TRÒ CHƠI DÂN GIAN

PHẦN I: GIỚI THIỆU VỀ TRÒ CHƠI DÂN GIAN

         

Đôi nét về trò chơi dân gian:

Mỗi người chúng ta ai cũng đã từng là một đứa trẻ và đã từng chơi những trò chơi của trẻ. Những vòng quay của con quay (chơi cù) hay những bước nhảy lò cò của trò chơi ăn quan... tất cả như một bức tranh sinh động của cuộc sống. Những điệu nhảy mềm mại, những cánh diều bay nhè nhẹ trên cao như đưa văn hóa Việt Nam đến khắp năm châu. 

Trò chơi trẻ em Việt Nam thường bắt nguồn từ những bài đồng dao, một thể loại văn vần độc đáo của dân tộc. Đấy là những bài ca có nhịp điệu đơn giản gieo vần một cách thoải mái, có thể ngắn dài bất kỳ hoặc lặp đi lặp lại không dứt. Chơi chọi gà là một trong những thú chơi được trẻ em thích thú vì không chỉ nó là con vật gần gũi với đời sống của trẻ mà nó còn mang ý nghĩa như một chiến binh khát vọng chiến thắng: “Con gà cục tác cục ta/ Hay đỗ đầu hè hay chạy rông rông/ Má gà thì đỏ hồng hồng/ Cái mỏ thì nhịn, cái mồng thì tươi/ Cái chân hay đạp hay bơi/ Cái cánh hay vỗ lên trời gió bay”.  

Hay bài đồng dao của trò chơi ô ăn quan: “Hàng trầu hàng cau/ Là hàng con gái/ Hàng bánh hàng trái/ Là hàng bà già/ Hàng hương hàng hoa/ Là hàng cúng Phật...”.  

Rồng rắn lên mây là trò chơi gắn với đồng dao nhằm rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo, phát huy tinh thần đoàn kết, tôn trọng kỷ luật và khả năng đối đáp, có liên quan đến nghi thức cầu mưa của cư dân nông nghiệp: “Rồng rắn lên mây/ Có cây núc nắc/ Có nhà khiển binh/ Hỏi thăm thầy thuốc có nhà hay không...”

Cây mốt, cây mai, lá trai, lá hến, con nhện chăng tơ, quả mơ có hạt...” là bài đồng dao mà các cô bé thường hát để chơi chuyền. Đây là trò chơi chủ yếu dành cho bé gái, dụng cụ là một quả bóng (có thể được thay bằng một hòn đá hoặc quả ổi xanh) và 10 que tre được vót tròn (có thể thay bằng đũa).
“Cút ca cút kít/ Làm ít ăn nhiều/ Nằm đâu ngủ đấy/ Nó lấy mất cưa/ Lấy gì mà kéo...” là bài đồng dao của trò chơi quay (cù) cũng được trẻ em yêu thích. Ta có thể bắt gặp những đứa trẻ túm năm tụm ba, bỏ quên hết nhọc nhằn của cuộc sống, những bài học khó để cuốn theo vòng xoáy của những con quay.

Từng vòng, từng vòng xoay tít, vui thú với những cú đánh lắc bổ nhào trúng quay của đối phương, cuộc sống của chúng dường như chỉ có vậy. Con quay được tiện hay đẽo bằng gỗ, hình giống quả ổi; tuỳ theo từng địa phương, dân tộc mà con quay có thể có hoặc không có núm (còn gọi là tu) ở phía trên. Bên dưới thân quay có “chân” làm bằng gỗ hoặc bằng đinh hình chóp nón hoặc không có “chân”. Khi chơi, các em quấn dây một vòng quanh tu, sau đó quấn dần xuống thân. Kẹp đầu dây còn lại có nút thắt vào giữa hai ngón tay để giữ dây, sau đó vung tay liệng hoặc bổ quay rơi xuống đất. Lúc này, theo quán tính con quay sẽ quay tít, gần như đứng yên (ngủ), sau đó các em khác ra bổ quay hoặc cứu quay và xác định người thắng cuộc.
          Trò chơi dân gian có nhiều thể loại phù hợp với các sở thích, cá tính khác nhau của nhiều đối tượng người chơi như sôi nổi, điềm đạm hay trầm tĩnh. Mỗi trò lại có một quy luật riêng, mang những sắc thái khác nhau khiến trẻ em chơi suốt ngày mà không thấy chán.  

Rồng rắn lên mây, cướp cờ... là trò chơi nhằm rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo, phát huy tinh thần đoàn kết, tôn trọng kỷ luật và khả năng đối đáp.

Đẩy gậy lại có nhiều nét tương đồng và gần gũi với môn thi đấu vật hay chọi trâu của người lớn.

Trò kéo co cũng thể hiện tinh thần thượng võ, rèn luyện thể lực và sự nhanh nhẹn, khéo léo.

Đánh đáo, chơi chuyền, chơi ô ăn quan lại rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cá nhân, khả năng tính toán, phán đoán chính xác. Từ chỗ ganh đua mang tính chất tượng trưng, dần dần các trò chơi trở thành những cuộc thi tài, thi khéo, các cuộc thi đấu thể thao như bi sắt, nhẩy ngựa, đá cầu...

Trò chơi dân gian chủ yếu dành cho trẻ em ở các vùng nông thôn nên cái tên cũng giản đơn, nôm na như tên thằng Tí, con Na, thằng Ốc, cái Hến vậy: nào là đánh đáo, đánh quay, nào là đi cà kheo, nổ pháo đất...

Hơn nữa, các trò chơi dân gian Việt Nam thường giản tiện, không cầu kỳ, tốn kém nên có thể dễ dàng chơi mọi lúc, mọi nơi, dụng cụ dễ kiếm, dễ làm, chủ yếu lấy từ trong tự nhiên, thậm chí chỉ là cái gậy, hòn đá, hòn bi chúng có thể nhặt trong vườn, dưới ruộng là có thể lập được một hội chơi.

