2. GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH TỔNG HỢP

GS. TRẦN NGỌC HỒ

(Hiệu trưởng Trường Tổng hợp)

Chương trình giáo dục lúc bấy giờ không đạt kết quả như mong muốn nên các nhà nghiên cứu cần phải đề ra một chương trình mới phù    hơp vói khả năng và điều kiện của Việt Nam ta. Vì thế Chương trình Giáo dục Tổng hợp ra đời.

    I.   Giai đoạn chuẩn bị:

    A.   Tìm hiểu kết quả giáo dục phổ thông

      Sau khi nghiên cứu theo dõi kết quả 7 năm liên tục của 10 trường Trung học và của 10 lớp khác nhau có cả nam lẫn nữ, các nhà chuyên môn nhận thấy:

         1. Chỉ có 2 học sinh trong số 100 học sinh Trung học mới lên được Đại học, học có kết quả và mới ra trường làm việc được,   không  phải đào tạo lại (2%).

         2. Học sinh không đạt kết quả thì đi đâu, làm việc gì? Có thể nói tới 75% không tìm được việc làm và hoàn toàn bế tắc trong việc mưu sinh với 7 năm ở trường trung học phổ thông ra. Kết quả thực là đau buồn và quá lãng phí. 

  B.  Xây dựng một chương trình giáo dục mới:

            Chương trình Giáo dục Trung học Tổng hợp:

1.    Triết lý và mục tiêu Giáo dục Tổng hợp:

a.    Mỗi con người đều có hoàn cảnh gia đình, điều kiện tài chính, năng khiếu, ý thích, ước muốn, tâm lý khác nhau nên chương trình đào tạo phải cung cấp cho họ những kiến thức, kỹ năng đa dạng, phong phú chi tiết khiến họ vào đời sớm thích nghi hơn.

b.    Mục tiêu giáo dục Tổng hợp cung cấp cho học sinh kiến thức, kỹ năng bảo đảm cho họ vào đời dù mới 18 tuổi, kiếm được việc làm.

·         đủ nuôi sống bản thân mình

·         giúp đỡ gia đình

·         góp sức với xã hội

II.    Hình dung kết quả đào tạo 2 chương trình giáo dục.

     Các nhà nghiên cứu giáo dục giáo dục đưa ra 2 hình ảnh tóm tắt kết quả đào tạo sau đây để dễ nhận định:

A.    Chương trình cũ:

Hình tam giác cân được chia làm 3 phần theo chiều dọc (y axis của khung hình bên dưới)

Phần 1: Số học sinh giỏi, xuất sắc chiếm 1/3 của chiều dọc 

Phần 2: Số học sinh khiển dụng chiếm 1/3 của chiều dọc 

Phần 3: Số học sinh bất khiển chiếm 1/3 của chiều dọc 

B.    Chương trình Tổng hợp (mới)

Được hình dung bằng một hình thoi, có diện tích tương đối, cũng được chia làm 3 phần chiều dọc (y axis của khung hình bên dưới)

Phần 1: Số học sinh giỏi, xuất sắc chiếm 1/3 của chiều dọc  

Phần 2: Số học sinh khiển dụng chiếm 1/3 của chiều dọc 

Phần 3: Số học sinh bất khiển dụng chiếm 1/3 của chiều dọc  

Như thế rõ ràng kết quả đào tạo theo chương trình mới có hiệu quả hơn nhiều, vì nó đáp ứng được mọi năng khiếu, ước nguyện và tố chất của học sinh nên khi ra đời, số học trò dễ có thể kiếm việc làm và thu nhập cao vì đáp ứng được nhu cầu thiết thực của xã hội sẽ cao hơn . Xã hội không mất nhiều thời gian tiền bạc để đào tạo lại.

C.    Chuẩn bị cán bộ và cơ sở vật chất để thực hiện chương trình Trung học Tổng hợp:

1.    Chuẩn bị cán bộ: một tài khoản viện trợ 500.000 USD để tập hợp các cán bộ đang quản trị học đường, giỏi ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Pháp) đi học để nắm vững : Triết lý, mục tiêu, soạn thảo, thực hiện chương trình, quản trị và phương pháp đánh giá. Khóa học kéo dài trong 6 tháng, mỗi tuần học 3 buổi tối, mỗi buổi học 2 giờ. Các thuyết trình viên giảng dạy đều là các Giáo sư, các nhà nghiên cứu, soạn thảo, hướng dẫn nước ngoài (Mỹ, Anh, Pháp). Cứ sau mỗi buổi học thì các học viên được nhận tiền bồi dưỡng ngay lúc ra về, ở ngoài cửa lớp. Khóa học đầu tiên đặt tại trường Sương Nguyệt Ánh.

