Trường ĐHCN TPHCM

Khoa Cơ Khí

Số Lượt Truy Cập

2.1Kỹ thuật an toàn công nghệ hàn

Hàn

 Hàn là phương pháp nối hai hay nhiều chi tiết kim loại thành một mà không thể tháo rời được, bằng cách đun nóng chúng tại vùng tiếp xúc đến trạng thái nóng chảy hay biến dẻo, sau đó dùng áp lực (hoặc không dùng áp lực) ép chi tiết hàn dính chặt với nhau.

  • Khi hàn nóng chảy, công nghệ hàn làm kim loại bị nóng chảy, sau đó kết tinh lại hoàn toàn, tạo thành mối hàn.

  • Khi hàn áp lực, kim loại được nung đến trạng thái dẻo, sau đó được ép để tạo nên mối liên kết kim loại và tăng khả năng thẩm thấu, khuyếch tán của các phần tử vật chất giữa hai mặt chi tiết liên kết chặt với nhau tạo thành mối hàn.

 

Ứng dụng

công nghệ hàn được phổ biến rộng rãi để tạo phôi trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt trong ngành chế tạo máy, chế tạo các kết cấu dạng khung, dàn trong xây dựng, cầu đường, các bình chứa trong công nghiệp.

 

Phân loại phương pháp hàn
  • Theo trạng thái hàn:

  • Hàn nóng chảy: hàn hồ quang, hàn khí, hàn điện xỉ, hàn bằng tia điện tử, hàn bằng tia laze, plasma, … Khi hàn nóng chảy, kim loại mép hàn được nung đến trạng thái nóng chảy kết hợp với kim loại bổ sung từ ngoài vào điền khe hở giữa hai chi tiết hàn, sau đó đông đặc tạo ra mối hàn.

  • Hàn áp lực: hàn tiếp xúc, hàn ma sát, hàn nổ, hàn siêu âm, hàn khí ép, hàn cao tần, hàn khuyếch tán, … Khi hàn bằng áp lực kim loại ở vùng mép hàn được nung nóng đến trạng thái dẻo sau đó hai chi tiết được ép lại với lực ép đủ lớn, tạo ra mối hàn.

  • Hàn nhiệt: là sử dụng nhiệt của các phản ứng hóa học phát nhiệt để nung kim loại mép hàn đến trạng thái nóng chảy, đồng thời kết hợp với lực ép để tạo ra mối hàn.

  • Theo năng lượng sử dụng:

  • Điện năng: hàn hồ quang , hàn điện tiếp xúc… 

  • Hóa năng: hàn khí, hàn nhiệt… 

  • Cơ năng: hàn ma sát, hàn nguội…

  • Theo mức độ tự động hóa:

  • Hàn bằng tay.

  • Hàn bán tự động.

  • Hàn tự động.

 

Công nghệ hàn điện
  • Khu vực hàn cần diện tích đủ để đặt máy, để sản phẩm hàn, và khoảng thao tác cho công nhân (không ít hơn 3[]). Nền nhà bằng phảng, dẫn nhiệt kém, và không cháy. Tránh dùng màu tường sáng để hạn chế phản xạ ánh sáng gây chói.

  • Khu vực hàn nên cách ly các khu làm việc khác. Trường hợp do yêu cầu công nghệ khống chế thì phải có bao che khu vực hàn, che chắn bằng vật liệu không cháy để không ảnh hưởng người làm việc lân cận.

  • Nguồn điện hàn. Phải đảm bảo an toàn, không để xảy ra sự cố.

  • Máy hàn nên đặt càng gần nguồn điện càng tốt, phải có bao che và được cách điện chắc chắn, nhất là máy hàn điện một chiều, cần nối đất để tránh rò điện gây điện giật. Điện áp không tải của máy hàn điện phải dưới 80[V]. Hết sức tránh để máy bị ướt do mưa hoặc nước bắn vào.

