TIN TỨC THỜI SỰ & XÃ HỘI

Quản lý Nhà nước về kinh tế

                                                      
 
SỰ CẦN THIẾT PHẢI QL NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

 

Nhà nước cũng như pháp luật là những hiện tượng có tính lịch sử. Nó chỉ ra đời và tồn tại trong những giai đoạn lịch sử xã hội nhất định. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và năng xuất lao động xã hội làm xuất hiện chế độ tư hữu và xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng không thể điều hòa được, thì Nhà nước ra đời. Nhà nước đặt các quy tắc xử sự mới thể hiện ý chí của giai cấp thống trị thay cho tập tục lạc hậu và thừa nhận các quy tắc tập quán còn phù hợp để nâng lên thành luật để điều hành các quan hệ xã hội.

 

Nhà nước XHCN là công cụ sắc bén để nhân dân lao động trấn áp sự phản kháng của giai cấp bóc lột. Nhà nước XHCN được xây dựng và không ngừng hoàn thiện trong suốt thời kỳ quá độ từ CNTB - CNXH - CNCS văn minh.

 

Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước ta đang thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường, mọi hoạt động diễn ra rất phức tạp, các thành phần kinh tế hoạt động đan xen, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa cạnh tranh, mâu thuẩn trong quan hệ kinh tế thường xuyên xảy ra. Mặt trái của cơ chế thị trường tác động tiêu cực đến bản chất XHCN, đó là xu hướng phân hóa giàu nghèo quá mức, tâm lý sùng bái đồng tiền, vì đồng tiền mà chà đạp lên đạo đức, nhân phẩm của con người…Vì vậy, quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội là một yêu cầu cần thiết khách quan, nhằm điều khiển các thành phần kinh tế và thị trường hoạt động theo định hướng XHCN; đấu tranh khắc phục, hạn chế tối đa những khuynh hướng tiêu cực xã hội.

 

Thời đại ngày nay, việc nâng cao quản lý kinh tế của Nhà nước là cần thiết đối với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - XH, nó được thể hiện:

 

-Mọi Nhà nước sinh ra, phải nắm giữ quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế nhằm điều tiết mối quan hệ kinh tế - xã hội. Để thực hiện quyền lực, Nhà nước phải tiến hành quản lý mọi lĩnh vực của xã hội, trong đó có lĩnh vực quản lý kinh tế đối với nền kih tế quốc dân.

 

-Ngày nay, lực lượng sản xuất phát triển, trình độ xã hội hóa sản xuất ngày càng cao do cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ tạo ra, cho nên cần thiết có sự quản lý của Nhà nước về kinh tế.

 

-Nhà nước tác động thúc đẩy nền kinh tế phát triển đúng theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Trong lịch sử kinh tế thế giới, có hai mô hình kinh tế đặc trưng tương ứng với vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước: Thứ nhất, là mô hình kinh tế chỉ huy – vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước được tuyệt đối hóa; thứ hai, là mô hình kinh tế thị trường, nó kết hợp giữa vai trò của Nhà nước với vai trò của cơ chế thị trường.

 

Hiện nay, trên phạm vi toàn thế giới không một nhà nước nào đứng ngoài việc quản lý kinh tế; Nhà nước nào cũng có chức năng quản lý kinh tế, tuy mỗi nước có cách quản lý khác nhau.

 

*.Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước ta:

 

-Khẳng định trước hết bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì nhân dân. Để quản lý kinh tế, Nhà nước đóng vai trò chủ thể quản lý, làm cho nền kinh tế tăng trưởng, đi đôi với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, tạo điều kiện để nhân dân sống và làm ăn theo pháp luật;

 

-Về mặt Nhà nước, thì Nhà nước là cơ quan thực thi quyền lực của nhân dân, bảo vệ lợi ích của quốc gia, chủ sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu; vận hành nền kinh tế bằng cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN;

 

Nền kinh tế thị trường ở nước ta còn sơ khai, cho nên vai trò của Nhà nước rất nặng nề và quan trọng:

 

+Nhà nước phải tạo điều kiện thúc đẩy thị trường ra đời phù hợp với xu hướng thời đại, đồng thời phải điều tiết thị trường để nền kinh tế ổn định & phát triển.

 

+Nhà nước phải kiên quyết đấu tranh khắc phục, hạn chế tối đa những khuynh hướng: phân hóa giàu nghèo quá mức và tâm lý sùng bái đồng tiền, vì đồng tiền mà chà đạp lên nhân phẩm, đạo đức… đồng thời hạn chế và khắc phục khuyết điểm, yếu kém của bộ máy Nhà nước.

 

+Nhà nước phải vận hành nền kinh tế bằng cơ chế quản lý mới, định hướng XHCN phù hợp với bản chất của Nhà nước ta.

 

Tóm lại:

Nhà nước tạo lập đồng bộ các loại thị trường, quản lý, điều tiết nhịp nhàng, có hiệu lực làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.

