Home‎ > ‎Đề tài, dự án‎ > ‎

Đề tài nghiên cứu khoa học về thanh niên

đăng 08:42 15-07-2010 bởi Phạm Văn Uýnh.   [ cập nhật 04:51 17-01-2011 bởi Phạm Văn Uýnh ]


BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 

 

ĐỀ TÀI 

“THỰC TRẠNG THANH NIÊN TỈNH CÀ MAU,

NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH CẦN THIẾT

ĐỐI VỚI THANH NIÊN TRƯỚC YÊU CẦU PHÁT TRIỂN

KINH TẾ XÃ HỘI” 


Phạm Văn Uýnh, Chủ nhiệm đề tài 





MỞ ĐẦU 

 

1- Lý do chọn đề tài: 

    Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển xã hội hiện tại và là người chủ tương lai của đất nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII về công tác thanh niên trong thời kỳ mới đã khẳng định: “Thanh niên là lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không, phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Đúng như Bác Hồ đã nói: Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người, vì vậy vấn đề thanh niên phải đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người.

 

Thực tiễn lịch sử 66 năm qua của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên của cả nước đã chứng minh rằng: ở những bước ngoặt của lịch sử, thanh niên Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã gánh vác được những nhiệm vụ nặng nề nhất của Tổ quốc yêu cầu và đã góp phần làm nên truyền thống vẻ vang cho dân tộc.

 

Hơn mười năm đổi mới và hiện nay đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, những biến đổi của tình hình trong nước và quốc tế có tác động mạnh mẽ đến thanh niên cả nước và ở mỗi địa phương. Thanh niên đang có những thay đổi về cơ cấu xã hội, địa vị kinh tế, tư tưởng chính trị, tâm lý, lối sống v.v... những thay đổi này diễn ra mạnh mẽ, bên cạnh những yếu tố tích cực là những hạn chế tiêu cực. Vì vậy cần có những chính sách, giải pháp thích hợp để phát huy, phát triển và quản lý Nhà nước về thanh niên, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta.

 

2- Đối tượng nghiên cứu:

         

          Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thanh niên tỉnh Cà Mau, công tác Đoàn và phong trào thanh niên 5 năm qua; cả về mặt lý luận, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với thanh niên và thực trạng tình hình thanh niên tỉnh Cà Mau trên các lĩnh vực đời sống xã hội.

 

3- Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:

- Nghiên cứu tìm hiểu cơ sở lý luận, phương pháp luận về vấn đề thanh niên, những quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với thanh niên.

- Điều tra, khảo sát, phân tích số liệu, đánh giá thực trạng tình hình thanh niên tỉnh Cà Mau; dự báo xu hướng phát triển thanh niên đến năm 2010.

- Tổng kết kinh nghiệm và mô hình thực tiễn về công tác Đoàn và phong trào thanh niên tỉnh Cà Mau 5 năm qua.

- Đề xuất giải pháp đẩy mạnh công tác Đoàn và phong trào thanh niên tỉnh Cà Mau trong những năm tới.

- Đề xuất phương hướng xây dựng văn bản chiến lược, các chính sách cần thiết và chương trình hành động phát triển thanh niên trong giai đoạn mới.

 

4- Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về nhân tố con người, vai trò của các cơ quan quản lý, của tổ chức chính trị xã hội và hệ thống các chính sách.

- Điều tra tổng thể và điều tra xã hội học.

- Phân tích thực tiễn; tổ chức tọa đàm, hội thảo, so sánh; tổng kết đánh giá.

 

5- Thời gian nghiên cứu: 2 năm

 

 

6- Cái mới của đề tài:

- Nghiên cứu vấn đề chưa có tiền lệ ở Cà Mau cũng như các tỉnh ở  khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Dự báo về tình hình thanh niên và công tác thanh niên đến năm 2010.

- Đề xuất phương hướng xây dựng chính sách, bổ sung hoàn thiện chính sách liên quan đến đối tượng thanh niên thuộc thẩm quyền của Nhà nước ở cấp Trung ương; xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và công tác quản lý Nhà nước về thanh niên ở tỉnh Cà Mau.

 

 

PHẦN I

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THANH NIÊN

VÀ CÁC TỔ CHỨC CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM

 

Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, vấn đề thanh niên đã được tất cả các quốc gia, các thời đại coi là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Trong kho tàng tri thức của loài người đã lưu giữ lại những tư tưởng, quan điểm, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà sư phạm, các danh nhân văn hóa về thanh niên.

 

Trong kho tàng tri thức đó học thuyết Mác-Lê-nin với bản chất cách mạng và khoa học đã có những quan điểm lý luận mẫu mực về nhiều vấn đề của thanh niên. Trên cơ sở những tư tưởng, những dự báo mang tính khoa học của C.Mác, ăng-ghen và Lê-nin, chúng ta có thể tìm thấy ý nghĩa phương pháp luận khoa học và vận dụng một cách sáng tạo trong hoạt động thực tiễn hôm nay.                                            

 

I- MÁC, ĂNG-GHEN, LÊ-NIN: BÀN VỀ VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA THANH NIÊN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

 

1- Một trong những phát hiện vĩ đại nhất của C.Mác là học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản hiện đại, một giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến và luôn luôn phát triển cùng với cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật. Theo Mác, giai cấp vô sản chỉ được hình thành với tư cách một giai cấp khi nó ý thức được địa vị và tương lai của nó: “... Những công nhân tiên tiến nhất hoàn toàn hiểu rõ rằng, tương lai của giai cấp công nhân và do đó tương lai của nhân loại, hoàn toàn phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên [1]. Trong bối cảnh của xã hội tư bản đương thời (cuối thế kỷ XIX), Mác cho rằng “Cần phải giải thoát cho thanh, thiếu niên khỏi sự tác động có tính chất phá hoại của hệ thống hiện đại[2]. Chính Mác đã gọi thanh niên là cội nguồn sự sống của dân tộc và giai cấp công nhân là bộ xương của mỗi cơ chế dân tộc.

 

          2- Ăng-ghen đã đề xuất tư tưởng: Thanh niên không thể đứng ngoài chính trị, chính hiện thực cuộc sống đã, đang và sẽ cuốn hút tuổi trẻ vào đời sống chính trị. Ngay khi mới 19-20 tuổi, trong các thư gửi cho bạn bè, ăng-ghen đã chế nhạo cái nguyện vọng của những chàng trai, cô gái muốn sống bình lặng, muốn “giam mình trong vương quốc của điền viên”, với thái độ “Mũ ni che tai”, bàng quan trước thời cuộc. Với lòng hứng khởi, với niềm tin vô hạn vào tiềm năng của thế hệ trẻ ở Đức, ông nhấn mạnh rằng, thanh niên không bao giờ thỏa mãn với lý tưởng trước đây, họ muốn được tự do hơn trong hành động, họ khao khát lập chiến công và vì sự đổi mới, họ sẵn sàng hiến dâng cả máu và cuộc đời mình. Thanh niên sẽ có đủ sức lực và tài năng để giải quyết những mâu thuẫn đang nảy sinh trong đời sống của đất nước. Điều đáng lưu ý là niềm tin ấy đã được nhen lên trong tâm trí của ăng-ghen trong điều kiện của chế độ quân chủ chuyên chế với lưỡi lê và họng súng. Vào năm 1845, ăng-ghen đã viết rằng, chính thanh niên nước Đức đòi hỏi phải thực hiện cuộc cách mạng trong tương lai ở nước này.

 

3- Mác và Ăng-ghen luôn luôn gắn thanh niên với giai cấp công nhân và đội tiên phong chiến đấu của nó. ăng-ghen là người đầu tiên đưa ra các quan niệm như: “đội quân xung kích quyết định của đạo quân vô sản quốc tế, đội hậu bị của Đảng” để gắn với thanh niên. Vào năm 1853, khi “Đảng của Mác” đã khẳng định vị trí của mình trên vũ đài lịch sử, trong cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại những đạo luật đặc biệt của Bít-xmắc. ăng-ghen viết: “Chính thế hệ trẻ sẽ là nguồn bổ sung dồi dào nhất cho Đảng.

 

        4- Phát triển sáng tạo những luận điểm của Mác và ăng-ghen trong điều kiện lịch sử mới, V.I.Lê-nin đã coi thanh niên là “nguồn sinh lực chiến đấu của cách mạng. ông đã luận giải những nguyên nhân làm xuất hiện phong trào thanh niên, phát hiện ra những đặc điểm của nó và xác định mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa các tổ chức thanh niên với các Đảng Cộng sản. Đánh giá rất cao tiềm năng sáng tạo của tuổi trẻ, Lê-nin không nghi ngờ về khả năng hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ của cách mạng mà các thế hệ trước chưa kịp hoàn thành. Ngay cuối thế kỷ XIX, ông đã viết: “người ta quan sát thấy trong thanh niên công nhân một khát vọng nồng cháy không gì kìm hãm được tới lý tưởng của dân chủ và CNXH.[3] Lê-nin đã sớm nhìn thấy vai trò cách mạng to lớn của thanh niên học sinh, sinh viên. ông đã thường xuyên nhắc nhở những người bạn chiến đấu của mình rằng phải kiên trì đấu tranh để hợp nhất phong trào học sinh, sinh viên thành một trào lưu chung theo tinh thần của chủ nghĩa Mác cách mạng. ông cho rằng, thành công của phong trào thanh niên chính là ở chỗ biết gắn liền nhận thức lý luận của chủ nghĩa Mác, tri thức khoa học với sự tham gia trực tiếp của họ vào cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp vô sản.

 

II- HỒ CHỦ TỊCH: THANH NIÊN LÀ ĐỘNG LỰC CHỦ YẾU CỦA CÁCH MẠNG, LÀ NGƯỜI CHỦ TƯƠNG LAI CỦA ĐẤT NƯỚC

 

          Hơn nửa thế kỷ hoạt động, Hồ Chủ tịch luôn quan tâm đến lớp trẻ của dân tộc, luôn đánh giá cao tiềm năng to lớn, vai trò, vị trí trọng yếu của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, Người đã dành nhiều thời gian, dồn tâm lực để gieo mầm cách mạng vào lớp người trẻ tuổi Việt Nam, không ngừng đào tạo và bồi dưỡng hết thế hệ thanh niên này đến thế hệ thanh niên khác. Ngay từ đầu năm 1924, tấm gương hoạt động cách mạng và những bài báo của Nguyễn ái Quốc đã có sức hấp dẫn rất lớn đối với thanh niên, cổ vũ thanh niên nước ta đứng lên làm cách mạng. Việc thành lập tổ chức “Hội Việt Nam thanh niên cách mạng (với hạt nhân là cộng sản đoàn) để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam và việc sáng lập tờ báo cách mạng mang tên “Thanh niên” đã chứng tỏ Hồ Chủ tịch có một tầm nhìn chiến lược, khi Người biết rằng chỉ có thanh niên mới có thể “nắm vai trò là những người châm ngòi lửa đầu tiên cho cách mạng nước ta[4]. Trong toàn bộ tiến trình của cách mạng Việt Nam, Hồ Chủ tịch luôn coi thanh niên là động lực chủ yếu của cách mạng. Từ năm 1921, trong màn đêm dày đặc của chế độ thực dân, Người đã nhận thấy vai trò ấy: “... Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến[5]. Bộ phận ưu tú ở đây chính là lớp thanh niên đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Người coi “thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai, thanh niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa”, “thanh niên là lực lượng cơ  bản trong bộ  đội,  công an và dân quân tự vệ” và trong mọi công việc, thanh niên thi đua thực hiện khẩu hiệu: “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên làm[6]. Người đã tổng kết: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc: Dân tộc bị nô lệ thì thanh niên cũng bị nô lệ. Dân tộc được giải phóng, thanh niên mới được tự do. Vì vậy thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc[7] ... Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản, chắc chắn thanh niên sẽ hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ rất vẻ vang của đạo quân tiên phong trong sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

 

Gắn thanh niên với vận mệnh của dân tộc, Hồ Chủ tịch, trong nhiều bài nói và viết của mình đã luận giải một cách giản dị, thuyết phục rằng: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”. “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cho cái tương lai đó[8].

 

Tư tưởng bao trùm của Bác đối với thanh niên và đó cũng là lời dăn của Người đối với Đảng, với dân trước lúc đi xa: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết[9].

 

III- NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THANH NIÊN

 

Những quan điểm về lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh niên của Đảng và Nhà nước ta là sự kế thừa có tính nhất quán, liên tục, xuyên suốt tư tưởng của Đảng và Hồ Chủ tịch ngay từ những năm tháng đầu tiên xây dựng chính quyền cách mạng nhân dân. Sự nhất quán đó thể hiện tư tưởng trước sau như một của Đảng, Nhà nước ta đối với chiến lược quốc gia phát triển nguồn lực thanh niên.

