Tru Tiên


 Tác giả: Tiêu Đỉnh

 Dịch giả: Alex và các bạn bên Nhạn Môn Quan

 Phần 1


Từ thời thái cổ, nhân loại đối với thế giới quanh mình, thảy những sự kỳ dị, chớp loè sấm động, gió dữ mưa to, thiên tai nhân hoạ, thương vong vô số, lũ lụt khắp nơi, tuyệt không phải những sự sức con người có thể làm được, có thể chống cự được. Bèn cho rằng trên chín tầng trời có chư vị thần linh, dưới chín tầng đất có dồn đống âm hồn, diêm la điện phủ. Vì vậy truyền thuyết thần tiên lưu lại hậu thế. Chẳng biết bao nhiêu con dân loài người, thành tâm khấu đầu, cứ hướng về những thần minh do trí óc mình tưởng tượng ra mà lễ lạt cúng bái, cầu phúc tố khổ, hương khói rất thịnh. 

Từ xưa tới nay, người thường chẳng ai là không chết. Nhưng thế nhân đều ham sống sợ chết, mỗi khi nói đến địa phủ diêm la, thì thường thêm thắt bao điều ghê sợ, rồi nảy ra cái thuyết trường sinh bất tử. 

So với những giống loài sinh linh khác, con người thể chất kém, nhưng lại là linh trưởng của vạn vật, đó tuyệt không phải là lời nói giả. Với động lực săn đuổi sự trường sinh, hết đời này sang đời khác, những kẻ thông minh chí sỹ, người trước nằm xuống người sau đứng lên, đổ hết tinh lực suốt kiếp, vẫn cặm cụi đi tìm.. 

Cho mãi đến nay, tuy vẫn chưa tìm thấy sự trường sinh bất tử, nhưng có một số nhà tu chân luyện đạo đã nhìn thấu được thiên địa tạo hoá, lấy thân phận của người phàm để điều khiển những thế lực bất trắc, nhờ sức các loại bảo bối thần bí, dụng cụ làm phép, có thể khiến lung lay cả trời đất với uy lực sấm sét. 

Nhiều vị tiền bối đắc đạo cao thâm, truyền thuyết kể họ đã sống lâu hàng ngàn năm không chết. Người đời cho rằng vậy là đắc đạo thành tiên, nên càng ngày càng có thêm nhiều người lao vào con đường tu chân luyện đạo. 

Thần Châu hạo thổ rộng lớn khôn cùng. Duy chỉ có vùng đất Trung Nguyên là phì nhiêu phong mỹ nhất, tám đến chín phần mười dân cư trong thiên hạ đều sống tụ lại đây. Những vùng hoang địa ở Đông Nam Tây Bắc, núi cheo leo sông hung dữ, nhiều mãnh thú ác điểu, nhiều hư trướng độc vật, cũng nhiều loài man di mọi rợ, ăn lông ở lỗ, hiếm thấy dấu vết con người. Tương truyền trong nhân gian từ xưa, có những di chủng hồng hoang sót lại trên nhân thế, nấp trong thâm sơn mật cốc, thọ đến vạn năm, nhưng chưa có ai nhìn thấy. 

Cho đến ngày nay, những người tu chân luyện đạo trong nhân gian, phần lớn đều như cá diếc qua sông, nhiều không đếm xuể. Thần Châu hạo thổ rộng lớn, kỳ nhân dị sỹ đông đúc, cách thức tu chân luyện đạo cũng vô số, chẳng hề giống nhau. Chưa tìm ra cách nào để trường sinh, nhân gian đã hình thành các môn các phái, có chính có tà. Từ đó nổi lên những quan điểm riêng, rồi đấu đá lẫn nhau đến nỗi tranh phạt giết chóc diễn ra vô số kể. 

Khi sự trường sinh bất tử xem ra xa xôi quá không nắm bắt nổi, thì những sức mạnh có được nhờ tu luyện dần trở thành mục tiêu của rất nhiều người. 

Thế gian ngày nay, chính đạo đang thịnh, tà ma tránh lui. Vùng đất trung nguyên sơn linh thủy tú, nhân khí cường thịnh, sản vật phong phú, là nơi chiếm cứ bền vững của các chính phái, trong đó đặc biệt có ba phái lớn đứng đầu, là Thanh Vân Môn, Thiên Âm Tự và Phần Hương Cốc 

Câu chuyện này, bắt đầu từ "Thanh Vân Môn".


