KỸ THUẬT‎ > ‎

NUÔI TÔM SÚ

I.MỘT SỐ VẤN ĐỀ  CẦN BIẾT TRONG NUÔI TÔM SÚ:

1. Một số đặc điểm sinh học của tôm sú cần chú ý:

        - Tôm sú là động vật máu lạnh, rất dễ xảy ra dịch bệnh khi thời tiết và môi trường sống thay đổi, vì vậy, việc cải tạo ao nuôi thật tốt và xác định mùa vụ nuôi là hết sức cần thiết.

        - Tôm sú có tập tính hoạt động và ăn nhiều về đêm

        - Trong giai đoạn trưởng thành, tôm có tập tính sống vùi dưới đáy ao.

        - Sinh trưởng của tôm gắn liền với khả năng lột xác của cá thể.   

2. Đặc điểm thích nghi về môi trường sống của tôm sú:

    2.1.Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho tôm sú là 28 - 320c, thích hợp nhất cho tôm sú là 28 - 300c. Tôm sú là động vật biến nhiệt (nhiệt độ cơ thể luôn thay đổi theo nhiệt độ môi trường sống), chúng không có khả năng ổn định nhiệt độ trong cơ thể, sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng bắt mồi,  làm mất cân bằng pH trong máu, thay đổi chức năng điều hoà áp suất thẩm thấu, làm rối loạn hô hấp và quá trình chuyển hoá vật chất bên trong cơ thể của nó, sinh lý bị rối loạn biểu hiện bên ngoài là cong thân, đục cơ, tôm ít hoạt động, nằm im và tăng cường hô hấp rất dễ nhiễm bệnh, rủi ro sẽ rất lớn.

    2.2.Độ mặn: Độ mặn thích hợp nhất cho tôm sú là 8 - 200/00, độ mặn giử vai trò quan trọng trong việc điều hòa áp suất thẩm thấu giửa nguyên sinh chất của tôm sú và nước. Ngoài ra độ mặn còn ảnh hưởng đến độ kiềm và độ pH, khả năng sinh trưởng của tôm. Độ mặn vượt ra ngoài giới hạn thích ứng của  tôm  nuôi sẽ gây ra các phản ứng sốc cho cơ thể, làm giảm khả năng kháng bệnh của chúng.

    Trong ao nuôi tôm, độ mặn có tăng rất nhanh do hiện tượng bốc hơi nước (thường vào mùa khô) hoặc có thể giảm cục bộ do mưa (thường vào mùa mưa).

    2.3.Độ trong: Là khoảng cách còn nhìn thấy đo từ mặt nước xuống đáy ao và được đo bằng đĩa secchi, độ trong thích hợp cho ao nuôi từ 30 - 40cm.

    Thông qua độ trong người ta có thể đánh giá được tình trạng môi trường trong ao nuôi, đồng thời đề ra các biện pháp xử lý kịp thời nếu môi trường nước ao nuôi xấu.

    Nếu độ trong quá thấp (nhỏ hơn 20cm) do mật độ tảo dầy sẽ tạo nên sự thiếu oxy cục bộ cho ao nuôi vào sáng sớm, độ pH trong ao nuôi tăng cao (pH > 9) vào buổi trưa và chiều, chu kì nở hoa của tảo trong ao nuôi sẽ xảy ra sau khi phát triển đến đỉnh cao, nếu người nuôi không có các biện pháp khắc phục tảo sẽ tàn lụi, kết quả là ao nuôi trở nên dơ bẩn do không còn tảo để hấp thu các chất thải hằng ngày của tôm nuôi, mặt khác xác tảo tàn sẽ phân huỷ làm cho môi trường ao nuôi bị thay đổi đột ngột: giảm hàm lượng oxy, tăng hàm lượng NH3 và H2S, đáy dơ... làm cho tôm giảm cường độ bắt mồi và dễ bị cảm nhiễm bệnh.

    Nếu độ trong thấp do các chất lơ lững trong nước (nước mưa hoặc phù sa) sẽ làm hạn chế sự xâm nhập của ánh sáng như vậy khả năng phát triển của tảo sẽ giảm, nguồn dinh dưỡng trong ao nuôi sẽ không cao gây bất lợi rất lớn cho tôm nuôi.

    Khi độ trong quá cao (lớn hơn 50cm), ao nuôi sẽ rất nghèo dinh dưỡng, pH thấp, rong và tảo đáy phát triển mạnh, tôm dễ bị sốc và chậm lớn.