 

Bác dạy: “Kiến thiết cần có nhân tài. Hiện nay công cuộc đổi mới đất nước đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, con người là nguồn lực chủ yếu và quyết định cho sự nghiệp cách mạng này thành công. Đất nước đang và sẽ cần nhiều những nhà khoa học giỏi, những nhà doanh nghiệp, những nhà tư tưởng và chính khách tầm cỡ. Để đáp ứng yêu cầu thực tế này, chúng ta phải tin cậy, tin tưởng và dựa vào sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ cán bộ, sỹ quan, trí thức trẻ, những danh nhân trẻ của đất nước.

 

1- Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều 66 nói về thanh niên : “Thanh niên được gia đình, nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.

 

2- Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị khóa V về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên chỉ rõ: “Làm tốt công tác thanh niên là bảo đảm sự phát triển không ngừng của chế độ ta, bảo đảm hiện tại cũng như tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam”. Nghị quyết còn nhấn mạnh “Nhà nước coi thanh niên là một bộ phận của chiến lược kinh tế-xã hội”. Tiếp theo tinh thần đó, Nghị quyết 25 Bộ Chính trị khóa VI nêu rõ: “Đảng, Nhà nước và toàn dân ta phải hết lòng bồi dưỡng, phát huy tiềm năng và vai trò chủ động của thanh niên trên mọi lĩnh vực của công cuộc đổi mới, coi đó là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược con người.

 

3- Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về công tác thanh niên trong thời kỳ mới ngày 14 tháng 1 năm 1993 đã đánh giá về thanh niên toàn diện hơn. Nghị quyết nêu lên 5 phương hướng lớn trong chính sách thanh niên. Đó là:

 

3.1- Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Đúng như Bác Hồ đã nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, vì vậy vấn đề thanh niên phải đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người.

 

Đảng đặt niềm tin sâu sắc vào thanh niên, phát huy vai trò làm chủ và tiềm năng to lớn của thanh niên để thanh niên thực hiện được sứ mệnh lịch sử, đi đầu trong cuộc đấu tranh chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng và bảo vệ đất nước giàu mạnh, xã hội văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

 

3.2- Đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng và tạo mọi điều kiện cho thanh niên phấn đấu để hình thành một thế hệ con người mới có lý tưởng cao đẹp, có ý thức trách nhiệm công dân, có tri thức có sức khỏe và lao động giỏi, sống có văn hóa và tình nghĩa, giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính. Cổ vũ TN Việt Nam nuôi dưỡng hoài bão lớn, tự cường dân tộc, năng động, sáng tạo, làm chủ được khoa học và công nghệ mới, vươn lên ngang tầm thời đại, sánh vai cùng thanh niên các nước trên thế giới. Hình thành một lớp thanh niên nam, nữ ưu tú, vững vàng về chính trị, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, tiêu biểu cho thế hệ trẻ, trở thành những nhà lãnh đạo, quản lý, kinh doanh giỏi, những chuyên gia xuất sắc trên mọi mặt hoạt động của xã hội, những trí thức uyên bác chiếm lĩnh các đỉnh cao của khoa học, những văn nghệ sĩ có tài năng, những người lao động có tay nghề cao.

 

3.3- Phát huy lực lượng và tiềm năng của thế hệ trẻ.

- Giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho thanh niên là một ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Khuyến khích thanh niên hăng say lập nghiệp, tự tạo việc làm và giúp nhau tạo việc làm. Nhà nước tổ chức và huy động thanh niên tham gia xây dựng các công trình, các lĩnh vực, các vùng kinh tế quan trọng; đầu tư ngân  sách thích đáng cho các chương trình giải quyết việc làm. Mở rộng việc cho các gia đình vay vốn để sản xuất kinh doanh. Sửa đổi, bổ sung những quy định về quản lý lao động và cư trú để thanh niên dễ dàng tìm việc làm. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Mở rộng mạng lưới dạy nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên.

- Đáp ứng thiết thực các yêu cầu về học tập, lao động, sinh hoạt văn hóa, du lịch, thể dục, thể thao, xây dựng hạnh phúc gia đình cho thanh niên.

- Bồi dưỡng tài năng trẻ, giao việc cho thanh niên; sử dụng và đề bạt cán bộ trẻ vào các vị trí xứng đáng với đức - tài của họ; nâng cao tỷ lệ cán bộ trẻ trong cơ quan lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành.

- Tổ chức tốt việc phục hồi chức năng, chăm lo dạy nghề, dạy văn hóa, bố trí việc làm thích hợp cho thương binh, thanh niên, thiếu niên tàn tật.

- Có chủ trương, biện pháp cụ thể thích hợp đối với hoạt động của thanh niên dân tộc.

 

3.4- Xây dựng Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là đội dự bị tin cậy của Đảng. Củng cố tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động của Đoàn, nhất là đoàn cơ sở. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn, nhất là cán bộ đoàn cơ sở. Đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên trong các tổ chức của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh làm nòng cốt. Chăm lo xây dựng Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh và các hình thức tập hợp, giáo dục nhi đồng.

 

3.5- Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh là điều kiện phát triển của thế hệ trẻ và cũng là nhiệm vụ của chính thanh niên,

Tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách: thiết lập trật tự kỷ cương xã hội, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật; chống văn hóa độc hại, đồi trụy, mê tín, dị đoan; chống nạn ma túy, mại dâm, cờ bạc; chống tham nhũng, buôn lậu, làm hàng giả và các hành vi tội phạm, bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội.

Xây dựng và thực hiện các quy ước về nếp sống văn minh ở các địa bàn dân cư, các đơn vị cơ sở, trường học, những nơi công cộng.

Xây dựng gia đình văn hóa, tăng cường trách nhiệm của gia đình trong việc giáo dục, chăm sóc thanh, thiếu niên.

 

4- Để thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 của BCH Trung ương Đảng (khóa VII), Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị số 145/TTg ngày 06/4/1993 về việc thanh niên tham gia thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội. Chỉ thị nêu 6 vấn đề chủ yếu như sau:

 

4.1- Về vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên, hướng chủ yếu là thanh niên tự tìm việc làm phù hợp, cùng góp vốn phát triển sản xuất, mở mang các hoạt động dịch vụ theo các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế mà Nhà nước đã ban hành.

 

4.2- Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Bộ Lâm nghiệp có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho Đoàn thanh niên tham gia tích cực vào chương trình khuyến nông, cấp vốn đầu tư và hướng dẫn quy hoạch cho TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xây dựng một số trung tâm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nghề nông cho thanh niên ở các vùng kinh tế.

 

4.3- Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - TBXH, Bộ Giáo dục-đào tạo, Bộ y tế cân đối ngân sách, trên cơ sở sắp xếp lại các cơ sở hiện có và xác định rõ quy hoạch, cấp vốn đầu tư cho Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xây dựng một số cơ sở để chữa bệnh, dạy nghề, tạo cơ sở sản xuất và tìm việc làm thích hợp cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em lang thang cơ nhỡ, những thanh thiếu niên nghiện hút xì ke ma túy và các phụ nữ làm nghề mại dâm.

 

4.4- Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xây dựng đề án và bàn với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, các Bộ chuyên ngành, Bộ Lao động-TBXH về việc Đoàn nhận vốn xây dựng và thực hiện các dự án thuộc quyết định 327 về phủ xanh đất trống đồi trọc... trên cơ sở các dự án đã được cấp thẩm quyền phê duyệt.

 

Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Bộ Lao động-TBXH cân đối ngân sách, tìm thêm nguồn vốn, hoặc trích từ quỹ quốc gia về giải quyết việc làm dành cho Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh một số vốn để hỗ trợ vốn ban đầu cho thanh niên lập nghiệp, giải quyết việc làm; đặc biệt là Ngân hàng và các tổ chức tín dụng các địa phương chú trọng dành vốn cho các hộ gia đình trẻ nghèo vay để sản xuất kinh doanh có sự bảo trợ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh từ cấp xã trở lên.

 

4.5- Từ năm 1994, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là một đầu mối để xây dựng các chương trình, dự án phát triển KT-XH, kể cả các chương trình, dự án về khuyến nông, xóa đói giảm nghèo, các dự án thuộc quyết định 327 và dự án thuộc nguồn vốn giải quyết việc làm và được phân bổ vốn ngay từ đầu năm để Đoàn TN thực hiện và quản lý các chương trình và dự án đã được cấp có thẩm quyền xét duyệt.

 

 

IV- HỆ THỐNG CỦA CÁC TỔ CHỨC THANH NIÊN

 

Hiện nay ở nước ta có cơ quan quản lý nhà nước về thanh niên, có 3 tổ chức về thanh niên và đơn vị thanh niên xung phong.

- Uỷ ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam (là cơ quan quản lý nhà nước về thanh niên được thành lập ở cấp Trung ương).

- Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (được tổ chức theo hệ thống từ TW đến cơ sở).

- Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (được tổ chức theo hệ thống từ TW đến cơ sở).

- Hội Sinh viên Việt Nam (được tổ chức trong trường Đại học, Cao đẳng).

- Đơn vị thanh niên xung phong (do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp lập ra).

 

1- Uỷ ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam:

 

Ngày 13/2/1998 Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Uỷ ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam để giúp Thủ tướng Chính phủ trong việc tổ chức phối hợp giải quyết những vấn đề quan trọng liên quan về thanh niên. Uỷ ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam có nhiệm vụ và quyền hạn:

+ Đề xuất và kiến nghị với các cơ quan Nhà nước trong việc soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách về thanh niên.

+ Tổ chức việc phối hợp với các cơ quan liên quan để hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế thực hiện pháp luật và chính sách đối với thanh niên.

+ Thực hiện các hoạt động đối ngoại về mặt Nhà nước trong lĩnh vực thanh niên theo quy định.

- Cơ cấu tổ chức Uỷ ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam bao gồm: Chủ nhiệm; phó chủ nhiệm và các ủy viên là đại diện lãnh đạo của các bộ, ngành Trung ương thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm theo sự phân công.

 

2- Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh:

- Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đoàn là thành viên của hệ thống chính trị, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật. Đoàn được xây dựng trên nguyên tắc cơ bản là tập trung dân chủ. Hệ thống tổ chức của Đoàn có 4 cấp từ TW đến cơ sở gồm:

+ Trung ương Đoàn

+ Tỉnh, thành Đoàn và các đơn vị tương đương.

+ Huyện, quận Đoàn và các đơn vị tương đương.

+ Tổ chức cơ sở Đoàn (Đoàn cơ sở và chi đoàn).

- Tổ chức cơ sở là nền tảng của Đoàn, được thành lập theo địa bàn dân cư, trong các cơ quan, trường học, đơn vị kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng. Đơn vị nào có từ 3 đoàn viên trở lên được thành lập chi đoàn. Chi đoàn là tổ chức tế bào của Đoàn.

- Thanh niên Việt Nam tuổi từ 15 đến 30, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội; tích cực trong học tập, lao động, hoạt động xã hội và bảo vệ Tổ quốc; thừa nhận điều lệ Đoàn đều có thể trở thành đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh.

 

3- Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam:

- Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam là một tổ chức xã hội rộng rãi của thanh niên và các tổ chức thanh niên Việt Nam yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Mọi nam, nữ thanh niên Việt Nam tuổi đời từ 15 đến 35 và các tổ chức thanh niên Việt Nam tán thành điều lệ Hội đều có thể gia nhập Hội. Hệ thống tổ chức của Hội có 4 cấp từ trung ương đến cơ sở gồm:

+ Uỷ ban Trung ương Hội.

+ Uỷ ban Hội các tỉnh, thành và tương đương.

+ Uỷ ban Hội huyện, quận và tương đương.

+ Uỷ ban Hội xã, phường và tương đương.

- Chi hội (Câu lạc bộ, đội, nhóm, tổ thanh niên) là tổ chức tế bào của Hội được tổ chức và hoạt động không phân biệt địa bàn hành chính mà căn cứ vào nhu cầu nghề nghiệp, hoạt động văn hóa xã hội, năng khiếu, sở thích để quy tụ thanh niên tự nguyện tham gia vào các loại hình đó, cùng hoạt động vì lợi ích chung của xã hội và lợi ích của từng thành viên.

- Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là thành viên tập thể có vai trò nòng cốt trong mọi hoạt động của Hội.

 

4- Hội Sinh viên Việt Nam:

- Hội Sinh viên Việt Nam là tổ chức chính trị-xã hội của giới sinh viên Việt Nam, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước và trong sự phối hợp chặt chẽ với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, trong đó Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có vai trò nòng cốt.

Hội Sinh viên Việt Nam là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và Hội Liên hiệp Sinh viên quốc tế.

- Tổ chức Hội Sinh viên được thành lập trong các trường Đại học, Cao đẳng trong nước. Hội viên gồm những sinh viên là công dân Việt Nam đang học tập tại các trường đại học, cao đẳng trong và ngoài nước tán thành điều lệ Hội, tự nguyện gia nhập Hội và được xem xét chấp nhận của một cấp bộ Hội.

