Phong tục về tang ma, Chương trình tang lễ

Phong tục về Tang Ma
Nguyễn Dư
Tang lễ là những lễ nghi được đặt ra để bày tỏ lòng thương xót và kính thờ người chết. 
Người Việt Nam coi tang lễ cha mẹ là quan trọng nhất. 
Khi cha mẹ hấp hối thì phải khiêng ra giữa nhà để tỏ rằng cha mẹ chết một cách quang minh chính đáng. Lúc này phải đặt tên hiệutên thụy, còn gọi là tên cúng cơm, rồi thưa cho cha mẹ biết để sau này mỗi khi cúng giỗ, nghe con cháu khấn tên thì cha mẹ về dự lễ. Lại lấy một miếng lụa trắng dài đặt lên mặt, có người nói đặt lên ngực (1) để hồn người sắp chết nhập vào, rồi kết thành hình người, gọi là hồn bạch.
Khi tắt thở rồi thì tang chủ (người chủ lễ, thường là con trai trưởng) lấy một chiếc đũa để ngang hàm, dùng một miếng khăn hoặc một miếng giấy phủ lên mặt để tránh ma quỷ ám hại. 
Xong, khiêng xác đặt xuống đất, rồi lại khiêng lên giường, mong rằng người chết hấp thụ sinh khí của đất, may ra sống lại.  
Phan Kế Bính cho rằng tục này mang ý nghĩa là người ta bởi đất sinh ra thì khi chết lại về đất (2). Có lẽ Phan Kế Bính đã chịu ảnh hưởng của Đạo Thiên Chúa chăng ?  
Người con cầm cái áo của người chết mới thay, đi đường phía trước trèo lên mái nhà hú vía ba lần (lễ phục hồnchiêu hồn) : ba hồn, bảy vía, cha đâu về với con hoặc ba hồn, chín vía mẹ đâu về với con, tỏ ý mong cha mẹ sống lại. Theo quan niệm của Đạo giáo thì phách (hay vía) là phần tinh thần của người phải phụ vào xác mới tồn tại, khi người chết thì tan đi, còn hồn là phần tinh thần không có xác vẫn tồn tại được.  
Hú vía xong tụt xuống bằng lối phía sau. Mang áo vừa được hú vía phủ lên xác. 
Dùng nước thơm tắm rửa cho người chết (lễ mộc dục ), chải tóc, cắt móng tay móng chân, thay quần áo mới. Con trai tắm rửa cho cha, con gái tắm rửa cho mẹ. Người chết được mặc quần áo sang trọng hay đơn sơ tùy theo nhà giàu hay nghèo, có chức tước hay không, chết già hay chết trẻ.

Các đồ dùng và nước tắm của lễ mộc dục được đem chôn.