    2.4.Độ pH: Thích hợp cho ao nuôi tôm là 7.5 - 8.5 và dao động trong ngày không quá 0.5. Tôm chết khi pH < 4 và pH > 11, ở mức pH = 4 - 7 và 9 - 11 tôm rất chậm lớn.

    pH quá cao hoặc quá thấp so với mức thích hợp sẽ ảnh hưởng lớn đến sự duy trì cân bằng pH của máu trong cơ thể gây bất lợi cho các hoạt động của sống tôm.

    PH thấp có thể làm tổn thương phần phụ, mang, ảnh hưởng đến quá trinh lột xác và cứng vỏ. Ngoài ra còn làm tăng khả năng gây độc của khí H2S và làm giảm khả năng vận chuyển oxy của máu hậu quả là mang tôm tiết ra nhiều chất nhầy... làm giảm sức đề kháng của tôm.

    Khi pH tăng cao (lớn hơn 9) sẽ làm cho các tế bào ở mang và các mô của tôm bị phá huỷ đồng thời làm tăng tính độc của khí amoniac (NH3) trong môi trường nước.

2.5.Độ kiềm:

    Nồng độ chuẩn của độ kiềm được tính tương đương lượng canxicacbonat. Các chất như bicacbonat, cacbonat, amoniac, hydroxyt, photphat, silicat và một số axit hửu cơ có thể trung hoà ion H+ trong nước và một số chất kiềm khác góp phần tạo nên độ kiềm của nước.

    Độ kiềm trong môi trường nước ngọt thường dưới 40mg/l và trong môi trường nước lợ và mặn là 80 - 120mg/l, đây cũng là mứt thích hợp cho tôm nuôi. Độ kiềm càng thấp hơn mứt này thì pH càng dễ biến động tôm bị mềm vỏ, tuy nhiên độ kiềm cao quá thì tôm khó lột xác và dễ bị chai.

    Độ kiềm giử vai trò rất quan trọng trong việc duy trì hệ đệm của hệ sinh thái ao nuôi, đây được xem là một trong những chỉ tiêu quan trọng có tác dụng làm giảm sự biến động của pH nước, hạn chế tác hại của các chất độc có sẳn trong nước tránh gây sốc bất lợi cho tôm nuôi.

        * Để có các yếu tố môi trường thích hợp nhất cho tôm sú như đã nêu, cần phải thả giống đúng mùa  vụ và có sự hiểu biết về phương pháp chuẩn bị ao nuôi theo khoa học. trong các khâu chuẩn bị ban đầu, quan trọng nhất là thiết kế, cải tạo ao nuôi và chuẩn bị nước để thả giống. Nếu không làm tốt các khâu này, sẽ rất khó khăn cho việc quản lý ao nuôi khi đã thả giống.

 II.THIẾT KẾ AO NUÔI:

Hiện nay, Sóc Trăng có ba mô hình nuôi tôm sú là quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh. Việc thiết kế ao nuôi tùy thuộc vào hình thức nuôi.

    * Đối với mô hình nuôi quảng canh cải tiến, mật độ nuôi 7 - 10 con/m2, có diện tích nuôi khá rộng và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, vì vậy cần lưu ý một vài vấn đề sau:

+ Ao nuôi: Thường được đào mương xung quanh có chiều rộng từ 3 - 4m và chiều sâu từ 1 - 1.2m để đảm bảo mực nước trên trảng lớn hơn 0.5m. Có điều kiện nên thi công bằng xe cơ giới để tránh rò rỉ (mọi) qua bờ.

+ Ao lắng: Là nơi để giử nước xử lý để cấp cho ao nuôi khi cần thiết, ao lắng phải có diện tích bằng 25 – 30%0 diện tích ao nuôi và được thiết kế tương tự ao nuôi.

* Đối với mô hình nuôi bán thâm canh và thâm canh không nên đào đáy ao xuống    quá sâu so với mặt đất ban đầu tránh xì phèn. Tuy nhiên phải đảm bảo được độ sâu mực nước trong ao lớn hơn 1.2m.

+ Nếu có điều kiện nên thiết kế ao nuôi có hình vuông hay hình chữ nhật, tỉ lệ: chiều dài / chiều rộng bằng 1 - 1.5. Trong các góc ao cần được bo tròn, đáy ao phải bằng phẳng và độ dốc nghiêng về phía cống thoát.

+ Ao lắng có diện tích bằng 25 – 30%­0 diện tích ao nuôi và cũng phải được thiết kế tốt, đảm bảo giử được đủ nước để cấp cho ao nuôi khi cần thiết.

