PHÂN TÍCH ĐOAN TRÍCH TRAO DUYÊN _TRUYÊN KIÊU_NGUYÊN DU PHÂN TÍCH 18 CÂU ĐÂU

YouTube Video






PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH TRAO DUYÊN _TRUYỆN KIỀU_NGUYỄN DU

       PHÂN TÍCH 18 CÂU ĐẦU


                Đại thi hào Nguyễn Du, hiệu là Tố Như, là một thiên tài văn học, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm Truyện Kiều là một tuyệt tác của ông, bài thơ như tiếng khóc ai oán của người phụ nữ trong xã hội phong kiến thối nát đầy rẫy những bất công. Trong đó, đoạn trích Trao Duyên là một điểm nhấn của tác phẩm, gồm 34 câu (từ câu 723 đến câu 756) được in trong sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 10. Đây là một trong những đoạn thơ mở đầu cuộc đời lưu lạc đau khổ của Thúy Kiều. Khi Vương Ông và Vương Quan bị bắt do có kẻ vu oan, Thúy Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy tiền đút lót cho quan lại cứu cha và em. Đêm cuối cùng trước ngày ra đi theo Mã Giám Sinh, Thuý Kiều nhờ cậy Thuý Vân thay mình trả nghĩa, lấy Kim Trọng.

Nhan đề đoạn trích là Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. Có đọc mới hiểu được, "Trao duyên", ở đây là gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác, nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Đoạn thơ không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng của Thúy Kiều. 

                  Mở đầu đoạn thơ là 8 câu tâm sự của Thúy Kiều, về mối tình của mình với chàng Kim. Kể ra, với người xưa, một mối tình thiêng liêng như Thúy Kiều - Kim Trọng thường được giấu kín trong lòng ít khi người ta thổ lộ với người thứ ba. Vậy mà, ở đây, Thúy Kiều phải bộc lộ tất cả với Thúy Vân. Hơn thế nữa, nàng phải lạy em như lạy một ân nhân, một bậc bề trên, phải nói với em bằng những lời lẽ nhún nhường gần như van nỉ: 

Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư

Keo loan chấp mối tơ thừa mặc em.

 

Trong dãy từ diễn tả khái niệm nhờ , Nguyễn Du đã chọn hai từ cậy và chịu, tuyệt vời chính xác. Từ cậy hàm chứa niềm tin mà người được nhờ không thể nào thoái thác được. Cũng vậy, chịu không chỉ là nhận lời, chịu còn là nài ép. Lại thêm một cử chỉ thiêng liêng là lạy, thuở đời chị lại lạy sống em bao giờ, mà chỉ để trao duyên.   Phải thiêng liêng đến mức nào mới có sự "thay bậc đổi ngôi" giữa hai chị em như thế.

 Chuyện chưa nói ra nhưng Kiều biết người nhận không dễ dàng chịu nhận nên nàng đã chủ động đưa Vân vào thế khó xử, tiến thoái lưỡng nan. Lời xưng hô nghiêm cẩn và trang trọng của Thuý Kiều lại càng có tác dụng gây áp lực đối với Thuý Vân. “Chọn” và “đặt vấn đề” một cách nhanh chóng và kĩ càng, Thuý Kiều dường như ngay lập tức tiếp lời như nếu để lâu sẽ không thể nào nói được :

Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

 

 Nguyễn Du thật tài tình, như đọc thấu tất cả nỗi lòng nhân vật. Nỗi đau khổ vì không giữ trọn lời đính ước với chàng Kim đã buộc Thúy Kiều phải nói thật, nói hết với em, phải giãi bày tất cả. Bởi vì không có cách nào khác là phải nhờ em. Gánh tương tư đâu có nhẹ nhàng gì, thế mà vì mình giờ đây bỗng giữa đường đứt gánh, ai mà không đau khổ. Nhưng, gánh nặng vật chất thì san sẻ được, nhờ người khác giúp đỡ được, còn gánh tương tư mà nhờ người khác giúp đỡ cũng là điều hiếm thấy xưa nay. Vì vậy, Kiều mới phải cậy em, mới phải lạy, phải thưa, vì nàng hiểu nỗi khó khăn, sự tế nhị của gánh nặng này. Rõ ràng, Thúy Vân cũng phải hi sinh tình yêu của mình để giúp chị. Trong hoàn cảnh bi thương của mình, Thúy Kiều không chỉ trao duyên mà còn trao cả nỗi đau của mình cho em gái. Tuy nhiên, Thúy Vân vốn là cô gái vô tư, thơ ngây trong gia đình họ Vương lúc vạ gió tai bay, Thúy Kiều phải giành cho mình phần hi sinh lớn hơn; không chỉ hi sinh tình yêu mà hi sinh cả cuộc đời để cứu cha, cứu em. Câu thơ lại càng hay, càng tinh tế khi Nguyễn Du sử dụng hai từ “tơ thừa”: với Thúy Kiều, tình yêu có thể coi là mặn mà, sâu nặng nhưng đối với Vân , nó chỉ là sự nối tiếp, tiếp nối một mối tình dang dở. Thật đau xót biết bao! Trong nước mắt, giữa đêm khuya , Thúy Kiều đã kể lễ sự tình cho cô em nghe:

