chúng ta tập họ che giấu đi những ý thật của mình? Tôi không có quyền phán xét anh! Nhưng tôi tin rằng lịch sử sẽ phán xét nghiêm khắc và công bình.

Ông đứng dậy, đi về nhà. Ông nằm dài trên

chiếc gường, nhìn đăm đăm lên trần nhà. Ông thấy mệt mỏi, đau đớn, uất ức. Ông thất vọng về những người ông từng gọi là đồng chí, từng chia sẻ và đặt niềm tin. Câu chuyện vừa rồi không đáng nặng lời như vậy. Nhưng vì quá nhiều điều bực mình dồn nén từ lâu, ông đâm cáu. Ông thấy mình đã nói nhiều câu không hay. Những người trí thức không cần chửi nhau bằng những lời sỗ sàng như vậy. Lỗi tại ai? Tại họ hay tại ông quá ảo tưởng về cuộc đời? Có phải mọi người vẫn sống, vẫn làm việc, vẫn hy vọng và đất nước vẫn tiến lên, dù là bước tiến của loài rùa. Thành tích vẫn được báo cáo đều đặn từ mỗi người, mỗi cơ quan, xí nghiệp. Nhưng phần lớn là thành tích giả, là những phương án tồi! Một lít xăng đáng lẽ phải chạy được 50km, đằng này vì chiếc xe xấu nên chỉ chạy được 30km.

Không chịu đựng được nữa, ông ngồi dậy, viết đơn xin nghỉ việc. Ông ứa nước mắt. Mấy mươi năm gắn bó với nhà nước, chẳng lẽ ông bỏ cuộc dễ dàng như vậy sao! Đứa con gái chạy vào nhà hí hửng:

- Ba ơi, năm ngoái con là học sinh giỏi, nên năm nay được xét du học ở Đức. Ngày mai ba vào cơ quan chứng lý lịch cho con bổ sung hồ sơ nộp lên Bộ Đại Học.

- Ờ, từ từ đi. Ba đang mệt. Có lẽ ngày mai ba không vào cơ quan đâu. Chậm vài hôm, có lẽ không sao đâu.

- Ba đang mệt sao không nằm nghỉ đi. Vậy mà ba thường khuyên con đừng ráng làm việc khi đang mệt, có thể dẫn đến bệnh hoạn. Để con pha cho ba ly nước chanh.

- Được rồi, để ba đi nghỉ. Con xuống phụ má làm cơm đi.

Ông lại đi nằm. Bao nhiêu ý nghĩ ngổn ngang trong đầu dày vò ông.

Vợ ông bước vào, ngồi cạnh ông, mân mê bàn tay gân guốc của ông và nói:

- Nghe con Hương nói ông đang mệt. Tôi biết ông đang khổ tâm vì chuyện cơ quan. Một đời có bao nhiêu đâu! Thôi, ông đừng tự dằn vặt nữa. Tôi biết ông đã cố gắng và chịu đựng nhiều. Chính bản thân mình cũng có lúc mình không hài lòng về mình, huống chi là người khác. Ông thừa hiểu rằng mọi thứ đã và đang xảy ra đó là lẽ đời. Tôi thấy dạo này ông hốc hác nhiều. Tôi và con đâm lo!

Ông có nói gì đâu, sao bà biết ông bực mình chuyện cơ quan. Hình như bà đọc được ý nghĩ của ông qua nét mặt, qua ánh mắt. Mấy chục năm sống chung, bà luôn hiểu ông qua sự im lặng. Bà luôn chia sẻ, an ủi ông mỗi khi ông buồn, khi ông thất bại, chán nản. Giá như không có bà, chẳng biết ông như thế nào trước những khúc quanh của đời mình??

- Ba má ơi, thằng Việt về!

Tiếng kêu quá lớn của đứa con gái cắt đứt dòng suy nghĩ ông. Hai người cùng đứng bật dậy, đi nhanh ra trước đón đứa con bộ đội.

Bà chạy đến ôm chầm con. Ông đứng lặng yên. Nỗi mừng bóp chặt tim ông.

Tối hôm đó, Việt chậm rãi ngồi xuống, với vẻ chững chạc chưa từng có. Thằng con ông đã lớn hơn

nhiều, khuôn mặt ngây thơ rám nắng, phảng phất vẻ phong trần. Việt kể:

- Ba má biết không? Con đã qua những giờ phút kinh hoàng. Con có cảm tưởng như đã trở về từ ranh giới của sống và chết. Đáng lẽ con chưa được về đâu!

Đêm đó trong rừng sâu, trời tối đen như mực. Nỗi nhớ nhà làm con không ngủ được. Con lồm cồm đứng dậy đi tiểu. Ra bên ngoài, con vấp vào một vật gì đó, té xuống. Con quay lại rờ thấy nhơm nhớp máu và biết đó là cái đầu của thằng bạn đã lìa khỏi cổ. Con muốn rú lên, nhưng cố mím môi im bặt. Con bò về hố cá nhân lấy súng bắn một loạt báo động. Những thằng lính Pôn-Pốt bỏ chạy. Con bắn theo giết được ba thằng. Hai thằng bạn con gác đêm bị cắt cổ.

Hôm sau, con được tuyên dương và được thưởng 15 ngày phép. Lương khô ở chiến trường rất hiếm. Đúng tiêu chuẩn con được ba gói để đi đường, nhưng con chỉ lấy một gói. Qua một ngày, con ăn hết lương khô. Đêm đến, con leo lên cây cao ngủ. Sáng dậy, tiếp tục đi. Đến trưa thì đói lả, chỉ uống nước cầm chừng. Nhiều lúc mệt quá, con muốn nghỉ chân. Nhưng con sợ nếu gặp bọn lính Khờ me đỏ thì... Con vừa đi vừa chạy, với nỗi hồi hộp của người đi tìm đường sống, được trở về gặp ba má, chị Hương, bạn bè dù một lần cuối cùng. Con thèm một khoảng trời xanh bình yên. Nhớ vô cùng những tháng ngày vô tư ngồi trong lớp học. Ra mặt trận con biết được đi học là một hạnh phúc.

Qua hai ngày đêm trong rừng sâu, con ra đến đồng bằng. Con quá giang xe người Kampuchia về

Phnom-Pênh, rồi từ Phnom-Pênh về biên giới. Qua biên giới, về với những người dân Việt, lòng con xúc động lạ thường. Nhưng vì không tiền con phải xin quá giang đến chiếc xe thứ sáu mới được cho lên, đứng sau bửng xe.

Dọc đường khách xuống bớt, con mới được vào ngồi trong xe. Đối diện con là một bà đi buôn, béo phệ, son phấn lòe loẹt, vòng vàng đeo đầy cổ và tay. Bà nhìn con với đôi mắt dè dặt, ghẻ lạnh. Con tức lắm, trong ba lô con có một khẩu súng AK xếp và hai quả lựu đạn. Con muốn lấy ra ăn thua đủ với cái nhìn đó. Nhưng chợt nghĩ đến máu, con lại rùng mình, nén cơn tức giận. Con đã từng rợn người trước bao nhiêu vết thương rỉ máu, máu của bạn bè, máu của những người lính thù địch.