Chương 1

Dãy núi Thanh Vân nguy nga sừng sững, hùng cứ Trung Nguyên, phía bắc núi có một dòng sông lớn tên gọi Hồng Xuyên, phía nam là trấn quan trọng "Hà Dương Thành", chẹn lấy chỗ hiểm yếu của thiên hạ, vị trí địa lý hết sức trọng yếu.
Núi Thanh Vân kéo dài liên tục trăm dặm, nhấp nhô trùng điệp, có bảy ngọn cao nhất, vươn ngập trong mây, ngày thường chỉ thấy mây trắng vờn quanh sườn núi, không nhìn được đỉnh ngọn. Núi Thanh Vân có rừng rậm rạp, có thác đổ, vách núi dị kỳ, chim quý thú lạ rất nhiều, cảnh quan âm u hiểm trở, nổi tiếng trong thiên hạ.
Nhưng còn nổi tiếng hơn, lại là một môn phái tu chân trên núi này -- Thanh Vân Môn.
Thanh Vân Môn có lịch sử rất lâu đời, từ khi sáng lập đến giờ đã hai ngàn năm có lẻ, đứng đầu trong hai phái chính tà hiện nay.
Nghe nói tổ sư khai phái vốn là một thầy tướng trong giang hồ, nửa đời thất vọng, buồn bực bất đắc chí. Năm 49 tuổi, ngao du khắp nơi, trên đường đi qua núi Thanh Vân, vừa nhìn đã nhận ra nơi đây có vẻ thiêng liêng kỳ tú, tụ được linh khí của trời đất, là một nơi tốt đẹp vào bậc nhất. Lập tức đăng sơn, ăn gió nằm sương, tu chân luyện đạo, chưa được bao lâu, lại tìm đuợc một quyển sách cổ không tựa đề trong một hang sâu bí mật, trên đó ghi chép những thuật pháp môn kỳ ảo, thâm thuý cao xa, mà lại diệu dụng vô cùng, uy lực cực lớn.
Thầy tướng nọ được mối kỳ ngộ này, dốc lòng tu tập. Thấm thoắt hai mươi năm, có chút tựu thành, bèn xuất núi. Trải qua mấy trận mưa gió giang hồ, tuy không thể độc bá thiên hạ, nhưng cũng trở thành người hùng một phương. Bèn ở trên núi Thanh Vân, khai tông lập phái, đặt tên "Thanh Vân". Vì nội dung trong quyển sách không có tựa đề kia rất gần với đạo gia, nên ông ta bèn phục trang đạo nhân, tự xưng hiệu Thanh Vân Tử, đệ tử đời sau tôn xưng là Thanh Vân Chân Nhân.
Thanh Vân Tử thọ 167 tuổi, sinh thời thu nạp mười đệ tử, lúc lâm chung có dặn rằng: "Ta nửa đời đã học đến tận cùng về tướng thuật, tinh yếu nhất chính là tướng phong thủy. Núi Thanh Vân này là linh địa hiếm có trong nhân gian, phái Thanh Vân ta giữ ngọn núi này, về sau nhất định sẽ hưng thịnh, các ngươi quyết không thể bỏ được. Nhớ lấy, nhớ lấy!"
Lúc ấy mười đệ tử đều gật đầu, tin tưởng chắc chắn rồi, Thanh Vân Tử mới nhắm mắt tắt nghỉ. Không ngờ trong vòng một trăm năm sau đó, chẳng biết là có phải ý trời ghẹo người, hoặc căn bản là Thanh Vân Tử tướng thuật không tinh, Thanh Vân Môn không chỉ không phát triển, mà mỗi ngày một suy vi.
Trong mười đệ tử, có hai người chết sớm, bốn người bỏ mạng trong những cuộc huyết sát giang hồ, một người tàn phế, một người mất tích, chỉ truyền lại hai chi phái.
Trải qua năm mươi năm, trong vòng một trăm dặm quanh núi Thanh Sơn đã xảy ra những thiên tai địa chấn chưa từng có, ngập lụt khủng khiếp, đất rung núi chuyển, tử thương vô số, lại dứt tuyệt đi một chi phái. Mà còn lại mỗi một người, nhưng tư chất có hạn, bản lĩnh thấp kém, vốn chẳng thể khôi phục được phong quang năm xưa của Thanh Vân Tử, lại còn vì duyên cớ quyển sách cổ kia, kích động kẻ thù bên ngoài đến tranh đoạt, mấy phen huyết chiến, nếu không phải là nhờ mấy pháp bảo lợi hại mà Thanh Vân Tử để lại, thì e rằng Thanh Vân Môn đã bị người ta diệt tận rồi.
Tình cảnh này kéo dài đúng bốn trăm năm, Thanh Vân Môn không hề khởi sắc, hầu như có thể dùng từ "ngắc ngoải" để hình dung. Đến phút cuối, thậm chí còn bị người bắt nạt đến tận cửa nhà, trong bảy ngọn núi cao của Thanh Vân, ngoài ngọn chính Thông Thiên Phong, sáu ngọn còn lại đều bị ngoại địch chiếm hết, trong đám ngoại địch đó còn có cường đạo hãn phỉ, lấy làm cứ điểm, cướp bóc bốn phương, hoành hành ngang ngược.
Những người không rõ nội tình phần lớn đều hiểu nhầm, cho rằng Thanh Vân Môn đã sa sút mất rồi, mặc dù đệ tử Thanh Vân giải thích rất nhiều, rằng cũng có lòng giết địch, hiềm nỗi lực bất tòng tâm, thật đáng thương. Đến nay nghĩ lại, lúc ấy quả thực là quãng thời gian cay đắng nhất của cả phái Thanh Vân.
Mãi cho đến thời điểm một nghìn ba trăm năm trước, tình hình mới có thay đổi.
Có lẽ là tướng thuật của Thanh Vân Tử rốt cục cũng hiển linh, hoặc là trời già mệt rồi, không muốn trêu cợt Thanh Vân Môn nữa, đến lúc ấy, trong đám truyền nhân đời thứ mười một của Thanh Vân Môn, lại xuất hiện một nhân vật tuyệt luân, kinh thế hãi tục đứng lên dẫn dắt - Thanh Diệp Đạo Nhân.
Thanh Diệp tục gia họ Diệp, vốn là một thư sinh nghèo khổ, thiên tư đĩnh ngộ hơn người, nhưng ứng thí rất nhiều lần mà không trúng, sau này cơ duyên xảo hợp, được Vô Phương Tử chưởng môn đời thứ mười của Thanh Vân Môn thu làm đệ tử, lúc ấy tuổi mới 22.
Sau khi Thanh Diệp nhập môn, chỉ qua một năm đã lĩnh hội quán thông hết thảy những kiếm thuật pháp đạo do Vô Phương Tử truyền cho, độc chiếm hàng đầu trong đám đệ tử. Lại qua một năm, đến Vô Phương Tử cũng chỉ có thể dựa vào sự tu hành thâm hậu mới cố gắng đánh được ngang tay với y. Vô Phương Tử vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, quyết định lấy quyển sách cổ mà tổ sư truyền lại đem cho Thanh Diệp tự tham tường tu tập. Thanh Diệp bèn bế quan ở Huyễn Nguyệt Động đằng sau ngọn Thông Thiên Phong, lần bế quan này kéo dài mười ba năm.
Nghe nói lúc y phá cửa thoát ra, là vào một đêm trăng tròn. Đêm ấy trăng lạnh treo cao, cả ngọn Thông Thiên Phong núi Thanh Vân sáng rực như ban ngày. Thốt nhiên cuồng phong ập tới, đằng sau núi lại có tiếng hú ngân dài, vang động đến trăm dặm, ai nghe thấy không khỏi biến sắc. Sau, có ánh sáng tốt lành tím nhạt dâng lên ngập trời, một tiếng động cực lớn, Huyễn Nguyệt Động phủ rộng rãi sáng tỏ, Thanh Diệp râu tóc bạc hết, mặt điểm nụ cười, thân mình có thanh quang, chậm rãi bước ra, mọi người kinh ngạc, tưởng đã thành tiên.
Sau đó, Thanh Diệp chính thức xuất gia, lấy họ Diệp của mình, thêm vào chữ Thanh trong Thanh Vân, lấy tên là Thanh Diệp.