  • Dây cáp hàn phải là loại có vỏ bọc cao su cách điện.  

Trang bị công nhân: Cần c

ó mặt nạ che mặt khi hàn, cần có áo quần BHLĐ ngăn kim loại lỏng bắn toé.












Hình 4.1. An toàn hàn điện với che chắn an toàn. 

 

Trước khi làm việc cần kiểm tra

  • Hệ thống điện nguồn, điện áp vào đã đúng chưa. Cầu dao có an toàn không.

  • Mày hàn có hoạt động bình thường không.

  • Đường dây cáp hàn có cách điện tốt không. Bố trí chạy dây cáp hàn phải gọn, không gây vướng đường đi lại dễ vấp ngã sinh tai nạn, …

  • Kiểm tra và vặn chặt các ốc vít trên máy, đảm bảo máy chạy êm không rung động, không để phóng điện do vít không chặt, …  

  • Các máy hàn phải đặt đúng vị trí, không để bị nghiêng vênh dễ đổ ngã, … Làm sạch bụi bằng khí nén, lau dầu mỡ bám dính trên máy có thể sinh cháy, gây nổ.

  • Khi sửa chữa máy, khi cần chỉnh đổi dòng điện hàn (bằng cách thay đổi số vòng dây hay thay đổi điện áp, hoặc đấu lại dây) thì nhất thiết phải cắt điện cầu dao, công nhân phải đeo găng tay cách điện.

  • Hết giờ làm việc nhất thiết phải ngắt cầu dao máy hàn và cầu dao chính.

 

Lưu ý những đặc điểm công nghệ hàn

  • Hồquang hàn điện: có nhiệt độcao (n.), bức xạ mạnh; kim loại hàn chảy lỏng bắn toé – dễ gây cháy bỏng da, đau mắt, …; có thể gây cháy nổ – những vật dễ bắt lửa, dễ cháy nổ phải để cách xa nơi hàn.

  • Môi trường làm việc của thợ hàn có nhiều khí độc hại và bụi sinh ra khi cháy que hàn (như , , , bụi mangan, bụi oxyt kẽm, …). Cho nen phải có nơi làm việc thoáng mát, hoặc phải có quạt thông gío.

  • Hàn điện và hàn hơi ở các vịtrí khó khăn, những nơi kín (trong đường ống, thùng kín, nơi chật chội, nhà kín, …) phải thông gió tránh trúng độc hơi hàn, có người canh chừng. Vật hàn phải cạo sạch sơn (nhất là sơn có pha chì) trước khi đem hàn, lau sạch dầu mỡ, cạo sạch tối thiểu 50[mm] hai bên đường hàn. Nữ công nhân có bệnh tim, phổi không được hàn trong các thùng kín.

  • Các bình chứa chất dễcháy nổ phải súc sạch và mởnắp trước khi hàn. Các vật chịu áp lực đang chứa hơi nén, chất lỏng cao áp, … tuyệt đối không được hàn.  

  • Khi hàn trên cao phải đeo dây an toàn bảo hiểm. Khi cắt các dầm xà, phải buộc chặt phần cắt, tránh để rơi xuống gây tai nạn.

 

Công nghệ hàn hơi
  • Trong quá trình hàn-cắt, người thợ hàn-cắt phải sửdụng đúng và đầy đủcác phương tiện bảo vệ cá nhân gồm quần áo vải bạt, mũvải, ghệt vải bạt, giầy da lộn cao cổ, mũ mềm hoặc cứng, khẩu trang, dây đai an toàn (khi làm việc trên cao ở chỗ chênh vênh).

  • Nơi làm việc phải luôn được sắp xếp gọn gàng.

 

Trước khi tiến hành công việc

phải thực hiện một số lưu ý sau:

  • Kiểm tra tình trạng nước, cát, bình cứu hỏa và khu vực hàn.

  • Chuẩn bị nước để làm nguội mỏhàn.