Trên xe có một bà, con chẳng biết là ai. Bà hỏi con sao hốc hác và mệt lả như vậy. Con muốn nói tại vì đói và tại đường xa. Nhưng con im lặng. Bà móc túi cho con mười ngàn, bảo con ăn cơm và đi xe về nhà. Con đưa tay cầm tiền mà muốn khóc.

Ông đã không thể dửng dưng trước tương lai đất nước, lẽ nào lại có thể dửng dưng trước tương lai con ông?! Đất nước này là con ông, là cha mẹ ông, là vợ ông là tất cả của đời ông. Ông không thể bỏ việc, bỏ vị trí chiến đấu.

Hôm sau, ông xé đơn xin nghỉ việc, đến phòng ông tổng biên tập định xin lỗi về những lời bốp chát hôm qua. Ông bước vào, chưa kịp xin lỗi, ông tổng biên tập đã bắt tay vồn vã:

- Tôi xin lỗi vì đã nặng lời với anh hôm qua. Chúng ta sẽ rút kinh nghiệm để cùng nhau làm việc tốt hơn.

Ông chưng hửng và lí nhí:

- Không, chính tôi mới là người có lỗi.

Ông ngồi phịch xuống ghế và suy nghĩ: “ Tại sao sự việc lại lạ lùng như vậy. Hay là tình thế lại đổi mới? Có phải ông đã được đề bạt lên làm tổng biên tập thay cho tổng biên tập này? Hay có một chỉ thị mới?” Trí tưởng tượng đã đưa ông đi quá xa. Ông ngỡ như mình đang lạc đường. Kinh nghiệm đã dạy cho ông phải im lặng khi chưa hiểu rõ vấn đề. Ông im lặng, lấy gói thuốc mời tổng biên tập và tự châm cho mình một điếu.

Có lẽ ông tổng biên tập sẽ không bao giờ kể cho ai nghe về giấc mơ đêm qua của mình. “Những nấc thang danh vọng nghiệt ngã đang ở trước mặt tôi. Vẫn còn một khoảng cách giữa tôi và nấc thang đó. Một đoạn đường ngắn thôi, sao mà đủ cả: -Xác của những thằng bạn tôi – máu của cha mẹ tôi – nước mắt của người yêu tôi, của vợ con tôi. Trong đống xác chết quen thuộc đó, tôi thấy một xác chết của ai lạ quá. Trời ơi! Đó là cái xác chết của chính tôi thời tuổi trẻ.”

1989

PHƯỢNG TRẮNG

Tôi biết ông sau một tai nạn. Ông lái xe trong lúc say và đụng tôi gãy tay. Để chuộc lỗi, ông mời tôi về giúp việc cho ông.

18 năm tôi sống bên ông như người máy. Tôi làm tất cả công việc nhà, chăm sóc vườn hoa và nuôi cho ông hai con heo. Ông chỉ thích nuôi heo mọi. Khi nó lớn, ông bảo tôi bán và mua lại hai con khác. Tiền còn dư ông bảo tôi giữ lấy và gửi về cho mẹ tôi. Ông thường bảo tôi lấy những con cá liệt bé nhỏ và xương xẩu trong đống cá tôi dành nấu cho heo để nấu canh cho ông. Ông thích canh cá liệt với một chút thơm và cà chua. Ông thường uống cà chua xay với một chút đường. Ông đi chiếc xe trị giá 50.000 USD. Ngôi biệt thự này khoảng 100.000 USD. Tại sao ông lại có thói quen ăn uống thật kỳ quặc? Đặc biệt ông có một băng nhạc chỉ có duy nhất một bài “Phượng Trắng” được hát đi hát lại mỗi đêm.

Ông rất tốt với tôi. Sự trầm lặng và hiền hòa của ông thật gợi cảm. Nhưng ông không biết được sự xáo trộn ghê rợn trong con người tôi. Tôi xấu xí đến nỗi không người đàn nào ông thèm chú ý đến tôi. Gần 40 tuổi tôi vẫn thường trăn trở với những giấc mộng hoang đường. Tôi thèm có một đứa con với bất cứ người đàn ông nào. Nhìn hai con heo mọi quấn quít bên nhau tôi hiểu thế nào là sự cô đơn.

Hôm nay, ông đi làm sớm và bỏ quên quyển nhật ký trên bàn. Nhân danh sự bất hạnh, tôi tự cho mình cái quyền lục lọi nhật ký của ông. Thì ra mẹ ông mất sớm. Hồi nhỏ ông ở với bà nội, nơi một vùng biển xa xôi và nghèo nàn. Bà thường cho ông ăn món canh cá liệt nấu với cà chua. Ông phải giúp bà nuôi những con heo mọi để kiếm tiền sinh sống. Ông từng qua vườn hàng xóm để ăn trộm cà chua. Tuổi thơ ông tràn ngập tiếng sóng biển, tiếng heo kêu và màu đỏ của những trái cà chua. Tại sao ông trở nên giàu có như bây giờ? Điều này ông không ghi trong nhật ký. Tại sao ông thích nghe hoài một bản nhạc vào mỗi đêm?

Cách đây 18 năm, ông 30 tuổi. Ông tuyển chọn tất cả những bài nhạc ông yêu thích nhất trong một băng nhạc. Và ông chỉ nghe băng nhạc đó. Lần đó, trong băng nhạc của ông, vợ ông xóa đi bài “SN” của ĐL và thay vào đó bài “PT” của VH. Ông giận vợ, không nói chuyện và không ăn cơm với bà trong hai ngày. Sau đó, ông đi nhà hàng với bạn bè và khiêu vũ với một cô vũ nữ. Một người bạn “tốt” nào đó đã chụp hình và gởi cho vợ ông. Bạch Phượng thường nói: “Phượng trắng đã vắt cạn máu mình cho một tình yêu nên chỉ còn lại màu trắng thanh khiết và buồn bã. Bạch Phượng không chấp nhận sự phản bội dù là nhỏ nhặt”. Sự cực đoan trong tình yêu đã thôi thúc vợ ông bỏ nhà ra đi. Đêm đó, ông uống rượu say và gây ra tai nạn cho tôi. Khi tôi nằm bệnh viện, ông chăm sóc tôi rất tận tình. Ông mang máy ghi âm và băng nhạc ông thích vào bệnh viện để mở cho tôi nghe. Những bản nhạc đánh thức trong tôi những khát

vọng đồng thời giúp tôi lãng quên sự cô đơn. Những bản nhạc mơn trớn trái tim tôi và thôi thúc tôi dấn thân vào sâu thẳm của biển cả nội tâm. Tôi chìm đắm trong sự đê mê của những lời ca huyền hoặc.

Ông bị ám ảnh về một người đã chết. Ông dằn vặt vì một người đã đi xa. Tại sao ông vô tình trước một linh hồn bên cạnh ông - đang yêu thương ông bằng tình yêu duy nhất, trong khuôn khổ của định mệnh và không hề có quyền chọn lựa?

