Trang chủ


                                   

“...Giao thông là mạch máu của tổ chức. Giao thông tốt thì mọi việc dễ dàng...”


        Ngày 28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập Bộ Giao thông công chính. Trải qua 65 năm xây dựng và phát triển, các thế hệ CBCNVC-LĐ ngành GTVT đã phấn đấu không mệt mỏi để thực hiện lời dạy của Bác: “Giao thông là mạch máu của tổ chức. Giao thông tốt thì mọi việc dễ dàng. Giao thông xấu thì các việc đình trệ”.

Phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)

        Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 28/8/1945, Hồ Chủ tịch đã ký sắc lệnh thành lập Bộ Giao thông Công chính thuộc Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

        Thời kỳ này, Bộ Giao thông Công chính đã vượt qua nhiều khó khăn, hoàn thành 6 nhiệm vụ cơ bản: Vận tải quân, lương phục vụ cho kháng chiến Nam Bộ và các chiến trường khi cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra (12/1946); Phá hoại cầu đường ngăn chặn quân địch tiến quân đánh chiếm các vùng tự do, các căn cứ kháng chiến; Thiết lập các đường dây giao liên, giữ giao thông liên lạc thông suốt các miền Bắc-Trung- Nam phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ; Sửa chữa, mở đường các vùng tự do, vùng kháng chiến và đi sâu vào các vùng hậu cứ của địch để phục vụ các chiến dịch đánh địch trên khắp các chiến trường, đồng thời gia tăng phục vụ sản xuất; Vận tải hàng hoá, hành khách, vận chuyển lương thực, quân đội tham gia các chiến dịch tấn công giai đoạn 1945-1954 trong đó có chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ; Làm nhiệm vụ quốc tế chi viện cho Lào, Campuchia...

Xây dựng CNXH ở miền Bắc và chi viện cho miền Nam (1954-1964)

        Chính phủ đã quyết định đổi tên Bộ Giao thông Công chính thành Bộ Giao thông và Bưu điện. Cơ cấu, bộ máy tổ chức của Bộ cũng được nâng lên ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao. Nhiệm vụ lớn nhất của ngành GTVT thời kỳ này là khôi phục lại hệ thống giao thông đã bị hư hỏng trong kháng chiến chống Pháp để phục vụ phát triển kinh tế miền Bắc và chi viện cho chiến trường miền Nam.

        Trong 10 năm (1954-1964) nhiều cây cầu mới, con đường mới huyết mạch cũng đã được mở mang xây dựng vừa bằng sức dân, vừa có sự đầu tư của Nhà nước. Ngành GTVT đã thi công các sân bay như: Nội Bài (trước đây gọi là Đa Phúc), Hòa Lạc (Hà Tây), Vinh (Nghệ An) và sân bay Kép (Bắc Giang). Trong lĩnh vực vận tải, các ngành đường bộ, đường sông, đường sắt đều có những bước phát triển vượt bậc.

Chống chiến tranh phá hoại miền Bắc và chi viện giải phóng miền Nam (1964-1975)

        Đây là thời kỳ ghi đậm thành tích vẻ vang và đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của ngành GTVT. Hai nhiệm vụ chính của thời kỳ này là GTVT phục vụ sự nghiệp củng cố và phát triển kinh tế miền Bắc và chi viện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở chiến trường miền Nam.

        Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, ngành GTVT đã lập nên nhiều kỳ tích huy hoàng, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ngành GTVT đã đi đầu trong cuộc kháng chiến với tất cả những con đường có thể mở được, từ đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ đến đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Những “con đường mòn” này đã phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng quân đội, TNXP, CBCNV ngành GTVT, nhân dân các địa phương đã đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí cho chiến trường miền Nam.