Sau đó làm lễ phạn hàm, hay ngậm hàm. Bỏ một nắm gạo và ba đồng tiền (đồng kẽm, đồng chinh) vào miệng người chết. Gạo để linh hồn người chết ăn, khỏi phải thành ma đói ( ngạ quỷ). Tiền dùng để đi đò hay qua cầu sang bên kia thế giới. Những người lúc sống ăn ở bạc ác thì lúc chết linh hồn phải qua cầu Nại Hà. Người lương thiện được qua cầu Kim Ngân. Ngày xưa nhà giàu dùng gạo và vàng, ngọc để làm lễ phạn hàm.  
Từ lúc mặc quần áo đẹp cho người chết xong, con cháu không mặc đồ tốt đẹp, chải chuốt. Ngược lại, càng ăn mặc tiều tụy càng tỏ lòng hiếu thảo. 
Tiếp đến là lễ khâm liệm. Khâm liệm là dùng vải bọc xác trước khi đặt vào áo quan. Xác được chèn đồ bổ khuyết, bọc kín và buộc chặt thành một khối vuông vức.  
Lúc đặt xác vào áo quan ( lễ nhập quan ), lót giấy bản, rắc bỏng hay trà khô để đề phòng hút nước do xác tiết ra. Nhiều nhà mời thầy phù thủy làm lễ phạt mộc(chém gỗ). Một tay cầm dao, tay kia cầm bó hương, thầy phù thủy vừa niệm thần chú, vừa quát tháo, vừa chém vào thành áo quan để trừ ma quỷ còn ẩn nấp trong áo quan và trong những tấm ván.  
Phạt mộc xong, thầy phù thủy bỏ vào trong áo quan một miếng ván đục hình chòm sao bắc đẩu, gọi là ván thất tinh (bảy ngôi sao). Gia đình nghèo thì chỉ vẽ chòm sao lên một mảnh giấy.  
Ván thất tinh có công dụng gì ? 
Theo quan niệm của Đạo giáo thì trên cõi trời có Ngọc Hoàng Thượng Đế và nhiều vị thần ngự trị. Trong số các vị thần được người đời thờ kính có Nam Tào và Bắc Đẩu, hai vị thần chuyên ghi chép và kiểm soát sổ sinh, sổ tử của loài người. 
Chòm sao bắc đẩu (đại hùng tinh) tượng trưng cho thần Bắc Đẩu. Bỏ tấm ván thất tinh vào trong quan tài, người ta hi vọng rằng linh hồn người chết sẽ được vị thần giữ sổ tử che chở. 
Người nào chết nhằm giờ xấu thì phải bỏ thêm vào áo quan một cỗ bài tổ tôm, ngày nay có chỗ dùng bộ bài tây, một quyển lịch tàu hoặc lịch ta.  
Tục này mang ý nghĩa gì ?  
Chữ bài (hán việt, bộ thủ), nghĩa là trừ bỏ, và chữ lịch (bộ chỉ) nghĩa là trải qua, vượt qua. 
Chết nhằm giờ xấu, người ta dùng bộ bài, quyển lịch để trừ bỏ điều xấu, vượt qua được mọi khó khăn.  
Nhiều nhà còn dán thêm bùa bên trong và bên ngoài áo quan để trừ khử ma quỷ. Có nhà dùng tàu lá gồi thay cho quyển lịch. Lá gồi trừ được thần trùng (2)(3). 
Nhập quan rồi, chèn thêm đồ bổ khuyết, đậy nắp áo quan, gắn sơn, đóng cá hoặc đóng đinh cho kín.  
Linh cữu được khiêng ra đặt giữa nhà, trên nóc bày một bát cơm úp, cắm một chiếc đũa vót cho sơ ra như gai nhọn (có nơi gọi là chiếc đũa bông), một quả trứng luộc, ba nén hương. 
Bát cơm, quả trứng, có thể là bữa ăn để linh hồn người chết khỏi trở thành ma đói. Nhưng chiếc đũa có gai nhọn thì chắc chắn không phải là để dùng ăn cơm. Không ai có thể ăn với một chiếc đũa như thế. 
Vậy chiếc đũa gai này mang ý nghĩa gì ? 
Chiếc đũa chữ hán việt là khoái (bộ trúc). Chữ khoái (bộ tâm) có nhiều nghĩa : sướng thích, nhanh chóng, sắc bén, và lính đi bắt giặc cướp 
Cái gai nhọnchữ hán việt là thứ (bộ đao), thứ còn có nghĩa là đâm chết. 
Chiếc đũa gai tượng trưng cho một tên lính đi bắt và đâm chết giặc cướp, được người xưa dùng làm bùa trừ ma quỷ.  
Nếu trong gia đình còn người ở bậc cao hơn người chết thì đặt linh cữu ở gian bên cạnh, đầu quay ra ngoài sân hoặc quay về hướng nam. 
Sau vài ba ngày, chờ con cháu ở xa về đông đủ, thì làm lễ thành phục, cũng gọi là phát tang. Gặp mùa nóng bức hoặc lúc có bệnh dịch thì phát tang sớm hơn. Con cháu, họ hàng, tùy theo thứ bậc mà mặc đồ tang. Đồ tang của người vắng mặt được đặt trên linh cữu.  
Luật xưa quy định rõ ràng năm hạng quần áo, mũ khăn, cùng thời hạn để tang. 
Làm lễ nhập quan rồi nhưng chưa phát tang thì con cháu còn được phép cưới, gọi là cưới chạy tang. 
Nhà nào rộng rãi, giàu sang thì đặt linh sàng (giường của linh hồn người chết) và linh tọa (bàn thờ linh hồn). 
Buổi sáng bưng chậu nước, khăn mặt vào linh sàng, khóc ba tiếng rồi rước hồn bạch ra linh tọa, lúc đó mới dâng cúng cơm nước. Buổi tối dâng cúng xong, lại rước hồn bạch vào linh sàng, buông màn đắp chăn rồi mới trở ra. Nhà nghèo thì treo hồn bạch vào linh tọa, rồi làm lễ dâng cúng. Lễ này gọi là lễchiêu tịch điện. 
Trong mấy ngày linh cữu còn quàn trong nhà, nhiều gia đình mời phường bát âm thổi kèn, đánh trống đệm cho con cháu khóc, và mỗi khi có người tới phúng viếng. Nhà giàu lại còn thuê người khóc mướn cho tăng vẻ thương nhớ, sầu thảm. 
Trước hôm đưa ma thì làm lễ thiên cữu (xê dịch linh cữu). Rước linh cữu sang nhà thờ tổ làm lễ yết tổ rồi đưa trở về chỗ cũ. Có nhà rước hồn bạch đi làm lễ. Không có nhà thờ tổ thì xoay linh cữu một vòng rồi lại đặt vào chỗ cũ. 
Đến ngày phát dẫn (đưa đám), làm lễ khiển diện (tiễn biệt), rồi rước linh cữu lên đại dư (xe đòn). Có nhà làm lễ cáo thần đạo lộ, xin phép cho đám tang bắt đầu lên đường.
Bắt đầu cuộc phát dẫn. Tuỳ theo đám ma to hay nhỏ, cách sắp đặt cũng như thứ tự tuần hành có đôi phần khác nhau. 
Đi mở đường là hai phương tướng mặc quần áo đạo sĩ, đeo mặt nạ dữ tợn, cầm gươm xua đuổi ma quỷ. Có khi phương tướng được làm bằng giấy hoặc vẽ vào tấm mộc, cho trẻ con vác. 
Tiếp theo làthể kì, một bức hoành trắng do hai người khiêng, viết bốn chữ theo vài công thức có sẵn để đọc lên người lạ cũng có thể biết người chết là đàn ông hay đàn bà. Thí dụ cha chết thì viết câu Hỗ sơn vân ám (núi Hỗ mây che, theo điển tích xưa thì núi Hỗ là nơi tưởng nhớ cha). Mẹ chết thì viết câu Dĩ lĩnh vân mê (núi Dĩ mây mờ, núi Dĩ là nơi ngóng mẹ). 
Sau thể kì đến minh tinh làm bằng một tấm lụa hay vóc màu đỏ dùng để ghi chức tước, họ tên, thụy hiệu người chết. Đây là chỗ để các gia đình danh giá đua nhau dài dòng minh tinh, đem hết phẩm hàm ra khoe. Nhà nghèo thì dùng giấy điều buộc lên cành tre cho một đứa bé cầm. 
Kế tiếp là hương án bày đồ thờ và thực án bày đồ ăn. 
Rồi đến linh xa chở hồn bạch, có phường bát âm đi kèm bên. Một người cầm biển đan triệu bằng giấy viết hai chữ trung tín hay trinh thuận tuỳ theo người chết là đàn ông hay đàn bà. 
Tiếp theo là cờ công bố dẫn đường cho phu khiêng đại dư. 
Nhà giàu thường che linh cữu bằng cái nhà táng trang hoàng lộng lẫy, hoặc một chiếc thuyền bát nhã bằng giấy nếu người chết là một Phật tử. Có nhà thắp thêm bảy cây nến xếp thành hình chòm sao bắc đẩu trên nắp linh cữu(1). 
Tục ta mong muốn cho người chết được yên nghỉ, cho nên phu khiêng linh cữu, đại dư phải chú ý đi đứng nhẹ nhàng, ngay ngắn. Nhiều nhà cho đặt một chén nước đầy trên linh cữu, nếu trong suốt lúc di chuyển, khiêng vác, nước không sánh ra ngoài thì phu khiêng sẽ được thưởng tiền.
Cha đưa mẹ đón. Đám tang cha, con trai chống gậy tre theo sau quan tài. Đám tang mẹ, con trai chống gậy vông (ngày xưa gọi là cây đồng) nửa dưới đẽo vuông, nửa trên vót tròn, đi giật lùi đằng trước quan tài. Con trai nào vắng mặt thì treo cái gậy của người ấy ở đầu đòn đại dư. Nếu có con trai nào chết trước thì con trai của người này (hoặc người được ăn lập tự) phải chống gậy thay cha. 
Tại sao lại chống gậy vuông đi giật lùi ?  
Nhất Thanh giải thích rằng vì cha nghiêm (nghiêm đường, nghiêm phụ) con chỉ biết lẽo đẽo theo khóc, không dám lên phía trước đón ngăn lại trên đường vĩnh biệt như đối với mẹ hiền (gia từ, từ mẫu)(4) 
Giải thích của Nhất Thanh e rằng dễ gây cho ta cảm tưởng rằng con chỉ sợ cha vì cha nghiêm, còn mẹ hiền thì con có thể nhờn. Vả lại Nhất Thanh vẫn chưa cho biết ý nghĩa của cái gậy vuông. 
Muốn hiểu được tục này chúng ta phải nhìn lại xã hội phong kiến ngày xưa.  
Ai cũng biết rằng Nho giáo rất trọng tôn ti trật tự quân, sư, phụ (vua, thầy dạy học, cha).  
Trong gia đình người cha là trên hết. Cha chết, tất cả con cái thuộc bậc dưới phải đi sau quan tài của cha.  
Còn vai trò của người mẹ thì ra sao ?  
Nho giáo trọng đàn ông con trai, miệt thị đàn bà con gái. Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô (một con trai kể là có, mười con gái kể là không). Cha chết thì quyền huynh thế phụ  người anh được thay quyền cha. Chồng chết thì vợ phải phu tử tòng tử, nghĩa là mẹ phải theo con trai. Tuy nhiên, chữ hiếu của Nho giáo lại bắt con trai cũng như con gái phải thờ kính cả cha lẫn mẹ.  
Tục lệ tang ma cho người con trai đi giật lùi đằng trước quan tài của mẹ, như vậy là vừa giữ được lòng kính trọng của chữ hiếu vừa giữ được tinh thần trọng nam khinh nữ của Nho giáo. 
Hai chiếc gậy tre và gậy vông mang ý nghĩa gì ? 
Toan Ánh cho rằng chiếc gậy tre tượng trưng cho ngay thẳng, cứng rắn của cha, gậy vông tượng trưng cho thuần hậu, mềm dẻo của mẹ (3) 
Nhưng tại sao lại phải đẽo vuông chiếc gậy vông ? 
Người xưa quan niệm rằng trời tròn đất vuông. Quan niệm này được thể hiện rõ ràng qua sự tích bánh giầy bánh chưng của ta.

