PHÒNG GD-ĐT BÌNH SƠN                                           CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

  TRƯỜNG TH SỐ 1 BÌNH CHÁNH                                                 Độc lập –Tự do – Hạnh phúc

                                                                                                           Bình Chánh, ngày 28  tháng 5 năm 2011

 

BÁO CÁO THÀNH TÍCH

ĐỀ NGHỊ ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH CÔNG NHẬN

DANH HIỆU TẬP THỂ LAO ĐỘNG XUẤT SẮC VÀ TẶNG BẰNG KHEN

(Năm học 2010-2011 / Giai đoạn 2008-2011)

 

I. SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CỦA ĐƠN VỊ.

          Tên đơn vị: Trường Tiểu học Số 1 xã Bình Chánh

          Địa chỉ: Xã Bình Chánh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

          Cơ cấu tổ chức:

          Trường có Chi bộ Đảng, Có Công đoàn cơ sở và Đội Thiếu niên Tiền phòng Hồ Chí Minh. Chi bộ Đảng gồm 8 đảng viên, có Chi ủy, đồng chí Phó Hiệu trưởng làm Bí thư.

Ban giám hiệu nhà trường có 2 đồng chí: Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng; hai đồng chí đều đạt trình độ đào tạo chuyên môn trên chuẩn và đã học qua lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý trường học; có 5 Tổ chuyên môn và 1 Tổ Văn phòng hoạt động đúng theo Điều lệ trường tiểu học.

          Tổng số cán bộ, công chức: 31 – nữ 20, trong đó Ban giám hiệu 2 – nữ 1

          Về trình độ chuyên môn: Tất cả đều đạt trình độ đào tạo chuyên môn chuẩn trở lên, trong đó trình độ đào tạo chuyên môn trên chuẩn là 16 đồng chí, chiếm tỷ lệ 56,1%, cụ thể được chia ra như sau: Đại học: 4/31 – đạt tỷ lệ 12,9%, trong đó nữ 1; Cao đẳng: 12/31 – đạt tỷ lệ 38,7%, trong đó nữ 8.

Trường Tiểu học Số 1 Bình Chánh thành lập từ năm 1992 đến này. Qua thời gian, trường đã có nhiều thay đổi, đạt trường Chuẩn Quốc gia từ năm học 2003-2004. Cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị khác cơ bản ổn định, đảm bảm cho các hoạt động giảng dạy và giáo dục khác của đơn vị.

Trường Tiểu học Số 1 Bình Chánh có hai điểm trường, nằm ở hai thôn, cách nhau hơn 2 km. Các cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương rất quan tâm đến giáo dục. Hội Khuyến học của xã ra đời tương đối sớm so với các xã trong huyện, hoạt động có hiệu quả. Các Chi hội khuyến học được thành lập từ dưới thôn, xóm; hàng năm đều tổ chức phát thưởng, động viên con em trong thôn, xóm của mình.

Chức năng, nhiệm vụ được giao.

Là một đơn vị trường tiểu học, thực hiện chức năng, nhiệm vụ đúng theo Điều lệ Trường tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

          Những thuận lợi, khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ.

          Về thuận lợi:

Là một địa phương mà các cấp Ủy đảng, Chính quyền cũng như các Hội, Đoàn thể rất quan tâm đến giáo dục. Trong xã có 4 trường đều đạt Chuẩn Quốc gia. Hội Khuyến học ra đời sớm so với các xã trong huyện và hoạt động có hiệu quả. Hàng năm, các chi hội đều tổ chức phát thưởng, động viên con em trong thôn, xóm. Nhân dân trong xã có truyền thống hiều học, hầu hết có quan tâm, lo lằng đến việc học của con em, biết phối hợp với nhà trường để giáo dục con em mình.

Ban giám hiệu nhà trường đều đạt trình độ đào tạo chuyên môn trên chuẩn và đã thông qua lớp bồi dưỡng quản lý trường học; có năng lực, nhiệt tình trong công tác, làm việc khoa học; biết lắng nghe, học hỏi, tự vươn lên trong mọi tình huống để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Mặt khác, hiện nay trường đã bước đầu áp dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý học sinh. Đồng chí Phó Hiệu trưởng đã thiết kế một file trong Microsoft Excel để quản lý học sinh trên máy tính. Đây là một chương trình quản lý học sinh được nhiều mặt, rất thuận lợi cho công tác quản lý học sinh về số liệu, về chất lượng, về đối tượng, về chỗ ở, về học sinh lên lớp, lưu ban, về học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình tiểu học, kể cả thống kê số liệu cho công tác phổ cập tại đơn vị hàng năm,…