 

*.Chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế:

Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, được vận hành bằng cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước được xác định là chức năng quản lý kinh tế vĩ mô với các nội dung cơ bản như sau:

 

-Thứ nhất, Nhà nước phải tạo được môi trường và điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Bảo đảm sự ổn định về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cho sự phát triển của nền kinh tế. Duy trì pháp luật trật tự an toàn xã hội, thi hành nhất quán các chính sách & thể chế theo hướng đổi mới, ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, khống chế lạm phát, điều tiết các quan hệ thị trường.

 

Tạo môi trường tâm lý, trong quá trình nhận thức của cán bộ đảng viên và nhân dân phải hiểu cơ chế thị trường, nhận thức được tính hai mặt của cơ chế.

 

-Thứ hai, phải dẫn dắt & hỗ trợ những nổ lực phát triển thông qua chiến lược, kế hoạch, các chính sách kinh tế, sử dụng có trọng điểm các nguồn lực kinh tế quốc doanh, tạo nguồn lực để phát triển kinh tế Nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như: kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, BHXH, những cơ sở sản xuất và thương mại dịch vụ quan trọng, một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan hệ đến quốc phòng – an ninh, khai thông các quan hệ kinh tế.

 

-Thư ba,  Nhà nước phải hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội. Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối tư liệu sản xuất lẫn ở khâu kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình.

 

Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo; thu hẹp khoảng cách và trình độ phát triển về mức sống giữa các vùng, các tầng lớp dân cư, giải quyết việc làm cho người lao động.

 

Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn, đáp nghĩa”, nhân hậu. vv…

 

-Thư tư, Nhà nước phải tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động trong nền kinh tế trên lĩnh vực sử dụng tài nguyên, tài sản quốc gia, bảo vệ môi trường, trật tự kỹ cương của nền kinh tế.

 

Nhà nước ta vận hành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường - hội nhập kinh tế quốc tế, mọi hoạt động diễn ra rất đa dạng, phức tạp, các thành phần kinh tế vừa hỗ trợ hợp tác, vừa đấu tranh, mâu thuẩn lẫn nhau trong quan hệ kinh tế thị trường thường xuyên xảy ra. Hoạt động sản xuất kinh doanh trên các ngành nghề có thể làm ô nhiễm môi trường, có thể có tác hại đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, nạn gian lận thương mại… đều có thể xảy ra. Vì vậy Nhà nước không thể buông lỏng sự quản lý của Nhà nước trên tất cả các hoạt động của nền kinh tế phát triển theo định hướng chứ không thể để nó tự phát được.

 

*.Nhà nước cần hoàn thiện công cụ quản lý vĩ mô:

 

Nội dung quản lý vĩ mô của Nhà nước được thực hiện bằng việc sử dụng hệ thống các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô. Do đó, quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế phải gắn với quá trình đổi mới và hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô quan trọng:

     

-Xây dựng chiến lược, kế hoạch, chương trình kinh tế - xã hội để định hướng cho sự vận động của nền kinh tế thị trường.

     

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được xem như là sự lựa chọn có căn cứ khoa học của các mục tiêu dài hạn và cơ bản của quá trình phát triển kinh tế - xã hội gắn với chọn lọc các phương tiện, biện pháp chủ yếu để đạt được mục tiêu đó.

     

Chiến lược được cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhằm đảm bảo những cân đối chủ yếu cho nền kinh tế và định hướng cho sự vận động của nền kinh tế.

 

-Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Vì hệ thống pháp luật là cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư, kinh doanh trong cơ chế thị trường, duy trì trật tự, kỹ cương kinh tế, điều chỉnh hành vi. Do đó cần phải đổi mới việc xây dựng ban hành, thực thi luật pháp theo đúng yêu cầu của việc tổ chức quản lý kinh tế - xã hội trong cơ chế thị trường, đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế, tăng cường pháp chế để nâng cao hiệu quả của công cụ pháp luật.

 

-Sử dụng các công cụ tài chính - tiền tệ - giá cả là những công cụ chủ yếu của quản lý kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường, bởi lẽ kinh tế thị trường thực chất là kinh tế tiền tệ. Vì vậy Nhà nước cần nắm các công cụ này, sử dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp tài chính, giá cả phù hợp với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN.

 

-Tiếp tực cải cách và xây dựng hệ thống tài chính, tiền tệ thành công cụ điều tiết vĩ mô nhạy bén và phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng đối với việc quản lý vĩ mô trên mọi lĩnh vực: điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, chống lạm phát, định hướng phát triển sản xuất, hoạt động đầu tư.

 

-Tiếp tục đổi mới chính sách thuế theo hướng vừa bảo đảm nguổn thu ngân sách nhà nước, vừa khuyến khích sản xuất kinh doanh và thúc đẩy thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng để tăng tích lũy.

 

Chính sách thuế là một bộ phận trọng yếu của nền tài chính quốc gia, có liên quan đến nhiều mối quan hệ kinh tế, xã hội và đời sống của nhiều tầng lớp dân cư. Đối với hoạt động quả lý của Nhà nước, thuế không chỉ giữ vai trò là nguồn thu chủ yếu của Nhà nước để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ trên mọi lĩnh vực của Nhà nước, mà còn giữ vai trò là công cụ quản lý vĩ mô.