Vua Hùng Vương thứ 18 muốn truyền ngôi, cho gọi các con vào chầu. Vua nói: "Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay mang trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi". 
Lang Liêu nhà nghèo, được thần báo mộng: "Các vật trên trời đất và mọi của quý của người không gì bằng gạo. Gạo có thể nuôi người khỏe mạnh mà ăn không bao giờ chán, các vật khác không thể hơn được. Nay đem gạo nếp làm bánh, cái hình tròn, cái hình vuông để tượng trưng hình trời đất rồi dùng lá bọc ngoài, ở trong cho mỹ vị để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ ". 
Lang Liêu làm theo lời thần.  
Bánh dâng lên vua, được vua khen vừa ngon vừa có ý nghĩa. Lang Liêu được vua truyền ngôi. 
Từ đó, đến ngày Tết thiên hạ thường làm bánh giầy bánh chưng dâng cúng cha mẹ. 
Gậy tre tròn tượng trưng cho trời. Theo thuyết Âm Dương của Nho giáo thì trời thuộc về dương, chỉ người cha. Gậy vông vuông tượng trưng cho đất. Đất thuộc về âm, chỉ người mẹ. 
Vì vậy cho nên đưa đám cha phải chống gậy tròn, đưa đám mẹ thì chống gậy vuông.