May mà tôi còn những bản nhạc sẵn sàng ru ngủ, chia sẻ và thủ thỉ bất cứ lúc nào...

1992

TRƯỚC BIỂN

Tôi lớn lên bên bờ biển. Thủa nhỏ, tôi thường ngồi hàng giờ trước biển để suy tư, mơ mộng. Tôi thấy biển quá hấp dẫn và quyến rũ. Ngồi trước biển bao giờ tôi cũng có cảm giác thật bình yên, sảng khoái. Tôi nhìn biển như một thần tượng về sự mênh mông, bao dung và độ lượng. Nhưng tôi cũng bỏ biển ra đi từ đó.

Ba mươi năm sau, tôi lại về ngồi trước biển. Tôi vẫn yêu biển bằng tình yêu muôn thuở. Tôi thèm được về hưu, để chiều chiều ngồi nhìn biển, cảm nhận nét đẹp vĩnh hằng của biển. Tôi không hiểu tại sao lòng mình lại tĩnh lặng, hiền hòa hơn khi ngồi trước biển. Tôi như chìm đắm trong hạnh phúc khi tiếp nhận sự giao cảm trọn vẹn giữa biển và tôi.

Giờ này, khi tóc tôi đã bạc, tôi vẫn yêu biển. Nhưng tôi thấy biển còn quá nhỏ. Quá nhỏ so với tình yêu của một người dành cho một người.Quá nhỏ so với nỗi nhớ của một người dành cho một người. Quá nhỏ so với những bất hạnh và phi lý mà loài người phải gánh chịu. Quá nhỏ so với những cuộc chiến tranh mà con người đã mang đến cho nhau.

Tôi đang ngồi uống cà phê một mình và đắm đuối chiêm ngưỡng màu xanh mênh mông của biển. Duyên kéo ghế ngồi đối diện tôi và nói:

- Em muốn giúp anh nhìn thấy biển đẹp hơn.

- Sao em lại có mặt ở đây?

- Em biết anh về đây nên xin nghỉ phép,

- Em đâu còn trẻ nữa. Đừng lãng mạn quá.

- Đừng dạy đời em nữa. Em đủ lớn để hiểu điều mình làm.

Ba mươi năm trước, Duyên đã giúp tôi nhìn thấy nét đẹp từ những điều đơn sơ cũ kỹ. Có lần, nàng hẹn tôi và không đến. Chúng tôi chia tay từ đó.

- Em đã nợ anh một lần hẹn mà không đến. Hôm nay, em đến mà không hẹn.

Hồi đó Duyên yêu mẹ hơn tôi, nên đã nghe lời mẹ lấy một người đàn ông giàu có. Tiền và thời gian đã để lại những vết nhăn trên khuôn mặt của nàng và của tôi. Nhưng bất chấp thời gian và sự xa cách, thỉnh thoảng Duyên lại hiện về trong ý nghĩ của tôi.

Duyên kể về đời sống của nàng. Lời nói của nàng hòa vào tiếng sóng biển kéo tôi ra khỏi sự bình yên tưởng chừng như vĩnh cửu.

Duyên đứng dậy, đưa bàn tay bóp nhẹ tay tôi và nói: “Thôi em về, hãy yêu biển dùm em và yêu anh dùm em”. Tôi ngồi yên nhìn theo bóng Duyên khuất trong nắng chiều. Nhìn đôi vai Duyên, tôi hình dung được nỗi buồn trên khuôn mặt nàng và hiểu thêm về những nếp nhăn trên đuôi mắt Duyên. Một lần nữa, tôi bỗng thấy biển vẫn còn nhỏ so với sức chịu đựng của con người và trước biển tôi chỉ là hạt bụi.

ĐIỀU CHỈ VIẾT TRONG NHẬ̣T KÝ

Ba má đặt tên cho tôi là Danh, ngẫu nhiên phù hợp với tính háo danh của tôi. Tôi khao khát danh vọng hơn mọi thứ trên đời. Có ai khen, tôi hạnh phúc như được vàng. Khi tôi viết một truyện ngắn, nếu được đăng báo, tôi vay tiền để mua hàng trăm tờ tặng bạn bè, nếu chưa được đăng, mỗi tháng tôi nhịn tiêu, trích nửa số tiền lương để photocoppy tặng người quen, với hy vọng nhỏ nhoi là được nghe một lời khen, được người khác quí mến mình.

Danh vọng thường trực dày vò tôi. Tôi yêu nó, khổ vì nó và gắn với nó như duyên phận. Nhiều lúc tôi nghĩ rằng, nếu bứt khỏi nó, đời tôi sẽ thanh thản vô cùng. Nhưng niềm khao khát này đã là chất liệu sống trong dòng máu tôi.

Đất- tên một cô gái hồn nhiên và không mấy tế nhị, cùng tổ bộ môn với tôi. Nàng thường nói thẳng: “Anh là kẻ háo danh, anh hay làm những việc thừa thãi vô ích”. Bị chạm nọc, tôi cay cú lắm, nhưng vẫn cười: “Em thấy không, trong tổ ai cũng quí mến anh, chỉ có em”. “Vâng, chỉ có em là không chấp nhận sự lãng phí của anh, sự lãng phí ngu ngốc”. Tôi cười cầu hoà vì không muốn có đối thủ, nhưng lòng tôi lồng lộn điên

cuồng. Đất đã chạm vào điều “thiêng liêng” của tôi, song nghĩ cho cùng, tôi cũng ngầm cảm ơn nàng đã giúp tôi hiểu hơn bản chất của mình.

Càng sống lâu bên Đất, tôi càng thấy Đất dễ mến. Đất hiền hậu, chân chất, bao dung. Ở Đất toát ra nét tự nhiên như nắng, như gió, như cỏ cây, như hoa lá. Nhìn phong cách sống của Đất, tôi chợt nhớ đến một nhân vật nữ trong tiểu thuyết: “Em là dòng sông, là quê hương, là bóng dáng thân yêu của mẹ.”

Đất và tôi được cử đi thi tiếng Nga để nhận học bổng sang Liên Xô tu nghiệp hai năm. Còn nửa tháng nữa đến ngày thi, tôi học ráo riết, với quyết tâm mãnh liệt là phải thi đậu. Tôi không cần học bổng du học, nhưng tôi sợ thi rớt là mất danh dự với người quen. Xui cho tôi, cô bạn của người yêu tôi đến báo: “Nhỏ Thủy bịnh nặng, đang nằm bệnh viện Sài Gòn”. Thế là mỗi ngày tôi dành hai giờ để vào bệnh viện, vồn vã thăm hỏi, ân cần chăm sóc. Bên cạnh giường Thủy là cô bịnh nhân chừng hai mươi lăm tuổi. Ngoài sự chăm sóc chu đáo của gia đình, thỉnh thoảng tôi thấy xuất hiện một người đàn ông ngoài ba mươi. Với ánh mắt cô gái nhìn anh, tôi biết anh là người yêu của cô. Anh ít nói, chỉ đưa tay sờ nhẹ trán cô, nhìn cô yên lặng, bình thản lấy sách ra đọc. Thủy nói thầm với tôi: “Em mà có người yêu như ông đó, chắc em bỏ từ lâu. Người đâu mà vô tình, bốn năm ngày mới vào thăm một lần, chẳng hỏi han lo lắng gì cả, chỉ ngồi rồi lặng lẽ đọc sách”. Tôi không trả lời Thủy, nhưng tôi cảm nhận rằng mỗi người có một cung cách riêng để biểu hiện tình cảm. Và trong sự im lặng

của anh, tôi mường tượng thấy được tấm lòng của anh dành cho cô gái. Tôi biết chắc cô ấy hiểu anh.