Người chơi thường là những trẻ chăn trâu lê la túm tụm ngoài bãi cỏ, ngoài việc vui đùa, rèn luyện thân thể, còn thể hiện nỗi khát khao chiến thắng tiềm ẩn trong mỗi đứa trẻ.

PGS.TS Nguyễn Văn Huy, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cho rằng: “Cuộc sống đối với trẻ em không thể thiếu những trò chơi. Trò chơi dân gian không đơn thuần là một trò chơi của trẻ con mà nó chứa đựng cả một nền văn hóa dân tộc Việt Nam độc đáo và giàu bản sắc. Trò chơi dân gian không chỉ nâng cánh cho tâm hồn trẻ, giúp trẻ phát triển khả năng tư duy, sáng tạo, sự khéo léo mà còn giúp các em hiểu về tình bạn, tình yêu gia đình, quê hương, đất nước. Trẻ em ở một xã hội công nghiệp, chỉ quen với máy móc và không có khoảng trống để chơi cũng là một thiệt thòi. Thiệt thòi hơn khi các em không được làm quen và chơi những trò chơi dân gian của thiếu nhi thuở trước - đang ngày càng bị mai một và quên lãng, không chỉ ở các thành phố mà còn ở cả các vùng nông thôn, nơi mà đang dần bị đô thị hóa mạnh mẽ. Vì thế giúp các em hiểu và tìm về cội nguồn với những trò chơi dân gian là một việc làm cần thiết”.

 

 

 

 

1.     Trò chơi: Ô ăn quan:

Mục đích:  Nhằm giáo dục cho học sinh tính sáng tạo, cách thức tính toán, qua trò chơi tạo nên sự đoàn kết, gần gủi trong học sinh.

Nội dung:  Ô ăn quan, hay còn gọi tắt là ăn quan là một trò chơi dân gian của trẻ em người Kinh, Việt Nam mà chủ yếu là các bé gái. Đây là trò chơi có tính chất chiến thuật thường dành cho hai người chơi và có thể sử dụng các vật liệu đa dạng, dễ kiếm để chuẩn bị cho trò chơi.

 

 

 

Điều kiện và cách thức tổ chức: Bàn chơi: bàn chơi Ô ăn quan kẻ trên một mặt bằng tương đối phẳng có kích thước linh hoạt miễn là có thể chia ra đủ số ô cần thiết để chứa quân đồng thời không quá lớn để thuận tiện cho việc di chuyển quân, vì thế có thể được tạo ra trên nền đất, vỉa hè, trên miếng gỗ phẳng.... Bàn chơi được kẻ thành một hình chữ nhật rồi chia hình chữ nhật đó thành mười ô vuông, mỗi bên có năm ô đối xứng nhau. Ở hai cạnh ngắn hơn của hình chữ nhật, kẻ hai ô hình bán nguyệt hoặc hình vòng cung hướng ra phía ngoài. Các ô hình vuông gọi là ô dân còn hai ô hình bán nguyệt hoặc vòng cung gọi là ô quan.  

Quân chơi: gồm hai loại quandân, được làm hoặc thu thập từ nhiều chất liệu có hình thể ổn định, kích thước vừa phải để người chơi có thể cầm, nắm nhiều quân bằng một bàn tay khi chơi và trọng lượng hợp lý để khỏi bị ảnh hưởng của gió. Quan có kích thước lớn hơn dân đáng kể cho dễ phân biệt với nhau. Quân chơi có thể là những viên sỏi, gạch, đá, hạt của một số loại quả... hoặc được sản xuất công nghiệp từ vật liệu cứng mà phổ biến là nhựa. Số lượng quan luôn là 2 còn dân có số lượng tùy theo luật chơi nhưng phổ biến nhất là 50.

Bố trí quân chơi: quan được đặt trong hai ô hình bán nguyệt hoặc cánh cung, mỗi ô một quân, dân được bố trí vào các ô vuông với số quân đều nhau, mỗi ô 5 dân. Trường hợp không muốn hoặc không thể tìm kiếm được quan phù hợp thì có thể thay quan bằng cách đặt số lượng dân quy đổi vào ô quan.  

Người chơi: thường gồm hai người chơi, mỗi người ngồi ở phía ngoài cạnh dài hơn của hình chữ nhật và những ô vuông bên nào thuộc quyền kiểm soát của người chơi ngồi bên đó.

 

Luật chơi:   Bàn chơi Ô ăn quan cho 2 người (2 phe)

 

 

 

Bàn chơi ô ăn quan đã sẵn sàng cho khai cuộc

 

 

 

Bắt đầu một lần rải quân, khi đến quân cuối cùng, những quân trong ô có đường bao lại được lấy lên để rải tiếp

 

 

 

Sau khi rải tiếp, ô có đường bao quân màu đỏ sẽ bị ăn, ô liền đó lại được lấy lên để tiếp tục rải

Mục tiêu cần đạt được để giành chiến thắng: người thắng cuộc trong trò chơi này là người mà khi cuộc chơi kết thúc có tổng số dân quy đổi nhiều hơn. Tùy theo luật chơi từng địa phương hoặc thỏa thuận giữa hai người chơi nhưng phổ biến là 1 quan được quy đổi bằng 10 dân hoặc 5 dân.

Di chuyển quân: từng người chơi khi đến lượt của mình sẽ di chuyển dân theo phương án để có thể ăn được càng nhiều dânquan hơn đối phương càng tốt. Người thực hiện lượt đi đầu tiên thường được xác định bằng cách oẳn tù tì hay thỏa thuận. Khi đến lượt, người chơi sẽ dùng tất cả số quân trong một ô có quân bất kỳ do người đó chọn trong số 5 ô vuông thuộc quyền kiểm soát của mình để lần lượt rải vào các ô, mỗi ô 1 quân, bắt đầu từ ô gần nhất và có thể rải ngược hay xuôi chiều kim đồng hồ tùy ý. Khi rải hết quân cuối cùng, tùy tình huống mà người chơi sẽ phải xử lý tiếp như sau:

Nếu liền sau đó là một ô vuông có chứa quân thì tiếp tục dùng tất cả số quân đó để rải tiếp theo chiều đã chọn.