Con gái, con dâu luôn luôn đi đằng sau linh cữu cha mẹ, dưới tấm phương du bằng vải trắng dùng để che nắng. Khi nào được hiệu lệnh thì con gái trưởng và con dâu trưởng phải vừa khóc vừa lăn đường cho tăng thêm phần thảm thiết.  
Các gia đình theo đạo Phật thường mời nhà sư, bà vãi đến tụng kinh, cầu nguyện cho linh hồn người chết được siêu sinh tịnh độ. Lúc đưa đám, các bà vãi đội cầu bát nhã, nhà sư gõ mõ tụng kinh, đi đằng trước linh cữu để dẫn đường linh hồn sang Tây phương cực lạc. 
Dọc đường đám tang có người rắc vàng mã . Người ta tin rằng có nhiều ma quỷ theo đuổi ám hại linh hồn người chết. Phải rắc vàng mã để tống tiễn chúng mới buông tha. 
Tại huyệt chôn, nhiều nhà làm lễ tế thổ thần nơi đây. 
Nhà có chức tước danh vọng còn làm lễ đề chữ , nghĩa là viết nốt chữ chủ còn bỏ dở. Bộ thần chủ được sửa soạn từ trước nhưng người ta chỉ viết chữ thần và ba nét ngang của chữ chủ, cố ý để thiếu nét chấm và nét sổ. Hiếu chủ mời một vị khoa bảng, có chức tước đứng ra làm lễ, cầm bút chấm và sổ cho thành chữ chủ. Thần chủ viết xong được đặt lên linh xa, rước về thờ tại nhà. 
Đợi đúng giờ tốt thì hạ huyệt. Huyệt được thầy địa lí tìm phương nhắm hướng trước, lúc này chỉ xê xích linh cữu, đặt cho thật đúng. 
Lấp mộ xong thì đốt nhà táng, minh tinh, cầu bát nhã, thuyền bát nhã và phương tướng. 
Nếu người chết là Phật tử thì có nhà sư tụng kinh gõ mõ và các bà vãi cầm hương niệm Phật đi quanh mộ. Mỗi người cầm một hòn đất ném vào mộ, gọi là đi dong nhan. 
Dong nhan nghĩa là gì ? Các học giả không thống nhất ý kiến. Có người hiểu là tưởng nhớ đến nét mặt người chết, người khác lại hiểu là lấp mặt người chết một lần cuối(5).

Những ngày tiếp theo, con cháu đem trầu rượu ra thăm mộ, gọi là ấp mộ, ngụ ý làm cho người nằm dưới mộ bớt lạnh lẽo. Đến ngày thứ ba làm lễ mở cửa mả. Con cháu đắp lại ngôi mộ, mời thầy phù thủy yểm bùa trừ ma quỷ. 
Những gia đình theo Phật giáo, sau đám tang cứ bảy ngày lại làm một tuần chay, tụng kinh tại nhà hay tại chùa. Đến tuần chay thứ bảy, cũng gọi là cúng 49 ngày, thì ngừng. 
Được 100 ngày làm tuần bách nhật, còn gọi là tuần tốt khốc nghĩa là từ nay trở đi thôi không khóc nữa. Mỗi năm đến ngày mất, con cháu cúng giỗ để tưởng nhớ. Giỗ đầu gọi là tiểu tường. Năm sau làm lễ đại tường. Sau 27 tháng thì làm lễ trừ phục, hết hạn để tang. Trong thời hạn tiểu tường và đại tường, đến rằm tháng bảy tuần trung nguyên người ta hay đốt vàng mã cho người chết dùng, có khi đốt cả hình nhân, thằng Quýt con Nhài, cho xuống âm phủ hầu hạ người chết. 
Khi có người chết oan, bị giết, chết bất đắc kì tử, hoặc chết nhằm giờ xấu thì phải làm chay để siêu độ vong hồn. Đàn chay thường được tổ chức ngay tại chỗ người bị chết. 
Lễ làm chay dung hợp cả Phật giáo và Đạo giáo. Trên đàn tế bày tượng tam bảo, tượng tam phủ, hai bên có tranh thập điện, ở giữa có tranh quan thánh. Buổi lễ do nhà sư hay pháp sư làm chủ lễ. Mục đích của lễ là gọi hồn người chết về, cầu Phật để xin phổ độ, cầu tam phủ để xin xá tội.

Nhiều làng quê miền Bắc có tục cải táng (bốc mộ), nghĩa là chôn sang khu đất mới. Lí do là vì sau vài ba năm mộ cũ bị sụt lở, ngập nước, hoặc vì chôn ở nơi xa con cháu muốn đưa về quê nhà, cũng có khi chỉ vì tin thầy địa lí, phù thủy. 
Con cháu làm lễ cáo từ đường rồi khai mộ, mở nắp quan tài. Tất cả xương cốt được nhặt ra, tẩy rửa bằng nước thơm, lau khô, xếp vào một cái tiểu sành, rồi chôn sang đất khác. Trước khi chôn làm lễ cúng thổ thần mới.