Ngày hôm đó y cười bái biệt ân sư Vô Phương Tử, nói: "Sư tôn xin hãy đợi, đệ tử đi làm mấy việc, một ngày là sẽ quay về."
Mọi người không rõ ý tứ, một ngày đêm sau Thanh Diệp chống kiếm quay về, ngoại địch ở sáu ngọn của Thanh Vân đã bị mai phục chém sạch. Thanh Diệp Đạo Nhân đạo pháp thâm sâu, thủ đoạn tàn độc, một thời gian đã danh động thiên hạ, thanh thế của Thanh Vân Môn đại thịnh.
Lại qua một năm, Vô Phương Tử đem chức vị chưởng môn truyền cho Thanh Diệp, còn mình thì chay tịnh thanh tu, không lý đến những chuyện lặt vặt trong môn nữa. Thanh Diệp chấp chưởng rồi, dốc sức vì môn phái, hết lòng trợ giúp đồng môn, nghiêm khắc tuyển chọn truyền nhân, lại nhờ những điều đã lĩnh hội được từ quyển sách cổ, có được cái uy quỷ thần vô lượng.
Thanh Vân Môn từ đó ngày một tăng tiến, trong vòng 50 năm, đã trở thành trụ cột trong chính đạo, thêm hai trăm năm sau, đã trở lành lãnh tụ của các môn các phái chính đạo.
Thanh Diệp Chân Nhân thọ đến 550 tuổi, cả đời thu nạp đồ đệ rất nghiêm khắc, chỉ truyền thụ cho có bảy người, chia bảy ngọn núi cho họ, lệnh cho thất chi phái cùng nhau truyền hương hoả. Trong đó trưởng môn ngụ ở ngọn chính Thông Thiên Phong, là chi phái trọng tâm.
Cho đến nay, đệ tử của Thanh Vân Môn đã gần một nghìn người, cao thủ như mây, thanh uy hiển hách, cùng với Thiên Âm Tự, Phần Hương Cốc tề danh tam đại môn phái. Chưởng môn Đạo Huyền Chân Nhân, công tham tạo hoá, siêu phàm nhập thánh, là một nhân vật tuyệt thế bậc nhất đương thời.
Dưới chân núi Thanh Vân, ở phía Tây Bắc cách Hà Dương Thành chừng 50 dặm, có một thôn nhỏ tên là Thảo Miếu.
Thôn này có hơn bốn mươi hộ dân, tính tình thuần phác, dân cư phần lớn sinh sống bằng cách lên núi đánh củi bán cho Thanh Vân Môn đổi lấy ngân lượng.
Ngày thường thôn dân thường thấy đệ tử Thanh Vân Môn đi tới đi lui, phần nhiều thần kỳ, đối với Thanh Vân Môn rất là sùng bái, coi như tiên gia đắc đạo. Mà Thanh Vân Môn từ xưa đến nay thường chiếu cố dân chúng quanh vùng, với thôn dân ở đây cư xử cũng không tệ.
Hôm ấy, trời âm u, mây đen trĩu thấp, khiến người ta có cảm giác nặng nề nghẹn thở.
Từ thôn Thảo Miếu nhìn ra, núi Thanh Vân sừng sững xuyên thẳng lên trời, ngọn cao vách cheo leo, âm thầm dữ tợn. Chỉ có điều, thôn dân đời đời ở đây, cảnh tượng ấy đã nhìn quen không biết bao nhiêu lần, nên cũng không để ý, còn bọn trẻ nhỏ chưa biết gì thì càng không phải nói.
**
*
"Xú tiểu tử, mi chạy đi đâu đó?"
Một tiếng la mắng, kèm theo là mấy hồi cười cợt, phát ra từ miệng một đứa trẻ lơn lớn. Nó lối 12, 13 tuổi, mi thanh mục túc, dẫn theo chừng bốn, năm đứa bé con cả trai cả gái, đuổi theo một thằng nhỏ khác chạy phía trước. Thằng nhỏ ấy nom bé hơn nó chừng hai tuổi, người thâm thấp, mặt mũi hớn ha hớn hở, đang dốc sức chạy đi, vừa chạy vừa ngoảnh đầu lại nhăn mặt trêu.
"Trương Tiểu Phàm, mi muốn tốt thì đứng lại!" đứa trẻ chạy theo cao giọng gọi.
Thằng nhỏ chạy trước, tên gọi Trương Tiểu Phàm "xì" một tiếng, vừa chạy vừa kêu: "Mi làm như ta là đồ ngốc vậy!" Nói đoạn lại còn chạy nhanh hơn.
Trên đường đuổi bắt, mấy đứa trẻ càng lúc càng chạy gần đến toà miếu cỏ vừa cũ vừa nát ở phía đông thôn. Từ ngoài nhìn vào, toà miếu cỏ này rách nát không thể chịu được, chẳng biết là đã trải qua gió mưa mấy kiếp.
Trương Tiểu Phàm chạy đầu tiên xông tọt vào, ai ngờ không chú ý, lại vấp phải ván cửa, tòm một cái, ngã lộn nhào.
Mấy đứa trẻ đằng sau mừng rỡ, nhao nhao lao lại, đè lên mình thằng nhỏ, đứa bé mi thanh mục tú kia vẻ mặt đắc ý, cười bảo: "Bị ta bắt được rồi! Lần này mi chẳng có gì để nói nữa, phải không nào?"
Ai ngờ Trương Tiểu Phàm đảo mắt kỳ dị, nói: "Không tính không tính, mi ám toán ta, tính làm sao được?"
Đứa trẻ kia ngạc nhiên, lạ lùng bảo: "Ta ám toán mi lúc nào?"
Trương Tiểu Phàm đáp: "Giỏi lắm Lâm Kinh Vũ, mi dám nói cái ván cửa này không phải là mi đặt ở đây ư?"
Đứa trẻ tên gọi Lâm Kinh Vũ kia hét to: "Đời nào có chuyện ấy!"
Trương Tiểu Phàm chúm miệng, nghiêng đầu, có vẻ nhất định không đầu hàng, không khuất phục.
Lâm Kinh Vũ tức khí bốc lên đầu, một tay chẹn lấy cổ nó, giận dữ bảo: "Nói rồi bắt được là phải nhận thua, mi phục hay không phục?"
Trương Tiểu Phàm chẳng hề lý đến.
Lâm Kinh Vũ sắc mặt đỏ bừng, vận sức vào tay, hét lớn: "Phục hay không phục?"
Khí quản của Trương Tiểu Phàm bị nó bóp chặt, hô hấp dần dần khó khăn, sắc mặt bắt đầu bầm lên, nhưng nó tuổi tuy nhỏ, tính khí lại rất quật cường, cứng cỏi không hề kêu một tiếng.
Lâm Kinh Vũ thì càng lúc càng giận, lực ở tay càng lúc càng lớn, miệng thì cứ lặp đi lặp lại: "Phục hay không phục? Phục hay không phục? Phục hay không phục?!"
Lúc ấy bọn trẻ kia thấy cũng không đúng, bèn lặng lẽ co rúm lại với nhau, chỉ còn trơ hai đứa bé non dại, vì tranh cãi, rồi do cái tính quá khích của đôi bên, đều cứ gan lì mãi.
Có vẻ một trường đại hoạ sắp xảy ra, thốt nghe góc sâu trong miếu cỏ niệm phật hiệu, rồi có người nói: "A di đà phật, mau mau dừng tay."
Một nắm tay khô xác, xé qua làn không lao đến, thò ra hai ngón, búng vào hai tay Lâm Kinh Vũ. Lâm Kinh Vũ như bị giật, toàn thân chấn động, hai tay tự nhiên lỏng ra.
Trương Tiểu Phàm há miệng nghẹn ngào, rõ là bị bí thở lâu quá. Hai đứa nó đờ ra tại chỗ, định thần lại được, nhớ ra tình cảnh vừa rồi, liền nhìn nhau.
Lâm Kinh Vũ đờ đẫn bảo: "Tiểu Phàm, xin lỗi nhe. Ta cũng không biết làm sao mà..."
Trương Tiểu Phàm lắc lắc đầu, hơi thở dần dần điều hoà, nói: "Không sao. Ồ, lão là ai?"
Bọn trẻ nhìn theo ánh mắt nó, thì thấy trong miếu, có một hoà thượng già đứng đó, trên mặt nếp nhăn chi chít, khoác một tấm cà sa rách mướp, cả người từ trên xuống dưới bẩn thỉu nhem nhuốc. Chỉ có chuỗi tràng hạt bích ngọc đang cầm trong tay là óng ánh loá mắt, chiếu ra những tia sáng xanh nhạt.
Điều kỳ lạ là, trong chuỗi tràng hạt bích ngọc mười mấy viên chằn chặn, chiếu sáng lấp lánh thì lại lẫn vào một viên đá chẳng ra đá ngọc chẳng ra ngọc, màu tím sẫm, ảm đạm vô quang.