Nếu liền sau đó là một ô trống (không phân biệt ô quan hay ô dân) rồi đến một ô có chứa quân thì người chơi sẽ được ăn tất cả số quân trong ô đó. Số quân bị ăn sẽ được loại ra khỏi bàn chơi để người chơi tính điểm khi kết thúc. Nếu liền sau ô có quân đã bị ăn lại là một ô trống rồi đến một ô có quân nữa thì người chơi có quyền ăn tiếp cả quân ở ô này ... Do đó trong cuộc chơi có thể có phương án rải quân làm cho người chơi ăn hết toàn bộ số quân trên bàn chơi chỉ trong một lượt đi của mình. Trường hợp liền sau ô đã bị ăn lại là một ô vuông chứa quân thì người chơi lại tiếp tục được dùng số quân đó để rải. Một ô có nhiều dân thường được trẻ em gọi là ô nhà giàu, rất nhiều dân thì gọi là giàu sụ. Người chơi có thể bằng kinh nghiệm hoặc tính toán phương án nhằm nuôi ô nhà giàu rồi mới ăn để được nhiều điểm và có cảm giác thích thú.

Nếu liền sau đó là ô quan có chứa quân hoặc 2 ô trống trở lên thì người chơi bị mất lượt và quyền đi tiếp thuộc về đối phương.

Trường hợp đến lượt đi nhưng cả 5 ô vuông thuộc quyền kiểm soát của người chơi đều không có dân thì người đó sẽ phải dùng 5 dân đã ăn được của mình để đặt vào mỗi ô 1 dân để có thể thực hiện việc di chuyển quân. Nếu người chơi không đủ 5 dân thì phải vay của đối phương và trả lại khi tính điểm.

Cuộc chơi sẽ kết thúc khi toàn bộ dânquan ở hai ô quan đã bị ăn hết. Trường hợp hai ô quan đã bị ăn hết nhưng vẫn còn dân thì quân trong những hình vuông phía bên nào coi như thuộc về người chơi bên ấy; tình huống này được gọi là hết quan, tàn dân, thu quân, kéo về hay hết quan, tàn dân, thu quân, bán ruộng. Ô quan có ít dân (có số dân nhỏ hơn 5 phổ biến được coi là ít) gọi là quan non và để cuộc chơi không bị kết thúc sớm cho tăng phần thú vị, luật chơi có thể quy định không được ăn quan non, nếu rơi vào tình huống đó sẽ bị mất lượt.

2. Đánh chuyền.

Mục đích: Rèn luyện tính nhanh nhẹn, khéo léo của tay kết hợp chân.

          Nội dung: Chuyền được nhiều que và đạt được ở các giai đoạn.

Điều kiện và cách thức tiến hành:

Chơi hai hoặc vài người. Cỗ chuyền gồm 10 que tre vót tròn, nhỏ bằng que kem, dài 20cm và một hòn cái (hòn cuội tròn hoặc quả cà pháo).

Người chơi ngồi duỗi một chân, rải cỗ chuyền dọc theo ống chân, vừa đọc một câu, vừa tung hòn cái, vừa nhặt số que theo lời bài, đồng thời phải đỡ bắt hòn cái không để rơi.

Số que rải xuống hoặc lấy lên phải đúng theo lời ca. Hết bàn 10, người chơi xoay đảo cả 2 tay chùm que, mỗi câu là một lần tung hứng hòn cái, đoạn cuối đặt xuống từng que rồi lại nhặt lên đôi một cho đến hết. Rơi cái, hoặc nhặt sai số que là bị loại.

Bài ca:

Que mốt (nhặt 1 que)

Que mai (nhặt tiếp 1 que và nắm lại trong tay cho đến hết bàn)

Cái cò

Nỏ năng

Con khăng

Hòn chắt

Nhấm nha

Nhấm nhắt

Quạ bắt

Sang bàn đôi (rải lại ra chân)

Đôi tôi (nhặt 2 que)

Đôi chị

Đôi cái bị

Đôi cành hoa

Đôi sang ba

Rải bàn ba (rải que lại ra chân)

Ba quả cà

Ba quả táo

Ba lá gáo

Một sang tư

Rải bàn tư (rải lại que)

Tư củ từ

Tư củ cải

Hai sang năm

Rải bàn năm (rải lại que)

Năm còn năm

Năm sang sáu

Rải bàn sáu (rải lại que)

Sáu củ ấu

Bốn sang bảy

Rải bàn bảy (rải lại que)

Bảy lìa ba

Ba sang tám

Rải bàn tám (rải lại que)

Tám hai lìa

Hai sang chín

Rải bàn chín (rải lại que)

Chín lìa một

Một sang mười

Ngả năm mươi (đặt xuống 5 que)

Mười vơ cả (lại nhặt lên)

Ngả xuống đất (đặt cả 10 que xuống)

Cất lên tay (nhặt cả lên)

Xoay ống nhổ (quay cả cụm que)

Đổ tay chuyền

Chuyền chuyền một (xoay một vòng que trên hai tay)

Một đôi

Chuyền chuyền hai

Hai đôi

Chuyền chuyền ba

Ba đôi

Chuyền chuyền bốn

Bốn đôi

Chuyền chuyền năm

Năm đôi

Đầu quạ (Bắt đầu thả từng que xuống chân)

Quá giang

Sang sông

Về đò

Cò nhảy

Gẫy cây

Mây leo

Bèo trôi

ổi xanh

Hành bóc

Trứng đỏ lòng (quơ 2 que lên một lần)

Tôm cong đít vịt

Vào làng xin thịt

Ra làng xin xôi

Anh chị em ơi, cho tôi vét bàn thiên hạ.