Người Việt Nam quan niệm rằng sống gửi thác về (sinh kí tử quy). Chết là trở về với tổ tiên bên kia thế giới. Ai cũng mong muốn cho cha mẹ trở về được thanh thoát, may mắn.  
Người con có hiếu phải thờ cha mẹ đã chết cũng như lúc cha mẹ còn sống, thờ khi mất như lúc hãy còn (sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn). 
Nhưng vì câu nệ vào tục Tàu nên các nghi thức trở thành rườm rà, tốn kém, trọng hình thức giả tạo. 
Ngày nay đám tang được tổ chức gọn gàng. Hồn bạch, thể kì, minh tinh được thay bằng tấm ảnh chân dung người chết. Linh cữu được chở bằng xe hơi. Nhiều nghi thức, hủ tục bị xoá bỏ (thương vay khóc mướn, lăn đường, cờ quạt rầm rộ, kèn trống ầm ỹ). Tục đốt vàng mã vẫn còn, thậm chí còn gia tăng ở một vài nơi. Đua nhau vén tay áo sô đốt nhà táng giấy, đốt xe hơi, tủ lạnh, giấy tiền đô la... 
Thời hạn để tang được rút ngắn. Mồ mả xây đắp cẩn thận, không cần phải cải táng. 
Nhiều gia đình cho thiêu xác, giữ tro để thờ tại chùa. 
 Nguyễn Dư 
 (5/10/2000)
Lễ tang
  
Lễ tang trong " Thọ mai gia lễ " là một tập tục có từ rất lâu, bắt nguồn từ gia lễ thời xưa của Trung quốc. Ngày nay, tập tục này mặc dù đã lỗi thời nhưng vẫn được áp dụng rộng rãi trong nhân dân. Nói đến lễ tang, là ta phải xét đến tôn giáo, tùy theo tín ngưỡn của từng tôn giáo mà có những cách thức tiến hành " Lễ tang " khác nhau.

Thật ra, cùng với sự phát triễn mạnh mẽ của KHKT, cùng với những nhận thức tiến bộ về "Sự sống, Vũ trụ"...trong cuộc sống đầy tất bật hôm nay, mấy ai trong chúng ta có đủ thời gian, tiền bạc và đủ tín ngưỡn để có thể thực hiện tòan bộ các tập tục mang ít nhiều màu sắc hủ tục, mê tín dị đoan có từ ngàn xưa. Tuy nhiên, quan niệm sau đây vẫn tồi tại: "Chết không có nghĩa là không còn nữa mà CHẾT chỉ là MẤT" nghĩa là "Một vật (vật chất) vừa MẤT đi tức là nó (linh hồn) vẫn CÒN HIỆN HỮU ở đâu đó". Thật vậy, trong ký ức của chúng ta vẫn còn đọng mãi hình ảnh của họ, những người thân yêu nhất.

Có ba ngày trọng đại nhất của đời người : Ngày sinh, ngày cưới và ngày chết.

Chúng ta mong muốn tổ chức được một Lễ tang trang nghiêm, chu đáo cho người thân, giãm bớt các hủ tục lỗi thời, đồng thời cũng không nên tổ chức tang lễ quá hao phí.

Lễ nhập liệm

Gần đến giờ nhập liệm, gia đình cần phải chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ đồ cúng (có thể hỏi những người lớn tuổi, các vị Sư hoặc Ban kẻ liệt (nếu gia đình theo Công giáo).

Phật giáo

+ Chuẩn bị nhang, đèn, giấy vàng mã (nên nhờ người bán chọn giúp những loại thích hợp và phân làm từng phần: nhập liệm, cúng cơm, động quan, rãi dọc đường, hạ huyệt, mở cửa mã..., bạn chỉ cần cho người bán biết bạn muốn mua tất cả bao nhiêu tiền là đủ).

+ Chổ để quan tài, 2 bàn cúng (một bàn thờ Phật, một bàn 'vong'), 2 bộ chân đèn, 2 bát nhang, 2 trò, 2 dĩa trái cây, 2 bình bông và cơm, canh dành để cúng cơm (chay hoặc mặn).

+ Lập sẳn danh sách tất cả những người để tang theo thứ tự từ lớn đến nhỏ với các mục: Họ tên, tuổi (theo Âm lịch), quan hệ với người chết..(Thầy tụng sẽ đọc tên và phát tang trong lễ thành phục).

+ Treo hoặc dán bảng CÁO PHÓ trước cửa nhà ở vị trí dể quan sát. Bạn có thể lấy mẩu Cáo phó (in sẳn) của Trại hòm, điền vào những thông tin về người chết, ngày giờ nhập liệm, động quan, an táng...Riêng đối với những gia đình không muốn nhận tiền phúng điếu, tràng hoa, lễ vật...thì điền thêm vào Cáo phó. Ví dụ: " Gia đình xin miễn phúng điếu, tràng hoa cùng lễ vật. Xin cám ơn ".

+ Bắt đầu nhập liệm: Các con đi vào, con trai bên trái, con gái bên phải. Quí Thầy sẽ đọc kinh (nếu không có Thầy, gia đình có thể dùng máy phát thanh). Nhân viên dịch vụ sẽ tiến hành mặc bộ đồ tẩn liệm, quấn vải liệm...Lúc này con cháu qùy 2 bên, người con trưởng hoặc cháu đích tôn sẽ đến vuốt mắt người chết (nếu không nhắm thì có thể hơ lửa một miếng giấy cho nóng rồi vuốt từ trên xuống) rồi nâng đầu người chết, cùng với nhân viên mai tấng ' hạ thổ ' 3 lần (nâng tử thi nằm ngang vai rồi từ từ hạ thấp chạm đất), sau đó đặt vào quan tài một cách êm ái, đầu người chết được lót một gối nhỏ (làm bằng vải dồn trà hoặc bằng đất sét..).

+ Đồ khâm liệm thường được dùng bằng vải trắng. Nếu người chết lớn tuồi người ta còn dùng vải đỏ phủ lên trên. Dùng nhiều vải được gọi là Đại liệm, dùng ít vải gọi là Tiểu liệm. Để đảm bảo vệ sinh môi trường, các trại hòm thường dùng bao nylon cột chặt tử thi lại, túm 2 đầu bao bằng vải. Sau đó có thể bỏ vào quan tài một số quần áo cũ của người chết (sau khi đã cắt hết cúc). Những chổ còn trống trong quan tài sẽ được nhân viên mai táng chèn đầy bằng trภhoặc bằng bông lài khô...