 

Chương 2 

Lão tăng đó không đáp, chỉ dùng ánh mắt quan sát kỹ càng người ngợm hai đứa trẻ, không nén được bèn liếc nhìn Lâm Kinh Vũ lần nữa, thầm nhủ: "Tư chất tốt, chỉ có điều tính khí sao mà lại quá khích làm vậy?"
Lúc này Trương Tiểu Phàm bước lên một bước, nói: "Ê, lão là ai vậy? Làm sao mà chưa từng thấy lão nhỉ?"
Thôn Thảo Miếu ở gần Thanh Vân Môn, ở đây Đạo giáo là chính, ít thấy có Phật gia đệ tử, cho nên Trương Tiểu Phàm mới hỏi như vậy.
Lão tăng liếc nó, khoé miệng lộ ra một vệt cười, hỏi ngược lại: "Tiểu thí chủ, vừa rồi tính mạng sắp nguy, ngươi chỉ cần nhận thua một câu là xong rồi, tại sao khăng khăng một mực như vậy? Nếu không phải có lão nạp ra tay, chỉ e ngươi đã chết toi rồi!"
Trương Tiểu Phàm ngây người, trong bụng cảm thấy điều lão hoà thượng nói chẳng phải là không có lý, chỉ có điều đối với việc đã xảy ra, nó không nói ra được là sao lại như thế.
Lâm Kinh Vũ trợn mắt nhìn lão tăng, kéo tay Trương Tiểu Phàm bảo: "Tiểu Phàm, lão hoà thượng này kỳ quái lạ lùng, chúng ta đừng để ý đến lão nữa." Nói đoạn bèn kéo nó đi ra ngoài.
Mấy đứa trẻ cũng theo gót đi ra, rõ ràng xưa nay toàn làm theo lời Lâm Kinh Vũ.
Trương Tiểu Phàm cất bước một cách vô thức, đi mãi một đoạn, khi ra đến cửa miếu rồi, nó không nén được mới quay đầu nhìn lại bên trong, trời đã tối dần, chỉ thấy lờ mờ lão hoà thượng vẫn đứng đó, nhưng chẳng trông rõ nét mặt nữa rồi.
**
*
Đêm khuya.
Một tiếng sấm động, gió cuốn mây tàn, bên trời mây đen cuộn lên ngùn ngụt.
Mưa gió sắp tới, một cơn càn quét.
Lão tăng vẫn ở trong miếu cỏ, đả toạ trên mặt đất. Lão ngước mắt nhìn, núi Thanh Vân đằng xa chỉ còn là một vệt mông lung.
Trận giông mới lớn làm sao!
Một lằn chớp rạch ngang thinh không, loé lên ngôi miếu cỏ nhỏ nhoi trơ trọi trong gió, lúc ấy lão tăng đã ra đứng ở cửa, nét mặt nghiêm trang, ngước mắt nhìn trời, cặp lông mày cau rúm lại.
Trong cái thôn phía tây, không biết tự lúc nào đã đùn lên một đám khí đen, đậm đặc như mực, cuồn cuộn không ngừng. Lão tăng đứng ở miếu cỏ, nhìn trừng trừng vào đám khí đen đó.
Thốt nhiên, đám khí đen đó cuộn lại, lượn vòng lên, trườn thẳng ra phía ngoài thôn, hướng về phía ngôi miếu cỏ nhỏ. Tốc độ của nó cực nhanh, chớp mắt đã tới nơi.
Cặp mắt sắc của lão tăng liếc thấy trong đó kẹp một đứa nhỏ, chính là Lâm Kinh Vũ đã gặp hồi ban ngày. Nét mặt lão chùng xuống, không chần chừ, cũng không nhìn thấy động tác thế nào, thân hình khô đét chớp một cái đã vọt lên, xuyên thẳng vào trong đám khí đen.
Trong vùng ảm đạm không gọi được tên, truyền đến một tiếng kêu khẽ kinh ngạc: "Í?"
Mấy tiếng rên thảm, đám khí đen vụt ngừng lại, xoay vòng ngay trên miếu cỏ không đi.
Lão tăng kẹp Lâm Kinh Vũ bên sườn, chầm chậm hạ xuống, nhưng tấm cà sa đã bị xé một miếng sau lưng. Dưới ánh một tia sáng yếu ớt loé lên, chỉ thấy Lâm Kinh Vũ hai mắt nhắm nghiền, hô hấp bình ổn, chỉ không biết là ngủ hay là đã ngất đi.
Lão tăng không đặt nó xuống, ngẩng đầu nhìn đám khí đen trong không trung, nói: "Các hạ đạo pháp cao thâm, tại sao lại ra tay với một đứa trẻ chưa biết gì, e rằng mất tư cách quá?"
Từ trong đám khí đen truyền lại một âm thanh khàn khàn: "Ngươi là ai vậy, dám chõ mũi vào việc của ta?"
Lão tăng không đáp, mà nói: "Nơi này là chân núi Thanh Vân, nếu Thanh Vân Môn biết các hạ ở đây làm những điều càn rỡ, e rằng sau này các hạ không dễ xoay xở đâu."
Kẻ kia "phì" một tiếng, ngữ điệu khinh thường: "Thanh Vân Môn là cái thá gì, chỉ cậy đông người mà thôi. Lão lừa trọc khỏi nhiều lời nữa, biết điều thì mau mau giao thằng nhỏ đó cho ta."
Lão tăng chắp tay đáp: "A di đà phật, người xuất gia phải giữ lòng từ bi, lão nạp tuyệt không thể giương mắt nhìn đứa nhỏ này bị hại dưới độc thủ của ngươi."
Kẻ kia giận dữ: "Giỏi cho lão tặc trọc đầu, ngươi tự tìm lấy cái chết đấy."
Cùng với câu nói, từ trong đám khí đen vốn vẫn xoay tròn từ nãy tới giờ, một đạo dị quang đỏ sậm loé ra, ụp xuống xung quanh ngôi miếu cỏ nhỏ nhoi, âm phong l-ồ-n-g lộng, quỷ khí ngập tràn.
"Độc Huyết Phiên!" Lão tăng nét mặt đột nhiên tức giận: "Nghiệt chướng, ngươi lại dám tu luyện cái loại tà vật táng tận lương tâm, hoạ hại nhân gian này à, hôm nay quyết không tha cho ngươi."
Giọng khàn khàn đó bật lên tiếng cười lạnh lẽo, không đáp một lời, chỉ nghe thấy một tiếng hú u u, ánh sáng đỏ sậm ngập ngụa, luồng khí tanh thối tràn đầy, một tấm phướn đỏ dài hai trượng từ giữa trời chầm chậm căng lên.
Lúc ấy, tiếng quỷ khóc vẳng lên thê thảm, tựa như có vô số hồn ma bóng khế rên rỉ trong đêm, trong ấy còn âm ỷ có tiếng xương khô lách cách, nghe mà kinh hoàng.
"Lão tặc trọc đầu, chết này!" Người trong đám khí đen kêu lên một tiếng, chỉ thấy từ trên tấm phướn màu máu đó, đột nhiên thò ra một cái mặt quỷ nanh ác, có ba góc bốn con mắt, răng nhọn nanh dài, tiếng xương cốt va loạn "cộp, cộp, cộp, cộp", bốn con mắt trên cái mặt quỷ thình lình mở choàng, rống lên một tiếng, hoá thành một thực thể, từ trên tấm phướn xông ra, mang theo một mùi máu tanh xộc, lao vào lão tăng.
Lão tăng sắc mặt càng giận dữ, biết Độc Huyết Phiên uy lực cực lớn, trong khi tu luyện hẳn đã hại chết rất nhiều người vô tội. Muốn luyện thành uy lực như thế này, chắc là đã thu hết tinh huyết của trên ba trăm người.
Kẻ tà ác này thật là táng tận lương tâm!
Thấy con quỷ kia sắp ập xuống trước mắt, lão tăng vẫn không buông đứa nhỏ Lâm Kinh Vũ cắp bên sườn, chỉ dùng tay trái đang nắm tràng hạt bích ngọc, vạch lên trước mặt một vòng tròn, đơn thủ nắm thành dấu hiệu sư tử Phật môn, đầu ngón tay âm thầm phát xuất kim quang, nháy mắt đã dựng lên trước mặt một bánh xe thần sắc vàng, kim quang huy hoàng, cùng con quỷ kình chống nhau giữa không trung.
"Cái trò vặt này, cũng mang ra khoe..." chưa kịp thốt nốt từ "khoang", đột nhiên toàn thân lão chấn động, chỉ thấy bên tay phải, ở chỗ vẫn ôm đứa nhỏ Lâm Kinh Vũ, cổ tay bị dị vật ngoạm vào một miếng, một cảm giác tê ngứa lập tức chạy dọc nửa mình, trước mắt tối sầm, bánh xe thần lập tức lung lay sắp đổ.
Chính vào lúc ấy, ở trước mặt con quỷ kia lại biến hoá kỳ dị, trên trán chính giữa bốn con mắt bên trái bên phải, "cộp, cộp" hai tiếng, lại mở ra một con mắt cực to đỏ máu, luồng gió tanh tưởi nổi lên, uy thế càng nặng trĩu, chỉ nghe một tiếng quỷ gào, ánh sáng đỏ sậm màu máu nhấp nháy, con quỷ đánh nát vụn cái bánh xe thần sắc vàng, giáng mạnh vào ngực lão tăng.
Cả thân hình lão tăng bị giáng mạnh đến mức bay vọt lại đằng sau, Lâm Kinh Vũ bên sườn bị tuột xuống đất, trên đường mấy tiếng buồn thảm rên rỉ, tựa như xương cốt đã gãy hết rồi. Chỉ thoáng chốc, tấm thân khô đét của lão bị bắn chặt lên tường miếu, "bùng" một tiếng, bụi đất mù mịt, cả bức tường đều sập xuống.
"Ha ha ha ha ha..." người trong đám khí đen cười lên một tràng cuồng loạn, đắc ý vô cùng.
Lão tăng lẩy bẩy đứng dậy, cổ họng mằn mặn, không nhịn được phún ra một ngụm máu nóng, nhuộm đỏ cả vạt trước tấm cà sa. Lão thấy mắt nổ đom đóm, toàn thân đau đớn, mà cảm giác tê ngứa càng lúc càng thấm dần vào tim.