  • Kiểm tra bình hơi hàn:

  • Kiểm tra thời hạn sửdụng bình.

  • Kiểm tra dấu kiểm định an toàn bình (kiểm thửáp suất 5 năm/lần).

  • Phát hiện xem có các hiện tượng bất thường (nhưvết nứt, vết lõm, các khuyết tật khác…), nếu có thì cần khắc phục kịp thời hoặc báo cho xí nghiệp thay thế.

  • Kiểm tra các van có vặn chặt không.

  • Kiểm tra tình trạng hoàn hảo của:

  • Các chỗ nối ống cao su với mỏ hàn và bộ giảm áp (khi nối dùng nước xà phòng chứ không dùng lửa hơ).

  • Mỏ hàn, bộ giảm áp và các ống cao su dẫn khí (cấm sử dụng ống cao su đã hưhỏng hoặc có chỗ bị thủng trên ống dán bằng băng dính).

  • Sự lưu thông của miệng phun mỏ hàn.

  • Sự lưu thông của ống dẫn ôxy và ống dẫn axêtylen.

  • Không lắp lẫn ống cao su dẫn khí axêtylen vào bình (chai) ôxy hoặc ngược lại (ống màu đỏ dẫn axêtylen, ống màu đen dẫn ôxy) hoặc áp kế của chai axêtylen vào chai ôxy hoặc ngược lại. Nếu phát hiện thấy các điều đó phải loại trừ ngay.

  • Mở nắp bình (chai):

  • Không dùng búa hoặc các dụng cụ phát ra tia lửa đểgõ vào nắp chai chứa khí.

  • Trường hợp không mởđược nắp thì phải gởi trả chai về nhà máy nạp khí, không tự ý tìm cách mở.

  • Sau khi đã mở nắp chai phải kiểm tra xem có vết dầu mỡbám trên đầu chai không. Không được để dầu mỡ bám dính vào chai.

  • Trước khi lắp bộgiảm áp vào chai phải:

  • Kiểm tra lại tình hình ren của ống cút lắp bộ giảm áp.

  • Mở van chai ra 1/4 hoặc l/2 vòng quay của van để xịt thông các bụi bặm bám ở van. Khi xịt không được đứng đối diện với miệng thoát của van mà phải đứng tránh về một bên. Sau khi đã thông van thì chỉ dùng tay vặn khóa van mà không dùng chìa khóa nữa.

  • Không sử dụng bộgiảm áp đã chờn ren hoặc trong tình trạng không hoàn hảo. Nghiêm cấm tiến hành hàn khi chai ôxy không có bộ giảm áp.

  • Việc lắp bộ giảm áp vào chai phải do người thợchính tiến hành làm. Chìa khóa vặn tháo phải luôn luôn ở trong túi người dó.

  • Khi đã lắp xong bộgiảm áp vào chai, nếu thấy có khí xì ra thì phải dùng chìa vặn khóa van chai lại rồi mới được thay đệm lót.

  • Khi mở van chai axêtylen phải dùng loại chìa khoá vặn chuyên dùng. Trong thời gian làm việc chìa khóa này phải thường xuyên treo ở cổ chai.

 

Trong quá trình làm việc

  • Khi đốt mỏ hàn:

  • đầu tiên phải mở khóa dẫn ôxy ra 1/4 hoặc 1/2 vòng, sau đó mới mở khóa dẫn axêtylen.

  • sau khi đã mở cả hai khóa cho xịt ra chốc lát thì mới được châm lửa mỏ hàn.

  • khi châm lửa mỏ hàn phải dùng diêm quẹt lửa chuyên dùng, cấm châm bằng cách dí mỏ hàn vào một chi tiết kim loại nào đó đang nóng đỏ.

  • Ống dẫn khí: Khi tiến hành hàn, cắt:

  • không được quàng ống cao su dẫn khí vào người, vào cổ, vào vai, kẹp vào chân, ...