    * Mỗi ao cần có một cống cấp và một cống thoát nước riêng.

III.CẢI TẠO AO:

    Cải tạo ao là khâu rất quan trọng đầu tiên trong vụ một nuôi.Trước hết cần loại bỏ lớp bùn ra khỏi đáy ao, mương, bằng cách tát cạn nước và phơi khô đáy ao, sau đó nạo vét hết lớp bùn thối ở đáy ao, nếu có trồng lúa thì dùng lưỡi liềm cắt sát gốc và chuyển gốc rạ ra khỏi ruộng. Tôn cao bờ và lấp hết hang mọi tránh rò rỉ nước, có điều kiện nên dùng cơ giới để sửa và nén bờ cho chắc chắn.

    Cho nước vào ruộng xúc rửa 1 - 2 lần, sau đó ngâm khoảng 3 ngày thì xả cạn, nếu ao nuôi ở vụ trước có nhiều rong ta tiến hành phun formol 4lit/1000m2 đều khắp đáy ao và mặt ruộng.

    Bón vôi: mục đích của việc bón vôi là để trung hòa phèn đất, tăng khả năng đệm cho tầng đáy, diệt khuẩn, phân hủy mùn bả hửu cơ.... Lượng vôi bón tùy thuộc vào pH đất và loại vôi. Hiện nay, có 3 loại vôi thường được dùng để cải tạo ao nuôi tôm sú và được sử dụng cho 1000m2 như sau:

     pH đất

 CaCo3 (vôi nông nghiệp)

CaO (vôi sống)

Ca(OH)2 (vôi tôi)

      > 6

                50 - 100

30 –50

         30 - 50

    5 - 6

               100 - 150

50 – 75

         50 - 100

     < 5

               150 - 200

75 - 100

         100 - 150


* Chú ý:

- Nên bón vôi lúc nền đáy ao nuôi còn ẩm ướt.

- Không nên dùng vôi CaO hoặc Ca(OH)2 khi pH đất > 7.

- Độ pH đất có thể đo bằng máy đo pH đất hoặc có thể lấy mẫu đất dưới đáy ao phơi khô trong bóng râm rồi cho vào nước cất với khối lượng bằng nhau, quậy kỉ cho tan đều và để lắng một đêm, sau đó đo độ pH của dung dịch bằng dụng cụ đo pH nước thông thường.

- Vôi cần được rải khắp đáy ao kể cả bờ ao, khu vực dưới gió, khu vực cho tôm ăn và nơi có nhiều mùn bã hữu cơ nên rải nhiều hơn. 

    Sau khi bón vôi xong cần phơi đáy ao từ 5 - 7 ngày để vôi phát huy tác dụng rồi tiến hành lấy nước và xử lý.

IV.LẤY NƯỚC VÀ XỬ LÝ NƯỚC:

1. Lấy nước:

    Chọn con nước rong, lúc nước lớn đầy sông, kiểm tra độ mặn, pH trước khi lấy nước,  lấy vào tất cả các ao đảm bảo đủ lượng nước cần thiết (tùy mô hình nuôi). Nước phải được lấy qua túi lọc làm bằng vải katê có chiều dài từ 10 - 15m và chiều rộng từ 0,6 - 1m. Thường xuyên kiểm tra túi lọc tránh nghẹt nước và rách túi. Sau khi lấy nước xong, để 2 - 3 ngày rồi tiến hành xử lý nước (giải thích).

2. Xử lý nước:

    Mục đích của việc xử lý nước là để tiêu diệt vi khuẩn, virus gây bệnh cho tôm và các loài ký chủ trung gian gây bệnh gián tiếp cho tôm. Hiện nay có rất nhiều hóa chất dùng để xử lý nước, có thể sử dụng một trong các loại hóa chất sau:

- AQUA CLEAR: liều lượng 250ml/1000m3, pha loãng tạt đều khắp ao. Sau 15 ngày thả tôm.

- G-7: sử dụng lúc 18h - 19h với liều lượng 1lít/2500 - 3000m3 nước, pha loãng rồi tạt điều khắp ao, sau 12 ngày thì thả giống. Nêu mặt lợi, tác dụng phụ.

* Chú ý: Nếu dùng một trong hai loại hóa chất trên để xử lý nước thì nên thử nước trước khi thả tôm, không sử dụng khi ao đang có tôm.