3. Nhảy bao bố

a)Mục đích ý nghĩa:

    - Rèn luyện  sức  khoẻ, nhanh nhẹn, khéo léo.

    - Tạo không khí vui vẻ, thoải mái để học tập, sinh hoạt

b)Cách chơi:

    Chuẩn bị: Bao bố ( bao tải) to để hai người có thể đứng trong bao được, số lượng bao bằng 1/2 số người chơi.

    Nội dung: Nhảy về đích nhanh nhất.

    + Quản trò chia tập thể chơi thành các đội có số lượng đều nhau, đều nam, đều nữ. Cứ hai người đứng trong một bao xếp thành hàng dọc trước vạch xuất phát chờ lệnh.

    + Khi có lệnh của quản trò,  từng đôi của từng đội nhảy về đích qui định cho đến đôi cuối cùng. Khi đôi đầu tiền nhảy, đôi số 2 tiến lên vạch xuất phát.

    c) Luật chơi:

    - Đội nào về đích nhanh nhất là thắng.

   Lưu ý:

    - Nếu bị ngã đứng dậy chơi tiếp.

    - Có thể mỗi bạn một bao tải hoặc 3,4 bạn một bao.

    - Chọn sân chơi phù hợp như sân đất, cỏ, cát tránh nguy hiểm.

    - Khoảng cách xa hay gần tuỳ thuộc vào lứa tuổi học sinh

4. Đá cầu

Mục đích: Rèn luyện sức khõe, tính linh hoạt của cổ chân, sự kết phối hợp toàn thân để tâng cầu.

Nội dung: Đấ được số lần cầu nhiều nhất.

Điều kiện và cách thức tiến hành:

Thời Lý - Trần, vua và vương hầu rất thịnh hành đá cầu. Sử còn chép Trần ích Tắc con vua Trần Thái Tông rất giỏi đá cầu. Đinh Lưu đá cầu chúc thọ vua Lê.

Quả cầu làm bằng đồng xu kim loại có lỗ ở giữa. Dùng giấy bản tốt, cắt một dải ngang 6cm, dài 15cm. Đặt đồng xu vào giữa, gập hai mép ngang, vê tròn hai đầu giấy, dùi thủng qua lỗ xu cho hai đầu giấy chui qua. Kéo hai đầu giấy ôm chặt lấy đồng xu, rồi tỏa giấy ra, lấy kéo cắt một nửa phía trên thành các tua nhỏ, thế là thành quả cầu đá chân theo kiểu dân gian.

Số người chơi không hạn định. Có nhiều cách chơi: -  Người chơi nhảy lò cò một chân, một chân vừa đỡ cầu vừa đá hất lên, vừa đá vừa đếm kết quả cho đến khi cầu rơi xuống đất là hết ván. Chân đá có thể duỗi thẳng, gập vòng trước mặt hoặc đá hậu gập chân qua đằng sau. Đá cầu bằng ống chân, bàn chân, đùi, đều được.

-  Vạch một vạch ngang làm giới hạn, chia hai đội với số người bằng nhau. Một bên gieo cầu đá sang phía bên kia, họ đỡ và đá trả về bên này, có thể đỡ chuyền nhau qua vài người rồi mới đá sang đối phương. Cầu rơi xuống đất bên nào bên ấy thua một bàn.

5.     Nhảy dây

Mục đích: Rèn luyện sức khõe của đôi chân, biết đoàn kết đồng đội, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau.

Nội dung: Đạt được số lần nhảy nhiều nhất.

Điều kiện và cách thức tiến hành:

Một sợi dây thừng dài 2m cho nhảy cá nhân, hoặc 4 - 5m cho nhảy tập thể.

Nhảy cá nhân:   Hai tay cầm hai đầu dây dang ra vung lên qua đầu, khi dây chạm đất, chân nhảy lên để dây vượt qua, như vậy là một vòng, vừa nhảy vừa đếm xem đến vòng bao nhiêu thì vướng chân vào dây phải ngừng để người khác nhảy. Ai đạt nhiều vòng là thắng. Chơi giỏi, hai tay cầm dây vắt chéo ngang ngực.

Nhảy tập thể:  Hai người cầm hai đầu dây bằng một tay, quay nhanh dây chạy vòng tròn cho vài người nhảy. Ai chạm dây phải ra thay làm người cầm dây cho người kia vào nhảy.

6. Bịt mắt bắt dê

Mục đích: Rèn luyện tính phán đoán, định hướng.

Nội dung: Bắt được người làm Dê.

Điều kiện và cách thức tiến hành:

Người chơi đứng nắm tay nhau quây thành vòng tròn rộng. Hai người ở giữa cùng bị bịt chặt mắt bằng miếng vải, một làm dê vừa chạy vừa kêu be be, một người săn, nghe tiếng dê mà định hướng tìm bắt. Người làm vòng rào reo hò mách nước cho người bắt, nhưng là mách sai, để gây cười. Người săn bắt được dê, thì dê được thay chỗ làm người săn và một người khác ở hàng rào vào làm dê, luân phiên nhau, người săn thắng cuộc trở lại làm hàng rào. Có nơi bắt dê thật như ở hội Phù Đổng ngày xưa. 

          7. Đánh khăng

Mục đích: Trò chơi của thiếu niên nhanh nhẹn, tinh mắt. Chọn nơi chơi rộng, thoáng, ít người qua lại tránh tai nạn bị khăng văng vào.

Nội dung: Một ván khăng có 10 mục chơi, mỗi mục có một kiểu đánh khác nhau, riêng mục “cầy” và “chầu” là giống nhau thôi. Thứ tự như sau: Cầy (còn gọi là “múc”), Đơ, Cơm, Mắm, Cổng, Gà, Chuông, Khẳng, Chầu, Nài.

Tùy cuộc chơi, có thể chỉ chọn dăm ba mục cho chóng hết ván. Nhiều nơi chỉ đánh có Cầy, Mắm và Gà.