2.    Cơ sở vật chất: Chương trình mới yêu cầu phải có cơ sở vật chất đáp ứng với nó nhưng vì thời gian gấp rút vả chăng còn đang thể nghiệm nên không thể làm ngay. Trước mắt có 4 trường sau đây xây cất nên tạm thời có thể sửa chữa được thực hiện chương trình Giáo dục Tổng hợp.

a.    Trường Quốc Gia Nghĩa Tử Saigon

b.    Trường Sương Nguyệt Ánh

c.    Trường Nguyễn An Ninh

d.    Trường Kiểu mẫu Thủ Đức

       III.    Công việc thực hiện :

      Sau khi đi học về, tôi được giao trách nhiệm thực hiện:

 A.    Cơ sở vật chất:

 1. Trệt khu nội trú cũ:

a. Lớp thực hành Doanh thương tổng quát (General Business)

b. Lớp thực hành Công kỹ nghệ (Industrial Arts and Technology) mới mở được 3 lớp : In, Gỗ, Sắt.

c. Lớp thực hành Kinh tế gia đình (Home Economics) dạy nấu ăn và may mặc có trang bị tương đối đầy đủ

d. Lớp Canh nông (Agriculture) mới chỉ dạy 2 môn: trồng trọt và chăn nuôi

Cuối dãy có xây một phòng y tế 10 giường: 1 bác sĩ, 2 y tá, 2 điều dưỡng, chưa có nhân viên theo yêu cầu, chỉ có một bác sĩ làm việc bán thời gian.

     2. Lầu một khu nội trú cũ :

a. Văn phòng : Hiệu Trưởng, Giám thị

b. Ba phòng học

c. Một phòng Lab, học sinh ngữ 30 chỗ

              B. Thực hiện chương trình:

Chương trình học được chia làm 8 ban, sau khi học sinh học tốt nghiệp với bằng Tú tài của 8 ban đó, đều có đủ điều kiện thi lên Đại học, nhất là chuyên ngành thời càng dễ đạt hơn không chuyên ngành.

Ban A: Ban Khoa học thực nghiệm (giống như bên Phổ thông)

Ban B: Ban Toán học                                      (- nt -)

Ban C: Ban Sinh ngữ                                      (- nt -)

Ban D: Ban Cổ ngữ                                        (- nt -)

Ban E: Ban Doanh Thương Tổng quát (môn học và thời lượng khác hẳn)

Ban F: Ban Công kỹ nghệ                               (- nt -)

Ban G: Ban Kinh tế gia đình                            (- nt -)

Ban H: Ban Canh nông (môn học và thời lượng khác nhau)

Các môn học và thời lượng đều theo Chương trình Tổng hợp mới được soạn thảo và ban hành. Mỗi ban đều có môn học bắt buộc và nhiệm ý (nhiệm ý là học sinh có thể học hai hoặc ba môn mình thích hợp trong số các môn trong chương trình nhiệm  ý)

 Phương pháp hướng dẫn học sinh chọn ban:

Nhà trường có trách nhiệm thành lập ban Hướng dẫn tập hợp các bản kiểm tra và trắc nghiệm (tài liệu tạm thời ứng dụng ngân hàng trắc nghiệm của Viện Harris) được gởi tới hàng năm về:

    1. Hai năm đầu (lớp 6, lớp 7) là hai năm Khám phá năng khiếu, tố chất.
    2. Hai năm tiếp (lớp 8, lớp 9) là hai năm từng bước Hướng dẫn chọn lựa.
    3. Ba năm sau (lớp 10,11,12) mới thực sự học Chuyên ban.

Phương pháp lượng giá: bằng các bài kiểm tra, trình bày, nhất là trắc nhiệm (7 phép). Ở Việt Nam lúc đó chưa có Viện chuyên soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm phục vụ đúng yêu cầu đánh giá nên còn cần phải sử dụng tài liệu của nước ngoài vì phương pháp lượng giá rất quan trọng, nó vừa khách quan, vừa khoa học, chiếm tới 80 – 90% điều mà ta muốn hỏi. Nếu không học và không đủ trình độ kiến thức về nhiều mặt, đủ thời gian và điều kiện kiểm tra, đánh giá, xếp loại độ khó của câu trắc nghiệm thì không thể sử dụng được.

1.    Độ khó A: Chỉ 10% học sinh Giỏi làm được.

2.    Độ khó B: từ 20% - 25% học sinh Khá làm được

3.    Độ khó C: 40% học sinh Trung bình làm được

4.    Độ khó D: 60% học sinh Trung bình làm được (câu hỏi dễ)

5.    Độ khó E: 75% học sinh Trung bình làm được (câu hỏi quá dễ)

Các câu hỏi trắc nghiệm phải được đánh giá độ khó mới đem ra thực hiện việc lượng giá, nếu không mục đích khó lòng đạt được.

Vấn đề Lượng giá học sinh là một vấn đề khó khăn phức tạp không thể trình bày rõ ràng một lúc cho hết được. Xin hẹn một dịp khác, nếu có yêu cầu.


 

 

 

 

 

Comments