- Thuốc tím (KMnO4­­): liều lượng 5 - 7kg/1000m3. Quậy tan với nước tạt đều khắp ao, sau 5 - 7 ngày có thể thả tôm.

- BKC 80 (Benzalkonium chloride): liều dùng 1,2 - 1,5lít/1000m3, sử dụng trước khi thả giống 2 - 3 ngày.

- INVENTE 600: liều lượng 600g/1000m3, hòa tan trong nước, tạt đều khắp mặt ao, sau 3 ngày có thể thả tôm.

    Sau khi sử dụng hóa chất để diệt khuẩn, nếu thấy trong ao có cá thì dùng saponin với liều từ 15 – 20g/m3 hoặc rễ dây thuốc cá để diệt cá. Do ảnh hưởng của hóa chất nên tảo trong ao nuôi thường giảm và khó phát triển, vì vậy trước khi thả giống 3 - 5 ngày chúng ta nên gây màu nước để tảo phát triển trở lại.

3. Gây màu nước:

    Việc gây màu nước là để tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm, ngăn cản sự phát triển của rong đáy, hấp thụ các chất thải dư thừa trong ao, tạo oxy vào ban ngày, ổn định các yếu tố môi trường như pH, độ kiềm, nhiệt độ ....

    Có thể dùng một trong các loại phân như sau để gây màu nước:

- NPK: dùng 2 - 3kg/1000m3, hòa tan với nước chia ra tạt nhiều lần.

- DAP: dùng 0,5 – 1kg/1000m3 liên tục mỗi ngày cho đến khi đạt độ trong thích hợp.

- có thể dùng 2kg cám lau + 1kg bột cá + 1kg bột đậu nành, nấu chín hòa nước tạt đều cho 1000m3 nước.

    Sau khi gây màu nước xong, khi đã có màu nước ao tốt, nên kiểm tra lại các yếu tố môi trường như pH, độ kiềm, độ trong trước khi thả giống.      

V.CHỌN GIỐNG VÀ THẢ GIỐNG:    

        Con giống có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của vụ nuôi, vì vậy việc lựa chọn giống tốt để thả nuôi cần phải được quan tâm tốt. Muốn lựa chọn con giống tốt, người nuôi tôm nên chọn mua giống ở những trại ương tôm giống có uy tín và cần phải tiến hành qua các bước sau:

 

1.     Chọn bằng cảm quang:

    Qua cảm quan, tôm giống tốt phải đạt các tiêu chuẩn sau:

- Đồng cở, cùng lứa và có độ dài lớn hơn 1,5cm - 2cm.

- Đồng màu, không pha lẫn những con màu lạ.

- Không có vật bẩn bám vào cơ thể (Vì mỗi ngày tôm giống lột xác 1 lần).

- Thích bơi ngược dòng, khi bơi hai anten khép lại, đuôi xòe rộng, phản ứng nhanh với ánh sáng và tiếng động

- Đường ruột rõ ràng, đầy thức ăn.

2. Chọn qua gây sốc bằng formol:

    Chọn ngẫu nhiên 100 con giống, pha 2cc formol 38% với 10 lít nước ao nuôi vào một cái chậu hay thao nhựa, thả tôm vào dung dịch nước đã pha, sau 15 phút khuấy nước tạo dòng chảy nhẹ, kiểm tra lượng tôm hao hụt gom tụ ở giửa thao, nếu lượng tôm hao hụt không quá 5% thì tốt

3.Chọn qua kiểm tra PCR:

    Thu mẫu tại nơi có sụt khí trong bể, mỗi mẫu thu từ 60 - 80 con giống, mang lên Trung tâm khuyến ngư hoặc những nơi có dịch vụ xét nghiệm PCR để kiểm tra. Dựa theo kết quả và ý kiến của cán bộ xét nghiệm để lựa chọn.  

 

4.Thả giống:

    Mật độ thả phụ thuộc vào từng mô hình nuôi, riêng mô hình luân canh tôm, lúa hay quảng canh cả tiến nên thả mật độ từ 5 – 7con/m2 là tốt nhất.

    Cần thuần nhiệt độ trước khi thả bằng cách cho các túi đựng giống xuống ao nuôi ngâm từ 15 - 20 phút, sau đó mỡ miệng túi và cho nước vào đầy bao rồi đỗ tôm ra từ từ. Nên thả tôm phía trên gió, tránh làm đục nước khu vực thả tôm.