Lão gắng gượng trấn định tâm thần, liếc nhìn dưới đất Lâm Kinh Vũ vẫn đang hôn mê, lại thấy trong ngực áo của nó, dần dần thò ra một con rết sặc sỡ, to như bàn tay, lạ nhất là phần chót nó xoè ra bảy tua, nhìn cứ như là bảy cái đuôi. Mà mỗi cái một màu khác nhau, rực rỡ đẹp đẽ, có điều trong sự đẹp đẽ đó lại chứa tới mấy phần ghê sợ.
"Rết bảy đuôi!" Lão tăng thốt lên, nghe như một tiếng rên rỉ.
Trên mặt lão đám khí đen càng lúc càng trĩu nặng, khoé miệng không ngừng ứa máu tươi, xem ra khó có thể gắng gượng được nữa, nhưng vẫn gồng mình không chịu ngã xuống.
Lão nhìn đám khí đen giữa trời, nói: "Ngươi đem cái vật kỳ độc trên đời này nhồi vào người thằng bé, lại cố ý ẩn tàng thực lực, chờ đúng cơ hội là đả thương ta, ngươi nhằm vào ta phải không?"
Người trong đám khí đen cười lạnh "Ha ha", nói: "Không sai, ta chính là nhằm vào con lừa trọc Phổ Trí ngươi. Nếu không làm như vậy, thật không dễ đối phó với một thân tu hành cửa phật Thiên Âm Tự của ngươi. Được rồi, hãy mau mau giao Phệ Huyết Châu ra đây, ta sẽ đưa giải dược của rết bảy đuôi, tha chết cho ngươi!" Phổ Trí cười thảm một tiếng, đáp: "Uổng cho chữ Trí trong cái tên của ta, chẳng ngờ ngươi lại luyện được tà vật Độc Huyết Phiên, há lại không mưu tham chiếm đoạt Phệ Huyết Châu." Lão nghiêm sắc mặt, quả quyết nói: "Đòi ta đem cái vật chí hung trong thế gian này cho ngươi ư, đừng vọng tưởng nữa."
Người trong đám khí đen nổi giận: "Thế thì ngươi hãy đi gặp Phật tổ ngươi đi!"
Một lằn sáng đỏ chớp lên, Độc Huyết Phiên trương gió, tiếng quỷ khóc rộ, rồi con quỷ to vật đó lại hiện ra, khẽ xoay trong không trung, xông vào Phổ Trí một lần nữa.
Phổ Trí hét to, y bào toàn thân không có gió mà căng phồng lên, thân hình vốn gầy nhỏ dường như lớn lên rất nhiều.
Phổ Trí lật tay, nắm viên tràng hạt tím sẫm vào trong, hai tay trái phải kết thành hình thủy bình, cặp mắt trợn tròn, cả thân hình trên dưới chỗ nào cũng ẩn chứa kim quang, niệm lần lần từng từ: "Án, Ma, Ni, Bát, Di, Hồng!" (Xem chú thích 1: Sáu chữ Đại Minh Đà La Ni)
Người trong đám khí đen lập tức tỏ vẻ chú trọng thêm mấy phần.
Phổ Trí vừa thốt xong chữ "Hồng", lập tức cả tràng hạt bích ngọc cùng phát ra ánh sáng rực rỡ.
Cùng lúc ấy, con quỷ của kẻ tà ác kia cũng đã xông đến trước mặt, mùi máu tanh xộc tới, nhưng vừa chạm vào ánh bích ngọc xanh nhạt, lập tức hoá thành vô hình, không tiến lên được nữa, cứ lửng khửng giữa trời.
Tuy vậy, thân hình Phổ Trí cũng lại trúng một cơn run rẩy, con rết bảy đuôi là vật tuyệt độc trong thiên hạ, lão đã tu hành đến mấy trăm năm, vẫn còn khó chống đỡ. Chỉ có điều trên khuôn mặt vẫn lởn vởn đám khí đen của lão, lại lộ ra một nét cười, kèm theo nét run run..
"Oác!" Phổ Trí thét lớn, như sư tử hống, tiếng động bốn bề, tràng hạt bích ngọc trước ngực thụ được phật lực, ánh sáng càng rực rỡ, thốt nhiên một viên vỡ rốp , hoá ra trong không trung một chữ Phật , đánh thẳng vào mặt con quỷ.
"Ôi...chà!" Con quỷ hét lên thảm thiết, bật lui lại mấy bước, ánh đỏ toàn thân vụt xẹp đi, rõ ràng là đã trúng thương.
Người trong đám khí đen giận dữ la: "Giỏi cho lão lừa trốc!"
Hắn còn đang chuẩn bị động thủ, có điều nói thì chậm mà diễn biến thì quá nhanh, trong phút chốc bảy tám hạt châu đều hoá ra chân ngôn nhà Phật đánh trúng con quỷ. Con quỷ kêu la không ngớt, liên tục né tránh, dáng điệu rất sợ hãi, khi bị hạt bích ngọc thứ chín đánh trúng, nó gào lên một tràng dài, năm con mắt nhất tề vỡ toé, xương cốt lục cục, rầm một tiếng ngã vật ra đất, quằn quại thêm một lúc thì cứng đờ bất động, dần dần hoá ra vũng máu, tanh thối kinh khủng.
Cùng lúc đó, Phổ Trí "ộc" một tiếng, lại phun ra một ngụm máu lớn, máu đã ngả màu đen xạm.
"A!" một tiếng lanh lảnh truyền vào từ cửa miếu cỏ, giữa lúc hai đại cao nhân đang hồi đấu phép căng thẳng.
Phổ Trí và người trong đám khí đen kia đều thất kinh, làn khí đen trên trời rùng chuyển, Phổ Trí cũng nhìn theo về phía cửa miếu, trông thấy trong ánh sáng bên ngoài, thằng nhỏ Trương Tiểu Phàm không biết vì sao lại tới trước miếu cỏ, đứng ở cửa, mắt trơ miệng há đứng xem cảnh tượng kỳ dị này trong miếu.
Người trong đám khí đen lạnh lẽo "hừ" một tiếng, cũng không nhìn thấy động tác của hắn ra sao, chỉ thấy con rết bảy đuôi vẫn bò trên mình Lâm Kinh Vũ đột nhiên quẫy đuôi, chớp một cái, bay vù đến Trương Tiểu Phàm.
Phổ Trí dựng ngược cặp lông mày, tay phải chỉ ra, một viên bích ngọc bắn ngay đến. Con rết bảy đuôi lại như là thông linh, biết rõ lợi hại, không dám chống đỡ, quẫy đuôi một cái, rồi bật thẳng lên như cái cánh, lặn vào trong đám khí đen, không thấy tăm tích gì nữa.
Người trong đám khí đen u ám bảo: "Hừ hừ, quả không thẹn là Tứ đại thần tăng của Thiên Âm Tự, trọng thương như vậy, vẫn có thể phá được Độc Huyết Thi Vương của ta, nhưng ngươi bị Thi Vương tấn công, lại trúng độc của rết bảy đuôi, còn gắng gượng được bao lâu nữa? Hay là ngoan ngoãn đem giao Phệ Huyết Châu ra đây cho ta!"
Phổ Trí lúc ấy đến khoé mắt cũng bắt đầu ứa máu đen, lão cười thảm, khàn giọng bảo: "Lão nạp coi như hôm nay táng mạng ở đây, nhưng trước tiên cũng phải trừ được yêu nhân ngươi."
Lời nói vừa thốt, tất thảy những hạt bích ngọc trước mặt lão cùng sáng rực lên, người trong đám khí đen lập tức đề phòng. Hốt nhiên hắn rú lên, một vật nhang nháng thanh quang từ đằng sau lao tọt vào đám khí đen, chính viên bích ngọc vừa bắn vào con rết bảy đuôi, bay ra quãng không một đoạn, được Phổ Trí âm thầm điều động, vòng đằng sau đám khí đen, thình lình đánh úp.
Chỉ nghe thấy trong đám khí đen một tiếng rống giận dữ, rõ ràng kẻ đó không kịp đề phòng, ầm ầm mấy tiếng bình, bình, bình , ánh xanh chớp chớp, đám khí đen tán loạn, cuối cùng tan loãng ra bốn phía, mất tăm mất dạng.
Từ giữa trời tà tà rớt xuống một người cao gầy, toàn thân từ trên xuống dưới bó chặt trong tấm hắc bào, nhìn không rõ dung mạo tuổi tác, chỉ có hai con mắt, hung quang lồ lộ, đằng sau hắn quấn một thanh trường kiếm.
Phổ Trí thấp giọng hỏi: "Các hạ đạo hạnh như vậy, sao lại không dám gặp người?"
Hắc y nhân chớp cặp mắt lồ lộ hung quang, dữ tợn bảo: "Lừa trốc, hôm nay bắt ngươi chết không có đất chôn!"
Nói đoạn, hắn lật tay rút soạt thanh trường kiếm sau lưng, chỉ thấy thanh kiếm trong như thu thuỷ, sáng mà không loá mắt, kéo theo một làn sáng xanh nhàn nhạt. "Hảo kiếm!" Phổ Trí không kềm được thốt lên.
Hắc y nhân hừ khẽ, tay nắm kiếm quyết, chân đạp theo thất tinh, bước liên tục bảy bước, trường kiếm chớp chĩa lên trời, trong miệng lầm rầm niệm: "Cửu thiên huyền sát, hoá vi thần lôi. Hoàng hoàng thiên uy, dĩ kiếm dẫn chi!"
Chỉ trong khoảnh khắc, mây đen trên trời phút bỗng cuộn lên không ngừng, tiếng sấm ùng ùng, rìa mây đen chớp loé lia lịa, giữa đất trời một luồng sát khí, cuồng phong rộ lên.
"Thần Kiếm Ngự Lôi Chân Quyết!" Sắc mặt Phổ Trí giữa lúc ấy trắng bệch như vôi, kèm theo là một mối kinh ngạc, một tia tuyệt vọng và một chút cuồng nhiệt không hiểu được.
Lão bỗng nhiên hét to: "Ngươi chính là môn hạ Thanh Vân Môn!"