Đội ngũ giáo viên có truyền thống đoàn kết, ý thức tổ chức kỉ luật cao, có tinh thần tương thân, tương ái, chia sẻ  giúp nhau. Mỗi đồng chí giáo viên đều biết khắc phục những khó khăn, chịu khó học hỏi, nâng cao kiến thức, trình độ mọi mặt để hoàn thành nhiệm vụ. Mặt khác, về chất lượng đội ngũ giáo viên ngày một nâng lên. Hiện nay có 16 đồng chí đạt trình độ trên chuẩn, trong đó có 4 đồng chí là trình độ đại học và hiện có 4 đồng chí đang theo học lớp đại học và số còn lại hầu hết học lớp cao đẳng; không còn giáo viên có trình độ dưới chuẩn.

Là một đơn vị trường tiểu học đạt Trường Chuẩn Quốc gia mức 1 từ năm học 2003-2004; nền nếp của trường từ giáo viên đến học sinh đã ổn định, xác lập. Cơ sở vật chất cơ bản ổn định, đáp ứng nhu cầu cơ bản trong giảng dạy và học tập hiện nay. Hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất khác phục vụ cho hoạt động dạy và học đảm bảo.

Hiện nay tất cả học sinh của trường đều có học tăng buổi, trong đó 7 lớp của khối lớp 1 và khối lớp 2 học 10 buổi / tuần; số còn lại đều học hơn 5 buổi / tuần. Chính vì vậy mà chất lượng học sinh của trường luôn được giữ vững, mang tính bền vững.

Học sinh hầu hết là con em của nhân dân lao động nông nghiệp và ngư nghiệp, ngoan, lễ phép, biết vâng lời thầy cố giáo, chịu khó học tập.

Về khó khăn:

Trường có hai điểm trường đặt ở hai thôn, cách xa hơn 2km, nên công tác quản lý học sinh và giáo viên trong giờ giảng dạy chưa được thuận lợi.

Một bộ phần nhỏ trong phụ huynh đời sống còn khó khăn, công việc đồng áng vất vả; nhiều phụ huynh phải đi làm suốt cả ngày đến tối mới về, nên việc chăm sóc con em, nhắc nhở học hành còn hạn chế.

Một bộ phận nhỏ học sinh, chủ yếu là học sinh lớn (Trung học cơ sở, Trung học phổ thông) đua đòi, ăn chơi, vào quán net chơi game làm ảnh hưởng, lôi kéo các em nhỏ đi theo.

Trường tuy đã đạt chuẩn (từ năm học 2003-2004) nhưng do đòi hỏi ngày càng cao về cơ sơ vật chất, trong đó có phòng học phục vụ cho việc dạy ngày, dạy bồi dưỡng học sinh giỏi chưa đáp ứng. Mặt khác, hàng năm nhà trường tuy bổ sung từ 10 đến 15 bộ bàn ghế học sinh nhưng tình trạng bàn ghế vẫn còn ộp ẹp do đã cũ, đóng từ lâu và đã xuống cấp.

II. THÀNH TÍCH NỔI BẬT ĐẠT ĐƯỢC.

          1. Báo cáo thành tích căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao:

- Thống kế so sánh kết quả đào tạo thực hiện qua các năm (tỷ lệ đỗ, nhập học, chất lượng đào tạo, trường chuẩn, …)

          a) Về chất lượng học sinh:

Năm học

Tổng số HS

Xếp loại Giáo dục

Giỏi

Khá

TB

Yếu

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

2008-2009

585

175

29,9

191

32,6

 

 

 

 

2009-2010

571

256

44,8

206

36,1

102

17,9

7

1,2

2010-2011

559

229

41,0

216

38,9

104

18,6

10

1,8

(Năm học 2008-2009: Giỏi: Là số học sinh đạt Danh hiệu Học sinh Giỏi; Khá: Là số học sinh đạt danh hiệu Học sinh Tiên tiến)

Sau khi ôn tập trong hè và tổ chức kiểm tra lại cho những học sinh yếu cuối mỗi năm học, kết quả như sau:

- Học sinh lên lớp:

Năm học 2008-2009: 578/585, đạt tỷ lệ: 98,8%.

Năm học 2009-2010: 568/571, đạt tỷ lệ: 99,5%.