  • không được cuộn tròn hoặc bẻ gập ống, xoắn ống, ...

  • không được để ống dính dầu mỡ.

  • không được để ống chạm đường dây điện hay ở gần các nguồn nhiệt.

  • Chiều dài của ống dẫn khí không được dài quá 20m. Trong điều kiện làm công việc hàn sửa chữa, lắp ráp cho phép dùng ống dài đến 40m, nhưng mối nối phải đảm bảo kỹ thuật.

  • Nối ống dẫn khí: Cấm sử dụng bất kỳ kiểu nối nào khác:

  • Khi cần nối ống thì ở chỗ nối đó phải dùng ống đệm lồng lót vào trong và hai đầu phải dùng kẹp cơ khí kẹp chặt.

  • Chiều dài của đoạn nối phải từ 3m trở lên và chỉ được nối hai mối mà thôi.

  • Cấm gắn vào ống mềm các chạc hai, chạc ba, để phân nhánh cấp khí đồng thời cho một số mỏ hàn, mỏ cắt khi hàn thủ công (hàn bằng tay).

  • Sử dụng mỏ hàn, mỏ cắt:

  • Khi mỏ hàn, mỏ cắt đang cháy, không được mang chúng ra khỏi khu vực làm việc dành riêng cho thợ hàn-cắt.

  • Khi leo lên thang để tiến hành (hay tiếp tục) hàn, cắt trên cao, cấm mang mỏ hàn đang cháy, phải tắt lửa mỏ hàn, mỏ cắt và đóng núm cung cấp khí ở mỏ hàn, mỏ cắt.

  • Khi nghỉ giải lao (dù chỉ trong chốc lát) phải tắt lửa mỏ hàn, mỏ cắt và đóng núm cung cấp khí ở mỏ hàn, mỏ cắt để đề phòng hiện tượng "nuốt lửa" xảy ra khi người thợ bỏ đi nơi khác.

  • Khi nghỉ lâu (giao ca, ăn trưa) ngoài việc tắt lửa mỏ hàn, mỏ cắt như trên, còn phải khóa van ở chai ôxy và chai axêtylen, đồng thời núm vặn ở bộ phận giảm áp phải nớì ra hết cỡ nén của lò xo trong bộ giảm áp.

  • Khi thấy mỏ hàn nóng quá thì phải tắt lửa mỏ hàn, nhúng đầu mỏ hàn vào chậu nước sạch, chờ nguội hẳn mới được làm việc lại.

 

Sau khi hoàn thành công việc

  • Khi tắt mỏhàn:

  • phải đóng khóa axêtylen trước rồi mới đóng van ôxy sau.

  • sau khi đã tắt mỏ hàn, phải khóa van chai lại, xả hết khí trong ống dẫn, rồi nới hết cỡ nén lò xo cửa bộ giảm áp.

  • Ống cao su và mỏhàn:

  • cuộn tròn lại cho gọn gàng vàđể vào chỗqui định, còn bộ giảm áp thì tháo rađể vào ngăn kéo riêng.

  • đối với máy cắt tự động và bán tự động thì phải ngắt nguồnđiện, còn ống cao su và mỏ cắt thì không tháo ra mà chỉ việc tách chúng ra khỏi nguồn cung cấp khí.

  • Phải tắt hệ thống gió cục bộ (nếu có).

  • Làm vệ sinh nơi làm việc, sắp xếp lại chỗ làm việc trật tựgọn gàng.

  • Những chi tiết mới hàn xong còn nóngđỏ hoặc còn nóng ấm thì phải xếp lại một chỗ rồi treo bảng "Chú ý, vậtđang nóng ".

  • Nếu ca làm việc trước phát hiện thấy những hiện tượng không an toàn hoặc một số chi tiết nào đó của thiết bị sắp hỏng cần thay thế thì phải báo lại cho ca sau biết (ghi vào sổ trực ca)để ca sau khắc phục kịp thời.