 

5- Thanh niên xung phong:

- Thanh niên xung phong ra đời từ những năm 1950, trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, thanh niên xung phong đã làm nên truyền thống vẻ vang và vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang.

- Trong giai đoạn hiện nay, theo quyết định số 770/TTg ngày 20/12/1994 của Thủ tướng Chính phủ: “Thanh niên xung phong là hình thức tổ chức lực lượng xung kích của thanh niên do Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức ra nhằm tập hợp thanh niên xung kích thực hiện các chương trình, dự án KT-XH, giải quyết việc làm, vừa giaó dục, rèn luyện và đào tạo nghề nghiệp cho thanh niên”.

- Thanh niên xung phong chỉ thành lập ở đơn vị thực hiện các chương trình, dự án hoặc được giao một số nhiệm vụ trong từng thời gian, theo các hình thức: Đội thanh niên xung phong, Tổng đội thanh niên xung phong, Trường thanh niên xung phong, Trung tâm thanh niên xung phong dạy nghề cho các đối tượng xã hội.

- Tổ chức Đoàn các cấp được đứng ra thành lập đơn vị thanh niên xung phong của cấp mình để thực hiện các nhiệm vụ: thực hiện chương trình, dự án của Nhà nước về phát triển KT-XH ở các vùng có nhiều khó khăn (như miền núi, vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo), vùng đất hoang hóa ở đồng bằng, vùng bãi bồi ven sông ven biển; thực hiện một số nhiệm vụ cần có lực lượng xung kích trong từng thời gian ở nơi có khó khăn như khắc phục hậu quả thiên tai, vệ sinh phòng bệnh, chữa bệnh, dạy học, phổ biến khoa học kỹ thuật..., giáo dục lao động cho các đối tượng xã hội, góp phần giải quyết các tệ nạn xã hội (mại dâm, ma túy).

- Lực lượng thanh niên xung phong gồm các thanh niên từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, tự nguyện tham gia.

 

 

PHẦN II

TÌNH HÌNH THANH NIÊN TỈNH CÀ MAU HIỆN NAY

 

I- THANH NIÊN TRONG CÁC LĨNH VỰC XÃ HỘI

 

1- Khái niệm:

Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách. Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên.

Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn xác định trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể. Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm. Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực. Với các triết gia, văn nghệ sĩ, thanh niên lại được định nghĩa bằng cách so sánh hình tượng: “thanh niên là mùa xuân của xã hội” là “bình minh của cuộc đời.

Để nhìn nhận đánh giá thanh niên một cách tương đối toàn diện, có thể bao hàm được các nội dung, ý nghĩa nêu trên, phạm vi đề tài này thanh niên được hiểu là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ 15, 16 tuổi đến trên dưới 30 tuổi, gắn với mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội và có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội.

Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân v.v.. mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau. Nhưng hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 hoặc 16. Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt. Có nước quy định là 25 tuổi, có nước quy định là 30 tuổi và cũng có nước cho đó là tuổi 40. Nhưng xu hướng chung là nâng dần giới hạn kết thúc của tuổi thanh niên.

Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với các nhóm lứa tuổi khác. Nhưng cũng Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ em lại xác định trẻ em đến dưới 18 tuổi.

Ở Việt Nam có một thời gian khá dài tuổi thanh niên được hiểu gần như đồng nhất với tuổi đoàn viên (15 đến 28 tuổi). Ngày nay do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiều đặc điểm khác mà chúng ta cho thanh niên là những người trong độ tuổi từ 16 đến 30. Tuy nhiên cần phải phân biệt rõ tuổi đoàn viên và tuổi thanh niên. Theo điều lệ Đoàn thì Đoàn là một tổ chức chính trị xã hội của thanh niên, bao gồm những thanh niên ưu tú trong độ tuổi 15 đến 30.  Hết tuổi đoàn viên theo quy định, người đoàn viên đó vẫn có thể tự nguyện tiếp tục sinh hoạt trong tổ chức Đoàn hoặc tham gia vào Hội liên hiệp thanh niên và các hoạt động khác của Đoàn và phong trào thanh niên đến 35 tuổi.

Với cách hiểu chung nhất về tuổi thanh niên như vậy nhưng do những điều kiện khách quan của công tác thống kê tập hợp số liệu nên trong đề tài này, tùy nội dung phân tích, khai thác và có chỗ phải sử dụng số liệu theo cách hiểu truyền thống, có chỗ phải sử dụng số liệu do các sở ngành cung cấp, hoặc có chỗ sử dụng số liệu tổng hợp của Đoàn, của Hội… nhưng tựu chung đều nhằm mục đích khắc họa được tình hình và diện mạo của thanh niên tỉnh Cà Mau hiện nay một cách khách quan, khoa học.

 

2- Sự phát triển dân số của tỉnh Cà Mau và thanh niên trong cơ cấu của sự phát triển dân số

2.1- Quá trình phát triển dân số ở tỉnh Cà Mau

Cà Mau là miền đất trẻ, mới được khai phá mạnh vào khoảng 300 năm nay, đến nay ta chưa tìm được tài liệu nào ghi rõ dân số từng giai đoạn là bao nhiêu. Trong cuốn niên giám thống kê của viện Quốc gia Thống kê (ngụy quyền Sài Gòn) quyển số 16 ghi dân số tỉnh Cà Mau năm 1970: (An Xuyên) 176.076 người mật, độ trung bình 53 người/km2. Chắc chắn đây là con số chưa thể chính xác vì đang lúc chiến tranh ác liệt, Cà Mau là vùng căn cứ cách mạng. Nghiên cứu số liệu về nhóm người cao tuổi ở Cà Mau hiện nay từ 60 trở lên tương ứng với năm sinh từ năm 1937 trở về trước có gần 70.000 người, thì trung bình mỗi năm tuổi có khoảng 4.000 người đến 4.500 người được sinh ra. Bằờng phương pháp biểu diễn họa đồ cứ 20 năm dân số Cà Mau tăng lên gấp đôi thì vào năm 1935 dân số Cà Mau có khoảng 132.000 người. Lấy năm 1970 để tính những người tuổi từ 27 tuổi trở về trước hiện nay đang còn sống đã là 413.000 người (đó là chưa tính người già chết, những người hy sinh và người bị chết trong chiến tranh) thì năm 1970 dân số Cà Mau phải là 450.000 người.

Đến năm 1975 dân số Cà Mau - Bạc Liêu ghép lại có 964.000 người. Theo số liệu điều tra dân số ngày 1/10/1979 Cà Mau và Bạc Liêu có 1.209.000 người; người kinh 92,6%, kế đến là người Khmer 4,1%, người Hoa 3,3%.

Đến cuối năm 1996 dân số tỉnh Minh Hải có 1.840.000 người, là một trong những tỉnh đông dân của đồng bằng Cửu Long. Đầu năm 1997 khi tách tỉnh Minh Hải thành tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu thì Cà Mau có 1.089.393 người, mật độ dân số là 209 người/km2; người kinh 1.044.913 chiếm tỷ lệ 95,92%, người Khmer 23.480 chiếm tỷ lệ 2,15%, người Hoa 21.000 chiếm tỷ lệ 1,92%.

Nhịp độ dân số Cà Mau tăng trung bình 2,5%/năm, từ năm 1976 đến 1985 có thêm 268.200 người; từ năm 1986 đến năm 1995 có thêm 273.170 người, như vậy 20 năm qua mỗi năm có thêm 27.000 người.  Vì vậy cơ cấu dân số tỉnh Cà Mau rất trẻ; tỷ lệ dưới 18 tuổi 46,25%, trong độ tuổi lao động 46,3%, người già 7,34%. Sự phân bố dân cư ở nông thôn 83,92%, ở đô thị 16,08%.

 

2.2- Thanh niên trong cơ cấu dân số

Thanh niên tỉnh Cà Mau từ 16 đến 30 tuổi có 285.094 người, chiếm tỷ lệ 26,16% dân số. So với 5 năm trước, thanh niên hiện nay nhiều hơn 34.000 người. Dự báo 5 năm tới số lượng thanh niên sẽ là 360.000 (tăng 75.000 người) chiếm tỷ lệ 29% dân số; đến năm 2006 số lượng thanh niên sẽ đạt mức kỷ lục là 420.000 người, bằng 32% dân số và ở đứng mức này 5 năm nữa. (Xem biểu số 12)

Xét ở nhóm dưới 5 tuổi tỷ lệ đang có xu hướng giảm dần cùng với việc hạ tỷ lệ phát triển dân số. Năm 1995 tỷ lệ phát triển dân số của tỉnh 2,07%, năm 1996 là 1,99%, năm 1997 hạ xuống dưới 1,92%; kế hoạch phấn đấu trong những năm tới sẽ xuống dưới 1,8%. Thanh niên ngày nay đã nhận thức được vấn đề sinh đẻ và kế hoạch hóa gia đình, đa số có tâm lý đẻ ít để nuôi dạy cho tốt. Khảo sát ở chỉ tiêu 19 khi hỏi “bạn có biết thực hiện kế hoạch hóa gia đình không” “thì 789 ý kiến đã trả lời biết bằng 81,42%; 180 ý kiến trả lời không biết bằng 18,58%. Hỏi về nguyện vọng có mấy con và sinh con trai hay con gái thì ý kiến trả lời theo thứ tự ở chỉ tiêu số 33 như sau: 448 ý kiến (52,27%) muốn có 2 con trong đó 1 trai 1 gái; 259 ý kiến (30,22%) muốn có 2 con bất kể trai hay gái; 84 ý kiến (9,8%) trả lời có 1 con bất kể trai hay gái; 49 ý kiến  (5,72%) trả lời có 3 con, có trai có gái; 12 ý kiến (1,4%) trả lời có 1 con trai và 5 ý kiến (0,58%) trả lời chỉ sinh 1 con là con gái. Kết quả này cho thấy nhận thức về việc sinh con của thanh niên khá rõ, về số lượng đa số muốn sinh 2 con, về giới tính lại khá bình đẳng “sinh con trai hay con gái cũng được” ít phải chịu sức ép tâm lý sinh con trai nối dõi. Vấn đề này đối chiếu với thực tế và so sánh chung với thanh niên cả nước thì thanh niên Cà Mau có sự tiến bộ nổi trội, thuận lợi cho việc vận động thanh niên xây dựng kế hoạch hóa gia đình với quy mô: “ít con, giàu có, hạnh phúc.

Trong những năm trước mắt tỷ lệ trẻ em hàng năm sinh ra đang giảm dần, nhưng đến năm 2.014 trở đi tỷ lệ thanh niên mới giảm dưới 30% dân số, nhìn chung tỷ lệ thanh niên vẫn còn cao gây sức ép lớn về vấn đề lao động giải quyết việc làm, về giáo dục đào tạo về nâng cao sức khỏe cũng như các vấn đề xã hội khác.

Thanh niên ta là một lực lượng xã hội đông đảo, một nguồn lực lao động dồi dào, nếu được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy đúng mức sẽ trở thành thế mạnh trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

3- Tình hình học vấn và phát triển tài năng của thanh niên

- Liên tục trong 7 năm qua số lượng học sinh ở các cấp học, ngành học trong tỉnh đều tăng. Năm học 1991 - 1992 có 172.473 học sinh phổ thông, đến năm học 1997 - 1998 có 264.300 học sinh phổ thông (tăng bình quân 8%/năm) bằng 24,24% dân số. Dự báo số học sinh sẽ tiếp tục tăng vào các năm tới, chủ yếu ở trung học cơ sở và phổ thông trung học, tình hình này tác động thuận lợi chủ yếu đến trình độ lực lượng thanh niên trong tương lai. Số lượng học sinh tốt nghiệp các cấp, học sinh giỏi, học sinh thi đậu các trường đại học, trung học chuyên nghiệp hàng năm cũng đều tăng; điều đó thể hiện thanh niên ngày nay đang được quan tâm học tập, đào tạo và có trình độ học vấn cao hơn thế hệ trước.

- Điều tra trình độ văn hóa của 300.000 thanh niên từ 15 đến 35 tuổi, cho thấy tỷ lệ mù chữ 4%; chưa hết cấp I: 24,47%; hết cấp I: 50,77%; tốt nghiệp cấp II: 15,51%, tốt nghiệp cấp III: 3,73%. (xem biểu số 6 và biểu số 24). Như vậy mặt bằng dân trí của thanh niên vào khoảng lớp 5, lớp 6.

- Điều tra về trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động xã hội thì thanh niên là công nhân kỹ thuật có 7.015 bằng 55,23% so với lao động công nhân kỹ thuật và bằng 2,46% so với tổng số thanh niên; trung học chuyên nghiệp có 3.668 bằng 61,44% so với lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp và bằng 1,29% so với tổng số thanh niên; tốt nghiệp cao đẳng, đại học 2.255 bằng 54,65% so với lao động xã hội có trình độ tương đương và bằng 0,8 so với tổng số thanh niên. (Xem biểu số 6 và biểu số 23).