+ Con cháu đến trước quan tài khấu đầu 2 lạy trước khi đóng nắp Áo quan. Chú ý: tang chủ không nên quá bi lụy, tránh để nước mắt rơi vào trong quan tài.
+ Trường hợp người chết đã cứng lạnh, người co rút không bỏ lọt vào trong Áo quan được, người ta có thể hơ lửa và nắn dần chân tay cho thẳng ra hoặc xoa bóp bằng cồn, rượu...Nếu thi hài to quá, người ta thường dùng 2 chiếc đủa cả để ở 2 bên mép áo quan rồi cho thi hài lọt xuống dần. Sau khi thi hài đã yên vị, cắt bỏ những dây buộc chân, tay, vai ,mông...để người chết có thể nằm thoải mái.

+ Mọi việc xong thì đậy nắp quan tài lại thật kỹ, đặt ở giữa nhà. Nếu ở nhà còn người lớn hơn thì đặt bên cạnh. Nhân viên mai táng sẽ trang trí đèn, lập bàn thờ phật, bàn vong, treo lá triệu (là tấm vải đỏ được viết bằng chử nho từ trên xuống, nội dung gồm tên, tuổi, địa chỉ của người chết...), đặt một cái siêu đất ở dưới quan tài, đổ dầu phộng vào nắp siêu đã được úp ngược, đốt đầu phộng bằng một cọng tim bứt...Dọn bàn vong gồm bát nhang, bình bông, chân đèn, trái cây, trà rượu, một chén cơm đầy có cắm một đôi đũa tre đặt ở giữa, hai bên là hai chén cơm lưng, mỗi chén có cấm một chiếc đũa...Làm lễ thiết linh: là lễ lập linh vị, con cháu đốt nhang vái lạy. Khi chưa chôn cất thì lấy lễ thờ người sống mà tế, do đó mỗi lần lạy chỉ lạy 2 lạy.

+ Lễ thành phục: là lễ phát tang, thường được tiến hành ngay sau khi nhập liệm. Thầy tụng sẽ phát tang hoặc con cháu tự mặc đồ tang để cúng tế và đáp lễ khi khách đến viếng. Trước khi thành phục, nếu có khách đến thì người chủ tang chưa ra tiếp, mà người hộ tang thay mặc tiếp khách và nói lời thông cảm với khách. Sau lễ thành phục mới chính thức phát tang. Lúc này, thân bằng cố hữu, bà con láng giềng mới đến phúng viếng.

Công giáo

Theo đạo Công giáo, gia chủ không đặt nặng vấn đề cúng kiến, mà chủ yếu là đọc kinh cầu cho linh hồn người mất. Được sự giúp đở rất nhiệt tình của các vị Trùm và Ban kẻ liệt, gia đình chỉ cần chuẩn bị sẳn đồ tang phục (có một số người mặc đồ tang trườc khi nhập liệm).

Gần đến giờ nhập liệm, bà con Công giáo trong khu sẽ đến cùng gia đình đọc kinh, trước khi Cha Sở đến làm lễ. Đồ dùng tẩn liệm theo Công giáo là: vải trắng (không sữ dụng chiếu, vải đỏ)... Cha Sở làm lễ xong (khi người chết đã được đặt vào quan tài) liền ra về, phần nghi lễ còn lại do các Ông Trùm làm tiếp.

Nghi lễ Công giáo có phần trang nghiêm hơn Phật giáo. Bàn thờ theo Công giáo đơn giản là một bảng tên thánh, bình bông huệ trắng, cây thánh giá ... phía sau quan tài treo một tấm vải có thiêu tên giáo xứ, tên thánh của người chết. Trước nhà có treo bốn lá cờ nhỏ có thiêu chử. Ví dụ: Sống gởi thác về.

Lễ động quan

Hiện nay, người ta chỉ mua Quan tài còn công việc tẩn liệm và khiêng Quan tài  đều do các Trại hòm (Cơ sở phục vụ mai táng) đảm nhận.

Phật giáo

Trước giờ động quan, thầy tụng đọc kinh, làm lễ Cáo đạo lộ (còn gọi là lễ Cúng đường). Tang chủ cần hỏi các Sư trước về cách sắp đặt lễ cúng, đồ cúng tại nhà cũng như tại nghĩa trang để chuẩn bị cho chu đáo.

Tiếp theo là lễ Bái quan: Khi được phép của gia chủ, người chấp hiệu (là người chỉ huy, đội trưởng của các nhân viên mai táng) sẽ điều khiển nhân viên hành lễ. Người phụ tá đốt đèn, nhang rồi phân phát cho từng nhân viên đang quỳ dọc hai hàng trước quan tài. Người chấp hiệu vái lạy, thắp nhang, cột khăn tang, đốt giấy vàng mã, rải gạo muối..

Sau đó, toàn bộ nhân viên đồng loạt qùy trước linh cữu lạy hai lạy, xin phép được di quan đến nơi an táng. Theo Phật giáo, khi khiêng quan tài thì tuân theo nguyên tắc đầu quan tài đi trước, chân quan tài đi sau. Các con trai chia nhau cầm bát nhang, hình, bài vị ... bước theo các vị Sư đi trước quan tài. Con gái, cháu, chắt ... phải đi sau quan tài. Khi linh cữu vừa ra khỏi nhà, gia chủ sẽ cho người đập vỡ cái siêu đất để dưới quan tài (với ý nghĩa là mong cho linh hồn người chết mau được siêu thóat).