 

Bảo quản kho chứa

  • Kho chứa:

  • Bình chứa khí:

  • Vận hành bình:

  • Vận chuyển bình:

 

Kho chứa

  • Các bình chứa khí thường được bảo quản nơi có tường xây bao quanh chắc chắn.

  • Kho chứa các bình khí nén phải cách xa các ngọn lửa khoảng >10[m].

  • Kho chứa, các bình bị cháy có thể gây nổ bình, cho nên việc trước hết cần tách các bình gây cháy ra khỏi nơi nguy hiểm, tách chúng khỏi các bình chứa khí khác. Đây là việc làm khá nguy hiểm, thường phải do các đội chữa cháy nổ chuyên nghiệp thực hiện.

 

Bình chứa khí

  • Cấm không được để các chai chứa khí trên trục đường vận chuyển của xí nghiệp. Ở những nơi ể chai phải treo biển "tránh dầu mỡ ". Các chai này phải ặt xa uờng dây điện, xa các thiết bị khác ít nhất 1 mét và cách xa các nguồn nhiệt như lò rèn, lò sấy ít nhất là 5 mét.

  • Không Üể các bình chứa khí nén cạnh nguồn nhiệt, nhất là những nơi có lửa ngọn (như lò rèn, ngọn lửa hàn hơi).   

Lưu ý :  

Bảng 4.1. Khi nhiệt độ tăng thì áp suất trong bình khí nén tăng lên.

Nhiệt độ tăng thêm, [oC]

+10

+20

+30

+40

Áp suất trong bình,  [at]

145

150

155

160

Khi áp suất trong bình tăng lên cộng với những khuyết tật trên bình có thể làm cho nó nổ, vì thế bình cần đặt cách xa nguồn nhiệt min. >1 [m] và cách xa ngọn lửa khoảng >5[m]. 

  • Vị thế chai ôxy và chai axêtylen:: Bình chứa khí phải đặt ở tư thế đứng (chỉ cho phép để nghiêng trong thời gian ngắn). Phải dùng xích hoặc vòng kẹp gắn vào tường để giữ chai không đổ.

  • Cần lau chùi sạch các vết bẩn, dầu mỡ, chất dễ bắt lửa trên các dây dẫn khí, van khí, ... vì những chất này dễ gây cháy rồi sinh ra nổ bình hoặc sinh ra hoả hoạn. Không dùng các chổi kim loại để làm sạch các van, khoá, không dùng chổi đồng để gạt đá vôi ra khỏi bình vì dễ gây tia lửa, gây cháy nổ, khi mở bình cần nhẹ nhàng, không hút thuốc khi tiếp xúc với các bình chứa khí, ...

  • Không để lẫn bình hết khí với các bình còn khí để tránh nhầm lẫn khi sử dụng.

 

Vận hành bình

  • Không nên để nhiều bình khí ôxy ( >10 bình) cùng nhiều công nhân trong một phân xưởng.

  • Khi mở van để lau chùi thổi bụi trong mỏ hàn hay đểvận hành, công nhân không đ°ợc đứng đối diện van, mà phải đứng về một bên.

  • Các van khí phải có thể mở vặn vào/ra dễ dàng, khi gặp những van chặt quá phải cẩn thận khi mở hoặc phải trả lại nhà máy sản xuất để xử lý.

  • Các bình chứa khí nhưôxy thường là không gây cháy, nhưng khi tiếp xúc với các chất như dầu mỡ, thì có thể bắt lửa và gây cháy nổ. Vì thế tránh không cho dầu mỡ rơi dính vào các bình chứa khí như bình ôxy.

  • Các bình chứa khí có thể phát lửa do ma sát khi đóng mở van, khi thao tác mở máy phải làm nhẹ nhàng, khi vận hành, di chuyển,... nên tránh va đập, tránh gây nên ma sát mạnh có phát tia lửa...