So sánh với cả nước thanh niên có trình độ cấp I chiếm tỷ lệ 43,3%, cấp II chiếm lỷ lệ 36,2%, cấp III chiếm tỷ lệ 10,4%; trung học chuyên nghiệp 2,8%, cao đẳng và đại học 1,2% thì mặt bằng dân trí của thanh niên Cà Mau còn thấp hơn ở tất cả các cấp học, bâùc học.

- Đối với học sinh sinh viên đang đi học năm học 1997-1998 ở cấp II có 58.298 bằng 45,68% trong độ tuổi; ở cấp III có 9.719 bằng 12,5% trong độ tuổi; trung học chuyên nghiệp có 1.404 bằng 2,4% trong độ tuổi; cao đẳng và đại học có 2.474 bằng 3,33% trong độ tuổi, thì rõ ràng càng lên lớp học cao tỷ lệ nghỉ học tăng dần, nhất là đối với học sinh nữ. Hiện nay tỷ lệ học sinh nữ ở cấp I là 46,88%; ở cấp II là 42,85%; ở cấp III là 36,45%; ở trung học chuyên nghiệp 40,64%; cao đẳng sư phạm 48% và đại học 29,95%.

Mức chênh lệch về giáo dục đào tạo ở lớp học cao giữa đô thị và nông thôn khá sâu sắc. ở thị xã Cà Mau có 5.314 học sinh cấp III bằng 3,0% so với dân số chung của thị xã (và bằng 54,67% học sinh cấp III toàn tỉnh) thì ở huyện Trần Văn Thời là 0,67%; Đầm Dơi 0,5%; U Minh 0,45%; Thới Bình 0,43%; Cái Nước 0,42% và Ngọc Hiển 0,37%. Tuy nhiên hiện nay có xu hướng học sinh nông thôn ra thị xã học cấp II, cấp III, điều đó phản ánh sự cầu thị của các gia đình mong muốn cho con em mình được học và học ở trường có điều kiện đào tạo tốt. Mặt khác cũng phản ánh việc học lên lớp học cao của thanh niên nông thôn đang gặp nhiều khó khăn như điều kiện đi lại, xa nhà và phải chi phí tốn kém - sẽ ngoài khả năng của các gia đình thu nhập thấp và những thanh niên lực học trung bình không đủ ý chí vượt qua.

- Đối chiếu với số người đang đi học phổ thông trong nước và ở các tỉnh trong khu vực thì ở Cà Mau cũng thấp hơn so với các tỉnh đồng bằng Cửu Long và cả nước. (Xem biểu số 13 và 14).

- Về nguyện vọng học tập của thanh niên, khi phỏng vấn 900 người có 1.666 lượt ý kiến trả lời theo thứ tự ở chỉ tiêu số 34, cho thấy hầu hết thanh niên đều có nguyện vọng được học tập nâng cao trình độ văn hóa và nghề nghiệp chuyên môn, trong đó học để có trong tay nghề nghiệp bảo đảm cho cuộc sống chiếm ưu tiên hàng đầu.

- Các hình thức đào tạo, mặc dù ở tỉnh chưa có trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp nhưng trước đó, khi chưa tách tỉnh, Minh Hải đã hình thành được các trường: Trung tâm Đại học tại chức, Cao đẳng sư phạm, trung học sư phạm, trung học y tế, trung học kinh tế và một số trường nghiệp vụ, kỹ thuật, dạy nghề v.v.. trên thực tế các trường này vẫn mở rộng đối tượng tuyển sinh nên trước mắt và những năm tới Cà Mau vẫn phải đưa học sinh đi đào tạo ở ngoài tỉnh. Mặt khác tỉnh tích cực mở các lớp tại chức bằng nhiều phương thức như học tập trung từng đợt, đào tạo từ xa, chủ yếu cho đối tượng cán bộ, nhân viên. Phương thức này tỏ ra có hiệu quả, hiện tại đang có trên 1.000 người theo học trong đó 35% độ tuổi thanh niên.

Trong khi số sinh viên đại học và cán bộ học đại học tại chức có xu hướng tăng nhanh thì số thanh niên vào các trường trung học chuyên nghiệp chậm lại; hiện tại chỉ có 1.404 người đang theo học. Học sinh khi tốt nghiệp tú tài cũng mong muốn vào đại học để có cơ hội tìm việc làm đang là xu thế chung hiện nay; đồng thời tính thực tế cũng thể hiện rõ như tập trung thi vào các ngành kinh tế, ngoại ngữ, càng đẩy nhanh sự mất cân đối trong cơ cấu đào tạo và ngành nghề. Sự không ăn nhịp này dẫn đến tình trạng một số thanh niên nỗ lực theo học đại học nhưng ra trường không tìm được việc làm phải làm việc chéo nghề, trong khi nhiều ngành thiếu cán bộ khoa học kỹ thuật chuyên ngành, nhất là ngành sư phạm sẽ còn thiếu giáo viên phổ thông trung học trong nhiều năm nữa.

Mặc dù vậy phải thấy rằng thanh niên ngày nay nhận thức rõ hơn giá trị của học vấn và việc học tập đã trở thành nhu cầu cấp bách của đa số thanh niên. Cùng với sự phát triển của sự nghiệp giáo dục - đào tạo và đầu tư của gia đình, xã hội, số thanh niên đến trường lớp học tập ngày càng tăng. Nhiều thanh niên đã học thêm các môn học như ngoại ngữ, tin học và thêm ngành học khác để chuẩn bị hành trang bước vào đời. Nhiều gương học sinh vượt khó để phấn đấu học tập, đáng được khích lệ động viên.

Dự báo 5 đến 7 năm tới mặt bằng dân trí thanh niên của tỉnh sẽ bằng tỷ lệ mặt bằng dân trí thanh niên của cả nước hiện nay. Điều đáng lưu ý hiện nay là thanh niên được đào tạo qua các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và thanh niên trí thức còn thấp, trong khi tỉnh mới chia tách chưa xây dựng các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (ngoại trừ trường trung học sư phạm đang xây dựng); mặt khác số thanh  niên của tỉnh tốt nghiệp đại học nhiều người có tâm lý ở lại thành phố xin việc làm. Vì vậy khả năng tăng nhanh tỷ lệ thanh niên trí thức và thanh niên được đào tạo nghề nghiệp trong những năm tới vẫn tiếp tục gặp khó khăn.

- Việc đào tạo năng khiếu, tài năng trẻ những năm gần đây được xã hội quan tâm nhiều hơn, đã có nhiều hình thức, biện pháp động viên, giúp đỡ kịp thời đối với những thanh niên “vượt khó học tốt” và những năng khiếu, tài năng trẻ bằng các xuất hỗ trợ, xuất học bổng, phần thưởng; thực tế những năm qua số lượng học sinh giỏi của tỉnh không ngừng tăng, trong năm học 1996 - 1997 có 47 em đạt học sinh giỏi vòng quốc gia tương đương với số lượng những năm cao nhất  trước đây  của 2 tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu cộng lại. Trong sản xuất kinh doanh đã xuất hiện một số nhà doanh nghiệp trẻ, “ông chủ” trẻ - đó là những thanh niên có ý chí, có tài về quản lý sản xuất kinh doanh. Ngoài ra nhiều năng khiếu, tài năng khác trên lĩnh vực văn nghệ-thể thao tuổi trẻ Cà Mau cũng đạt giải cao trong các kỳ thi cả nước. Nhưng để đảm bảo cho năng khiếu tài năng trẻ được phát triển, tình hình cơ sở vật chất ở Cà Mau còn nhiều khó khăn thiến thốn: ở các trường học thường chật hẹp thiếu sân chơi, bãi tập, phòng đọc sách, phòng thực hành; các chính sách để phát hiện, tuyển chọn bồi dưỡng và sử dụng năng khiếu, tài năng trẻ chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ mặc dù tỉnh đã thành lập được quỹ hỗ trợ tài năng trẻ; cơ sở vật chất và hoạt động ở các trung tâm văn hóa, thể thao, nhà thiếu nhi, thư viện, bảo tàng v.v.. đều chưa đáp ứng được yêu cầu bồi dưỡng, đào tạo năng khiếu, tài năng trẻ của tỉnh nhà trong tình hình mới.

 

4- Tình hình lao động, nghề nghiệp và việc làm của thanh niên

4.1- Thanh niên trong cơ cấu lao động xã hội và ngành nghề

- Tỉnh Cà Mau hiện nay có trên 500.000 người trong độ tuổi lao động (tính theo nguồn lao động chính từ 18 tuổi đến 60 tuổi đối với nam và từ 18 đến 55 tuổi đối với nữ) chiếm 46% dân số và còn tăng nhanh do sự bùng nổ dân số của những năm trước; sự biến đổi này làm cho nguồn lao động của tỉnh Cà Mau tiếp tục trẻ hóa. Hiện tại lao động là thanh niên có 235.900 chiếm tỷ trọng 47% lao động xã hội. Nguồn dự trữ, bổ sung lực lượng lao động của tỉnh (lứa tuổi 15 - 16 - 17 là 85.000 người). Nếu tính tổng nguồn lao động từ đủ tuổi 15 thì Cà Mau có 585.000, trong đó lao động ở tuổi thanh niên là 320.900 bằng 55% so tổng số lao động. Như vậy hiện nay bình quân mỗi năm có 28.000 thanh niên đến tuổi lao động, nếu trừ đi số thanh niên tiếp tục theo học thì hàng năm có 25.000 thanh niên đến tuổi lao động cần giải quyết việc làm. Bằng phương pháp chuyển tuổi dân số, dự báo đến năm 2000 có 566.000 lao động, trong đó 51% lao động thanh niên; đến năm 2005 có 690.000 lao động, trong đó 52,1% lao động thanh niên; đến năm 2010 có 800.000 lao động, trong đó 52,7% lao động thanh niên. (Xem biểu số 17).

- Trong cơ cấu ngành nghề,(xem biểu số 7) mười năm qua trong quá trình đổi mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã tác động mạnh đến sự phân bố lao động ngành nghề trong tỉnh; đặc biệt là thanh niên luôn nhạy cảm với sự phân bố lao động mới, được thể hiện trên các lĩnh vực và ngành nghề như sau:

Ở lĩnh vực sản xuất vật chất có 185.972 lao động thanh niên chiếm tỷ trọng 44,5% lao động cùng lĩnh vực, được phân ra: lao động nông nghiệp có 116.427 lao động thanh niên, chiếm tỷ trọng 43,68% lao động cùng ngành; lao động ngư nghiệp có 36.252% lao động thanh niên chiếm tỷ trọng 45% lao động cùng ngành; lao động công nghiệp, xây dựng có 11.422 lao động thanh niên chiếm tỷ trọng 52,16% lao động cùng ngành; lao động thương nghiệp, dịch vụ có 18.186 lao động thanh niên chiếm tỷ trọng 44,68% lao động cùng ngành, lao động lâm nghiệp có 3.715 lao động thanh niên chiếm tỷ trọng 44,5% lao động cùng ngành. Cơ cấu trên ta thấy lao động thanh niên có tỷ lệ cao nhất ở sản xuất nông nghiệp: 63,75%; ngư nghiệp 19,27%; thương nghiệp dịch vụ: 9,73%; công nghiệp, xây dựng: 5,23%; lâm nghiệp: 2%. So sánh với cả nước Cà Mau có tỷ lệ lao động nông-ngư-lâm nghiệp cao hơn 14% (85%/71%), ngược lại tỷ lệ công nghiệp thấp hơn 8,77% (5,23%/14%). Lao động dịch vụ thương nghiệp cũng thấp hơn 5,27% (9,73%/15%).

 

Ở lĩnh vực không sản xuất vật chất trong tỉnh có 15.237 lao động thì có 5.474 lao động thanh niên, chiếm tỷ trọng 36% lao động cùng ngành. Đây là nguồn lao động cơ bản đã được đào tạo, có trình độ, tay nghề và là lực lượng kế thừa đội ngũ quản lý và lãnh đạo trong tương lai. Sự phân bố lao động thanh niên trong các ngành nghề như: đông nhất ở ngành giáo dục đào tạo có 3.572 thanh niên, kế đến ở ngành y tế 568, cơ quan quản lý nhà nước 336, cơ quan Đảng, đoàn thể 217, cơ quan văn hóa, thể thao và cơ quan hành chính sự nghiệp khác có 203 và ở lĩnh vực khác có 667 thanh niên. Đây là lĩnh vực có nguồn lao động tương đối ổn định, chiếm tỷ trọng trên dưới 2,6% so với tổng số lao động xã hội trong suốt 5 năm qua. Lĩnh vực này hiện nay đang thiếu trên 2.000 lao động chủ yếu là giáo viên, y bác sĩ phục vụ nông thôn và trí thức trẻ bổ sung vào các cơ quan, đơn vị ở các cấp. Đáp ứng yêu cầu lao động cho lĩnh vực này đòi hỏi lao động có đào tạo và nguồn cung cấp từ sự học tập, ra trường của sinh viên, học sinh. Chất lượng lao động ở lĩnh vực này hiện nay có 2.509 lao động có trình độ đại học, cao đẳng, trong đó 1.367 là thanh niên bằng 54,48%; có 5.554 lao động có trình độ trung học, trong đó 3.668 là thanh niên bằng 66%.