 

Kể từ khi gặp chàng Kim

Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.

Sự đâu sóng gió bất kì

Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

 

Đoạn thơ đã điểm qua những sự việc diễn ra quanh Kiều: “kề từ khi gặp chàng Kim” cho đến khi  “sóng gió bất kì” , tất cả, Vân đều  chứng kiến, thấu hiểu và cảm thông. Phải rồi, kể từ đó – từ khi gặp chàng Kim, Kiều đã có tình yêu và tình yêu đó ngày càng sâu đậm hơn.Nàng thổ lộ với em thật thà, không giấu giếm, thật trong sáng, tình yêu của Kiều là do thiên tính – là do trời chỉ định, Kiều “quan niệm” tình yêu của mình khác với “quan niệm” phong kiến, đó là sự cảm nhận yêu thương từ trong trái tim chứ không là sự thúc ép.Phải chăng, Nguyễn Du đã cho Kiều ít nhiều nói lên sự tự do yêu thương của con người trong xã hội lúc đó? Đoạn thơ sử dụng điệp từ “khi”  (nhắc lại 3 lần) như muốn nhấn mạnh tình cảm mà Kiều dành cho Kim Trọng nào đâu phải thứ tình cảm một sớm một chiều. Những kỉ niệm đẹp giữa chàng và nàng như sống lại qua từng câu chữ “ngày quạt ước, đêm chén thề”. Câu thơ ẩn chứa biết bao niềm vui, những tình cảm ngọt ngào nhưng cũng như tiếng nấc nghẹn của Thúy Kiều. Những kỉ niệm đẹp ấy sẽ kết thúc, chỉ còn lại chuỗi ngày dài bi thảm tiếp sau.

 “Sóng gió bất kì” xảy ra là khi Kim Trọng về quê chịu tang chú, , gia đình Kiều bị mắc oan, cha và em Kiều bị bắt, nàng buộc phải bán mình.Những biến cố liên tiếp xảy ra, đẩy Kiều vào chỗ bế tắc. Là người chị cả, nàng buộc phải hi sinh bản thân mình để gia đình được đoàn tụ, êm ấm. Bởi lẽ: “Có ba trăm lạng việc này mới xuôi”. Chuyện không đơn giản chỉ là bán mình, hoàn cảnh trớ trêu buộc Kiều phải đứng trên ranh giới giữa “ chữ hiếu” và “ chữ tình”. Thật đâu đớn thay! Qua lời Thúy Kiều , Nguyễn Du đay nghiến cả một xã hội. Hiếu-tình là hai già trị tinh thần không thể nào đặt lên bàn cân được. Một xã hội bắt con người phải lựa chọn những giá trị không thể lựa chọn được thì đấy là một xã hội tàn bạo. Con cái sinh ra, trước là phải đền ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ,  nên Kiều đành hi sinh chữ tình để giữ trọn cái hiếu. Thế nhưng, mất đi tình yêu, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi đời này nữa. Mỗi lời nàng nói ra không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra ở trong lòng. Cố giấu nỗi đau, Kiều nghẹn ngào nói với em:

 

Ngày xuân em hãy còn dài

Xót tình máu mủ thay lời nước non

 