Điều kiện và cách thức tiến hành:

Trước khi đánh phải xướng tên mục và hỏi “xong chưa?”, khi nào bên đỡ trả lời “xong”, khăng con mới được đánh lên.

Chơi hai người hoặc hai tốp thay phiên chơi. Dụng cụ chơi gồm hai chiếc khăng chặt từ cành tre hoặc thanh tre già vót tròn. “Khăng cái” to hơn, dài một gang rưỡi đến hai gang, một đầu vót nhỏ gần nhọn. “Khăng con” nhỏ hơn, ngắn khoảng 15cm.

Sân chơi:  Một đầu được khoét lỗ bằng đầu nhọn của khăng cái để làm “lồ”. Trên lồ khoảng 4m kẻ một vạch ngang làm “cổng”. Trước khi vào cuộc phải “khảo cái” xem bên nào được đi trước. Tay phải cầm khăng cái, tay trái tung khăng con lên, rồi dùng khăng cái “khấc” vào khăng con lúc rơi xuống để lại bay lên, đếm số lần khấc cho đến khi khăng con bị “khấc” hụt rơi xuống đất là thôi. Ai “khấc” được nhiều lần hơn được đánh trước. Cứ một người đánh một đỡ. Người đánh đứng ở phía “lồ”, không được xa lồ quá một bước, có thể chân trước, chân sau lồ. Người đỡ phải đứng phía trên vạch “cổng”.

Nguyên tắc chung là khi khăng con được đánh bay về phía cổng, người đỡ phải tìm cách đón bắt, nếu bắt được rồi, đứng trên vạch cổng ném khăng con về phía lồ, lúc này bên đánh đã phải đặt khăng cái nằm ngang trên miệng lồ. Nếu ném trúng được quyền vào đánh, bên kia ra đỡ. Nếu không bắt được khăng con để rơi xuống đất, cuộc chơi vẫn tiếp tục không thay đổi.

Các kiểu đánh:

- Cầy:  là đặt khăng con nằm ngang miệng lồ, thọc đầu nhọn khăng cái xuống lỗ, dùng hai tay hất mạnh cho khăng con bay về phía trên cổng - nếu dưới cổng là mất lượt phải đổi cho bên kia đi.

-  Đơ: tay trái cầm khăng con, giơ lên ngang tầm vụt, tay phải cầm khăng cái vụt mạnh cho khăng con bay lên trên cổng.

- Cơm: tay phải cầm đầu nhọn khăng cái, đặt khăng con lên trên nắm tay ở phía sau khăng cái, hất tay tung khăng con lên rồi dùng khăng cái vụt cho nó bay lên phía trên cổng.

- Mắm: Cầm khăng cái như kiểu Cơm, đặt khăng con phía trước khăng cái trên đầu các ngón tay, hất tay tung khăng con lên đánh về phía cổng.

- Cổng: Không đứng ở lồ, đi lên giữa cổng tay trái cầm buông thõng, một đầu khăng con, tay phải quật khăng cái đánh khăng con bay về phía trước.

- Gà: Quay lại lồ, đặt khăng con một đầu chúc xuống lỗ, thò một đầu lên mặt đất, cầm khăng cái đánh mạnh cho khăng con bật lên cao rồi đón đà rơi xuống quật tiếp cho khăng con bay lên phía trước.

- Chuông:  Tay phải vừa cầm khăng cái, vừa dùng hai ngón cái và trỏ nhón một đầu khăng con buông thõng xuống, tung khăng con lên cao rồi đánh mạnh vào nó bay lên trước cổng.

- Khẳng- Còn gọi là Luồn: Giơ chân trái lên ngang, tay trái cầm khăng con luồn qua đùi tung lên cao cho tay phải cầm khăng cái đánh cho nó bay lên trước.

- Chầu: Chơi như đánh Múc.

 - Nài: Dùng khăng cái khấc vào khăng con như khảo cái, cho đến khi rơi xuống đất, được bao nhiêu lần thì được đánh phạt bấy nhiêu lần. Đánh phạt như đánh Cầy, đặt khăng con ngang miệng lồ, dùng hai tay cầm khăng cái hất khăng con bay lên trên vạch cổng. Đối phương bắt được thì mất phạt, xóa nợ. Không bắt được, phải cõng người thắng cuộc từ chỗ khăng con rơi xuống về đến lồ. Người thắng đặt khăng cái ngang miệng lồ rồi cầm khăng con cưỡi lên lưng người thua, khi họ chạy về phía lồ phải nhanh tay, nhanh mắt nhằm ném khăng con sao cho đúng vào khăng cái. Cứ ném trúng là được thêm một lần cõng.

Còn một cách chơi đơn giản hơn là chỉ đánh ba mục Cầy, Mắm và Gà như đã nói ở trên, nếu bên đỡ không bắt được khăng con, thì bên đánh được đo từ lồ cho đến nơi khăng con rơi, đo bằng khăng cái, mỗi đơn vị đo tính một điểm. Sau khi cả hai bên đánh xong, tính tổng số điểm ai hơn là thắng, được bên thua cõng năm vòng từ lồ đến vạch cổng.

8. Oẳn tù tì  

Mục đích: Rèn luyện tính phán đoán, nhanh nhẹn.

Nội dung: Đưa ra được những dụng cụ chiến thắng.

Điều kiện và cách thức tiến hành:

Thường hai em một chơi với nhau. Cùng đứng hay ngồi, tay đung đưa theo nhịp câu hát:

Oẳn tù tì

Ra cái gì?

Ra cái này!

Cả hai cùng chìa một tay ra ở các dạng:

- Nắm tay là cái búa, chĩa hai ngón trỏ và ngón giữa là cái kéo, chỉ một ngón là cái dùi, xòe cả bàn tay là cái lá.

Theo quy ước sau đây mà định được thua:

- Búa nện được kéo, được dùi, nhưng lại bị lá bọc.