Ngày mai tôi thi môn cuối cùng, môn làm luận. Hội đồng thi cho trước mười ba đề tài, tôi chuẩn bị mới có mười hai đề. Tôi vào thăm Thủy, dự định tối nay sẽ về chuẩn bị nốt đề tài còn lại. Điều bất ngờ lại đến. Thủy đề nghị: “Tối nay nhà em không có ai ở lại, anh ở canh chừng em, lỡ nửa đêm em có sốt cao anh đi gọi bác sĩ cho kịp lúc”. Tôi không thể từ chối và phập phồng lo âu về một điều không tốt sẽ đến trong buổi thi ngày mai. Đêm khuya, Thủy trăn trở, bật ra những tiếng rên nhè nhẹ. Tôi thao thức không ngủ được. Hai giờ khuya, chung quanh tôi vang lên “bản hòa tấu” của những tiếng rên rỉ, khóc lóc, tiếng ụa mửa, tiếng than vãn đau đớn, tiếng dỗ dành của người thân, của những cô y tá trực, và cả tiếng thở dài của cô bịnh nhân giường bên cạnh. Tôi chợt nghĩ: “Tôi đi tìm danh vọng làm gì khi từ lâu tôi thờ ơ với nỗi đau đồng loại, từ lâu tôi không hề biết trên đời có một thực trạng như vậy! Có thể một ngày nào đó, tôi cũng sẽ là bịnh nhân. Không, không cần đợi một ngày nào khác nữa, tôi đã và đang là bịnh nhân của chứng bịnh háo danh!”. Qua một đêm trong bệnh viện, tôi thấy mình như già thêm mấy tuổi.

Buổi sáng đi thi, sợ trễ giờ, tôi đạp xe vội vàng và thoáng ao ước phải chi tôi có chiếc xe cúp. Tôi đi học mười bảy năm, đi dạy mười năm, làm việc miệt mài mà vẫn với chiếc xe đạp. Trước khi vào thi, gặp Đất, tôi than thở: “Anh chỉ mới chuẩn bị có mười hai đề, còn đề số mười ba chưa đụng tới”. Đất đề nghị: “Em cũng vậy, em

chưa chuẩn bị kỹ đề số bảy. Nếu anh bốc trúng đề mười ba, em sẽ đổi cho anh, và nếu em bốc trúng đề số bảy, anh đổi cho em”. Tôi nhất trí, bớt đi nỗi phập phồng sẽ bốc trúng đề mười ba .

Tôi bốc trúng đề số năm, đề ruột của tôi. Tôi mừng húm. Nhưng khi xuống chỗ làm bài, Đất khẽ nói nhanh: “Xui quá, trúng đề số bảy. Anh đổi cho em đi”. Tôi bàng hoàng. Đề số bảy là đề khó nhất và cũng là cái đề tôi ghét nhất. Tôi cũng chuẩn bị, nhưng không kỹ. Đã lỡ hứa vớt Đất, tôi đổi cho Đất mà lòng đau nhói.

Khi ngồi làm bài, tôi nhớ cái đề ruột mà tiếc nuối. Viết nửa chừng, tôi linh cảm rằng kỳ thi này mình sẽ thất bại. Tôi đã bỏ sở trường để nhận sở đoản. Tôi mất hứng thú khi làm bài, cảm giác mệt mỏi vì thiếu ngủ ùa tới. Tôi lại dằn vặt, tại sao tôi lại giữ lời hứa với Đất để nhận phần thua thiệt về mình? Tại sao tôi không nói với Đất rằng đề số bảy tôi chuẩn bị sơ sài nên cũng không làm được? Tại sao tôi không phớt tỉnh trước Đất, để chỉ cúi đầu trước một mình Đất và ngẩng đầu trước hàng trăm người khác? Có phải đây là một bài học, một kinh nghiệm?

Bên tai tôi loáng thoáng những lời nói của bạn bè: “Thằng Danh mà thi thế nào cũng đậu thủ khoa”. Đậu - rớt là lẽ thường. Nhưng tôi sẽ đau đớn khi hiện thân trước người khác như một kẻ bất tài. Tôi tự an ủi rằng: “Tôi đã làm đúng, việc gì phải tiếc nuối. Hơn nữa, tiếc nuối chỉ làm mất thời gian và tự hành hạ mình một cách vô ích!” Trong đời tôi, nếu cộng tất cả thời gian mà tôi dành để tiếc nuối và dằn vặt, thì đó là một con số khá

lớn, nhưng hình như gỗ đá mới không biết tiếc nuối, dằn vặt và đâu phải chỉ một mình tôi như thế trong đời này.

Chỉ có một chỉ tiêu cho Tổ tôi. Đất được chọn đi. Hôm tổ bộ môn đưa tiễn Đất ra sân bay, bạn bè nhìn tôi cười cười. Nụ cười vô tình của họ làm tôi ngầm chua xót. Đất cũng nhìn tôi và mỉm cười. Tôi hiểu rằng Đất thông cảm tôi. Tôi đã phải cúi đầu trước hàng trăm người, để có thể ngẩng đầu trước Đất, trước Thủy và trước lương tâm tôi. Có phải đó là cái giá của sự hy sinh một chút lòng háo danh ??!

1987

NHỮNG MẢNH ĐỜI LẮP GHÉP

Bùi Giao là giáo viên toán cấp 3. Đã bốn mươi mà chưa lập gia đình. Nghe đồn rằng anh có người yêu đi xa và hai cô bồ là bạn thân của nhau. Tất cả ba cô trước đây đều là học trò anh. Đó chỉ là dư luận. Hơi đâu mà tin vào dư luận.

Giao có vầng trán rộng, đôi mắt to và dài với cái nhìn xa xôi, ẩn giấu niềm suy tư miên man. Khuôn mặt đẹp và có hồn. Đó là sự phối hợp nét nhu hòa và thanh tao của một cô gái, chút mơ mộng của nhà thơ, vẻ uy nghi cứng rắn của một tướng lĩnh. Những điều tưởng như trái ngược nhau lại hòa hợp nhau tạo nên sự cuốn hút đầy ma quái, phảng phất một thế giới nội tâm sâu thẳm.Giao làm thơ từ năm học lớp 6, viết truyện ngắn từ năm 15 tuổi. Từ nhỏ đến năm 35 tuổi, anh chưa hề gởi bài đăng báo. Năm 35 tuổi, anh được giải nhất trong cuộc thi truyện ngắn của báo Văn Nghệ. Anh viết với sự thanh thản như viết nhật ký. Anh viết xuất thần bằng máu thịt của những đời người, bằng chất liệu của mấy mươi năm sống, suy tư và dằn vặt. Thằng bạn đánh máy tự động đánh thêm một bản và gởi dự thi. Lúc thấy truyện mình đăng báo và khi được giải, anh vẫn bình thản. Điều gì đã làm anh bình thản trước vinh quang?