Người chấp hiệu sẽ điều khiển cho quan tài quay lại chào nhà lần cuối. Quan tài được hạ đầu xuống ba lần. Ra khỏi nhà, quan tài được khiêng trên vai một đoạn rồi mới đưa lên xe tang. Nếu người chết lớn tuổi, người ta còn tổ chức ' đi bộ ' một đọan để những người già có thể đưa tiễn thêm. Đòan đi bộ do các Sư dẫn đầu, tiếp theo là cờ, lộng, một cái bàn có giá để treo tấm triệu, một bàn vong, đi kèm với bàn vong là các con trai, cháu đích tôn...Con cháu mang tang sẽ đi bộ theo sau xe tang. Những người có tang được che bằng Phương du (đó là một tấm bạt lớn, có bốn cây để chống bốn phía, đươc bốn người cầm), theo sau là những người đưa tiển. Nếu gia đình có mời ban nhạc thì ban Nhạc nam đi trước quan tài, ban Kèn tây sẽ đi sau. Đọan đường " Đi bộ " không nên quá dài vì dễ gây cảnh ùn tắc giao thông.

Đòan xe tang thường gồm có một xe chở các nhà Sư dẫn đầu. Theo sau là xe chở quan tài và các xe đưa khách chạy sau cùng. Gia đình nên chuẩn bị sẳn một lộ trình thống nhất, thông báo trước cho các tài xế hầu tránh trường hợp đòan xe bị cắt khúc, lạc đường. Tốc độ của đòan xe nhanh hay chậm do xe dẫn đầu quyết định.

Công giáo

Lễ động quan theo Công giáo được chia làm hai phần. Đầu tiên, bà con trong họ sẽ đọc kinh trước giờ động quan. Sau đó linh cữu sẽ được đưa vào nhà thờ làm lễ. Thông thường, lúc sinh thời người chết đi lễ tại đâu thì sẽ được Cha Sở của nhà thờ đó làm lễ. Đặc biệt, nếu người chết đã từng làm Cha Sở hoặc người chết là cha, mẹ của Cha Sở hay các vì nữ tu thì sẽ được nhiều Cha đến làm lễ Đồng tế. Người theo đạo công giáo ít khi mời các ban Nhạc nam mà họ thường chỉ sử dụng Ban kèn tây khi đưa tiễn.

Tang phục

Ngày xưa, người ta qui định có năm hạng tang chế là: Đại tang (3 năm), Cơ niên (1 năm), Đại công (9 tháng), Tiểu công (5 tháng)...Ngày nay, phong tục này đã được giãm gọn lại rất nhiều. Đồ tang thường được may bằng vải sô (vải mùng) hoặc vải tám màu trắng. Bạn nên nhờ các Trại hòm lo giúp, người ngoài có thể phân biệt ai là con ruột, con rể, con dâu ... của người chết.

+ Con trai, cháu đích tôn : Áo, quần, mũ rơm quấn đầu, dây chuối, dây đai thắt lưng và gậy tang (để tang cho cha dùng gậy tre, để tang cho mẹ dùng gậy vong). Riêng một số gia đình Công giáo không sử dụng dây rơm và gậy.

+ Con gái, con dâu: Áo, quần, khăn trùm đầu.

+ Con rể: quần, khăn cột đầu.

+ Cháu nội, ngọai: khăn trắng cột đầu có chấm xanh, đỏ để phân biệt.

+ Cháu cố: khăn vàng cột đầu.

Hiện nay, tùy theo hoàn cảnh từng người mà thời gian để tang thường được kéo dài khoảng từ một năm, 100 ngày, 49 ngày, hoặc ngay sau khi mở cửa mã.

Có một câu hỏi thường được đặt ra là: Trong trường hợp người con chết trước cha mẹ thì cha mẹ có phải để tang cho con không ?

Theo " Thọ mai gia lễ ", để tang là việc thể hiện tình nghĩa, thể hiện lòng thương xót giữa kẻ mất, người còn. Như vậy, chẳng những thân thích mà người ngoài đến phúng viếng cũng nên đeo băng tang. Cha mẹ có thể để tang con, ông bà cũng có thể để tang cháu.

Tuy nhiên, theo quan niệm phương Bắc " Phụ bất bái tử " (cha không lạy con) và con cháu chết trước cha mẹ là nghịch cảnh, là bất hiếu, con chưa kịp báo hiếu cha mẹ đã trốn nợ đời. Vì vậy, chẳng những cha mẹ không để tang con mà ngược lại, khi khâm liệm còn phải quấn lên đầu một vòng tang trắng. Cha mẹ có khi vì quá đau buồn, đã ngất lịm đi bên mộ huyệt của con, nên cha mẹ nhiều khi không đưa tang con là đúng.

Ngày nay, người ta thường áp dụng phương cách sau: Cha mẹ không để tang con nhưng vẫn thắp nhang, khi tẩn liệm xong đặt một hoặc hai mãnh khăn trắng lên trước đầu quan tài, thay thế cho việc con phải để tang cha, mẹ sau này (khi cha mẹ mất) trong thời gian để quan tài tại nhà. Thiết nghĩ, đó là việc làm hợp tình hợp lý.