- Lá thua kéo vì kéo cắt được lá, dùi đâm thủng lá.

- Dùi khoan được lỗ kéo.

          9. Chồng nụ chồng hoa

Mục đích: Rèn luyện tính nhanh nhẹn, tháo vát, phát triển sức khõe của chân.

Nội dung: Nhảy qua được cột nụ hoa.

Điều kiện và cách thức tiến hành:

Bốn người chơi. Hai người ngồi đối mặt nhau duỗi thẳng chân, bàn chân dựng lên, chồng lên nhau cứ một chân người này đến một chân người kia. Hai người phải nhảy qua cái cột cao do 4 bàn chân dựng lên. Nhảy được rồi, mỗi người ngồi chồng thêm một nắm tay tiếp lên, gọi là chồng nụ. Lại nhảy qua được. Người ngồi chồng tiếp lên trên nắm tay, hai bàn tay còn lại dựng đứng, gọi là hoa. Cột nụ hoa lúc này đã cao trên dưới 80cm. Hai người nhảy qua được là thắng. Nếu nhảy bị chạm ở giai đoạn nào cũng bị thua, vào ngồi thay cho người khác ra nhảy.

          10. Hát đồng dao:

Mục đích: Rèn luyện tính nhanh nhẹn, phất triển vốn từ.

Nội dung: Hát được nhiều cụm từ đồng nghĩa.

Điều kiện và cách thức tiến hành:

Tập tầm vông

Bài đồng dao này phổ biến khắp Bắc, Trung, Nam nhại theo âm trống tầm vông / tâm vinh (gọi theo Nghệ An) tức trống cơm:

Tập tầm vông
Chị có chồng
Em ở vá
Chị ăn cá,
Em mút xương.

........................

Chị ăn kẹo,
Em ăn cốm
Chị ở Lò Gốm,
Em ở Bến Thành.
Chị trồng hành,
Em trồng hẹ.
Chi nuôi mẹ
Em nuôi cha

Cách chơi hiện nay của trò này là hai nguời chơi ngồi đối mặt nhau, vừa hát vừa theo nhịp đập lòng bàn tay vào nhau: hoặc đập thẳng, hoặc đập chéo, hoặc một cao một hạ thấp, hoặc kết hoẹp nhiều cách khác nhau. Nói chung, cách chơi rất giống trò Thìa la thìa lảy đây.

Nu na nu nống

Nu na nu nống
Cái cóng nằm trong
Cái ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Bụt ngồi bụt khóc

Con cóc nhảy ra
Ông già ú ụ
Bà mụ thổi xôi
Nhà tôi nấu chè
Tè he chân rụt

Ðám trẻ ngồi thành hàng ngang, duỗi hai chân ra trước. Một đứa ngồi đối diện, lấy tay đập vào từng bàn chan theo nhịp từng từ một của bài hát trên. Dứt bài, từ "rụt" đúng vào chân em nào thì phải rụt nhanh. Nếu bị tay của cái đập vào chân thì em đó thua cuộc: ra làm cái ván chơi kế tiếp, hoặc chịu hình phạt (nhảy lò cò một vòng, trồng chuối...) hay phải đứng ra làm cái cho một trò chơi khác (bịt mắt bắt dê, ú tìm, cá sấu lên bờ...)

Tùm nụ, tùm nịu

Tùm nụ, tùm nịu
Tay tí, tay tiên
Ðồng tiền, chiếc đũa
Hột lúa ba bông
ăn trộm, ăn cắp trứng gà
Bù xa, bù xít

Con rắn, con rít trên trời
Ai mời mày xuống?
Bỏ ruộng ai coi?
Bỏ voi ai giữ?
Bỏ chữ ai đọc
.................

Ðánh trống nhà rông
Tay nào có?
Tay nào không?
Hổng ông thì bà
Trái mít rụng
...................

Căn cứ vào hai câu "Tay nào có? Tay nào không?", đây là một trò đố: nắm một vật vào đó trong một tay và chìa hai nắm tay. Mở tay ra: đúng sai, có không....biết liền.

Trò chơi đồng dao hỏi tuổi xứ Quảng

Đồng dao "hỏi tuổi" về 12 con giáp diễn ra như một hoạt cảnh. Các em ngồi vòng tròn, mỗi em sẽ là một con vật trong đồng dao, khi được hỏi đến, phải bắt chước động tác của con vật ấy, đi, bò, hoặc nhảy vòng quanh về chỗ cũ của mình.

Một em chỉ vào một bạn, hỏi : - Tuổi Tí con chi?
Trả lời : - Tuổi Tí con chuột.
Các em hỏi : - Con chuột nó kêu làm sao?
Trả lời : - Nó kêu chút chít
(đóng vai con chuột, vừa bò vừa kêu chút chít).
Các em nói :
- Chút chít chi mày
Tau chặt khúc đầu
Tau thầu khúc giữa
Tau bửa lấy xương
Làm rường làm cột
Tau lột lấy da
Bỏ sông Ngân Hà
Còn chi chút chít!

Các em hỏi một bạn khác : - Tuổi Sửu con chi?
Trả lời : - Tuổi Sửu con trâu.
Các em hỏi : - Con trâu nó kêu làm sao?
Trả lời : - Nó kêu ngá ngạ.
(đóng vai con trâu, khệnh khạng đi, dương đôi sừng).
Các em nói : - Ngá ngạ chi mày...….
Cứ như thế, hát-nói hỏi, trả lời đóng vai con vật, cho đến con heo, mỗi con phải có tiếng kêu riêng. Con rồng kêu "rống rộng" con rắn kêu "rắn rặn" thì thật lạ và …. đúng là con nít

11. Rồng rắn lên mây:

Mục đích: Rèn luyện tính nhanh nhẹn, linh hoạt, biết đoàn kết yêu thương giúp đỡ lần nhau.

Nội dung: Tránh được người thầy thuốc.