 

Đối với lao động ngoài kinh tế quốc dân trong tỉnh có 68.107 người thì có 44.465 thanh niên (bằng 65,28%), trong số này chủ yếu là chưa có việc làm hoặc làm việc tạm thời, số lượng học sinh, sinh viên trong độ tuổi đang đi học rất thấp, chỉ có 6.500 người bằng 2,76% so với tổng số lao động thanh niên. Đây là một khó khăn tiếp theo trong việc nâng cao trình độ để đổi mới chất lượng lao động trong tương lai.

 

4.2- Chất lượng lao động của thanh niên

- Lao động của thanh niên Cà Mau có đặc điểm nổi bật là trẻ, khỏe, cường độ lao động cao. ưu điểm này gắn với lao động thủ công dựa vào kinh nghiệm truyền thống và được phát huy tốt trên lĩnh vực lao động nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp. Đã từ lâu người Cà Mau tỏ rõ phong cách trong lao động của mình “làm ra làm” đã làm là làm “chết bỏ” chứ không lề mề - được bắt nguồn từ cuộc sống luôn phải đương đầu với thiên nhiên hoang dã, rừng rậm, thú dữ, sông nước, biển cả ở một vùng đất mới. Những làng nghề và sản phẩm thủ công mỹ nghệ đòi hỏi tay nghề khéo léo, tính kiên trì nhẫn nại ở Cà Mau không nhiều, ngoại trừ một vài nơi có nghề dệt chiếu, đương đát. Từ nguồn lực lao động thủ công là chính nên những sản phẩm lao động của Cà Mau là sản phẩm thô, chủ yếu như lúa, tôm cá, heo và một số hàng nông sản thực phẩm khác, với sản lượng lương thực quy thóc bình quân đầu người từ năm 1992 đến 1997 là 560 kg/người/năm; sản lượng khai thác đánh bắt thủy sản bình quân đầu người từ năm 1993 là 119 kg/người/năm, năm 1995 tăng lên 135 kg/người/năm và năm 1997 là 120 kg/người/năm. Cà Mau là tỉnh trọng điểm lương thực, thực phẩm hàng năm mỗi lao động ở Cà Mau tạo ra sản phẩm nông nghiệp bằng 150% so với cả nước và thủy sản gấp 4 lần so với mỗi lao động cả nước. Những năm gần đây trong quá trình phát triển sản xuất, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật qua các chương trình như khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm đã giúp cho thanh niên nâng dần chất lượng lao động. Ở lĩnh vực công nghiệp đã hình thành lớp công nhân lao động có tay nghề, được tập trung nhiều trong các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu - trở thành thế mạnh của tỉnh và của toàn quốc về lĩnh vực này. Nhưng những thanh niên có tay nghề cao ở lĩnh vực này thường khó phát huy vì họ vẫn làm những công việc thủ công như bóc vỏ tôm, phân cỡ, dây chuyền công nghệ chậm đổi mới, lại phải làm việc trong môi trường ẩm lạnh dễ phát sinh bệnh nghề nghiệp.

Qua điều tra phỏng vấn 846 thanh niên ở chỉ tiêu 9, 10 về huấn luyện, đào tạo dạy nghề chỉ có 0,35% đã học quản lý kinh tế, 8,15% đã được học và tập huấn về khoa học kỹ thuật, 19,5% đã học nghề và 43% chưa qua lớp huấn luyện, đào tạo tay nghề. Đối với những người đã được học thì thời gian của các lớp huấn luyện dạy nghề là 37,34% học dưới 1 tháng, 30,91% được đào tạo trên 1 năm. Kết quả trên cho thấy nhu cầu học nghề, đào tạo tay nghề và hướng dẫn kỹ thuật cho thanh niên còn rất lớn.

Nhìn chung chất lượng lao động của thanh niên Cà Mau còn nhiều hạn chế nhất là trình độ văn hóa, chuyên môn, tay nghề của thanh niên còn thấp, ngành nghề lao động trong tỉnh đơn nhất, eo hẹp. Lao động thủ công chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệ cao: 94%, chỉ có 20.000 lao động trẻ (6%) có trình độ chuyên môn kỹ thuật, có tay nghề, trong đó trí thức 2.255 người, trung học chuyên nghiệp 3.668, công nhân kỹ thuật 7.015 và gần 10.000 thanh niên được học nghề hoặc có tay nghề khá (xem biểu số 23, 24). Hàng năm số thanh niên được vào học ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp khoảng 1.500 người, học nghề khoảng 1.800 và được truyền nghề, dạy nghề tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất-kinh doanh, dịch vụ khoảng 3 đến 4.000 người; việc đào tạo sau đại học còn rất thấp. Tình hình trên phản ánh trình độ lao động và đội ngũ trí thức-khoa học kỹ thuật của Cà Mau mới đang ở bước khởi đầu trong quá trình đổi mới chất lượng lao động để tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

4.3- Về việc làm, thu nhập, đời sống của thanh niên

- Tỉnh Cà Mau có 433.262 người trong độ tuổi lao động chính có việc làm, bằng 86,4% so tổng số lao động; có 31.560 người chưa có việc làm bằng 6,3%, còn lại thuộc thành phần khác; thời gian làm việc của mỗi lao động bình quân 253 ngày/năm, như vậy còn 30% ngày công lao động nhàn rỗi. Điều đáng lưu ý trong số 31.560 người chưa có việc làm thì 90,4% trong nhóm tuổi từ 18 đến 28 tuổi (28.530 thanh niên), trong số 24 .997 người làm việc tạm thời thì 53,63% (13.406) là thanh niên như vậy nếu nói đến thất nghiệp - chưa có việc làm là nói đến lứa tuổi thanh niên, đây là một khó khăn lớn nhất của thanh niên khi đến tuổi trưởng thành phải đối mặt với cuộc sống xã hội.

- Kết quả điều tra về lao động việc làm ở thành thị số người đủ việc làm 71,94%; số người thiếu việc làm 19,57%; số người chưa có việc làm 8,47%. ở nông thôn số người đủ việc làm 62,3%; số người thiếu việc làm 31,23%; số người chưa có việc làm 6,44%. So sánh giữa nông thôn và đô thị số người thiếu việc làm chênh lệch 11,66%, chứng tỏ lao động nông nhàn trong nông dân còn rất lớn. Thất nghiệp ở đô thị so với nông thôn chênh lệch thấp chỉ có 2%. Từ kết quả trên tính trung bình trong toàn tỉnh có 63,85% lao động có việc làm; 29,40% lao động thiếu việc làm; 6,76% lao động chưa việc làm.

Tình hình thất nghiệp của thanh niên Cà Mau chưa đến mức gay gắt như ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung, các thành phố lớn nhưng tình trạng thiếu việc làm, lao động nhàn rỗi, thu nhập thấp đang gia tăng kéo theo nhiều hộ dân cư nghèo. Sản xuất và thu nhập của nhân dân trong tỉnh từ 2 ngành nghề chính là cây lúa và thủy sản nhưng 5 năm qua tăng trưởng bấp bênh, do phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên và môi trường, lại đòi hỏi sự đầu tư cải tạo thường xuyên và mức đầu tư lớn (xem biểu số 18, 19); mặt khác cơ sở hạ tầng và các dự án đầu tư lớn của Cà Mau còn kém so với các tỉnh trong vùng và cả nước, càng tạo sức ép giải quyết việc làm cho thanh niên nhất là thanh niên nông thôn trong những năm tới là rất lớn. Bài toán giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động phải tìm phương hướng mới, đồng bộ, hiệu quả và có tính bền vững, (chúng tôi đề xuất phương hướng và giải pháp ở phần phụ lục II).

Phỏng vấn về thời gian làm việc của thanh niên ở chỉ tiêu số 2 có 885 ý kiến trả lời thì có 73,22% trả lời làm việc gần như quanh năm, số còn lại là làm việc dưới 8 tháng và chưa có việc làm.

Việc làm của thanh niên Cà Mau diễn ra chủ yếu ở nông thôn trên lĩnh vực sản xuất, chế biến sản phẩm nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp kéo theo các dịch vụ sản xuất gắn liền với địa bàn lãnh thổ vì vậy ít bị tác động bởi yếu tố đô thị hóa tập trung.

- Cùng với việc làm và nghề nghiệp vấn đề đời sống và thu nhập cũng là mối quan tâm của thanh niên. Qua điều tra phỏng vấn cho thấy đằng sau những câu trả lời ý tứ, vấn đề mọi người quan tâm nhiều vẫn là đời sống thu nhập của họ. Trong thực tế thanh niên luôn ý thức chủ động tăng gia sản xuất, mở rộng làm kinh tế gia đình để nâng cao đời sống cho bản thân, cho gia đình và góp phần đóng góp cho xã hội. Tỷ lệ thanh niên có khả năng hoạt động kinh tế, làm giàu ngày càng nhiều nhưng ngoại trừ một số thanh niên ở lĩnh vực nuôi trồng khai thác thủy sản, còn lại phần đông thanh niên ở lĩnh vực sản xuất nông nghiệp tỷ lệ làm giàu còn rất khiêm tốn. Đối với thanh niên đô thị tỷ lệ giàu - nghèo chênh lệch khá xa, có một bộ phận có điều kiện sản xuất kinh doanh đang khá dần lên, bên cạnh đó nhiều thanh niên chưa có việc làm, làm việc tạm thời, một bộ phận nhỏ lười lao động sống dựa vào gia đình. Qua điều tra phỏng vấn 990 thanh niên cho thấy có 47,87% trả lời vừa đủ sống; 29,39% thiếu chút ít; 17,27% không đủ sống; 5,45% có dư để tích lũy. Tuy nhiên những năm gần đây do tình hình tôm nuôi trong tỉnh bị dịch bệnh chết kéo dài đã làm ảnh hưởng khá lớn đến đời sống của thanh niên ở các huyện như Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Cái Nước. Đánh giá về mức thu nhập so với trước đây có 987 thanh niên trả lời: khá hơn trước đây 35,86%; vẫn vậy 38,90%; giảm sút 15,19% và 10% khó trả lời.

Về tình trạng nhà ở, tiện nghi sinh hoạt và phương tiện sản xuất của thanh niên đang có chiều hướng phát triển so với trước đây. Kết quả điều tra về nhà ở có 816 thanh niên trả lời thì 2,94% nhà lầu, nhà xây có gác; 22,79% nhà xây thường mái lợp ngói, tôl; 56,62% nhà vách cây, lá mái lợp thường; 17,65% nhà ở tạm. Nguồn nước sinh hoạt hiện nay chủ yếu là nước ngầm (phong-tên) và nước mưa 67,74%, so với trước đây nguồn nước sinh hoạt đã được cải thiện đáng kể, nhưng vẫn còn 32,26% gia đình thanh niên sử dụng nước ao đìa. Nguồn điện sinh hoạt trong tỉnh có 18% hộ dân sử dụng điện.

Tuy đời sống vật chất của thanh niên có được cải thiện nhưng hầu như mới đáp ứng được cái ăn, cái mặc, chưa có tích lũy để mua sắm tiện nghi cao. Kết quả điều tra ở chỉ tiêu 24 cho thấy những hộ thanh niên có xe máy, tủ lạnh, điện thoại, bếp gas, bếp điện chỉ từ 5% đến 9%. Tiện nghi mà nhiều gia đình có nhất như Tivi, Radio, Cassette, máy may, tủ áo... cũng chỉ trên dưới 50%. Đáng lưu ý có tới 8,6% thanh niên trả lời trong gia đình không có đồ dùng nào trong 12 món nêu ở chỉ tiêu 24. Chứng tỏ nhiều gia đình thanh niên còn nghèo. (Điều tra thống kê mới đây của tỉnh hiện có trên 20% hộ thuộc diện đói nghèo). Về tư liệu, phương tiện sản xuất điều tra 930 thanh niên trả lời thì 59,29% có ruộng đất, 27,74% có xuồng máy, 18,06% có ao vườn, 8,06% có cửa hàng cửa hiệu, 12,9% có dụng cụ tiểu thủ công nghiệp, số thanh niên có công cụ sản xuất bằng máy 6,45% và số có máy cày máy xới, máy xay xát 0,96%. Điểm đáng lưu ý số hộ thanh niên tự lập có ruộng đất thì 74% hộ có diện tích canh tác dưới 1 ha. Dự báo trong tương lai số hộ thanh niên ít đất và không có đất sản xuất sẽ tăng lên (xem chỉ tiêu 24, 25).