Lễ cúng trong đám tang

Bà con theo Phật giáo (hoặc thờ Ông Bà) thường tổ chức nhiều lễ cúng trong đám tang. Trong các đề mục trước ta đã xem qua lễ nhập liệm, lễ động quan, lễ hạ huyệt ... Tuy nhiên, sau khi chôn cất xong, người ta còn tổ chức các lễ sau:

Lễ tế ngu (lễ mở cửa mã)

+ Tục này không thống nhất, có nơi tính ba ngày sau khi mất, có nơi tính ba ngày sau khi chôn. Thực ra, trong điển lễ thì không có ' lễ ba ngày ' mà chỉ có ' lễ tế ngu ' gồm có ' sơ ngu ' - lúc rước linh vị về nhà sau khi chôn; ' tái ngu ' - sau ngày ' sơ ngu ' khi gặp được ' ngày nhu ' (tức là ất, kỷ, tân, quí) và ' lễ tam ngu ' (sau khi chôn gặp ngày cương - tức là gíap, bính, mậu, canh, nhâm. Ngày nay, người ta giản lược, kiêm luôn cả ba lễ, chỉ làm lễ tam ngu, vì thế nên gọi là lễ ba ngày hay lễ mở cửa mã. Lễ này tính ba ngày sau khi chôn, đó là vì có nhiều trường hợp sau khi chết bốn năm ngày, thi thể còn để trong phòng lạnh, đám tang chỉ có thể được cử hành nhiều ngày sau khi chết. ** Vào ngày đó, con cháu sửa lại mã, đắp cỏ, khơi rãnh thoát nước... thắp nhang, đốt giấy vàng mã...Đồ cúng phải có một cái thang tre nhỏ có bảy hoặc chín bậc (theo ' nam thất, nữ cửu ')... Người dân làm lễ này do các quan niệm :

+ Một người đang sống bình yên, bỗng nhiên mọi họat động bị đình chỉ.

+ Đang nhìn thấy người thân, khi đã nhập quan bỗng nhiên không còn gặp lại nữa.

+ Đang ở trên dương thế nay chết đi thân xác về cỏi âm, hồn vất vưởng lìa khỏi xác, âm dương hòan toàn cách biệt. Sau lễ thành phân, sơ ngu, tái ngu, tam ngu là lễ tế để làm cho yên ổn hồn phách.

Lễ cúng thất

+ Đối với các gia đình Việt nam, bửa cơm là giờ phút đầm ấm nhất, hạnh phúc nhất. Nếu trong nhà có người về muộn, mọi người cũng cố chờ để ăn cơm một lúc cho vui vẻ. Nay, bỗng nhiên nhà có người đi xa không bao giờ trỡ lại. Tục cúng cơm hình thành từ đó. Trước bữa ăn, người thân dâng lên bàn thờ một bát cơm úp, một vài món ăn bình thường, ở nhà đang ăn gì thì cúng thứ ấy. Sau khi thắp hương, người ta dùng đôi đũa vào giữa bát cơm, rót rượu, khấn vái, rót nước.... Theo thuyết nhà Phật: linh hồn người chết phải qua bảy lần phán xét, mỗi lần bảy ngày đi qua một điện ở âm ty thì vong hồn mới siêu thóat. Tục cúng thất là cúng vào các ngày theo tuần, kể từ ngày mất: 7 ngày, 21 ngày, 49 ngày, 100 ngày... Làm lễ chung thất (49 ngày) và tốt khóc(100 ngày) không cần phải chọn ngày, cứ đúng ngày qui định trong gia lễ mà làm.

+ Người ta không ai có thể chọn ngày chết, vì vậy từ xưa đến nay, hàng năm cứ đến ngày mất thì làm giỗ, dù cho có năm ngày đó rất xấu. Chẳng lẻ con cháu ở phương xa nhớ ngày về làm lễ, đến nơi thấy khói tàn hương lạnh, lũi thủi ra về sao ?. Tang tế là ngày định sẳn, thân bằng cố hữu ai lưu luyến thì đến thăm viếng, không đợi thiếp mời như lễ mừng.

Lễ trừ phục (đàm tế)

+ Sau khi an táng hai năm, người ta chọn một ngày tốt để làm lễ trừ phục. Trừ phục gồm có 3 lễ:

1. Lễ sửa mộ.

2. Lễ đàm tế: Cất khăn tang, hủy (đốt) các thứ thuộc về phần lễ tang, rước linh vị lên bàn thờ chính, bỏ bàn thờ tang, thu cất các bức trướng, câu đối viếng...

3. Lễ rước linh vị vào chính điện và yết cáo tổ tiên: Chép sẳn linh vị mới, khi đàm tế ở bàn thứ tang xong thì đốt linh vị cũ. Sau đó rước linh vị, bát hương và chân dung đưa lên bàn thờ chính, đặt ở hàng dưới.

Lễ nào là lễ trọng ?

+ Lễ giỗ: Phong tục các nơi đều thống nhát lấy giỗ cha mẹ là chính (cha mẹ của người tôn trưởng nhất trong nhà).

+ Lễ tang: Phong tục mỗi nơi mỗi khác. Có nơi chú trọng lễ 49 ngày, nơi khác coi lễ 100 ngày là lễ chính, có nơi làm lễ 3 ngày xong xuôi tốt đẹp là được. Đó là có thể trong lúc tang gia bối rối, việc thù đáp đối với thân bằng cố hữu và những người đến hộ tang có nhiều khiếm khuyết nên họ lấy lễ 3 ngày là lễ trọng. Đó xem như là dịp để tang gia tạ ơn những người đã săn sóc cha mẹ mình khi đau yếu và giúp đở gia đình lo xong đám tang. Có nơi coi trọng lễ giỗ đầu ('Tiểu tường'), có nơi coi trọng lễ giỗ thứ hai ('Đại tường').