Một nhà phê bình đã viết về anh: “Chỉ nửa giờ sống với truyện ngắn của Bùi Giao, chúng ta cảm tưởng như đã sống một đoạn đời dài đầy xót xa và hùng tráng. Đó là một cuộc sống bình dị ẩn chứa những tư tưởng lớn. Một cách nhìn thấu suốt thời đại và tâm linh con người. Là viên gạch góp phần cho nền tảng văn hóa mới. Là nhịp cầu nối tiếp thế hệ này và thế hệ sau. Văn anh không là thiên anh hùng ca, không là bài tình ca, không là bản cáo trạng – mà là một đời sống, với đủ những thuộc tính hạnh phúc, đau khổ, đạo đức, tội lỗi, yêu thương, hận thù, được mổ xẻ khéo léo bằng nhát dao nghệ thuật. Anh đã vay mượn một phần linh hồn của nhân loại để ấp ủ trong tác phẩm của anh. Hầu như mọi người đều bắt gặp chút dáng dấp của mình trong đó, cảm thấy được chia sẻ và không cô đơn. Nếu không tha thiết yêu thương con người, làm sao anh viết nổi những dòng như thế?”

Sau đó, vài người làm công tác xuất bản và làm báo đến đặt hàng. Họ xuất bản cho anh quá nhiều và trả nhuận bút cao. Những truyện viết nhanh, những bài thơ vội đều phảng phất nét tài hoa, sâu sắc và trữ tình nhất định. Trong nhiều tác phẩm ra đời vội vã đó, có vài tác phẩm không hoàn thiện, và anh bị vài nhà phê bình khó tính “đập” cho một trận nên thân.

Một điều lạ! Anh vẫn bình thản trước những phê bình nặng nề. Thái độ anh khác đời!? Sao văn anh nói lên những điều rất đời và rất người.? Hay tại anh có nội tâm cực mạnh, đủ tạo cho anh sự quân bình trước mọi hoàn cảnh? Hay anh có tài che giấu cảm xúc?

Giao dừng lại hơi lâu ở mục “Làm quen”: “Trần Thiên Hồng, 30 tuổi, họa sĩ, góa chồng. Muốn lập gia đình với người có khả năng chịu đựng và chia sẻ.”. Anh nhớ đã xem vài bức tranh của Hồng ở phòng triển lãm. Anh không quen, nhưng biết mặt Hồng. Hồng có khuôn mặt dễ nhớ – mắt to, mũi gãy, miệng rộng, môi hơi dầy. Anh quyết định viết thư tỏ tình và cầu hôn, chấm dứt một phần đời với danh nghĩa độc thân.

Một đám cưới kỳ cục, không có phù rể mà có ba cô phù dâu. Ba cô này là người thân quen cũ của Giao, đã trực tiếp gặp Hồng và đề nghị để họ làm phù dâụ. Cả ba đều có vẻ tha thiết. Hồng hỏi ý kiến Giao. Giao nói: “Cứ để cả ba cùng làm phù dâu. Hơi lố bịch, nhưng tất cả sẽ qua đi.”.

Cô dâu chính mặc áo dài trắng. Tình cờ? Ba cô phù dâu đều mặc áo dài đen. Khách dự đám cưới xầm xì cho rằng đây là điều quái gở. Nhưng khuôn mặt của cả bốn cô dâu đều điềm tĩnh trước những lời xầm xì. Nét thanh thoát, bình thản của người đã nếm trải quá nhiều thể hiện trong dáng dấp của các cô dâu. Có người hỏi: Tại sao ngày cưới mà mặc áo dài đen? Cô dâu chính đỡ lời: “Màu đen không phải chỉ là màu tang tóc. Màu đen còn là màu của sức mạnh được cô đọng lại, màu của sự bí ẩn thiêng liêng”

 (Trích nhật ký của Ngọc)

Anh cưới một người vợ không đẹp và khô bất tử 46

quen trước. Có phải là anh tự đày đọa mình? Anh tự đày đọa mình như vậy thì em có còn lời nào để trách anh? Bây giờ em đã giàu có, nhưng không anh, nhìn những đồng tiền, em thấy đời vô nghĩa! Tại sao anh lại hiện diện trên đời này? Tại sao em lại yêu anh mà không là ai khác?

Anh lừa dối em. Anh kể cho em về quá khứ của anh mà không kể về hiện tại và tương lai. Anh nói: sau em anh không còn yêu ai nữa. Vậy anh đã yêu thêm Minh và Tâm. Anh không nói gì, họ không nói gì. Nhưng ánh mắt họ nhìn anh và anh nhìn họ là cái nhìn không còn khoảng cách. Ánh mắt đó có khác gì ánh mắt của em nhìn anh và anh nhìn em? Có phải sự lừa dối này là nhân đạo?

Khi yêu anh, em cảm thấy cả cuộc đời cô đọng thành anh! Em cảm nhận rằng cả thế giới có thể hiện hữu trong một con người. Chia sẻ trọn vẹn với một con người là đồng nghĩa với chia sẻ cả nhân loại. Những khám phá đầy mới lạ của hôm nay, ngày mai thành cũ kỹ sao đến bây giờ anh vẫn mới đối với em? Sự phong phú của tâm hồn anh dẫn dắt em từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Thế giới của anh không phải là thiên đường hạnh phúc, không phải là địa ngục ngập tràn khổ đau, mà là một đời thực - có hạnh phúc xen lẫn đau khổ, có đức hạnh xen lẫn tội lỗi- là con đường tuổi thơ lầy lội bùn sình; là khoảnh khắc ngụp lặn trong biển đời ngập ngụa buồn phiền, say đắm; là cánh rừng vàng vọt nắng chiều; là viên đá phủ đầy rong rêu, là bài tình ca chứa chan máu lửa, là những đêm nằm vùi trong kỷ niệm; làthăm thẳm bóng đêm tìm về dĩ vãng; là con đường miền nhiệt đới sau cơn mưa mát rượi.

Anh khai mở trong em những rung cảm đầu đời, vừa đớn đau vừa hạnh phúc. Anh giải phóng em khỏi trầm uất miên man của những dằn vặt ngây thơ. Rồi anh lại ném em vào nỗi khắc khoải dữ dội hơn.

Em ra đi vì anh. Vì anh muốn thế! Anh muốn em sống với một thế giới khác thế giới anh, để từ đó nhìn về anh và hiểu anh hơn. Có lần em ảo tưởng em hiểu anh đến mức chúng ta không thể thiếu nhau. Xa anh là bi kịch đối với em. Cuộc đời đôi khi là bi kịch, và ai cũng lầm tưởng rằng mình là diễn viên chính, mình đang gánh những khổ đau lớn hơn đồng loại, mình đứng cao hơn đồng loại.