 

Kiên quyết thực hiện đạt yêu cầu các luật thuế mới hiện hành, đơn giản hóa hệ thống thuế và biểu thuế suất, nâng tính ổn định của thuế. Bổ sung thuế và phí sử dụng tài nguyên không tái tạo. Xây dựng quy chế đảm bảo chi ngân sách tiết kiệm và có hiệu quả, nâng dần tỷ lệ chi đầu tư và phát triển, kềm chế bội chi ngân sách.

 

Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, thuế là công cụ điều tiết áp lực cạnh tranh, bảo hộ sản xuất trong nước, điều tiết quan hệ xuất nhập khẩu và thực hiện chính sách kinh tế mở cửa.

 

Xem ảnh với kích cỡ đầy đủ-Chính sách giá cả (bao gồm giá cả hàng hóa và giá cả đồng tiền). Trong kinh tế thị trường, là cơ sở để bố trí tài nguyên và kinh doanh sản xuất nó nẩy sinh thông qua thị trường và phản ảnh nhanh nhạy cung – cầu của nền kinh tế. Sự giao động kinh tế của nền kinh tế quốc dân, trước tiên biểu hiện ở sự giao động về giá cả, cho nên quản lý giá cả bằng chính sách giá chính là một trong những nội dung chủ yếu về sự can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường như: điều tiết quan hệ cung – cầu, điều tiết hành vi, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, các ngành kinh tế, điều tiết quan hệ cạnh tranh, môi trường kinh tế để chống đột biến xấu từ lạm phát, bảo hộ các hoạt động sản xuất kinh doanh.

 

*.Ba nội dung cơ bản của chính sách giá cả là:

 

+Nhà nước trực tiếp đối với một số ít sản phẩm cơ bản có tính chất chiến lược phục vụ cho xã hội như: Than, dầu mỏ, điện, hàng không, bưu điện… Tuy nhiên, từng bước thu hẹp tỷ trọng Nhà nước định giá và mở rộng tỷ trọng giá Nhà nước chỉ đạo và giá thị trường điều tiết.

 

+Nhà nước chỉ đạo mức giá, quản lý gián tiếp là hình thức quản lý giá thông qua việc xác định khung mức giá trong giá cả hàng hóa. Hình thức này, đòi hỏi phải điều chỉnh thường xuyên giá cả để làm cho nó tiếp cận với giá thị trường.

 

+Khống chế từng mức giá cả có mục đích, đảm bảo sự ổn định cơ bản tổng mức giá cả & biện pháp khống chế từng mức giá cả là hệ thống các biện pháp như: biện pháp hành chính, biện pháp tài chính, biện pháp tiền tệ, biện pháp khống chế lương & hối suất…

 

-Chính sách tiền tệ: Ngân hàng là “linh hồn của nền kinh tế thị trường” được Nhà nước sử dụng để điều tiết tiền tệ trong lưu thông xác lập môi trường tài chính lành mạnh, phù hợp với yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế kinh tế và là công cụ để thực hiện chiến lược tài chính, tiền tệ quốc gia. Vai trò đó được thực hiện thông qua việc tổ chức hoạt động ngân hàng 2 cấp trong nền kinh tế thị trường, đó là Ngân hang nhà nước và Ngân hàng thương mại.

 

Ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, cung ứng và điều hòa lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền.

 

Các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, thực hiện các dịch vụ tài chính, ngân hàng. Công cụ cơ bản để sử dụng trong hệ thống ngân hàng là hệ thống luật, văn bản dưới luật, lãi suất, chiếc khấu, hệ thống thị trường tài chính, tiền tệ.

 

Hoạt động của hệ thống ngân hàng giữ được vai trò là trung tâm tín dụng, trung tâm tiền tệ, trung tâm thanh toán và từ đó có thể khống chế, kiểm soát, điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế quốc dân. Do đó, trong điều kiện kinh tế thị trường, Ngân hàng giữ vai trò công cụ vĩ mô của Nhà nước.

 

Tóm lại:

Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường sẽ tồn tại lâu dài – suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Các thành phần hoạt động sản xuất kinh doanh đan xen nhau, vừa hỗ trợ thúc đẩy, lại vừa cạnh tranh mâu thuẩn đối lập thường xuyên xảy ra. Mặt trái của cơ chế thị trường mâu thuẩn với bản chất của XHCN, đó là xu hướng phân hóa giàu nghèo quá mức, tâm lý sùng bái đồng tiền và vì đồng tiền mà chà đạp lên đạo đức, nhân phẩm của con người. Vì vậy, quản lý Nhà nước về kinh tế là một yêu cầu cần thiết - khách quan, nhằm quản lý các thành phần kinh tế và thị trường hoạt động theo định hướng XHCN, theo quan điểm: tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

 

Bằng những công cụ của mình, Nhà nước ta thực hiện được các chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế, đưa nề kinh tế xã hội phát triển, thực hiện mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – vững bước tiến lên Chủ nghĩa xã hội – con đường mà Đảng – Bác Hồ và Nhân dân ta hằng mong ước./.

 

                                                      Năm Căn, ngày 01/08/2007.

                                                                 (Đề cương)

                                                                          Trần Tâm Hiệp 
Comments