Năm học 2010-2011: 550/559, đạt tỷ lệ: 98,4%. (9 em yếu, chưa kiểm tra  lại)

- Học sinh lớp 5 hoàn thành chường trình:

Năm học 2008-2009: 140/140, đạt tỷ lệ: 100%.

Năm học 2009-2010: 122/122, đạt tỷ lệ: 100%.

Năm học 2010-2011: 101/101, đạt tỷ lệ: 100%.

- Hiệu quả đào tạo sau 5 năm:

Khóa học 2004-2009: 130/135 em HTCT, hiệu quả đào tạo: 96,3%

Khóa học 2005-2010: 116/119 em HTCT, hiệu quả đào tạo: 97,5%

Khóa học 2006-2011: 98/101 em HTCT, hiệu quả đào tạo: 97,0%

- Nhiều năm liền, cũng như từ năm học 2008-2009 đến nay không có học sinh bỏ học.

b) Về học sinh đạt giải các cấp:

Năm học

Đạt học sinh giỏi cấp huyện

Đạt học sinh giỏi cấp tỉnh

Đạt Vở sạch chữ đẹp huyện

Đạt Vở sạch chữ đẹp tỉnh

2008-2009

12

Không tổ chức thi

Không tổ chức

Không tổ chức

2009-2010

Không tổ chức thi

Không tổ chức thi

21

Không tổ chức

2010-2011

10

4

13

Không tổ chức

c) Về Giáo viên  đạt giải các cấp:

Năm học

Đạt giáo viên dạy giỏi huyện

Đạt giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh

Đạt giáo viên sử dụng ĐDDH giỏi cấp huyện

Đạt giáo viên sử dụng ĐDDH giỏi cấp tỉnh

2008-2009

5

1

5

1

2009-2010

5

Không tổ chức

5

2

2010-2011

2

2

Không tổ chức

Không tổ chức

d) Về công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi:

Năm

Huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1

Trẻ em 11 tuổi

HTCTTH

Đối tượng trẻ 14 tuổi đã HTCTTH

SL

%

SL

%

SL

%

2008

183/183

100

249/264

94,3

270/270

100

2009

183/183

100

202/215

94,4

301/301

100

2010

173/173

100

194/204

95,1

260/260

100

Trường đạt Trường Chuẩn Quốc gia mức 1 từ năm học 2003-2004, qua các năm trường luôn giữ vững các tiêu chí của Chuẩn và tạo nền tảng vững chắc để tiến đến đạt Chuẩn Quốc gia ở mức 2.

Năm học 2008-2009:

- Trường được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận Tập thể lao động xuất sắc và tặng Bằng khen; Liên đội được Công nhận danh hiệu Liên đội Xuất sắc cấp huyện.

- 4 đồng chí đạt Chiến sĩ thi đua cấp Cơ sở

Năm học 2009-2010:

- Trường được Ủy ban nhân dân huyện công nhận Tập thể lao động Tiên tiến và tặng Giấy khen. Liên đội được Công nhận danh hiệu Liên đội Xuất sắc cấp huyện.

- 6 đồng chí đạt Chiến sĩ thi đua Cơ sở

 Nhận xét, đánh giá kết quả đạt được.

`        Từ năm học 2008-2009 đến nay, trường luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, hai năm học qua được công nhận Tập thể lao động Xuất sắc và Tập thể lao động Tiên tiến; Liên đội cũng hai năm liến đạt danh hiệu Liên đội Xuất sắc cấp huyện. Chiến sĩ thi đua Cơ sở trong hai năm liền đều tăng về số lượng, từ 4 đồng chí được công nhận năm học 2008-2009 đến 6 đồng chí được công nhận năm 2009-2010.

          Nhìn chung chất lượng đào tạo được giữ vững, có chiều hướng đi lên bền vững; tỷ lệ giáo viên được công nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua ngày càng nhiều. Chất lượng đội ngũ ngày một cao về trình độ đào tạo chuyên môn trên chuẩn – kể cả trình độ đào tạo chuyên môn trên chuẩn là đại học. Công tác phổ cập giáo dục hàng năm được giữ vững, tỷ lệ học sinh 6 tuổi vào lớp 1 hàng năm luôn đạt 100%. Học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình tiểu học 3 năm liên đạt 100%; hiệu quả đào tạo (sau 5 năm) qua các năm luôn giữ vững, đạt từ 96% trở lên. Đặc biệt trong nhiều năm liền cũng như 3 năm học qua không có học sinh bỏ học.