Ranh giới giữa được và mất quá mong manh. Hôm nào ngồi trên máy bay, em nghĩ em vẫn còn anh. Bây giờ, em đã mất anh! Phải chi anh giận dỗi bỏ đi. Em sẽ dẹp lòng tự trọng để chạy theo níu kéo anh. Nhưng anh tách rời em bằng một đám cưới, bằng luật pháp...

Trong nỗi đau này, em hiểu rằng người ta không thể vay mượn cảm giác. Chỉ có người trong cuộc mới thấm thía vào máu thịt, xương tủy nỗi đau trần thế. Em tốt nghiệp đại học và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ một cách nhẹ nhàng. Ông bố nuôi người Canađa không có con ruột nên rất thương và cất nhắc em lên chức tổng giám đốc của một công ty lớn. Bạn bè ai cũng nói rằng em may mắn, thành đạt sớm. Nhưng những may mắn mà em có được vẫn nhỏ nhoi trước bất hạnh lớn, là em không còn anh trong đời thực mà chỉ còn trong ký ức,

trong ý niệm. Bất hạnh này đủ xô ngã những may mắn kia!

Khi nhấp chén rượu chúc mừng hôn lễ anh, cảm giác tởm lợm đến khốc liệt dâng lên trong tôi. Tôi muốn ụa mửa, nhưng cắn môi kềm chế. “Chuyện đời thường vẫn thường bất trắc. Điều trớ trêu nghĩ cũng thường thôi!”. Tôi dặn lòng phải tự chủ, phải đứng vững trước những bất thường phi lý. Tôi cố gắng vì anh, kiếm tiền vì anh. Vậy mà anh đã lừa dối tôi. Có lẽ không còn thằng đàn ông nào tồi hơn anh. Tôi hận anh. Tôi mệt mỏi quá! Ai đưa tôi qua cơn sốc này nếu không là chính tôi?

Giữa có và không hình như không ranh giới. Nhưng có sự khác nhau rất xa giữa một người mang đầy phiền não và một người vô tư! Trước đám cưới anh, tôi là một người khác; bây giờ tôi là một người khác. Tôi từ một cây xanh thành một cành khô! Con người không phải có một lần chết. Hai mươi ba tuổi xa anh, tôi chết một lần. Ba mươi tuổi, anh cưới vợ, tôi chết thêm một lần. Không! Tôi phải sống và anh phải chết. Tôi sẽ thuê người giết anh. Thôi, tự tôi giết anh. Tôi giết anh bằng chính ý nghĩ của tôi. Trước kia dẫu ở xa nhưng anh thường xuyên hiện trong tâm tưởng của tôi. Bây giờ, anh phải chết trong tôi! Đám cưới vừa rồi coi như đám tang. Tôi dự để tống tiễn anh. Vĩnh biệt anh! Tôi trở về với tôi - một tiến sĩ luật khoa, một tổng giám đốc

 (Trích nhật ký của Minh)

Yêu anh. Đó là điều ngoài sự̣ hiểu biết của tôi.

Tôi biết tôi không giữ nổi anh. Tôi vẫn yêu để bây giờ tôi lỡ dở! Nhưng tôi chấp nhận tất cả. Mọi thứ đã xảy ra trên đời này là lẽ thường. Hơn nữa, những hạnh phúc ngắn ngủi bên anh đủ để tôi chấp nhận mọi đau đớn trong quãng đời còn lại. Còn anh, có phải anh tự đày đọa mình bằng cách cưới một người không quen trước?

Người Việt có thói quen dành dụm cả năm để tiêu xả láng trong mấy ngày Tết. Còn tôi, tôi gom góp một đời để xài cho anh trong một ngày, mà anh không biết điều! Anh đã hành động điên rồ, ngu xuẩn. Có lẽ theo anh, đó là điều bình thường. Anh đã nói: “Tất cả mọi điều xảy ra đều theo quy luật, đều có những nguyên nhân... dù đó là điều phi lý, tàn bạo, trái với đạo làm người! Phải biết chấp nhận mọi thứ bằng một cái đầu tỉnh táo, một tấm lòng thanh thản, rồi từ từ hành động và đấu tranh”.

Anh ác lắm. Anh cho tôi quá nhiều... để tôi suốt đời ấm ức làm người mắc nợ. Anh mang đến cho tôi những món quà quá lớn, để tôi run lên trong những lần đón nhận. Tôi không đủ sức để đền đáp anh một cách công bình như một luật chơi. Anh nói: “Thà để lửa cháy không, hơn là đặt lên một nồi cơm đã chín”. Có phải anh bây giờ là nồi cơm đã chín và tôi là ngọn lửa cháy không? Cháy đến tàn lụi...

Chọn ngành Y có nghĩa là thâm tâm tôi đã thù ghét sự đau đớn. Chọn chuyên khoa nhi, vì tôi thích trẻ thơ và yêu sự sống. Vậy mà, ngày cưới của anh tôi đã chuẩn bị cho mình một lọ thuốc ngủ! Về nhà, tôi thấy mẹ nằm co ro, trơ trọi trên gường... chỉ có hai mẹ con mà tôi đã vô tình với mẹ. Dù sao cuộc sống của tôi cũng có ích cho một người... Còn một người cần sự hiện diện của tôi trong đời này là tôi phải sống...

Bao nhiêu ngày rồi từ ngày cưới của anh? Tôi như không còn khái niệm về thời gian. Soi gương mặt mình, tôi thấy hình ảnh như một thiếu phụ tiều tụy, buồn phiền. Mới hai mươi tám tuổi mà tôi như đã bốn mươi. Những bi thương đã làm tôi già trước tuổi. Tôi hiểu thế nào về cái giá mà con người phải trả cho cuộc sống. Cái giá cuối cùng là cái chết. Nhưng có những món nợ phải trả từ từ. Đó là bước chân đều đặn đi về cõi già nua !!

Đã nhiều đêm, tôi nằm một mình trong căn phòng nhỏ vật vã với cô đơn và nỗi đau. Tôi muốn chết. Nhưng tại sao tôi phải chết? Bao nhiêu người vẫn sống với những gánh nặng trên vai, với những niềm đau lớn, với những phi lý, bất công đổ ập xuống đời. Tôi không hiểu nổi cuộc đời. Tôi không hiểu nổi tôi. Hình như đời người vẫn là điều bí ẩn?!