Ở chỉ tiêu 36 khi hỏi những khó khăn trong đời sống của thanh niên là gì thì thứ tự trả lời được xếp như sau: thu nhập thấp 75,07%; thiếu vốn sản xuất 70,52%; làm việc vất vả 52,88%; hoàn cảnh gia đình 47,11%; thiếu hiểu biết kiến thức khoa học kỹ thuật 41,34%. Qua đối chiếu thực tế nhận thấy rằng hầu hết công việc nặng nhọc, khó khăn đều do thanh niên làm nhưng thu nhập của họ lại thấp và họ vẫn nghèo nên họ có nguyện vọng lớn nhất là được nhà nước tạo điều kiện cho vay vốn sản xuất, mức vay vốn cũng rất khiêm tốn từ 1 triệu đến 6 triệu đồng, số người có nhu cầu vay từ 7 triệu đồng trở lên chỉ có 27% (xem chỉ tiêu 35). Khi hỏi về nguồn gốc của những tài sản mà thanh niên có thì 74,56% trả lời bố mẹ cho, 31,62% trả lời mình tự mua sắm. Như vậy gia đình là yếu tố quan trọng giúp vốn và tư liệu sản xuất cho thanh niên bước vào lập nghiệp.

Ở lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có 161.496 lao động thanh niên thì có 116.427 thanh niên trực tiếp sản xuất chiếm 43,68% lao động xã hội cùng lĩnh vực. Đây là lĩnh vực tập trung nguồn lao động chủ yếu của thanh niên chiếm 63,75% lao động thanh niên và là nguồn lực dồi dào của xã hội cung cấp lao động cho các lĩnh vực khác. Việc làm của thanh niên trên lĩnh vực này gần đây đang chuyển biến mạnh theo xu hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đa canh, thâm canh, luân canh - phá vỡ thế độc canh cây lúa một vụ, được thể hiện rất rõ về việc tăng diện tích lúa 2 vụ, hè thu, đông xuân; cải tạo vườn tạp, đưa màu xuống ruộng; chăn nuôi heo, vịt kết hợp với phát triển nuôi cá nước ngọt, cá đồng... nâng mức thu nhập đáng kể cho người lao động. Vì vậy, việc làm của thanh niên từng bước đa dạng, phong phú hơn; thời gian nông nhàn được khai thác triệt để vào phát triển sản xuất. ở những nơi chúng tôi đến mà điển hình xã Tân Thành thị xã Cà Mau, xã Đông Thới huyện Cái Nước, nông trường U Minh huyện Trần Văn Thời - những thanh niên sản xuất giỏi, có thu nhập khá đều biết tính toán, kết hợp chặt chẽ quá trình sản xuất tổng hợp ngay trên mảnh vườn, đồng ruộng của gia đình.

Thu nhập của thanh niên sản xuất nông nghiệp hàng năm có tăng nhưng chưa có đột biến đáng kể. Tính trung bình mỗi lao động toàn lĩnh vực nông nghiệp tạo ra giá trị 3.097đ/năm và mức thu nhập của lao động thanh niên ở nông thôn hiện nay khoảng 250.000đ/người/ tháng bằng 80% mức thu nhập của lao động cùng ngành, đó là chưa kể đến nhiều thanh niên sống phụ thuộc vào thu nhập chung của gia đình.

Nhìn tổng thể việc làm của thanh niên lĩnh vực nông nghiệp vẫn là lao động thủ công, thu nhập chưa thật ổn định, sản phẩm làm ra luôn phụ thuộc vào diễn biến giá cả thị trường, do đó ảnh hưởng và chi phối chủ yếu việc làm của thanh niên nông thôn. Vì vậy nhà nước cần có qui hoạch tổng thể, qui hoạch tiểu vùng, đầu tư đúng mức giúp cho thanh niên có cái nhìn "chiến lược" hơn trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đầu tư phát triển sản xuất, giải quyết việc làm tại chỗ tạo thu nhập tương đối ổn định cho thanh niên nông thôn.

Ở lĩnh vực nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản có 53.822 thanh niên thì có 36.258 lao động thanh niên trực tiếp sản xuất chiếm 45% lao động xã hội cùng ngành. Đây là lĩnh vực có sự chuyển dịch lao động mạnh mẽ nhất trong 10 năm qua chiếm tỷ trọng lao động xã hội từ 9% lên 16% và xu hướng sẽ còn tăng trên 20%. Thực tại lao động ngư nghiệp tập trung nhiều ở huyện Ngọc Hiển, Đầm Dơi với nghề nuôi trồng khai thác trong sông là chủ yếu và ở các cửa biển huyện Trần Văn Thời, Cái Nước, U Minh với nghề đánh bắt ngoài khơi. Lực lượng lao động này đang tập trung khai thác thế mạnh kinh tế đặc thù của tỉnh với hàng 100.000 ha đất mặt nước nuôi tôm-cá và ngư trường biển giàu tôm cá chạy dài trên 250 km bờ biển từ biển Đông sang vịnh Thái Lan. Từ khả năng tiềm năng sẽ được khai thác, việc làm của thanh niên đang có điều kiện phát triển thuận lợi. Hiện nay ngư dân đang chuyển nuôi tôm từ quảng canh sang thâm canh và bán thâm canh; nhà nước tăng cường đầu tư vốn ưu đãi cho sửa chữa, đóng mới tàu có công suất lớn để đánh bắt thủy sản xa bờ; từng bước cải tiến dây chuyền công nghệ sản xuất chế biến thủy hải sản... là những yếu tố tích cực thu hút việc làm của thanh niên. Lao động công nghiệp của tỉnh hiện tại chủ yếu chế biến hàng thủy sản xuất khẩu với 10 nhà máy, trên 8.000 công nhân, trong đó 65% là lao động thanh niên đã đóng góp chính vào việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Vấn đề thu nhập của thanh niên hoạt động trên lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy hải sản có chiều hướng tăng. Qua điều tra 51 thanh niên lao động ngư nghiệp chiếm tỷ lệ 5,84% số người điều tra nhưng thu nhập của họ lại chiếm tỷ lệ rất cao, cao hơn sản xuất nông nghiệp và là lĩnh vực có thu nhập cao trong xã hội với mức trung bình từ 400.000 đồng đến 500.000đ/lao động/tháng, đang có sức hấp dẫn thu hút lao động trẻ. Đối chiếu giá trị sản xuất (GO) giữa 3 ngành: nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp thì giá trị sản xuất thủy sản chiếm tỷ trọng 43,43%; công nghiệp 28,88%; nông nghiệp 27,67% trong khi đó lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng 68,86%; lao động ngư nghiệp 20,82%; lao động công nghiệp 5,66%. Như vậy mỗi lao động thủy sản tạo ra giá trị 14.738.000/năm gấp hơn 4 lần lao động nông nghiệp. Điểm lưu ý ngành công nghiệp của tỉnh Cà Mau chủ yếu là chế biến thủy sản xuất khẩu, do vậy thu nhập chính của công nhân lao động cũng từ ngành thủy sản (xem biểu số 21).

Lao động, thu nhập của thanh niên ở lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, may mặc, sửa chữa và làm nghề tự do đang có xu hướng phát triển và luôn tương đồng với sự phát triển của sản xuất kinh tế. Hiện nay có 18.000 lao động thanh niên đang làm việc trên lĩnh vực này chiếm 44% lao động cùng ngành. Qua điều tra thu nhập của 118 thanh niên ở lĩnh vực này chiếm tỷ lệ 21,63% số người được điều tra nhưng tỷ lệ thu nhập của họ chiếm 23,06%, trong đó nhóm sửa chữa, may mặc thường là lao động độc lập có thu nhập tương đối ổn định ở mức từ 320.000 đồng đến 360.000 đồng/tháng; nhóm tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp thường lao động gắn kết với gia đình có mức thu nhập khoảng 340.000đ/tháng; nhóm làm nghề tự do thường là các công việc đơn giản, nặng nhọc, ngoài trời, không ổn định vì vậy thu nhập thất thường ở mức trung bình 280.000đ/tháng và họ sẽ đổi nghề khi có điều kiện. So sánh thu nhập của thanh niên với thu nhập chung của lao động xã hội cùng ngành thì thu nhập của thanh niên được trả công chỉ bằng 50% đến 60%, nguyên nhân chính là tay nghề, khả năng đầu tư vốn cũng như kinh nghiệm lao động của thanh niên còn thấp. Khác với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản tạo ra giá trị sản xuất lớn thì ở lĩnh vực này mỗi lao động hàng năm đóng góp vào ngân sách nhà nước gấp 3 đến 4 lần lĩnh vực trên.

Thu nhập của thanh niên ở lĩnh vực cơ quan và doanh nghiệp nhà nước tương đối ổn định qua các năm. Hiện nay trong tổng số 28.900 lao động ở khu vực này thì thanh niên chiếm 48% (13.900 thanh niên) nhưng tổng thu nhập chỉ chiếm tỷ trọng 36%, có nghĩa thu nhập của thanh niên bằng 60% thu nhập của lao động cùng ngành. Qua điều tra mức thu nhập của lao động trong các ngành nghề được xếp từ cao đến thấp như sau: công nhân sản xuất và phân phối điện, nước: 591.000đ/tháng; vận tải kho bãi thông tin liên lạc: 580.000đ; khách sạn nhà hàng 450.000đ; thương nghiệp sửa chữa 419.000đ; xây dựng cơ bản 403.000đ; tài chính tín dụng 393.000đ; công nghiệp chế biến 358.000đ; Đảng, đoàn thể 302.000đ; quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng 299.000đ; y tế, hoạt động cứu trợ xã hội, văn hóa thông tin-thể thao 292.000đ và thấp nhất là giáo dục đào tạo với trên 8.000 giáo viên có thu nhập bình quân 262.000đ/tháng (xem biểu số 22).

Qua khảo sát phỏng vấn 219 TN có hưởng lương, phụ cấp thì 50% ý kiến cho rằng TN có thu nhập cao nhờ có kiến thức, có tay nghề, tích cực lao động và biết tính toán; 22% cho rằng nhờ đường lối đổi mới và sự giúp đỡ của nhà nước, đoàn thể; 21% cho rằng nhờ gia đình giúp đỡ vốn, tư liệu sản xuất. Nhưng đáng lưu ý là một số ý kiến cho rằng nhờ cơ chế “đặc quyền" của ngành đem lại. Qua thực tế số người được hưởng sự "ưu ái" này không nhiều nhưng cũng cần đề cập như một "hiện tượng" phải xem xét điều chỉnh chính sách cho công bằng mà gia đình anh em Nguyễn Thành T. là một thí dụ: T. tốt nghiệp đại học loại giỏi lại là một cán bộ Đoàn năng nổ, T. còn có chứng chỉ B ngoại ngữ, tin học nên được nhận ngay về làm việc ở một ngành tỉnh. Hết thời gian tập sự T. được hưởng 100% lương kỹ sư 267.000đ/tháng. Cô em gái T. thi đại học mãi không đỗ đành đi học vi tính nay làm nhân viên ở một cơ quan bảo hiểm có mức thu nhập lương + thưởng mỗi tháng đều đặn 600.000đ; nhưng cũng chưa theo kịp "cậu em" năm nay 21 tuổi văn hóa chưa hết cấp 2 và chưa qua lớp dạy nghề nào nay đang làm công nhân điện, theo "chú" kể: "tùy mỗi tháng có khi bảy, tám trăm, tám trăm rưởi không chừng"... Sẽ khó giải thích thế nào về vấn đề trên nhưng vẫn hình dung được “không khí” trong gia đình T. có sự đảo lộn trật tự gía trị.

 

4.4- Xu hướng nghề nghiệp của thanh niên

Thực tế hiện nay thanh niên rất có ý thức đối với giá trị sức lao động của mình, tính hiệu qủa, năng động được đánh giá cao. Nếu như trước đây ta huy động sức lao động của thanh niên theo phong trào tập thể kiểu "nước sông-công lính" thì nhận thức và hành động này của thanh niên đã thay đổi phù hợp hơn với cơ chế thị trường theo xu hướng năng suất, chất lượng, hiệu qủa. Hoặc trước kia quan niệm "việc làm" của thanh niên thường đồng nhất với biên chế nhà nước, cứ học khi ra trường đã có Nhà nước phân công nhiệm vụ... thì nay đã hoàn toàn thay đổi. Điều dễ nhận thấy thanh niên ngày nay năng động hơn, không ỉ lại, có ý chí vươn lên lập thân lập nghiệp; điều kiện tiếp thu thông tin, giao lưu xã hội đã giúp họ vượt khỏi các giới hạn cổ truyền để hòa nhập thích ứng với tình hình hiện tại. Thanh niên có xu hướng quan tâm nhiều đến sản xuất kinh doanh, đến vấn đề thu nhập, nhiều người đã trở thành thanh niên sản xuất kinh doanh giỏi. Qua khảo sát về việc làm thì tiêu chuẩn về công việc ổn định có thu nhập cao được 70% thanh niên lựa chọn; có 15% quan niệm làm việc trong cơ quan biên chế nhà nước; 10% quan niệm làm việc gì cũng được và 5% muốn làm công việc nhẹ nhàng.