          2. Biện pháp tổ chức thực hiện để đạt được những kết quả.

          Hàng năm, trường rất chú trọng đến công tác đầu tư cơ sở vật chất. Số phòng học hiện nay có 16 phòng / 20 lớp, đạt tỷ lệ 0,8 phòng / lớp. Đây là một tỷ lệ chưa phải đạt với yêu cầu dạy hơn 5 buổi / tuần cũng như dạy ngày cho học sinh. Tuy nhiên nhà trường phân chia thời khóa biểu hợp lý, tận dụng các buổi học để các buổi từ thứ hai đến thứ 6 trong tuần không có phòng nào trống. Ngoài việc sử dụng bảo quản thật tốt, hàng năm nhà trường bổ sung thêm từ 10 đến 15 bộ bàn ghế và cũng thường xuyên sửa chữa bàn ghế từ đầu năm học trước khi khai giảng. Ngoài ra, trong hai năm học qua, nhà trường vận dụng các nguồn thu hợp pháp để làm nhà xe cho học sinh, giáo viên; làm nhà vệ sinh cho học sinh; làm tường rào, cổng ngõ, trị giá gần một trăm triệu đồng.

Về trang thiết bị dạy học, hàng năm ngoài việc sử dụng các thiết bị, dụng cụ dạy và học của ngành cấp, nhà trường còn vận động giáo viên tự làm đồ dùng dạy học, nhất là qua các lần thi sử dụng đồ dùng dạy học cấp trường, cấp huyện hay cấp tỉnh để bổ sung thêm vào kho thiết bị của nhà trường.

Nhà trường (đồng chí Phó Hiệu trưởng) cũng tự viết ra một chương trình trên máy vi tính nhằm quản lý học sinh tốt hơn. Chương trình này viết trên Microsoft Excel, là một file, sau khi nhập tất cả các dữ liệu cần thiết, hệ thống sẽ tự động tổng hợp những nội dung cần thiết đã định trước. Quản lý về số liệu học sinh; về năm sinh, về học sinh chuyển đi, chuyển đến; thống kê kết quả các lần kiểm tra trong năm ở tất cả các môn học; thống kê kết quả xếp loại giáo dục và hạnh kiểm, danh sách học sinh khen thưởng, danh sách học sinh hoàn thành chương trình tiểu học,…Việc sử dụng chương trình quản lý này không những thấy rõ kết quả học tập của từng lớp, từng khối lớp, toàn trường mà còn biết cả kết quả học tập và rèn luyện của mỗi học sinh. Ngoài ra, chương trình còn cho biết số liệu học sinh theo xóm, học sinh ngoài xã theo lớp, theo năm sinh nhằm phục vụ cho công tác Phổ cập hàng năm tại đơn vị. Nhìn chung đây là một sáng kiến áp dụng có hiệu quả tại đơn vị, quản lý chính xác, khoa học và nhanh gọn.

Đối với giáo viên, mỗi năm phải viết được một sáng kiến kinh nghiệm. Sáng kiến này được thông qua Tổ, nếu thấy tốt thì phổ biến cho cả trường cùng tực hiện.

Ngoài ra, nhà trường còn vận động giáo viên tự học vi tính, trước tiên là phải soạn bài trên máy tính, từng bước tìm hiểu chương trình Power point, dần từng bước dạy bằng chương trình Power point, nhất là các tiết thi giáo viên dạy giỏi huyện, tỉnh. Mặt khác, hiện nay tại trường đã có nối mạng internet, nhà trường khuyến khích giáo viên bước đầu biết tìm kiếm thông tin cần thiết trên mạng phục vụ cho giảng dạy và học tập của cá nhân.

Nhà trường khuyến khích và tạo điều kiện cho giáo viên học nâng chuẩn, nhằm từng bước cải thiện chất lượng đội ngũ giáo viên. Hiện có 16 / 31 giáo viên đạt trình độ đào tạo trên chuẩn, chiếm tỷ lệ 56,1%; số giáo viên còn lại hầu hết đang học các lớp trên chuẩn.