 

Chương 3 

Đối với Trương Tiểu Phàm, mây trên trời, bất kể là mây trắng, mây đen, chưa từng có đám mây nào xà xuống gần mặt đất như đám mây đen tối nay, chưa từng có tiếng sấm nào chấn động màng nhĩ như thế, chưa từng có ánh chớp nào chói mắt như thế, hầu như khiến nó khó nhìn thẳng lên.
Có vẻ bầu trời sắp sụp xuống.
Nó cứ đứng ngây ra ở đó, ngó hắc y nhân và lão hoà thượng trong miếu cỏ đang trừng mắt nhìn nhau giận dữ, khua khoắng đấu phép.
Thốt nhiên, một tiếng sấm nổ, giữa lúc màng nhĩ chấn động kêu lùng bùng, nó nhìn thấy trên cao một lằn chớp chói mắt rạch ngang bầu trời, rồi lao xuống mặt đất, đậu lên trường kiếm của hắc y nhân.
Trong phút chốc, trang phục trên mình hắc y nhân căng phồng lên, hai mắt trợn tròn như sắp nổ tung. Lúc ấy, dưới ánh chớp chói ngời, trong miếu cỏ sáng rỡ như ban ngày.
Giữa đêm ánh chớp loè rộ trên mũi kiếm, đẹp đẽ như thế, Trương Tiểu Phàm khép nép không dám thở, còn trong mắt Phổ Trí lại lần nữa xuất hiện một thứ cuồng nhiệt kỳ dị.
"Đây chẳng phải là đại năng đại lực của chân pháp đạo gia sao?"
Hắc y nhân hét to một tiếng, tay trái dẫn kiếm quyết, dùng toàn lực lắc mạnh cổ tay, sấm nổ, ánh chớp trên kiếm vụt bắn vào Phổ Trí. Trên đường, cây cỏ sỏi đá, bốc bay tung hết cả, chỉ để lại trên mặt đất một vệt cháy sâu hoắm.
Phổ Trí lui liền ba bước, thu ấn, song chưởng chắp lại, mặt lộ vẻ trang nghiêm, toàn thân âm ỷ tán phát kim quang, khẽ niệm: "Đức Phật từ bi!"
"Pắp" một tiếng, bảy hạt bích ngọc còn lại trước mình lão đều vỡ vụn, hoá thành một chữ "Phật" cực lớn ở cách trước mặt ba thước, kim quang chói loà, không thể nhìn thẳng vào.
Một khắc sau, ánh chớp và chữ Phật đó va vào nhau.
Trương Tiểu Phàm đột nhiên cảm thấy nội tạng trào sôi hết thảy, hình như huyết dịch toàn thân lúc ấy đều chạy ngược, chân tay nó bủn rủn, không thở được nữa, rồi thoáng chốc, cảm thấy gió tắt, sấm ngưng, cả thế gian đều yên tĩnh lại.
Sau đó, nó bất giác bị hất bay về đằng sau, thậm chí còn không kịp cảm thấy sợ hãi, chỉ thấy ánh trắng ánh vàng, rực rỡ vô cùng, rực rỡ hơn cả thái dương. Toàn bộ ngôi miếu cỏ tan tác rời rã, dưới đấu phép của hai người, bay tán ra bốn phương tám hướng, tung bắn cả lên trời.
Trái tim nó rỗng hoang hoác, chỉ cảm thấy tiếng gió dữ dội không ngừng vùn vụt qua tai.
Nó cảm thấy sợ hãi, bất giác muốn oằn mình lại, nhưng hữu tâm vô lực, đành để mặc thân hình mình phiêu phất bay đi một nơi chưa từng biết.
Trong đầu nó, chỉ dấy lên một ý nghĩ: mình sắp chết rồi ư?
Nỗi sợ hãi khủng khiếp thình lình chụp lấy đầu óc nó, toàn thân đẫm mồ hôi lạnh, nó run lên khe khẽ.
Cái chết đến ngay trước mắt, đối phó sao đây?
Nó ngất đi, bất tỉnh nhân sự.
**
*
Phổ Trí chầm chậm tiến lại, bước chân khập khiễng, cắp Trương Tiểu Phàm và Lâm Kinh Vũ vào be sườn, đi đến một chỗ đất có phần sạch sẽ rồi nhẹ nhàng đặt hai đứa trẻ xuống, chợt lão cảm thấy toàn thân đau nhức, ngõ hầu như muốn vỡ ra, không thể chi trì thêm được nữa, lão liền té phịch xuống đất.
Lão cúi nhìn, qua lớp tăng y cháy khét, lờ mờ trông thấy một luồng hắc khí dần dần vây kín lấy ngực, chỉ còn lại một phần nhỏ quanh chỗ cuối xương mỏ ác là chưa bị xâm nhiễm.
Lão cười khổ, thò tay dò dẫm trong bọc. Tay lão run ghê quá, mãi một lúc mới chậm chạp rút ra được một viên dược hoàn màu đỏ, chỉ nhỏ bằng đầu ngón tay, trông bình thường chẳng có gì là lạ lùng.
Phổ Trí thở dài, thầm thì than: "Chẳng ngờ quỷ y nói đúng, ta rốt cục vẫn phải dùng tới viên Tam Nhật Tất Tử Hoàn này của hắn."
Lão do dự một lát, cuối cùng khẽ gật đầu, đem dược hoàn nuốt đi.
Xong rồi, lão ngẩng đầu, nhìn về phía rặng núi xa.
Trời cuối cùng cũng phiêu phất mưa.
Núi Thanh Vân đứng sừng sững trong gió bão, mông lung thần bí.
"Pháp thuật Đạo gia thật là huyền bí, có thể sai khiến được cả thiên thần. Đem ấn chứng với Phật gia của ta, bù đắp cho nhau, tất tham phá được sự trường sinh bất tử. Đáng tiếc Đạo Huyền Chân Nhân tu hành lâu hơn ta, nhưng rốt cục cũng như ba vị sư huynh đệ kia của ta, không từ bỏ được quan niệm bè phái, không rũ bỏ được thân phận và địa vị. Ôi!"
Phổ Trí thở dài, thu hồi mục quang, ánh mắt dừng lại trên mình hai đứa trẻ. Khi ấy mưa mỗi lúc một to, dầm ướt đầm đầu mặt lão. Ngôi miếu cỏ đã rã rời tan tác trong trận đấu phép vừa rồi, gần đấy lại chẳng có chỗ nào khả dĩ tránh được gió mưa.
Trong lòng lão chợt hồi hộp, bất giác thấy lo cho hai đứa trẻ. Vừa rồi lão vận chân nguyên cao độ, dùng kỳ công "Đại Phạm Bát Nhã", mượn sức Phật môn chí bảo là "Phỉ Thuý Niệm Châu" sinh ra một đại lực hàng ma, mới chống lại được Thần Kiếm Ngự Lôi Chân Quyết uy lực vô song của kẻ tà ác kia, rồi phản công lại khiến hắn bị thương, khiến hắn phải kinh hãi mà tháo chạy.
Nhưng thân thể lão trọng thương, lại bị công kích bởi kỳ thuật của đạo gia, đã như ngọn đèn dầu sắp cạn, đến một tia hi vọng sống cuối cùng cũng tuyệt rồi. Xem ra lão chẳng qua là nhờ vào kỳ dược Tam Nhật Tất Tử Hoàn của quỷ y để kéo dài chút hơi tàn, kéo dài sinh mệnh thêm ba ngày nữa mà thôi.