Điều đáng lưu ý, tâm lý thanh niên thích làm việc ở các khu tập trung như đô thị, nhà máy, cơ quan, xí nghiệp. Qua khảo sát có 74% muốn làm việc ở đô thị (tỷ lệ này đối với nữ là 80%) chỉ có 21% trả lời làm việc ở nông thôn và 5% quan niệm làm việc ở đâu cũng được. Ta thấy thanh niên có xu hướng muốn từ nông thôn tập trung về những nơi đô thị sinh sống. Nhưng ở đây lại xuất hiện một mâu thuẫn mới: do trình độ văn hóa của thanh niên nông thôn có hạn, lại quen lao động thủ công, điều này khó cho họ lựa chọn nghề và thường buộc họ phải đứng trước sự lựa chọn giữa nhu cầu có việc làm ngay với việc tiếp tục học để nâng cao vốn tri thức và tay nghề, tuy nhiên những người theo đường học tập không nhiều vì đòi hỏi đầu tư về thời gian, vật chất và năng lực trí tuệ. Qua khảo sát 986 thanh niên, trong đó đã có 124 TN (12,57%) đã từng thử việc ở nơi này nơi khác nhưng không thành đạt đành quay trở lại gia đình. Cuộc sống ở đô thị chỉ là tâm lý, nguyện vọng của thanh niên chứ chưa phải là thực tế cho thanh niên muốn thoát nông thôn tìm việc ở chốn thị thành. Điều đáng lưu ý khác là rất nhiều thanh niên đi tìm việc và lập nghiệp ở vùng đất mới; chúng tôi khảo sát 34 TN ở ấp Bến Dựa xã Tam Giang (nơi có chi hội TN sản xuất kinh doanh giỏi) thì có 12 gia đình TN tự lập, họ đều không phải gốc gác ở đây mà ở nơi khác về đây lập nghiệp. Nhìn bề ngoài cuộc sống của họ chưa lấy gì làm sung túc nhưng ý chí của họ thì tuyệt vời, Nguyễn Văn Đ kể: “mấy năm rồi thất tôm liên tục bọn em quay sang nuôi heo, nuôi cua, tôm chết thì nuôi cá gỡ lại. Bây giờ thì trồng lấp lại rừng, cải tạo vuông tôm để đổ sú giống".

Tìm hiểu số học sinh đăng ký thi vào đại học những năm qua tăng đến chóng mặt (có lẽ do qui chế thi thoáng hơn cho học sinh được đăng ký thi ở nhiều trường) nhưng điều đáng lưu ý tỷ lệ đăng ký dự thi ở các trường khá chênh lệch, chủ yếu tập trung vào các trường như kinh tế, luật, y khoa v.v... gần đây số thi vào sư phạm tăng nhưng chủ yếu vào môn học tiếng Anh.

Ngay khi tiến hành phân ban ở bậc phổ thông trung học đã có tình hình tương tự. Khi tiến hành khảo sát trường phổ thông trung học Hồ Thị Kỷ (là trường lớn của tỉnh) có 1.388 học sinh thì cũng chỉ mở được ban A (973 học sinh) và ban C (410 học sinh), còn ban B học sinh đăng ký qúa ít nên trường không thể mở được. Trong khi đó ban B sau này có nhiều khả năng thi vào các trường khoa học công nghệ nhất thì học sinh lại gọi là ban "bét".

Đối chiếu lại giữa tỷ lệ thanh niên trong cơ cấu ngành nghề với xu hướng nguyện vọng của thanh niên có sự chênh lệch khá rõ. Khi phỏng vấn 85 thanh niên ở thị xã Cà Mau, chúng tôi đưa ra 10 ngành nghề để chọn thì thứ tự được xếp từ cao xuống thấp như sau: Bưu điện 26,9%; Tài chính Ngân hàng 20%; Y tế 9,40%; Thương mại du lịch 8,93%; Hải sản 7%; Xây dựng 7; Giao thông 7%; Giáo dục 3,6%; Nông nghiệp 2,35% và ngành khác 8,2%.

Nhìn chung, xu hướng nghề nghiệp của thanh niên muốn làm việc ở những nơi ổn định, có thu nhập cao, công việc nhẹ nhàng, điều kiện làm việc thuận lợi. Tình hình và điều kiện mới đã tác động đến thanh niên có quan niệm lựa chọn nghề nghiệp thực tế hơn, một mặt đó là nhu cầu tự tại, tự khẳng định việc làm của mình phù hợp với năng lực và xu hướng cá nhân, mặt khác đó chỉ là nguyện vọng và mãi mãi chỉ là mơ ước nếu thanh niên không tự trang bị cho mình kiến thức, năng lực đủ để đáp ứng yêu cầu ấy. Nhưng dù sao thanh niên ngày nay cũng thể hiện tính tích cực, chủ động hơn chuẩn bị khả năng làm việc, tự tìm kiếm và tạo việc làm. Vấn đề việc làm cho thanh niên vẫn là vấn đề hết sức cấp bách và là mối trăn trở lớn của xã hội, của mỗi gia đình từ nay đến hàng chục, hai chục năm nữa.

 

4.6- Vị thế lao động của thanh niên

Qua điều tra trong xã hội vị thế của người lao động tỉnh Cà Mau chủ yếu lao động tại hộ gia đình với tỷ lệ 46,61%; là tiểu chủ, doanh nghiệp nhỏ không thuê lao động: 38,32%; làm công ăn lương 31,30%; có 0,72% là chủ doanh nghiệp có thuê lao động. Số lao động làm việc trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước 5,13%; ngoài nhà nước 3,64%; còn lại ở các ngành kinh tế hỗn hợp 91,20%. So sánh với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và cả nước thì số lao động làm công ăn lương ở khu vực nhà nước và ngoài nhà nước thấp hơn, ngược lại lao động kinh tế hộ gia đình và kinh tế hỗn hợp lại cao hơn (xem biểu 20a, 20b). Điều tra phỏng vấn 798 thanh niên có 1.119 ý kiến trả lời kết quả: 34,58% là chủ hộ, 1,88% là chủ doanh nghiệp, 65,79% là người lao động, 28,19% là công nhân, công chức, cán bộ cơ sở; 6,39% là cán bộ quản lý, 3,38% đi làm thuê cho người khác. Trong số trên có 167 người bằng 32% sống phụ thuộc gia đình (xem chỉ tiêu 4).

Từ kết quả trên và qua tình hình thực tế ở địa phương vị thế lao động của thanh niên Cà Mau chủ yếu là lao động tự do gắn với kinh tế hộ gia đình. Số doanh nghiệp tư nhân còn ít và nhỏ bé, đa số mới sử dụng lao động là người thân trong gia đình. Vì vậy số người đi làm thuê cho chủ doanh nghiệp không nhiều, nhưng số người đi làm thuê tự do theo việc món, theo mùa vụ đang có xu hướng phát triển tạo thuận lợi trong giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.

 

5- Đời sống văn hóa, tinh thần và sức khỏe của thanh niên

5.1- Đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên

Ngày nay thanh niên được sống trong môi trường văn hóa phong phú và đa dạng, sử dụng các tiện nghi hiện đại mà các thế hệ trước chưa có được, đã tác động mạnh đến đời sống văn hóa tinh thần và lối sống của thanh niên. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và các phương tiện thông tin đại chúng cùng với sự tăng cường giao lưu trong nước, khu vực và thế giới, giúp cho thanh niên tiếp nhận thông tin nhiều chiều một cách nhanh chóng, mở mang tri thức cả về chiều rộng, chiều sâu, tạo điều kiện cho thanh niên tiếp cận với trình độ văn hóa hiện đại và đa màu sắc của các dân tộc trên thế giới. Môi trường mới có tác dụng kích thích, phát triển tài năng sáng tạo của thanh niên, góp phần nâng cao nhận thức và hướng tới cái đẹp, cái thiện cho tuổi trẻ. Tuy nhiên chúng ta cũng cần cảnh giác với những mặt trái ảnh hưởng xấu đến truyền thống - đạo lý, bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Thực tế hiện nay lợi dụng kinh tế thị trường, sự quản lý thiếu chặt chẽ của chính quyền và các cơ quan chức năng, nhiều kẻ vì mục đích lợi nhuận đã tung ra thị trường những sản phẩm văn hóa tầm thường, độc hại, những phim ảnh khiêu dâm, bạo lực kích thích sự tò mò, hiếu thắng của một bộ phận thanh niên, đẩy họ đến chỗ có hành vi thiếu văn hóa, phản đạo đức thậm chí vi phạm pháp luật.

Nhu cầu chung của thanh niên hiện nay thích các loại hình nghệ thuật mới, hiện đại và nội dung thiên về các vấn đề xã hội, nhân văn và trữ tình. Kết quả khảo sát về loại hình nghệ thuật mà thanh niên ưa thích được xếp thứ tự như sau: phim tâm lý xã hội 34,87%, ca nhạc 26,80%; cải lương 23,92%; tiểu thuyết, truyện 6,05% và các loại hình khác 7,81%. Các phương tiện thanh niên thường tiếp thu chủ yếu qua tivi 68,4%; Radiocassette 7,33%; Video 5,84%; đọc sách, báo 5,47%; thông tin truyền miệng 5,16%; đi xem biểu diễn, lễ hội 4,3%, qua các phương tiện thông tin khác 3,5%. ở chỉ tiêu 27 điều tra về mức độ xem ti vi có đến 50% trả lời xem thường xuyên, 42% thỉnh thoảng mới xem và 8% rất ít xem. Tìm hiểu lý do thanh niên không xem ti vi thì có 70,86% trả lời do bận công việc khác, 26,49% trả lời nhà không có, chỉ có 2,65% trả lời không thích xem. ở chỉ tiêu 28 thanh niên trả lời các chương trình trên ti vi mà họ yêu thích được xếp thứ tự như sau: văn hóa-thể thao 62,32%; chương trình thời sự 58,68%; xem phim 52,54%; ca nhạc, cải lương 43,68%; khuyến nông, khuyến ngư 32,07%; các chương trình khác 35,74%. Khảo sát về mức độ đọc sách báo ở chỉ tiêu 30, có 972 ý kiến trả lời thì có đến 16,36% rất ít khi đọc sách báo, chỉ có 24% đọc thường xuyên. Thống kê qua các chương trình hoạt động văn hóa của thanh niên thì những loại hình như hội xuân, hội trại, thi người đẹp Đất Mũi, thi học sinh thanh lịch, dã ngoại, về nguồn có sức thu hút đông đảo thanh niên tham gia. Loại hình đàn ca cải lương trở thành nét sinh hoạt văn nghệ thường xuyên trong đời sống tinh thần, nhất là đối với thanh niên nông thôn. Nhu cầu mới như đi tham quan du lịch, họat động ngoài trời, hoạt động thể thao cũng đang phát triển. Điểm lưu ý do Cà Mau là tỉnh nông thôn sâu, trình độ dân trí còn thấp nên các loại hình hoạt động trực quan, sôi nổi thường thu hút đông thanh niên tham gia; điều này dễ nhận thấy khi tổ chức các hoạt động ở nông thôn. Tiến hành điều tra phỏng vấn ở chỉ tiêu 41 thì có 63% ý kiến trả lời họ sử dụng thời gian nhàn rỗi để xem tivi, đọc sách báo; 55% chơi thể thao; 53% thăm hỏi người thân, bạn bè; 11% đi chơi và 5% trả lời không làm gì. Qua đó cho thấy, dù thời gian nhàn rỗi thanh niên vẫn sử dụng vào việc hoạt động có ích như sinh hoạt văn hóa, thể thao, giao lưu tình cảm là nét nổi bật. Qua các kết quả nghiên cứu, nhu cầu thông tin có vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của thanh niên, trình độ văn hóa càng cao thì nhu cầu càng tăng, loại hình cũng phong phú đa dạng hơn.