  • Khi có hiện tượng cháy quặt lại của ngọn lửa (hiện tượng nuốt lửa), thì lập tức phải khoá các van khí lại (van axêtylen và van ôxy).

  • Sự cố nung nóng các bình  nguy hiểm h¡n bình ôxy vì khi T = 56 [oC], độ hoà tan của axêtylen vào axetôn giảm đi đột ngột. Axêtylen sẽ biến đổi từ dạng hoà tan trong axêtôn sang dạng khí axêtylen. Lúc này áp suất có thể tăng lên 11,2 lần khi ở(200-100) [at].

  • Khi vận hành trong thời gian dài, bọt xốp trong bình axêtylen có thể bị nhỏ vụn và nén chặt lại, làm cho lượng khí axêtylen tràn lên phía trên, rất nguy hiểm khi có hiện tượng cháy quặt lại của ngọn lửa (hiện tượng nuốt lửa).

Bảng 4.2. Áp suất trong bình axêtylen tƒng theo nhiệt ‘ộ.

Nhiệt‘ộ, T[oC]

-5

0

5

10

15

20

25

30

35

40

Áp suất,   P[at]

13,4

14

15

16

18

19

21,5

23,5

26

30

Khi hàn cần để lại một ít khí axêtylen để không khí không vào bình được, nếu không có thể gây nổ, và để bảo vệ lớp bọt xốp cùng axêtôn.

Bảng 4.3. Lượng khí để lại trong bình axêtylen có thể kiểm tra qua đồng hồ.

Nhiệt độ, T[]

0

015

1525

2535

Áp suất,   P[]

0,5

1,0

2,0

3,0

 

Vận chuyển bình

  • Khi có hoả hoạn thì nhất thiết phải chuyển các bình axêtylen đi trước.

  • Khi vận chuyển tránh va chạm mạnh, phải làm hết sức nhẹ nhàng.

  • Không xếp chung các bình chứa khí lẫn với bình không có khí.

  • Không cho phép mang vác bình trên vai, trên lưng mà phải dùng xe đẩy hay cáng khiêng, ...

  • Cho phép dịch chuyển chai trong các khoảng cách ngắn: dưới 10[m] cho phép dịch chuyển chai bằng cách vần nó ở tư thế đứng bằng tay, không được mang găng tay.

  • Khi vận chuyển nội bộ trong phân xưởng ở cự ly trên 10[m] phải dùng xe chuyên dụng và chai phải được xích lại.

  • Chỉ vận chuyển các chai ôxy bằng phương tiện cơ giới có lòxo giảm xóc hay chai được lót kỹ bằng vật liệu mềm. Chai được chồng cao không quá 3 lớp. Khi vận chuyển, chai phải có nắp chụp và các đầu mũ phải xếp quay về một phía, chai được xếp ngang trên phương tiện chuyên chở và có mui (mái) che nắng.

  • Các chai ôxy khi đem tới nhà máy nạp phải chừa lại một áp suất không nhỏ hơn 0,5kg/cm2.

  • Các chai axêtylen hòa tan đem tới nhà máy nạp phải chừa lại một áp suất không nhỏ hơn trị số trong bảng sau:

Bảng 4.4. Áp suất tối thiểu phải chừa lại trong chai axêtylen hòa tan.

Nhiệt độ, [oC]

0

(015) 

(1225) 

(2535) 

Áp suất tối thiểu phải chừa lại trong chai, [at]

0,5

1,0

2,0

3,0

 

 

Những điều cần chú ý

Phải căn cứ vào các điều ghi trong "Qui phạm kỹ thuật an toàn các bình chứa áp lực QPVN 2-1975 " để quản lý, bảo dưỡng và sử dụng đúng các chai ôxy, và axêtylen (cùng các chi tiết kỹ thuật kèm theo).