Việc nâng cao chất lượng giáo dục trại đơn vị luôn được lãnh đạo nhà trường quan tâm đúng mức. Ngay từ đầu năm học, sau khi khảo sát chất lượng đầu năm, nhà trường tiến hành cho các tổ tổ chức bàn giao chất lượng giữa giáo viên chủ nhiệm năm trước với giáo viên chủ nhiệm hiện tại. Trên cơ sở chất lượng khảo sát đầu năm cũng như chất lượng cuối năm học trước, từng giáo viên đăng kí chất lượng lớp mình đạt được theo từng thời điểm cuối kì I và cuối năm. Theo từng thời điểm kiểm tra định kì trong năm, nhà trường cũng như các tổ sơ kết, tổng kết nhằm rút kinh nghiệm cho chỉ đạo tiếp theo. Ngoài ra, đối với những học sinh còn yếu khi khảo sát chất lượng đầu năm, giáo viên chủ nhiệm lập sổ theo dõi từng em, ghi rõ những kiến thức mà học sinh đó còn hỏng để giáo viên giúp đỡ, động viên các em theo kịp các bạn. Mặt khác, giáo viên chủ nhiệm còn làm tốt công tác chủ nhiệm, nhất là những em học yếu, những em còn ngỗ nghịch.

Việc tổ chức kiểm tra đánh giá học sinh được thực hiện nghiêm túc từ khâu ra đề, tổ chức kiểm tra, chấm bài kiểm tra; hạn chế thấp nhất việc học sinh nhìn bài của của nhau. Kết quả đạt được phản ánh đúng chất lượng của từng em, từng lớp.

Vệc tổ chức đánh giá, xếp loại giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp cũng được thực hiện nghiêm túc. Tất cả giáo viên đều được dạy đúng theo Quyết định 14 và đều được đánh giá, xếp loại công khai, công bằng

3. Quan tâm đến đời sống cán bộ nhân viên, giáo viên (tăng thu nhập, đào tạo, chăm lo sức khỏe, chất lượng đội ngũ).

Đã nhiều năm, công đoàn tổ chức cho đoàn viên công đoàn góp vốn, mỗi tháng góp 50.000 đồng / giáo viên, tạo ra một số tiền nhiều hơn rồi cho những đoàn viên khó khăn mượn, giải quyết trước mắt. Hàng năm, công đoàn cũng như chính quyền nhà trường trích ra một khoản kinh phí nhất định để thăm hỏi hiếu, hỉ cũng như khi gặp khó khăn, hoạn nạn khác của thành viên trong nhà trường. Đặc biệt, năm nào công đoàn cùng nhà trường cũng tổ chức phát thưởng cũng như tổ chức vui chơi cho con của giáo viên trong đơn vị.

Với những giáo viên có nhiều cố gắng trong các phong trào như thi giáo viên dạy giỏi các cấp, thi sử dụng đồ dùng dạy học các cấp, …công đoàn, nhà trường đều động viên đúng mức không những bằng tinh thần mà cả vật chất cụ thể.

Trường, công đoàn tạo mọi điều kiện cho giáo viên học nâng chuẩn. Bất cứ giáo viên nào được tham gia học các lớp nâng chuẩn đều được phân công người dạy thay, động viên để an tâm học tập.

Với những hình thức quan tâm thiết thực đến giáo viên, nên trong đơn vị luôn tạo được sự đồng thuận, thoải mái, vui vẻ, làm việc tích cực, hăng say, đầy trách nhiệm, đặc biệt là tinh thần đoàn kết trong đơn vị luôn được duy trì. Nhiều năm liền tại đơn vị không có hiện tượng mất đoàn kết hoặc đơn thư khiếu tố, khiếu nại xảy ra.

4. Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, chống lãng phí, tài chính công khai.

Thực hiện nghiêm về Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường ban hành theo Quyết định số 04/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 1/3/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo đó, mọi hoạt động của nhà trường đều được công khai, minh bạch. Nhiều chủ trương, quyết sách của đơn vị được cấp ủy, cũng như toàn thể hội đồng sư phạm góp ý trước khi triển khai thực hiện. Theo định kì trong năm học, nhà trường công khai tài chính về thu chi trước hội đồng, không có hiện tượng mờ ám trong tài chính, tạo được sự tin tưởng trong Chi bộ cũng như trong Hội đồng sư phạm nhà trường. Việc thu chi của nhà trường đều thực hiện đúng nguyên tắc tài chính, với phương châm tiết kiệm, chống lãng phí.

5. Hoạt động, thành tích của đảng, công đoàn những năm qua.

Trường có Chi bộ Đảng, gồm có 8 đồng chí đảng viên. Chi bộ thực hiện nguyên tắc lãnh đạo đơn vị theo đúng pháp luật. Các chủ trương, kế hoạch lớn của đơn vị đều được Chi bộ lãnh đạo thực hiện. Đặc biệt trong đợt phát động thực hiện “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí minh”, Chi bộ được Huyện ủy tặng 2 Giấy khen và cá nhân đồng chí bí thư cũng được Huyện ủy tặng Giấy khen.