Điều kiện và cách thức tiến hành:

Một người đứng ra làm thầy thuốc, những người còn lại sắp hàng một, tay người sau nắm vạt áo người trước hoặc đặt trên vai của người phía trước. Sau đó tất cả bắt đầu đi lượn qua lượn lại như con rắn, vừa đi vừa hát:

Rồng rắn lên mây
Có cây lúc lắc
Hỏi thăm thầy thuốc
Có nhà hay không?

Người đóng vai thầy thuốc trả lời:

  • Thấy thuốc đi chơi ! (hay đi chợ, đi câu cá , đi vắng nhà... tùy ý mà chế ra). Đoàn người lại đi và hát tiếp cho đến khi thầy thuốc trả lời:
  • Có !

Và bắt đầu đối thoại như sau : Thầy thuốc hỏi:

  • Rồng rắn đi đâu?

Người đứng làm đầu của rồng rắn trả lời:

  • Rồng rắn đi lấy thuốc để chữa bệnh cho con.
  • Con lên mấy ?
  • Con lên một
  • Thuốc chẳng hay
  • Con lên hai.
  • Thuốc chẳng hay.

Cứ thế cho đến khi:

  • Con lên mười.
  • Thuốc hay vậy.

Kế đó, thì thầy thuốc đòi hỏi:
+ Xin khúc đầu.

  • Những xương cùng xẩu.

+ Xin khúc giữa.

  • Những máu cùng me.

+ Xin khúc đuôi.

  • Tha hồ mà đuổi.

Lúc đó thầy thuốc phải tìm cách làm sao mà bắt cho được người cuối cùng trong hàng.  Ngược lại thì người đứng đầu phải dang tay chạy, cố ngăn cản không cho người thầy thuốc bắt được cái đuôi của mình, trong lúc đó cái đuôi phải chạy và tìm cách né tránh thầy thuốc. Nếu thầy thuốc bắt được người cuối cùng thì người đó phải ra thay làm thầy thuốc.Nếu đang chơi dằng co giữa chừng, mà rồng rắn bị đứt ngang thì tạm ngừng để nối lại và tiếp tục trò chơi.

12. Mèo đuổi chuột

Mục đích: Rèn luyện tính nhanh nhẹn, linh hoạt.

Nội dung: Bắt được chuột trong thời gian nhanh nhất.

Điều kiện và cách thức tiến hành:

Trò chơi gồm từ 7 đến 10 người. Tất cả đứng thành vòng tròn, tay nắm tay, giơ cao lên qua đầu. Rồi bắt đầu hát.

Mèo đuổi chuột
Mời bạn ra đây
Tay nắm chặt tay
Đứng thành vòng rộng
Chuột luồn lỗ hổng
Mèo chạy đằng sau
Thế rồi chú chuột lại đóng vai mèo
Co cẳng chạy theo, bác mèo hóa chuột

Một người được chọn làm mèo và một người được chọn làm chuột. Hai người này đứng vào giữa vòng tròn, quay lưng vào nhau. Khi mọi người hát đến câu cuối thì chuột bắt đầu chạy, mèo phải chạy đằng sau. Tuy nhiên mèo phải chạy đúng chỗ chuột đã chạy. Mèo thắng khi mèo bắt được chuột. Rồi hai người đổi vai trò mèo chuột cho nhau. Trò chơi lại được tiếp tục.

13. - Cướp cờ:

Mục đích: Rèn luyện tính nhanh nhẹn, sức khõe, linh hoạt, biết đánh lừa đối phương.

Nội dung: Cướp được cờ không bị đối phương bắt được.

Điều kiện và cách thức tiến hành:

Mỗi lớp quy định theo số: 1-2-3-4-5-6. (Tổ cướp cờ chuẩn bị số đeo).

Cách chơi: 2 đội chơi đứng 2 đầu vạch xuất phát, ở giữa có 1 vòng tròn đặt 1 lá cờ, khi trọng tài hô số nào lên thì các số tương ứng 2 bên lên tranh cờ với nhau, trong quá trình tranh cờ, người nào cướp cờ được nhưng không bị đối phương đập trúng người thì người đó thắng cuộc và ngược lại.

14. Kéo co:

Mục đích: Rèn luyện sức mạnh, sự đoàn kết, đồng lòng, đồng sức.

Nội dung: Dùng tất cả sức lực của toàn đội để kéo thắng đối phương.

Điều kiện và cách thức tiến hành:

Tục kéo co ở mỗi nơi có những lối chơi khác nhau, nhưng bao giờ số người chơi cũng chia làm hai phe, mỗi phe cùng dùng sức mạnh để kéo cho được bên kia ngã về phía mình. Có khi cả hai bên đều là nam, có khi bên nam, bên nữ. Trong trường hợp bên nam bên nữ, dân làng thường chọn những trai gái chưa vợ chưa chồng.

Một cột trụ để ở giữa sân chơi, có dây thừng buộc dài hay dây song, dây tre hoặc cây tre, thường dài khoảng 20m căng đều ra hai phía, hai bên xúm nhau nắm lấy dây thừng để kéo. Một vị chức sắc hay bô lão cầm trịch ra hiệu lệnh. Hai bên ra sức kéo, sao cho cột trụ kéo về bên mình là thắng. Bên ngoài dân làng cổ vũ hai bên bằng tiếng "dô ta", "cố lên".

Có nơi người ta lấy tay người, sức người trực tiếp kéo co. Hai người đứng đầu hai bên nắm lấy tay nhau, còn các người sau ôm bụng người trước mà kéo. Ðang giữa cuộc, một người bên nào bị đứt dây là thua bên kia. Kéo co cũng kéo ba keo, bên nào thắng liền ba keo là bên ấy được.