Giao thông vận tải trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN (1975-1985)

        Sự tàn phá của chiến tranh trong một giai đoạn dài đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống giao thông cả hai miền Nam - Bắc. Năm 1975 không còn một tuyến đường bộ nào ở miền Bắc đạt cấp kỹ thuật đồng bộ. Phương tiện vận tải thiếu thốn và lạc hậu. Trước tình hình đó, Đại hội lần thứ 4 của Đảng (tháng 12-1976) đã đề ra yêu cầu phải “tích cực mở mang GTVT và thông tin liên lạc.

Thực hiện chủ trương đó, ngành GTVT đã chấn chỉnh tổ chức lại và hình thành một bộ máy mới với các chức năng đầy đủ hơn, đáp ứng thực tế. Hàng loạt Sở GTCC ra đời trên toàn quốc và hàng trăm các doanh nghiệp quốc doanh đường sắt, đường bộ, hàng không, vận tải biển đã ra đời và giữ vững mô hình hoạt động đến năm 1986. Trong giai đoạn này có sự kiện quan trọng là đã khôi phục và đưa vào hoạt động tuyến đường sắt Bắc - Nam.

Công cuộc phát triển đất nước (từ 1986 đến nay)


        Trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1995, do đất nước vẫn đang bị bao vây cấm vận, ngân sách Nhà nước hết sức khó khăn nên ngành GTVT tập trung chủ yếu nguồn lực cho công tác duy tu bảo dưỡng để đảm bảo an toàn giao thông và triển khai xây dựng một số công trình thực sự cấp bách.

        Trong giai đoạn này, Bộ GTVT đổi tên thành Bộ GTVT và Bưu điện sau khi Tổng cục Bưu điện và Cục Hàng không dân dụng sáp nhập vào Bộ GTVT. Trong 10 năm đầu quá trình đổi mới, ngành đường bộ đã hoàn thành một số tuyến đường, cây cầu có tầm vóc lớn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội như: cầu Bến Thủy, Thái Bình, Yên Bái, Đò Quan, Việt Trì, Tràng Tiền, Phong Châu... các quốc lộ như QL1, QL5, QL80, QL24. Nhiều đô thị mới cũng đã mọc lên dọc theo các tuyến đường. Giao thông miền núi, giao thông nông thông cũng bắt đầu khởi sắc.

        Nhờ sự đầu tư của Nhà nước kết hợp với ngân sách địa phương và sức dân, hàng ngàn con đường liên huyện, liên xã... đã được mở ở nhiều nơi tạo ra mạng lưới giao thông trải rộng khắp cả nước. Các lĩnh vực quan trọng khác của ngành GTVT như vận tải biển quốc tế, nội địa cũng được đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để mở rộng các cảng; đóng mới và sửa chữa các tàu vận tải lớn.

        Hệ thống các doanh nghiệp thuộc Bộ có vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất công nghiệp GTVT với việc hàng năm tạo ra hàng ngàn tỷ đồng lợi nhuận, không chỉ đóng góp vào ngân sách Nhà nước mà còn góp phần vào tái đầu tư, mở rộng hoạt động của ngành trong chế tạo, lắp ráp, xây dựng công nghiệp GTVT. Năm 1992, ngành Bưu điện và ngành Hàng không tách ra khỏi Bộ GTVT. Đến năm 2003, Cục Hàng không dân dụng trở lại trực thuộc Bộ GTVT.

        Từ năm 1996 trở lại đây, trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông, nhiều công trình giao thông đã được triển khai. Trong 10 năm (từ 1996 đến 2005) ngành GTVT đã tiến hành cải tạo nâng cấp và làm mới hơn 16.000 km đường bộ; 1.400 km đường sắt; hơn 130.000 md cầu đường bộ; 11.000 md cầu đường sắt. Nâng cấp và xây dựng mới 5.400 md bến cảng.

Về đường bộ, đã hoàn thành cơ bản việc nâng cấp toàn tuyến trục dọc “xương sống” của đất nước là Quốc lộ 1 từ Lạng Sơn đến Cần Thơ, trong đó có 2 công trình qui mô và hiện đại là hầm đường bộ đèo Hải Vân và cầu Mỹ Thuận. Cùng với trục dọc này, một trục dọc thứ hai cũng đã hình thành. Đó là đường Hồ Chí Minh đã hoàn tất giai đoạn 1 (Đoạn từ Hoà Lạc đến Ngọc Hồi).