Anh nói: “Cuộc sống khắc nghiệt sẵn sàng trừng phạt con người... Phải biết chấp nhận trả một cái giá lớn cho một sai lầm nhỏ”. Tôi sai lầm điều gì? Tại sao tôi bất hạnh? Không lẽ tôi bị trừng phạt? Chẳng lẽ đó là số phận nghiệt ngã, là sự trầm luân của một kiếp người? Tất cả dù qua đi, sao vẫn đọng lại trong tôi nỗi hờn oán xót xa. Tôi đã đánh mất một phần tuổi trẻ, một phần đời pha lẫn nhiều chua cay và đầm ấm. Tôi muốn quên dĩ vãng, quên hôm nay. Nhưng con người là sinh vật gắn liền với kỷ niệm và nỗi nhớ. Những nỗi nhớ dày vò thân xác, bóp nghẹt trái tim. Những nỗi nhớ đủ sức giết đi bao nhiêu thế hệ. Không có nỗi nhớ thì làm gì có lịch sử, làm gì có kiến thức. Nỗi nhớ có khi là bàn tay ấm áp dịu dàng, có khi là cái tát đau đớn. Trong nỗi đau này, tôi nhớ loáng thoáng ý tưởng trong những câu thơ của anh: “Có hạnh phúc nào không trả giá bằng khổ đau. Không có nỗi đau lớn hơn cái chết. Làm sao con người nhận ra nhau, làm sao tôi nhận ra em. Có tác phẩm nào được giải Nobel mà không chứa nỗi đau vĩ đại”. Vâng! Chỉ có nỗi đau mới đủ sức kết tinh thành những bông hoa đẹp, những tác phẩm có hồn. Chỉ có nỗi đau mới thai nghén và cho ra đời một sự sống mới. Nhưng hình như đau khổ và hạnh phúc có khi là một. Biết đâu có một ngày nào đó trần gian sẽ ứ thừa hạnh phúc và hiếm hoi đau khổ. Khi đó, con người sẽ giành giựt nhau khổ đau.

Bao nhiêu đàn ông đã đến và nói với tôi những lời yêu thương. Nhưng tôi vẫn dửng dưng, vì tôi chỉ nghĩ về anh. Đến với anh, tôi đã dẹp đi cái tôi và niềm kiêu hãnh. Bây giờ xa anh, tôi muốn tìm lại con người chính của tôi – độc lập, tự tin. Nhưng có những cái mất đi không thể tìm lại. Anh vẫn đâu đó trong máu thịt tôi. Bây giờ tôi mới hiểu như thế nào là sự giả dối đầy nhân đạo. Thà tôi đừng biết sự thật! Để tôi vẫn bình yên và hạnh phúc trong niềm tin ấm áp rằng tôi vẫn có anh. Có bi kịch nào khủng khiếp hơn sự đổ vỡ niềm tin?! Tôi không còn tin anh. Tôi không tin tôi. Tôi muốn tin vào định mệnh. Có lần anh nói: “Anh tin có định mệnh”. Tôi hỏi: “Nếu tin có định mệnh, thì người ta còn cố gắng và nỗ lực làm gì?” Anh ngụy biện: “Ngay cả sự cố gắng và nỗ lực của con người cũng do định mệnh thôi thúc. Dù không muốn cố gắng, không muốn nỗ lực, định mệnh cũng chẳng để yên”! Giờ đây, bị dìm dưới tận cùng nỗi đau, tôi cảm nhận mơ hồ rằng có bàn tay thô bạo của định mệnh. “Mệnh lệnh vô hình xui tôi thương anh. Định mệnh vô tình đưa anh xa tôi. Những thử thách tưởng chừng không chịu nổi. Thời gian trôi, cũng sẽ qua thôi!”. Vâng. Chỉ có định mệnh mới đủ sức kéo anh ra khỏi đời tôi. Và định mệnh vô tình đã cướp đi của tôi một thời thiếu nữ, một thời yêu anh và khát khao làm vợ anh. Không! Vẫn còn trên thân xác và trong tâm tưởng tôi một thời điên dại, một thời tôi sẵn sàng đánh đổi mọi thứ - sự nghiệp của tôi, máu thịt của tôi, nỗi đau của tôi. để có anh, được sống cùng anh!

 (Trích nhật ký của Tâm)

Trước đây dù bịnh nặng, em cũng chưa bao giờ bỏ lớp. Lần này, em đã nghỉ dạy cả tuần sau ngày cưới của anh. Anh đã làm xáo trộn đời em. Em nhớ: mười năm trước, khi em học lớp 12, vào lớp anh thường nói “Tôi chưa bao giờ nghỉ dạy mà không báo trước cho học trò, trừ khi tôi bị tai nạn đột xuất. Để cho số đông phải tốn thì giờ là điều tội lỗi”.

Em yêu anh ngay khi còn là học trò anh. Em uống từng lời anh nói. Em mê đôi mắt như sẵn sàng thông cảm và chia sẻ với người khác. Em thích cả vẻ uể oải bất cần trên thân xác bệnh hoạn của anh. Hàng rào thầy trò đã ngăn em đến gần anh. Em chỉ biết gởi gắm tình cảm về anh qua quyển nhật ký, và qua những lời nói chuyện với Minh.

Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Minh nói với em là Minh yêu anh. Minh nói trước là Minh đã giành anh về phần Minh. Là bạn thân, em buộc lòng phải công nhận tình yêu của Minh, trong khi thâm tâm em bị dằn vặt. Để anh cho Minh hay giành anh cho em? Dần dần Minh cũng biết là em yêu anh. Trước đó, Minh và em thường đi chung đến nhà anh. Sau này, mạnh ai nấy đi. Anh là con dao quái ác chia cắt tình bạn giữa Minh và em.

Từ đó, khi nói chuyện với Minh, em không dám nhìn thẳng vào mắt Minh. Có những giấc mơ em thấy Minh nhìn em với đôi mắt hờn oán. Thức dậy, em muốn lìa xa anh. Nhưng ở anh có sự quyến rũ mãnh liệt.Hấp lực đó đủ sức níu kéo em bước đi trên gai góc, trên máu lửa dư luận để đến với anh. Tình yêu? Em không hiểu nổi! Giá gì đừng có tình yêu, đừng có anh, đừng có em! Đừng có những chờ mong dai dẳng và khắc khoải triền miên.

Em không bao giờ quên lần gặp không hẹn trước của Minh và em tại nhà anh. Trời mưa, anh ngồi lại với Minh và em về một mình. Nước mắt em hòa với nước mưa. Điều gì xảy ra giữa anh và Minh trong căn phòng ấm cúng đó, khi em đi dưới mưa? Em đau đớn, tủi thân và cảm thấy bị xúc phạm. Em quyết định không bao giờ gặp anh nữa. Nhưng có một mệnh lệnh nào mạnh hơn quyết định của em. Em biết nếu em ngồi lại và Minh bỏ về, có lẽ anh cũng bỏ mặc Minh đi dưới mưa. Anh thường chọn thái độ lặng im mặc cho sự việc xảy ra. Anh chấp nhận mọi hậu quả, như chấp nhận một quy luật đương nhiên.Theo anh: “Mỗi người đều khổ vì một lý do nào đó. Kẻ khổ vì tình, người khổ vì tiền, người khổ vì danh. Có hàng triệu nguyên nhân để con người đau khổ. Nguyên nhân này hay nguyên nhân khác cũng thế thôi! Quan trọng là nỗi đau không thể so sánh. Nỗi đau của kẻ khổ vì chức tổng thống, cũng có thể bằng với nỗi đau của kẻ khổ vì chức chủ tịch phường, chức chủ hộ. Trao cho ai một chức vụ, trách nhiệm nào, là gắn trên đầu họ một vòng kim cô.”. Còn em, em khổ vì cái gì? Không còn anh có là nỗi khổ? Lý tưởng, ước mơ còn đó, sao sức em như cạn kiệt? Có lần em nói: “Anh là quê hương, và em khao khát một quê hương”. Anh nói: “Quê hương không bao giờ là của riêng một người”. Vâng. Anh là quê hương của em, nhưng không là của riêng em. Em không có quyền.