Đã nhiều năm, công đoàn tổ chức cho đoàn viên công đoàn góp vốn, mỗi tháng góp 50.000 đồng / giáo viên, tạo ra một số tiền nhiều hơn rồi cho những đoàn viên khó khăn mượn, giải quyết trước mắt. Hàng năm, công đoàn cũng như chính quyền nhà trường trích ra một khoản kinh phí nhất định để thăm hỏi hiếu, hỉ cũng như gặp khó khăn, hoạn nạn khác. Đặc biệt, năm nào công đoàn cùng nhà trường cũng tổ chức phát thưởng cũng như vui chơi cho con của giáo viên trong đơn vị.

Với những giáo viên có nhiều cố gắng trong các phong trào như thi giáo viên dạy giỏi các cấp, thi sử dụng đồ dùng dạy học các cấp, …công đoàn, nhà trường đều động viên đúng không những bằng tinh thần mà cả vật chất cụ thể.

Trường, công đoàn tạo mọi điều kiện cho giáo viên học nâng chuẩn. Bất cứ giáo viên được tham gia học các lớp nâng chuẩn đều được động viên, phân công người dạy thay, động viên để an tâm học tập.

Hai năm liền công đoàn được Công đoàn ngành khen.

 

6. Các hoạt động xã hội khác.

Nhà trường tham gia đầy đủ các phong trào do ngành, công đoàn ngành tổ chức như quyên góp ủng hộ đồng bào trong vùng bão, lụt; trong vùng gặp khó khăn; tham gia tốt các đợt hiến máu nhân đạo, làm công tác từ thiện; quyên góp cho các em ảnh hưởng chất độc màu da cam; quyên góp xây nhà tình nghĩa, nhà tình thương do địa phương, ngành phát động.

7. Phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới.

Cố gắng tranh thủ nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng từ Dung Quất để tầng hóa dãy phòng cấp 4 tại cụm Gò Mẹo hiện đang xuống cấp. Trước mắt, trong vài năm tới xây dựng hai phòng học tại cụm Đông Bình và cụm Gò mẹo; xây dựng công trình vệ sinh giáo viên tại cụm Gò Mẹo (hiện nay giáo viên và học sinh dùng chung khu vệ sinh)

Đẩy mạnh chất lượng dạy và học, tăng tỷ lệ học sinh học 2 buổi / ngày. Chất lượng học sinh phát triển một cách bền vững.

Trong năm học đến, tổ chức dạy ngoại ngữ (Anh văn) cho một số lớp.

Chất lượng đội ngũ giáo viên đạt từ 80 – 90% giáo viên có trình độ đào tạo chuyên môn trên chuẩn, khuyến khích giáo viên học chuyên môn có trình độ đào tạo đại học.

Cải thiện môi trường cây xanh, bóng mát trong sân trường.

Hướng tiếp cận lâu dài là phấn đấu đạt Chuẩn phổ cập Giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức 2 và trường Chuẩn Quốc gia mức 2.

8. QUÁ TRÌNH KHEN THƯỞNG.

1. Danh hiệu thi đua và cấp khen đã đạt được những năm gần đây.

Năm học 2008-2009:

-         UBND tỉnh công nhận Tập thể lao động Xuất sắc, Quyết định số 1338/QĐ-UBND, ngày 25/8/1/2009.

Năm học 2009-2010:

-         UBND huyện công nhận Tập thể lao động Tiên tiến, Quyết định số 2077/QĐ-UBND, ngày 4/8/2010.

-         Giấy khen của UBND huyện, Quyết định số 2077/QĐ-UBND, ngày 4/8/2010.

-         Giấy khen của UBND huyện, Quyết định số 1811/QĐ-UBND, ngày 26/7/2010

2. Thành tích khác.

Năm học 2009-2010:

-         Giấy khen của Ban chấp hành đảng bộ huyện, Quyết định số 180-QĐ/HU ngày 10/11/2010.

 

 

          Trên đây là những thành tích mà đơn vị Trường Tiểu học số 1 Bình Chánh đạt được trong những năm qua, xin báo cáo và đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi công nhận Tập thể lao động Xuất sắc và tặng Bằng khen.

         

                      Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Bình Sơn                                            Thủ trưởng đơn vị

                                       (Ký tên, đóng dấu)                                                                     (Ký tên, đóng dấu)

 

 

 

 

 

                    Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ngãi

                    (Ký tên, đóng dấu)

 

Č
ĉ
ď
Ti Sien Nguyen,
Jun 26, 2011, 12:52 AM
Comments