VI. CHĂM SÓC VÀ QUẢN LÝ AO NUÔI:

1/ Phương pháp cho tôm ăn:

Cho tôm ăn là một trong những khâu quan trọng nhất để nuôi tôm thành công, vì thức ăn là một trong những thứ phảI đầu tư cao nhất chiếm khoảng 45 – 50% tổng chi phí sản xuất đốI vớI mô hình nuôi năng suất cao và 40% đốI vớI mô hình nuôi năng suất thấp. Khẩu phần ăn của tôm sẽ giảm dần trong chu kì nuôi, vì càng lớn tôm ăn thức ăn với khẩu phần thấp hơn. Nghỉa là khẩu phần ăn của tôm mỗI ngày so vớI thể trọng của nó sẽ giảm dần.

a/ Cho tôm ăn tháng đầu tiên:

    Lượng thức ăn cho tôm ăn trong tháng đầu được căn cứ vào mức tăng trọng hàng ngày của tôm. Nếu thả tôm cở nhỏ hơn PL20 thì lượng cho ăn từ 1 - 2kg/100000con cho đến khi đạt đến cở PL20. Sau đó lượng thức ăn được tăng như sau:

  Giai đoạn tôm

 

Lượng thức ăn tăng hằng ngày         cho 100000 tôm (g)

Tỉ lệ sống ước lượng ( % )            

 

Năng suất thấp

Nâng suất cao

 

    PL20 - PL27

        100g

  100g - 200g

      100%

    PL28 - PL35  

        200g

  200g - 300g

      100%

    PL36 - PL42

        300g

  300g - 400g

      70%

    PL42 - PL49

        400g

       500g

      60%

    Căn cứ vào tỉ lệ sống ước lượng ở bảng trên để tính số lượng tôm trong ao hàng tuần. Ở hệ thống nuôi năng suất cao, nên tăng thức ăn mỗI ngày lúc tôm đang tăng trọng nhanh, chẳng hạn cở tôm lớn hơn 0,5g, tương đương với PL35.

    Tôm có thể sẽ lớn nhanh khi độ mặn tương đốI thấp, vì vậy nên tăng lượng thức ăn lên 400g/100000post ở giai đoạn PL36 - PL42.

    Khi tôm được 30 ngày tuổi nên cho tôm ăn 4 lần/ngày vớI lượng thức ăn tương đương nhau. Thời gian cho ăn thông thường là 7 - 8 giờ sáng; 11 - 12 giờ trưa; 4 - 5 giờ chiều; 10 - 11 giờ tối.

    Cần trộn thức ăn vớ một ít nước trước khi cho tôm ăn để thức ăn chìm nhanh và dể phân phối khắp ao. Nếu đàn tôm khoẻ mạnh thì chúng có thể phân bố đều trong ao trong vòng một ngày sau khi thả. Trong trường hợp này, thức ăn cần được rải cách bờ 2 - 4m và tập trung vào những chỗ đáy ao sạch nhờ máy sục khí. Tuy nhiên, nếu tôm yếu thì cần phải mất một thời gian chúng mới di chuyển quanh ao, lúc này nên rải phần lớn thức ăn ở nơi thả tôm. Nếu được nên quan sát tôm kỹ để chọn nơi cần cho ăn.

    Trong vòng 7 - 10 ngày đầu, người ta trộn 1kg thức ăn tươi sống với thức ăn viên trước khi cho tôm ăn. Thức ăn tươi sống thường là vẹm xanh, ngheo hay cá tươi băm nhỏ. Một số người còn dùng bột cá chất lượng cao. Mục đích của việc trộn thêm thức ăn tươi sống để kích thích tôm bắt đầu sử dụng thức ăn này. Thức ăn tươi sống cũng có tác dụng như là một loại phân hữu cơ. Tuy nhiên, việc làm này cũng có nguy cơ làm lây bệnh trong ao nhất là khi trong thức ăn có giáp xác mang mầm bệnh

    Một số người cho rằng, tôm bột có thể sống nhờ vào thức ăn tự nhiên trong tuần đầu sau khi thả nuôi, vì vậy không cần cho tôm ăn. Trường hợp này chỉ đúng ở những ao nuiô có mật độ nuôi thấp và có nhiều thức ăn tự nhiên. Trong các ao nuôi thâm canh tôm không thể tìm đủ thức ăn tự nhiên nên dể xảy ra hiện tượng ăn nhau và chậm lớn.

    Khi tôm đạt kích cở PL50 với trọng lượng cơ thể tương ứng là 1,5 - 2,5g, thì thức ăn nên điều chỉnh dựa vào tỉ lệ sống và tốc độ sinh trưởng.        


Comments