        Ngoài 2 trục dọc trên, Ngành GTVT đã hoàn thành các tuyến quốc lộ chính yếu nối đến các cảng biển và cửa khẩu quốc tế như QL5, QL18, QL10, QL22, QL51, QL14B... Đồng thời, đã và đang nâng cấp các tuyến quốc lộ hướng tâm và vành đai phía Bắc, phía Nam; các tuyến quốc lộ ở Đông Nam Bộ và ĐBSCL.

        Bên cạnh các dự án sử dụng vốn NSNN và tài trợ quốc tế, trong giai đoạn vừa qua một số dự án BOT lần đầu tiên đã hoàn thành và đưa vào sử dụng như BOT Đèo Ngang; BOT An Sương- An Lạc. Đây là tín hiệu rất đáng mừng về khả năng huy động tối đa các nguồn lực trong xã hội cho sự phát triển kết cấu hạ tầng giao thông.

        Theo số liệu thống kê thì trong vòng 10 năm qua, hoạt động vận tải bình quân tăng 8,6%/năm về tấn hàng hoá; 9,9% về T.Km; 8% về hành khách và 9,6% về HK.Km cao hơn chỉ tiêu Đại hội IX đặt ra là 9 - 10% T.Km và 5- 6% HK.Km. Ngoài việc phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, ngành GTVT còn có những bước tiến rất nhanh trong lĩnh vực công nghiệp cơ khí, đặc biệt là ngành đóng tàu, sản xuất ô tô.

        Từ năm 2006 đến nay, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, ngành GTVT tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được hoàn thiện với việc Quốc hội thông qua Luật Giao thông Đường bộ (sửa đổi), Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển ngành GTVT, phê duyệt các quy hoạch các ngành đường bộ, đường sắt, hàng hải, đường thủy nội địa, hàng không, vận tải tiếp tục tăng trưởng, đáp ứng yêu cầu phát triển KT- XH và đi lại của nhân dân.

        Được nhà nước quan tâm dành cho vốn đầu tư lớn, với sự nỗ lực cố gắng của CBCNV lao động trong Ngành, nhiều công trình trọng điểm đã được hoàn thành hoặc khởi công mới. Tiêu biểu như khánh thành cầu Thanh Trì, Vĩnh Tuy, cầu Rạch Miễu, Hàm Luông, đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Trung Lương, các quốc lộ 6, 2, 70, 4A, 4B, 4C... Đã khởi công xây dựng nhiều công trình trọng điểm như: đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai, Hà Nội - Thái Nguyên, TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, Trung Lương - Mỹ Thuận, cầu Nhật Tân, cảng quốc tế Vân Phong, luồng cho tầu biển lớn vào sông Hậu... Tạo đà cho sự phát triển mạnh hệ thống giao thông hiện đại trong giai đoạn tiếp theo.

 

        Về công tác an toàn giao thông, trong những năm gần đây, ngành GTVT đã thực thi một cách quyết liệt và đồng bộ nhiều biện pháp nhằm góp phần cùng toàn xã hội thực hiện mục tiêu “3 giảm” về TNGT mà Quốc hội và Chính phủ đề ra. Đó là giảm về số vụ tai nạn, giảm số người chết và giảm số người bị thương.

        Để làm được điều này, ngành GTVT đã tập trung cải thiện kết cấu hạ tầng giao thông, xóa bỏ các điểm đen về TNGT; kiểm soát chặt chẽ phương tiện, từng bước loại bỏ các phương tiện cũ nát; tăng cường chất lượng công tác đào tạo, sát hạch và cấp phép người lái... Theo số liệu thống kê thì liên tục trong 3 năm qua, số vụ TNGT, số người chết và số người bị thương tính trên 10.000 phương tiện đều giảm.

T.T (Tổng hợp)