Em muốn đi chùa hay đi nhà thờ để tìm sự bình yên thì văng vẳng lời anh: “Nếu tin có Phật và Chúa thì không cần đi chùa hay đi nhà thờ. Phật, Chúa có mặt mọi nơi. Ta có thể nhìn thấy họ trong hư không, trong trái tim, trên vỉa hè, trong đống rác, trong miếng thịt gà...”. Em muốn cầu nguyện Thượng đế giúp em qua khỏi nỗi đau này thì chợt nhớ lời anh: “Thượng đế đủ linh thiêng để hiểu chúng ta nghĩ gì, cần gì, mà không cần van xin, cầu nguyện. Nếu tin tưởng tuyệt đối ở Thượng đế, thì cầu nguyện làm gì? Thượng đế đủ anh minh để mang đến sự công bình cho mọi người. Thượng đế đủ quyết đoán và dứt khoát để không thay đổi ý kiến qua vài lời cầu nguyện. Thượng đế đủ bao dung để tha thứ khi chúng ta nói bậy, làm bậy. Thượng đế đủ bình tĩnh và độ lượng khi chúng ta chửi mắng và xúc phạm Ngài”. Em muốn độ lượng như Thượng đế để tha thứ cho anh, tha thứ cho em. Nhưng em là người!

Dù sao, những lời anh nói, những bài thơ, những câu chuyện của anh đã thấm vào máu em và hun đúc nên tính cách em. Xác thân em là của ba mẹ. Nhào nắn linh hồn em là anh. Mỗi dáng dấp, mỗi cử chỉ của em đều phảng phất cái nét của anh. Em là tác phẩm của anh và đại diện anh mà sống. Nhìn em, anh không thấy có anh trong đó sao? Từ bỏ em là anh từ bỏ một phần đời, một phần máu thịt của anh.

Em nói: “Em với anh chỉ là bạn”. Cái từ “bạn” như một tấm chắn che chở cho tâm hồn em bình yên. Trong thâm tâm, em tin tưởng mãnh liệt rằng không còn ai hợp với anh hơn em, chia sẻ với anh trọn vẹn hơn em. Em hy vọng, một ngày nào đó anh sẽ từ bỏ mọi phù phiếm khác để sống cùng em một đời sống thực sự. Anh lấy vợ - đơn giản như một trò chơi! Sao anh không nghĩ đến anh? Sao anh không nghĩ về em? Mà thôi, dù anh là gì đi nữa, em vẫn yêu anh và không đòi hỏi gì!

Em hiểu anh. Em biết bên trong cái hình thức ung dung, thanh thản của anh là một nội tâm đầy sóng gió, là một tâm hồn nhạy cảm và nhiều đau đớn. Bước vào đời anh là bước vào thế giới đầy mê đắm với hạnh phúc pha lẫn đớn đau. Em quên mình là mình khi sống bên anh, để sau đó quay về với chính mình và nỗi cô đơn - em thấy bất lực trước tình yêu, thấy phận người bé nhỏ. Em cảm nhận rằng tình yêu mông lung quá. Cái giá nào em phải trả để giữ được một tình yêu? Không. Có lẽ không có giá nào cả, kể cả cái chết của em.

Em sẽ sống giống như anh nghĩ, em sẽ nuôi dưỡng tình yêu bằng ý niệm của mình. Em vẫn có anh, vẫn còn tình yêu của anh, còn những đứa học trò, còn quê hương, còn loài người, còn cả vũ trụ này và còn những câu thơ em viết cho anh:

“Chút hương xưa ủ một thời

Đủ cho em sống nửa đời bão giông

Mối tình anh -đốm lửa hồng

Ấm lòng em, ấm dòng sông thơ buồn”.

 (Trích nhật ký của Hồng)

Đàn bà có thể rộng lượng trong nhiều lĩnh vực, nhưng không thể chia sẻ tình yêu cho một người đàn bà khác. Tôi thản nhiên cười nói vui vẻ trong ngày cưới, nhưng trong tôi là nỗi đau thầm lặng. Bằng trái tim của một nghệ sĩ, của người cùng giới tính, tôi thông cảm với họ. Nhưng với bản năng ghen tuông của đàn bà, tôi căm ghét họ. Tại sao họ lại thiếu tự trọng đến nỗi xin làm phù dâu cho tôi? Cả ba đều lãng mạn, lì lợm, bướng bỉnh và kiêu hãnh. Có phải họ là bản sao của anh? Có phải bên trong vẻ thanh nhã, hiền hòa ấy là sự cao ngạo bất cần? Tôi tưởng họ là những con cọp cái, và anh là huấn luyện viên dạy hổ. Cách nói xấu người khác tốt nhất là làm tốt hơn họ. Tôi muốn làm một điều gì để chứng tỏ ba con cọp ấy bất tài. Nhưng làm gì đây?Dân gian có câu :“Điều đau khổ nhất của đàn ông là chọn lầm nghề, của đàn bà là chọn lầm chồng!” Lấy anh là một sai lầm? Anh là một hình hài có thật, sao đêm đêm ôm anh trong vòng tay tôi cảm nhận rõ ràng rằng anh không phải của riêng tôi? Tôi yêu anh như yêu một nét đẹp, yêu một nghệ thuật. Nét đẹp và nghệ thuật đâu của riêng ai? Đọc tác phẩm của anh, tôi thấy anh dễ hiểu. Sống với anh tôi thấy anh khó hiểu! Tôi không ngại trả giá cho hạnh phúc, cho cái đẹp và nghệ thuật. Còn cái giá nào tôi phải trả để thai nghén nên một tác phẩm có hồn hơn những bức tranh tôi đã vẽ?

Hôm qua tôi chọn những gam màu tươi để phác thảo một bức tranh phong cảnh mùa hạ. Nhìn lại bức tranh, tôi giật mình. Có chút u uất lẩn khuất trong đó. Có khoảng mây trời giống mái tóc bạc của cha; gốc phượng già giống một đời nhẫn nại, nhục nhằn của mẹ; những lá phượng nhỏ uá vàng rơi trên nền đất là người chồng cũ của tôi đã chết; những cánh phượng đỏ tươi đang rơi là máu tôi đang nhỏ.

Bàng bạc trong bức tranh là nét tả tơi của một thời bom đạn, là những đôi mắt mênh mang xa xôi, là tâm hồn anh bí ẩn, mông lung.

Bức tranh đã hoàn tất, nhưng trước những sự kiện bất ngờ lớn, tôi cứ muốn cầm cọ để vẽ thêm một nét vẽ xuất thần. Tôi muốn vẽ thêm một tia chớp trên nền trời xám thẫm - tia chớp bất thường của những quy luật bình thường !

1991