"Tên yêu nhân bị thương tuy nặng, nhưng chưa phạm vào căn nguyên. Sau khi ta đi, hắn tất sẽ lộn lại giết người diệt khẩu. Đến lúc ấy không chỉ hai đứa trẻ này, mà e rằng tính mệnh của mọi nhà trong thôn cũng đều lâm nguy. Thế này, thế này, thế này thì phải làm sao mới được?"
Phổ Trí ruột rối như tơ vò, chân tu đạo hạnh của lão rất cao, nhưng một là biết rằng mình sắp chết, tâm thần cũng hoảng hốt vài phần; hai là lo lắng cho sinh mạng của bách tính vô tội, yêu nhân kia xem ra là người có thân phận địa vị cực cao trong Thanh Vân Môn, nếu đi bừa lên núi cầu cứu, e rằng được việc thì ít, mà hỏng việc thì nhiều.
Nhưng điều khiến lão di hận nhất là vẫn có một việc, chính là điều lão bình sinh đại nguyện, lại không thể hoàn thành được. Thân là Tứ đại thần tăng của Thiên Âm Tự, lão đã được thiên hạ mến phục, tôn vinh đến cực điểm. Nhưng đối với lão mà nói, quan trọng nhất là khám phá được bí ẩn về sự sống và cái chết, tìm được sự trường sinh bất tử. Chỉ có điều 50 năm trước, lão đã nhận ra rằng dù mình cần cù tu luyện Phật môn đạo pháp đến thế nào, cũng chỉ có thể tăng được công lực, mà không thể phá giải bí ẩn của sự trường sinh.
Lão đau đầu vắt óc, mấy chục năm sau, quả thực nghĩ ra được một biện pháp chưa từng có.
Thiên hạ ngày nay, Phật - Đạo - Ma tam giáo đều đang cực thịnh, trình độ phép thuật rất cao thâm. Ma giáo vốn mang tiếng xấu, tà thuật tàn nhẫn hết sức, chẳng ai muốn dây vào, còn kỳ thuật của đạo gia thì tinh thâm thần diệu, cùng với Phật môn mỗi bên đều chiếm ưu thế riêng, nếu có thể liên thủ nghiên tập, tất có thể tháo gỡ được tình thế này.
Nhưng lão ngàn vạn lần chẳng thể ngờ, ba vị sư huynh từ trước tới giờ luôn phóng khoáng cởi mở lại dị khẩu đồng thanh phản đối lão, cho là viển vông hão huyền, hết lời khuyên bảo mãi không thôi. Trong lòng lão không cam chịu, khăng khăng mấy lượt đến yết kiến các danh môn Đạo gia, chỉ riêng núi Thanh Vân cũng đã lên không biết bao nhiêu lần, nhưng chẳng lần nào mà không bị chưởng giáo của Thanh Vân Môn là Đạo Huyền Chân Nhân khéo léo chối từ.
Nghĩ đến đây, lão cười khổ một tiếng, điểm chút tự trào, nghĩ bụng: chỉ còn sống được ba ngày, lại nghĩ ngợi gì cái chuyện trường sinh bất tử, chẳng phải là tự làm khổ mình lắm sao?
Có điều lão tuy mặc lòng, nhưng nhìn thấy hai đứa trẻ vẫn nằm lăn dưới đất lại không nỡ dứt, nhất thời nghĩ không ra cách nào vẹn toàn, cứ nghiêng trái ngó phải, thấy đằng xa có một cây tùng, khả dĩ che đỡ được phần nào gió mưa, có vẫn còn hơn không, lão bèn gắng lên tinh thần, ôm lấy hai đứa trẻ, gồng sức đi lại phía ấy.
Khó khăn lắm mới đến được gốc cây, cẩn thận đặt hai đứa xuống xong, Phổ Trí đã sức cùng lực tận, ngồi phệt ra đất, dựa lưng vào thân cây, thở hồng hộc.
Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu! (*)
Câu danh ngôn Đạo gia chầm chậm buột khỏi miệng Phổ Trí, chứa chất mấy phần phẫn hận.
Bầu trời tối như mực, phủ chụp lấy mặt đất. Mây đen mênh mông đè trĩu xuống, mưa lia thia rơi, dày và mau, gió lạnh lùa tới, lắc tha lắc thắc quất vào mặt, lạnh lẽo thấu tim.
Lão ngửa mặt nhìn trời, hồi lâu mới chậm chạp thu ánh mắt, nhìn hai đứa trẻ trước mặt, thầm thì nói: "Nhị vị tiểu thí chủ, lão nạp có lòng tương cứu, đáng tiếc hữu tâm vô lực. Sự tình vốn do ta gây ra, để hại hoạ đến hai vị, thật là tội nghiệt! Ôi! Giá hai người các ngươi là đệ tử của Thanh Vân, ở trên núi Thanh Vân kia, giữa bao nhiêu người, sẽ an toàn hơn, nhưng bây giờ..."
Đột nhiên, toàn thân Phổ Trí chấn động, miệng lầm rầm: "Thanh Vân đệ tử, Thanh Vân đệ tử..." Tâm niệm lão chợt xoay chuyển, tựa hồ nắm bắt được hay nghĩ ra được điều gì, rồi thoáng cái lại bẵng đi mất. Trong khoảnh khắc, mồ hôi lạnh toát ra.
Phút sau, trong mắt lão, không hiểu tại sao, lại thêm lần nữa ánh lên một thứ cuồng nhiệt kỳ dị.
Lão ngẩng mặt cười lớn, trong tiếng cười ẩn chứa một chút điên cuồng!
"Diệu quá, diệu quá! Mệnh ta tuy không còn lâu dài nữa, nhưng nếu truyền thụ Phật gia thần công cho một người, rồi để hắn đầu nhập làm môn hạ Thanh Vân Môn, tu tập Đạo gia thuật pháp, chẳng phải là nhất cử lưỡng tiện sao, như vậy vừa có thể cứu được hai đứa nó, lại có thể giúp ta hoàn thành tâm nguyện!"
"Phật Đạo hai nhà vốn xa cách từ xưa, đến lúc già chết cũng không hề lai vãng tới nhau. Thanh Vân Môn tuyệt không ngờ được một thiếu niên ít tuổi, từ nhỏ sống dưới chân núi Thanh Vân lại có thể mang trong mình Phật môn đại pháp. Chỉ cần có người kiêm được cái học của hai nhà, tất sẽ phá giải được mê cục của sự trường sinh bất tử suốt vạn năm nay. Ha ha, nếu như vậy, ta chết còn có gì đáng tiếc?"
Lão tâm niệm đã quyết, trong người phấn khởi vô cùng, hai gò má ửng đỏ, mắt loé tia máu, bất giác nhìn Lâm Kinh Vũ rồi thò tay ra. Nhưng tay thò ra đến nửa chừng thì dừng lại, trong lòng đắn đo: chuyện này quan hệ rất lớn, ngày nay các môn các phái có chính kiến rất nặng nề, cực kỳ uý kỵ việc học lén, chẳng may bị người phát giác, sự tình bại lộ, chắc chắn là chết. Thằng nhỏ Lâm Kinh Vũ này tư chất rất tốt, nếu để Thanh Vân Môn thu nạp làm môn hạ, nhất định sẽ được sư trưởng chú ý. Nó tuổi còn nhỏ, e là sẽ không giữ được cái bí mật tày trời này!