Đúng vậy, Thúy Vân còn trẻ, còn nhiều thời gian vun đắp cho tình cảm riêng tư nên xin hãy nhận lời chị kết duyên cùng chàng Kim. Để thêm thuyết phục và Vân không thể chối từ, Kiều đã đem “tình máu mủ” ra để cầu xin Vân. “Máu chảy ruột mềm” còn gì thiêng liêng hơn tình chị em gắn bó, ruột thịt. Em hãy giúp chị thay “lời nước non” cùng chàng. Kiều cũng đã đặt mình vào địa vị của Vân, phải kết duyên cùng người mình không quen biết, mà còn là người yêu của chị mình, ta có thể cảm nhận ở đây Thúy Vân là người thiệt thòi nhất…
Tuổi của Kiều và Vân xấp xỉ nhau “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” thế nhưng đối với Kiều giờ đây, tuổi xuân của nàng đã kết thúc. Khoảng thời gian xuân xanh đẹp đẽ giữa nàng và Kim Trọng nay chỉ còn là những kỉ niệm mà không có tương lai. “Trao duyên” cho em, nghe thật kì lạ nhưng trong hoàn cảnh của Kim,Vân, Kiều thì đây là một việc không khó hiểu trong xã hội phong kiến ngày xưa. Những dòng nước mắt không thể chảy ra nhưng cứ âm ỉ, phảng phất trong từng câu, từng chữ… Nỗi đau đớn đến xé lòng nhưng vẫn phải dằn xuống, kìm nén để nói những lời trao duyên cho em. Thât đau xót thay! Chữ· Tình đối với Kiều vô cùng quan trọng, thế nhưng nàng lại từ bỏ nó để làm tròn chữ Hiếu. Mất đi tình yêu đối với nàng là mất đi tất cả. Nói đến đây Kiều tưởng như cuộc đời mình đã kết thúc, không còn gì để luyến tiếc, níu giữ:

“Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”

Câu thơ nghe não lòng, nghe như có tiếng kêu thương thống thiết đến cả ngàn năm sau. Lời của Kiều càng nói càng thiết tha đến gan ruột. Nghĩa của Vân Kiều khắc sâu vào tâm cốt, tình của Vân làm Kiều ấm lòng nơi chín suối. Thôi thì không nên duyên với chàng Kim nhưng thấy tình em bên người mình yêu dấu cũng dịu đi tấc lòng chua xót. Câu chuyện Trao duyên bắt đầu một cách kỳ lạ như thế. Điểm kết thúc là tình vợ chồng nhưng điểm khởi đầu lại là nghĩa chị em. “Xót tình máu mủ, thay lời nước non”. Chặng đường oan trái đã khiến mối tình Kim-Kiều giờ trở thành mối tình Kim-Vân-Kiều, chỉ có điều cùng một hiện tượng nhưng Thanh Tâm tài nhân khai thác ở góc độ mối tình tay ba với những éo le tình cảm nhằm thu hút thị hiếu tầm thường của độc giả còn Nguyễn Du đã nhìn xa hơn thế, cái ông thấy được ấy là điều Tố Hữu sau này đã từng nói: “Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình”. Đọc Trao duyên, tôi hiểu người ta khen Nguyến Du “có con mắt nhìn thấu sáu cõi” có lẽ không chỉ là khen sự đa dạng trong cách thể hiện nhân vật của ông mà nằm ở việc khai thác chiều sâu thăm thẳm của những vi biến tâm trạng mà Nguyễn Du đã ghi lại bằng nghệ thuật ngôn từ. Sau phút nghẹn ngào, Thúy Kiều trao lại kỉ vật cho Vân:

Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ , vật này của chung.

Dù em nên vợ nên chồng

Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.

Mất người còn chút của tin

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

 

Trao duyên cho em nhưng nào đã dễ trút đi gánh nặng? Bao nhiêu kỉ niệm ngày xưa của mối tình đầu, kỉ niệm đẹp đẽ của một thời ào ạt trở về. Những kỉ vật thiêng liêng nàng vẫn giữ, minh chứng cho tình yêu của nàng với chàng Kim, dễ gì trong phút chốc lại phải trao sang tay người khác, cho dù người đó chính là em gái mình? Tình yêu đôi lứa vốn có chút ít ích kỉ bên trong, đó cũng là lẽ thường tình. Chiếc thoa với bức tờ mây, Phím đàn với mảnh hương nguyền... vốn là kỉ vật riêng của Thúy Kiều, kỉ vật ấy có ý nghĩa tượng trưng cho hạnh phúc của nàng. Bây giờ, những kỉ vật thiêng liêng ấy, nàng phải trao cho em, không còn là của riêng của nàng nữa mà đã trở thành của chung của cả ba người. Đau xót làm sao khi buộc phải cắt đứt tình riêng của mình ra thành của chung! Biết vậy nhưng Thúy Kiều cũng đã trao cho em với tất cả tấm lòng tin cậy của tình ruột thịt, với tất cả sự thiêng liêng của tình yêu với chàng Kim. Đây là khoảnh khắc thiêng liêng nhất và cũng là lúc Kiều chính thức trở thành người thứ ba, đi bên lề hạnh phúc của người khác. Phải chăng vì thế mà kỷ vật được trao