 

Khi bắt đầu hàn

  • Mởvan ôxy trước để thổi bụi trong mỏ hàn, sau đó đóng van lại và mởvan  trước rồi mới mở van oxy.

 

Khi hàn

  • Khi phát hiện thấy có khí xì ra ở van chai hoặc ở ống cao su thì phải báo cho quản đốc phân xưởng biết để đình chỉ các công việc có ngọn lửa trần ở các khu vực lân cận, đồng thời mang chai bị xì đó ra khu vực qui định.

  • Khi thấy bộ giảm áp ở chai ôxy có hiện tượng bị tắc thì phải dùng nước sạch đun nóng để hơ, không dùng lửa để sấy nóng.

  • Sử dụng các bình khí axêtylen cần tránh va đập, phải đảm bảo vặn chặt các van khí, không để rò khí, không để ánh mặt trời chiếu rọi lâu gây nóng bình, không để trong kho các bình chứa axêtylen chung với các bình ôxy, khi mở bình phải nhẹ nhàng.

  • Sử dụng bình sinh khí axêtylen (hay bình chế khí) thì khoá bảo hiểm phải luôn luôn có nước đầy đến mức quy định, phải đặt bình cách xa nơi có ngọn lửa trên 10 m, cần kiểm tra các van và khoá an toàn trước khi làm việc. Xem các van an toàn, đồng hồ có làm việc bình thường không,...

  • Sử dụng đất đèn theo đúng kích cỡ và khối lượng đã quy định cho từng loại bình. Không để đất đèn trong các hộp thường dễ sinh khí, có thể làm cháy kho.

  • Cần có người thường xuyên kiểm tra và quan sát khi đang làm việc.

  • Cấm:

  • tiến hành hàn khi vừa đốt mỏ hàn lên mà thấy ở đầu mỏ hàn có hoa đỏ hoặc khi ngọn lửa ở mỏ hàn tạt lại (hiện tượng nuốt lửa).

  • dùng các sợi dây thép thay cho dây đồng đúng cỡ để thông miệng phun đầu mỏ hàn bị tắt.

  • tiến hành sửa chữa mỏ hàn, mỏ cắt, van chai chứa khí cũng như những thiết bị khác ở khu vực đang hàn.

  • hút thuốc, quẹt diêm khi mở van chai, điều chỉnh áp suất khí.

 

Khi kết thúc hàn

Đóng van  trước, sau đó mới đóng van ôxy

Khi tiến hành hàn-cắt bên trong các thể tích kín

  • phải đeo mặt nạ phòng độc và thực hiện thông gió trao đổi không khí.

  • nếu nhiệt độ ở nơi làm việc từ 40-50oC thì phải làm, việc luân phiên nhau mỗi người không quá 20 phút trong đó, sau mỗi phiên phải ra ngoài nghỉ ngơi ít nhất 20 phút mới vào làm việc lại.

  • phải đốt mỏ hàn, mỏ cắt từ phía ngoài mang vào, không được vào trong các thể tích kín đó rồi mới châm lửa.

 

Khi tiến hành hàn-cắt các thùng chứa xăng dầu và chất lỏng dễ cháy khác

  • phải được giám đốc nhà máy cho phép, đồng thời phải dùng dung dịch 5-10% xút ăn da để súc rửa. Sau đó dùng nước nóng súc rửa lại, chờ bay hơi hết mới được thực hiện công việc hàn-cắt.

  • không được phép tiến hành hàn-cắt các thùng chứa, thiết bị đường ống... khi trong chúng còn tồn tại một áp suất hơi khí hoặc chất lỏng.

 

Khi tiến hành hàn-cắt trong các gian nhà có sàn bằng gỗ hoặc vật liệu dễ cháy khác

thì phải dùng các tấm tôn, amiăng che phủ cẩn thận.

 

Khi tiến hành hàn-cắt trên cao chỗ chênh vênh ( trên 1,5m)

phải sử dụng dây đai an toàn.











Comments