Nghĩ đến đây, trong lòng lão chợt nhớ ra điều gì, ánh mắt chuyển sang người Trương Tiểu Phàm, nhớ lại cái tính quật cường của nó lúc ban ngày, chết tới nơi mà không chịu cúi đầu, lão gật gật, nói: "Tư chất kém một chút, cũng không sao, sau này phải trông vào phúc phận của ngươi thôi."
Nói đoạn, không chậm trễ nữa, thò tay vỗ mấy cái lên người Trương Tiểu Phàm, dùng chút sức tàn cứu tỉnh nó.
Trương Tiểu Phàm mãi sau mới tỉnh dậy, trước mắt mơ mơ hồ hồ, trong tai vẫn còn đập lùng bùng. Một lát sau mới trở lại bình thường, nhìn rõ mọi vật trước mắt rồi, nó bỗng giật bắn mình, há hốc miệng không khép lại được.
Ngồi trước mặt nó là lão hoà thượng nọ, thương tích cùng mình, lườn trái dường như bị cái gì đó thiêu đốt, khô cháy rất khó coi, trên mặt sắc đen rùng rùng, cả gương mặt nhuộm tử khí. Nhưng không biết tại sao, lão trông có vẻ rất phấn chấn rạng rỡ. Nó cũng nhìn thấy thằng bạn Lâm Kinh Vũ nằm một bên, hôn mê bất tỉnh.
"Lão, lão làm gì đó?" Trương Tiểu Phàm đờ đẫn một lúc lâu, mới ngập ngừng hỏi.
Phổ Trí không đáp, ngắm nghía nó kỹ càng, rồi hỏi lại: "Tiểu thí chủ, mưa to gió lớn thế, đứa bé như ngươi sao lại một mình đến nơi héo lánh này?"
Trương Tiểu Phàm run run, đáp: "Hồi tối ta trông thấy lão hãy còn đứng ở trong miếu, sau đấy thấy trời sắp mưa, nơi này lại rách nát quá thể, ta nghĩ chắc là lạnh lắm đây, bèn mang đến cho lão một ít đồ ăn."
Phổ Trí động đậy khoé miệng, chắp tay đáp: "Thiện tai, thiện tai. Vạn vật đều là duyên, số mệnh đã sớm sắp đặt rồi, Đức Phật từ bi."
Trương Tiểu Phàm lạ lùng hỏi: "Lão bảo sao cơ?"
Phổ Trí mỉm cười đáp: "Lão nạp nói, tiểu thí chủ và ta có duyên. Đã như vậy, lão nạp có một bộ Pháp môn tu hành, tiểu thí chủ có muốn học không?"
Trương Tiểu Phàm đáp: "Pháp môn là cái gì cà?"
Phổ Trí đờ người một lúc, rồi phá ra cười, thò bàn tay khô héo xoa xoa cái đầu trọc, nói: "Cũng không phải là cái gì cụ thể, mà là phương pháp dạy hô hấp thổ nạp thôi. Ngươi học xong, phải hứa với ta một vài chuyện, được không?"
Trương Tiểu Phàm có vẻ hoàn toàn không hiểu, nhưng vẫn đáp: "Lão nói đi!"
Phổ Trí nói: "Ngươi quyết không được kể với người xung quanh chuyện này, cho dù là đối với những người thân nhất, ngươi có làm được không?"
Trương Tiểu Phàm gật gật đầu, đáp: "Biết rồi, chết ta cũng không nói."
Phổ Trí giật mình, thấy nó còn nhỏ tuổi mà trên nét mặt đã đầy vẻ kiên tâm, mù trời mưa sợi bay như đao như kiếm lại như sương, táp rạt vào khuôn mặt bé nhỏ, có phần tiều tuỵ hốc hác.
Phổ Trí bỗng hít sâu, rủ mắt không nhìn nó nữa, mấp miệng tiếp tục nói: "Ngoài ra, mỗi ngày ngươi nhất định phải tu tập pháp môn này một lần, nhưng không được luyện ở trước mặt người khác, chỉ có thể tiến hành lúc đêm khuya người vắng. Điều cuối cùng, trừ phi đến lúc sinh tử quan đầu, tuyệt đối không được thi triển cái thuật này, nếu không tất có đại hoạ."
Nói tới đây, lão lại mở bừng mắt, nhìn Trương Tiểu Phàm chằm chặp, hỏi: "Ngươi làm được không?"
Trương Tiểu Phàm đắn đo một lúc, nghiêng nghiêng đầu, rồi lại gãi gãi đầu, nét mặt đầy vẻ nghi hoặc, nhưng rốt cục vẫn gật lia lịa.
Phổ Trí khẽ mỉm cười, không nói thêm gì nữa, bắt đầu truyền khẩu quyết cho nó.
Bộ khẩu quyết này bảo dài thì không dài, chỉ có chừng một ngàn chữ, nhưng trúc trắc khó hiểu, Trương Tiểu Phàm cố gắng hết sức, mất đến ba canh giờ, mới học thuộc được hết.
Phổ Trí đợi đến khi nó nhớ kỹ hết thảy, mới thở phào một hơi, thần sắc bải hoải.
Lão nhìn Trương Tiểu Phàm, ánh mắt chất chứa từ ái, bảo: "Lão nạp cả đời tu hành, xưa nay chưa từng nghĩ đến việc thu nhận đệ tử, ai ngờ đến lúc sắp chết, lại có cái duyên sư đồ với ngươi. Xem ra, ngươi cũng nên biết danh hiệu của ta." Lão ngừng một lát, rồi tiếp: "Ta pháp danh Phổ Trí, là tăng nhân của Thiên Âm Tự. Khục, hài tử này, ngươi biết Thiên Âm Tự chứ?"
Trương Tiểu Phàm nghĩ ngợi một lúc, rồi lắc đầu.
Phổ Trí tức cười bảo: "Đúng là trẻ con mà." Rồi sực nhớ điều gì, bèn thò tay vào trong bọc lần ra một viên hạt châu tím sẫm, chăm chú nhìn nó, rồi đưa cho Tiểu Phàm, bảo: "Ngươi hãy giữ viên hạt châu này cho cẩn thận, không được để người ngoài dòm thấy. Đợi đến này sau an định rồi, ngươi tìm một hang sâu hay vách núi, ném nó xuống là được. Còn nữa, ta vừa nói cho ngươi biết danh hiệu của ta, ngươi nhất thiết không được nhắc đến với người ngoài."
Trương Tiểu Phàm nhận lấy hạt châu, đáp: "Biết rồi."
Phổ Trí xoa đầu nó, nói: "Ngươi và ta có mối túc duyên này, cũng chẳng biết kiếp sau còn gặp lại nhau không. Hài tử, ngươi hãy quỳ xuống khấu đầu ba cái, gọi ta một tiếng sư phụ đi!"
Trương Tiểu Phàm nhìn Phổ Trí, thấy lão đã thu lại nụ cười, nét mặt trang nghiêm, bèn gật đầu dạ, gọi một tiếng "Sư phụ." rồi quỳ xuống đất, liên tiếp khấu đầu ba cái. Nó vừa khấu đầu xong, chưa ngẩng lên, đã nghe Phổ Trí cười khe khẽ, nhưng trong tiếng cười chất chứa những bi thống và quả đoán.
Trương Tiểu Phàm toan ngẩng lên nhìn lão, chợt cảm thấy sau lưng có người vỗ khẽ, rồi mắt mũi tối sầm, lại lăn ra bất tỉnh nhân sự.