 

chia cắt rời rạc nằm trong từng đoạn thơ nhỏ: chiếc vànhbức tờ mây rồi đến phím đànmảnh hương nguyền. Điều này có cảm giác thời gian tâm lý ở đây được kéo căng theo mỗi kỷ vật. Mỗi kỷ vật trao cho Vân là một mảnh tình yêu cuối cùng tuột khỏi tay Kiều. Với Vân, ấy là vật vô tri, nhưng với Kiều mỗi kỷ vật là cả một trời ký ức, là nhân chứng cho một tình yêu hạnh phúc, là phút giây cuối mắt đầu mày, là lời thề nguyền gắn bó trăm năm... Từng vật, từng vật rời khỏi tay Kiều rồi đi mãi. Duyên này thì giữ, vật này của chung có lẽ là giây phút nàng thoáng thảng thốt giật mình, là phút mà tiếng nói của lý trí đã bắt đầu xao động không còn sự tỉnh táo, không còn sự khôn khéo. Kiều hiểu rằng trao kỷ vật là ranh giới cuối cùng của trao duyên, bước qua ranh giới ấy Kiều sẽ chẳng còn lại gì. Hiếu đã trả, Tình đã trao, và lẽ sống của cuộc đời Kiều theo dòng đời mà tan biến. Kiều cũng hiểu rằng bước qua ranh giới ấy Kiều sẽ trở về với hư vô và cuộc đời trước mặt với bao sóng gió mịt mùng đâu sẽ là điểm tựa khi lá sổ tử vi của nàng chỉ còn là một con số không. Kiều muốn níu kéo một chút gì đó cho riêng mình. Hình như khi người ta mất một cái gì đó thì người ta mới hiểu thực sự giá trị của những gì mình đang mất. Kiều không nằm ngoài quy luật đấy, khi hiểu rằng chữ Duyên đã chính thức rời xa thì sự nuối tiếc mới thực sự lớn lao. Cho nên câu thơ “Duyên này thì giữ vật này của chung” là cả bao nhiêu sự giằng xé, níu kéo khủng khiếp trong tâm hồn, con tim của Kiều, Nguyễn Du quả thật tinh tế trong ý thơ của mình. Những tưởng rằng trao xong Duyên là lòng nhẹ bẫng không còn vướng bận, con đường phía trước sẽ không còn gì níu kéo nhưng ai ngờ phút dứt tình lại là phút đau đớn nhất.

 

Trong đoạn thơ ta thấy hàng loạt hình ảnh đối lập nhau hiển hiện trước mắt, xưa đẹp đẽ bao nhiêu thì giờ đây Kiều đau đớn, dằn vặt mình bởi mối tình tan vỡ, trong thâm tâm Kiều đang giằng xé giữa còn và mất, giữa riêng và chung, giữa hạnh phúc và bất hạnh. Do đó, trao duyên cho Thuý Vân rồi, nhưng lòng Kiều lại nhức nhối bao nỗi đắng cay, vì nàng thấy rõ những thiệt thòi , bất hạnh của mình. Bởi vậy, Kiều đã chân thành cầu mong một sự quan tâm từ xa ở con người may mắn, hạnh phúc là Thuý Vân đối với nàng – con người bất hạnh “xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên”.

Thúy Kiều trao duyên là coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn kĩ vật và còn dặn em hãy thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của mình của chị trên cõi đời đen bạc này.

                Tóm lại, 18 câu đầu bài trao duyên là tâm trạng đau khổ, xót thương đến cùng cực của Thúy Kiều cho mối tình dang dở. Cảnh trao duyên được ghi lại ngắn gọn qua đoạn thơ, nhưng đâu ai biết chất chứa trong đó là cả một nỗi niềm. Chứng kiến tình yêu dần vụt ra khỏi tầm tay, nàng Kiều thật sự đau khổ. Bằng nghệ thuật ngôn từ đặc sắc, Nguyễn Du đã khắc họa trước mắt người đọc khung cảnh buồn tẻ, âu sầu của buổi trao duyên, qua đó dẫn dắt người đọc đi sâu vào tuyến cảm xúc của nhân vật. Càng đọc, ta càng hiểu và thương cho số phận bất hạnh của nàng Kiều nhiều hơn. Đó cũng là lí do khiến tác phẩm trở thành một “tuyệt tác”  mãi về sau.