            15. Chơi đu:

            Trong các ngày hội, các làng thôn thường trồng một vài cây đu ở giữa thửa ruộng gần đình để trai gái lên đu với nhau. Cây đu được trồng bởi bốn, sáu hay tám cây tre dài vững chắc để chịu đựng được sức nặng của hai người cùng với lực đẩy quán tính. Hai cây tre làm cần đu nhỏ vừa tay cầm.
        Lên đu có thể là một hay hai người. Càng nhún mạnh, đu càng lên cao, cần đu đưa lên vun vút, bên nọ sang bên kia. Cần đu lên ngang với ngọn đu là hay nhất, nhiều khi đu bay ngang ngọn đu một vòng. Nhiều nơi treo giải thưởng ở ngang ngọn đu để người đu giật giải. Nhún đu cũng là một sinh hoạt giao đãi tình cảm của trai gái.

            16. Bịt mắt đập niêu đất:

Học sinh đi từ vạch XP đến Đích một đoàn đường dài 7-10M xác định vị trí treo cái om đất để đập, khi đập học sinh cầm 1 cái đùi ngắn bằng 2 tay, hướng đập từ trên cao xuống, không được đập ngang.

            17. Trò chơi dồng dao chăn trâu xứ Quảng

Trò chơi hát này như sau: một lớp ngồi dưới cầm tay nhau xếp thành vòng tròn, rối nhiều lớp nữa cũng cầm tay nhau, ngồi chồng lên vai lớp dưới, cùng hô "dố dậy", tất cả đều đứng lên thành trụ cao, vừa đi vòng tròn, vừa hát.

Đồng dao này có hai khúc: một khúc thiết thực nói về trẻ chăn trâu với mùa màng, một khúc kể những vật thường thức ở nông thôn.

Khúc I:

Đố dậy, đố dậy
Cây gậy bốn phương
Ra đường mạnh mẽ
Bầy trẻ chăn trâu
Bay lâu thẳng cánh
Nó mạnh như sên
Đi trên mặt nước
Đi trước đón rồng
Ông đi có cồng
Bà đi có mõ
Trên trời nghe rõ
Làm gió làm mưa
Làm mùa bát ngoạt
Dố dậy, dố dậy!

Khúc II :

Trời mưa lâm râm
Cây trâm có trái
Con gái có duyên
Đồng tiền có lổ
Bánh tổ thì ngon
Bánh hòn thì béo
Cái kéo thợ may
Cái cày làm ruộng
Cái xuồng đắp bờ
Cái lờ thả cá
Cái ná bắn chim
Cây kim may áo
Cái giáo đi săn
Cái khăn bịt đầu.

Hát hết khúc này, trở lại đoạn đầu, bắt vào câu "bầy trẻ chăn trâu... " Cứ như thế mà hát mà quay tít vòng tròn cho đến khi nào cộ đổ.

            18. Đánh quay

Đánh quay là trò chơi dành cho con trai. Chơi thành nhóm từ 2 người trở lên, nếu đông có thể chia thành nhiều nhóm. Một người cũng có thể chơi quay, nhưng nếu chơi nhiều người và có nhiều người ở ngoài cổ vũ thì sẽ sôi nổi và hấp dẫn hơn nhiều.

Đồ chơi là con quay bằng gỗ hay sừng hình nón cụt, có chân bằng sắt. Dùng một sợi dây, quấn từ dưới lên trên rồi cầm một đầu dây thả thật mạnh cho quay tít. Con quay của ai quay lâu nhất, người đó được. Có thể dùng một con quay khác bổ vào con quay đang quay mà nó vẫn quay thì người chủ của con quay đó được nhất.

            19. Banh đũa (nẻ)

Banh đũa, ở quê của Bồng Lai gọi là chơi nẻ. Mỗi vùng có mỗi cách chơi riêng, và số đũa cũng khác nhau có nơi dùng 6 cây, có nơi dùng 10, 12 cây. Ở chỗ BL thì chơi canh 1 (tức là dồi banh lên bỏ bó đũa xuống, bốc từng cây), canh 2 ... rồi đến canh 6 (chơi 6 cây). Xong tới:

- Bó, phe địch túm số đũa lại, rồi người chơi phải hốt gọn không để rơi rớt cây nào.
- Rẻ, dồi banh chia bó đũa làm 2, khi bốc không được đụng vào 1/2 đũa còn lại.
- ......???
- Giã gạo, dộng xuống mặt đất, so le hay rập tùy theo qui ước 2 bên.
- Khẽ, cũng chia đũa làm 2, rồi khẽ hai đầu vào nhau kêu cho ròn.
- Gạt, cũng như khẽ nhưng không được cho ra tiếng động.
(Sau mỗi lần Giã, Khẽ, Gạt đều có kết thúc bằng động đổi nẻ từ tay này sang tay khác, quên mất tên gọi)
- Chuyền, đôi hay chiếc tùy theo qui ước. Lúc này là vừa chuyền vừa hát bài:
Qua cầu
Ngắt ngọn rau răm,
Bỏ vô than thuốc,
Sắc đi sắc lại,
Cho đúng bảy phân,
Chuyền qua ba cái,
Chuyền về ba cái,
Sang cái tay,
Sang cái chân,
Bắt con một nhất.

(Bỏ đũa xuống, bắt từng chiếc, như đi canh một, nhưng không được đụng chạm vào cây đũa khác ngòai cây đũa đang bắt, vừa bắt vừa hát)
Một bắt một, (cho đến khi hết đũa)
- Nẻ, ôm bó đũa nẻ xuống đất hai đầu 6 cái, 10 cái tùy qui ước.
Xong hết một bàn. Được đi tiếp bàn khác hay không cũng là do qui ước. Có người chơi hay, làm tiếp luôn mấy bản.

 

 

PHẦN II. MỘT SỐ TRÒ CHƠI MÀ NHÀ TRƯỜNG ĐÃ TIẾN HÀNH TỔ CHỨC TRONG NĂM HỌC: 2010-2011

 

1. Kéo co.

2. Cướp cờ.

3. Bịt mắt đập niêu đất.      

4. Nhảy bao bố.

5. Nhảy dây.

6. Chơi chuyền.

7. Rồng rắn lên mây

Comments