Trong cuộc sống giao tiếp xã hội, thanh niên tỏ ra mạnh dạn, tự tin và chủ động, tích cực tham gia vào các phong trào của các tổ chức, đoàn thể phát động; phong cách ứng sử với người trên, bạn bè một cách có văn hóa, lịch sự; những vấn đề giao tiếp thường thẳng thắn cởi mở đi vào nội dung, không vòng vèo; họ rất quý trọng, giữ gìn tình bạn, dễ thông cảm và sẵn sàng giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn một cách tự nguyện. Khác với một số nơi phải cảnh giác với lối sống đua đòi "mất gốc", thanh niên Cà Mau vẫn giữ được truyền thống, đạo lý, hướng về cái đẹp, cái thiện, tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội nhân đạo như về nguồn, đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc gia đình thương binh liệt sĩ, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, giúp đỡ đồng bào bị thiên tai, giúp đỡ và chăm sóc trẻ em nghèo; tật nguyền v.v... vừa qua Đoàn thanh niên tổ chức họp mặt "người con hiếu thảo" đã có những điển hình và tấm gương sáng của thanh niên. Khác với nông thôn ở các tỉnh phía bắc kết cấu văn hóa làng xã bền vững theo dòng tộc, hương ước thì sắc thái văn hóa thôn ấp ở Cà Mau tương đối dung hòa bởi được tiếp thu của nhiều nền, nhiều miền văn hóa, nhiều tôn giáo. Vì vậy trong sinh hoạt, quan hệ xã hội của thanh niên cũng “thoáng” hơn, tự do bình đẳng hơn, ít thấy sự phân biệt thành phần địa vị, tầng lớp, tôn giáo, đặc biệt phụ nữ được tôn trọng đề cao. Đây là dấu hiệu tích cực của đời sống văn hóa hiện đại, tác động thuận lợi đến sự phát triển nhân cách của thế hệ trẻ.

Trong tình yêu, hôn nhân - gia đình, thanh niên nhìn nhận về tình yêu thực tế hơn, gắn liền với cuộc sống hạnh phúc, ít mơ mộng lý tưởng hóa. Các tiêu chuẩn để lựa chọn người yêu được thanh niên chú ý là về sức khỏe (sức khỏe + hình thức), biết lo làm ăn, kinh tế khá, đạo đức tốt. Qua các cuộc khảo sát và tìm hiểu, tình yêu của thanh niên khá tự do, nhiều bạn tìm đến tình yêu rất sớm, nhưng số liệu về tuổi kết hôn thường là đủ tuổi, ít trường hợp tảo hôn. Tính tự lập của gia đình thanh niên sau khi kết hôn cũng được thể hiện khá rõ bằng việc sớm ở riêng tạo lập mô hình gia đình trẻ độc lập về kinh tế và sở hữu. Hiện nay các cặp vợ chồng trẻ nhận thức rõ hơn và tích cực hưởng ứng cuộc vận động dân số kế hoạch hóa gia đình. Các trường hợp đẻ sớm đẻ nhiều đẻ dày giảm rất rõ. ở chỉ tiêu 19 khi hỏi bạn có biết thực hiện kế hoạch hóa gia đình không? Thì có 81,42% trả lời biết, trong số này phần đông chưa lập gia đình. Đối chiếu ở các chỉ tiêu 11,12,13 thấy rằng: có tới 78% nữ và 58% nam chưa kết hôn trong khi tuổi đời của những người được hỏi từ 18 tuổi đến 20 tuổi là 29,51%, từ 21 đến 25 là 37,95%, từ 26 đến 30 là 32,53%; chứng tỏ tuổi kết hôn trung bình của thanh niên Cà Mau sau 20 tuổi. Khi so sánh giữa chỉ tiêu 11 với chỉ tiêu 18 thì số người có 1 con là 40,87%, có 2 con là 22,6%, có 3 con là 16,52%. So sánh tiếp với chỉ tiêu 33 về nguyện vọng sinh con và số con thì mô hình 2 con (1 trai 1 gái) được nhiều người chọn nhất: 52,27%, kế đến là 2 con bất kể trai hay gái 30,22%, số người chọn sinh 1 con 11,78%, chỉ có 5,72% sinh 3 con. Qua kết quả trên cho thấy mô hình gia đình ít con, giàu có, hạnh phúc được thanh niên tán thành. Quan niệm phải có con trai không phải là tiêu chuẩn cần có tới mức tạo tâm lý nặng nề như trường hợp ở 1 số nơi khác, điều đó khẳng định thêm tính tự quyết và hiện đại của thanh niên Cà Mau khá nổi trội.

Tuy nhiên phải thấy rằng đời sống văn hóa, tinh thần của thanh niên còn nhiều khó khăn, hạn chế. Đa số thanh niên sống ở nông thôn sâu, nhà ở phân tán, đi lại khó khăn, trình độ văn hóa thấp, ít có điều kiện giao lưu tiếp xúc với nền văn minh đô thị; những phương tiện, trang thiết bị cho thanh niên sinh hoạt văn hóa thể thao ở cơ sở còn nghèo nàn, nhiều nơi chưa có. Có những thanh niên muốn đi xem hát (cải lương) phải vượt đường xa hàng chục km. Các lễ hội truyền thống ở địa phương cũng rất hiếm, hàng năm chỉ có lễ hội Nghinh ông ở thị trấn Sông Đốc và 1 vài lễ hội rải rác tại các chùa của đồng bào dân tộc Khơ me. Tình hình mê tín dị đoan, quan niệm về đời sống tâm linh xuất hiện ngày càng nhiều trong thanh niên. Còn một bộ phận thanh niên có hành vi thiếu văn minh như nói tục, chửi thề, vô lễ, thiếu tôn trọng pháp luật, cần phải được quan tâm giáo dục, uốn nắn.

 

5.2- Tình hình sức khỏe của thanh niên

Theo kết quả điều tra và đánh giá của các nhà khoa học trong nước, hiện nay chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam so với thanh niên Nhật Bản, nam thấp hơn 10 cm, nữ thấp hơn 5 cm và cân nặng trung bình nhẹ hơn 10 kg. Tương tự so với thanh niên Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia, Philíppin, chiều cao và cân nặng của thanh niên Việt Nam cũng thấp hơn. Các nhà nghiên cứu khoa học đã kết luận người Việt Nam trong lứa tuổi lao động (17 đến 55 tuổi) có chiều cao và trọng lượng cơ thể thuộc loại trung bình thấp của thế giới.

Qua điều tra khảo sát về chiều cao, cân nặng của thanh niên Cà Mau được tiến hành qua các chỉ tiêu 14, 15, 16, 17 thì đối với nam ở lớp tuổi 18 - 25 có chiều cao trung bình 158cm, ở lớp tuổi 26 - 30 là 160cm, cao hơn mức trung bình cả nước 0,5cm. Đối với nữ chiều cao ở lớp tuổi 18 - 25 cao trung bình 150,5cm, ở lớp tuổi 26 - 30 là 151 cm, cao hơn trung bình cả nước 1,8cm.

Về cân nặng của Nam Cà Mau lớp tuổi 18 - 25, nặng trung bình là 50 kg, ở lớp tuổi 26 - 30 nặng trung bình 55 kg, nặng hơn mức trung bình cả nước 5,6kg. Đối với nữ ở lớp tuổi 18 - 25 nặng trung bình 45 kg, ở lớp tuổi 26 - 30 là 48 kg, nặng hơn mức trung bình cả nước 4,5kg.

Kết quả trên cho thấy tầm vóc cơ thể của thanh niên trưởng thành theo thời gian và đạt đỉnh cao ở thời kỳ cuối tuổi thanh niên. Chiều cao, cân nặng của thanh niên Cà Mau cả nam lẫn nữ đều vượt trội so với mức trung bình của cả nước, nhất là về cân nặng có mức chênh lệch khá rõ. Có được ưu điểm này bởi Cà Mau là vùng đất sung mãn, nguồn lương thực thực phẩm dồi dào phong phú, điều kiện môi trường còn tương đối trong lành, khí hậu miền biển mát mẻ - đó là nguồn dinh dưỡng tốt giúp cơ thể con người phát triển. Trong tình hình hiện nay, đời sống kinh tế của nhân dân từng bước được nâng lên, ngành y tế phát triển, thanh thiếu niên nhất là ở đô thị, ở gia đình có thu nhập cao được nuôi dưỡng tốt nên khả năng các chỉ số thể lực sẽ còn phát triển. Theo điều tra của ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em tỉnh, số trẻ em suy dinh dưỡng những năm 92 - 93 là 40%, nay đã hạ xuống dưới 30% (đây là tỷ lệ thấp hơn so với mức trung bình của cả nước), nguyên nhân chính không phải thiếu nguồn cung cấp dinh dưỡng mà do thiếu kiến thức khoa học nuôi dưỡng trẻ em; tình hình trẻ em bị tiêu chảy, sốt do muỗi truyền còn cao, ăn uống chưa bảo đảm vệ sinh, thiếu chỗ vui chơi sạch sẽ. Nếu khắc phục được tình trạng trên thể lực của thanh thiếu niên Cà Mau sẽ tăng nhanh hơn nữa vào những năm tới.

Về bệnh tật, qua tìm hiểu nghiên cứu các số liệu, báo cáo của ngành y tế, thanh niên thường mắc các bệnh răng lợi, bệnh đường ruột, bệnh tai mũi họng, sốt rét, sốt do muỗi truyền và cảm sốt thông thường. Đây là các bệnh đặc trưng ở vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, gió mùa, điều kiện vệ sinh chưa đảm bảo, ý thức giữ gìn sức khỏe chưa tốt. Hiện nay bệnh lao đang gia tăng nhanh và có đến 26% trong độ tuổi thanh niên; trong tỉnh đã phát hiện 116 ca nhiễm HIV/AIDS trong đó trên 50% độ tuổi thanh niên - đang trở nên nguy cơ đe dọa sức khỏe của thế hệ trẻ. Tình hình báo động hiện nay, thanh niên ít quan tâm giữ gìn, rèn luyện sức khỏe cho mình, một mặt họ còn thiếu những kiến thức y tế phổ thông trong việc bảo vệ sức khỏe, mặt khác rất nhiều thanh niên đang có những sinh hoạt làm tổn hại đến sức khỏe như: uống rượu say, hút thuốc lá, chơi bài bạc, thức khuya, ăn uống làm việc không điều độ, ít tập thể dục và rất ít khám bệnh định kỳ... đã lãng phí sức khỏe quá độ. Sức khỏe là nguồn hạnh phúc, là vốn quý nhất của con người mà thanh niên lại ỷ vào sức khỏe "trời cho" của lứa tuổi nên chưa cảm nhận và hối tiếc sự lãng phí ấy. Vì vậy cần sớm định hướng và ý thức cho thanh niên quan tâm đến nếp sống điều độ, tập luyện thể dục thể thao, vui chơi lành mạnh. Đó là vấn đề góp phần tạo nguồn nhân lực trẻ, nâng cao thể lực giống nòi dân tộc.

 

6- Nhận thức chính trị và xu hướng giá trị của thanh niên

Cà Mau là vùng căn cứ địa cách mạng kiên cường suốt hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; nhân dân Cà Mau giàu lòng yêu nước, cần cù lao động, luôn lấy tình thương, lẽ phải, sự công bằng làm mục đích sống. Truyền thống quý báu đó luôn khơi dậy lòng tự hào của lớp thanh niên ngày nay. Công cuộc đổi mới đất nước hơn 10 năm qua, nhất là những năm gần đây đã đem lại những thay đổi tích cực về đời sống kinh tế, tinh thần trong xã hội, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng chính trị của thanh niên. Điều lưu ý là bối cảnh và điểm xuất phát của thanh niên ngày nay khác với thế hệ cha anh, nên phương pháp đánh giá thái độ chính trị của thanh niên phải thực sự khách quan khoa học.

Thanh niên ngày càng tin tưởng vào công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Kết quả khảo sát ở chỉ tiêu 40 có 67,76% ý kiến thanh niên trả lời nguyên nhân giúp cho thanh niên thành đạt là do đường lối đổi mới. Niềm tin và sự ủng hộ đó được thể hiện bằng hành động của thanh niên trên hầu hết các lĩnh vực hoạt động, các phong trào của thanh niên do Đoàn phát động. Thanh niên đã tích cực hơn trong sản xuất kinh doanh, lập nghiệp, làm tròn các nghĩa vụ đối với nhà nước; tích cực trong công tác học tập rèn luyện và trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc. Sự ổn định chính trị của đất nước, khả năng, vai trò và vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế càng củng cố lòng tin và niềm tự hào của thanh niên đối với Đảng với Bác Hồ kính yêu. Điều đáng quý là thanh niên Cà Mau rất quan tâm tình hình thời sự trong tỉnh, trong nước và quốc tế, ở chỉ tiêu 28 có 58,96% thanh niên thích xem chương trình thời sự trên ti vi, cho thấy thanh niên rất ý thức đến vấn đề chính trị . Trong thực tế có rất nhiều thanh niên vừa làm vừa học, tự rèn luyện nâng cao nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức để trở thành người công dân tốt, người cán bộ "vừa hồng vừa chuyên". Nếu như vào những năm 1989-1990-1991 số lượng đoàn viên của tỉnh hàng năm tuột giảm, thanh niên thiếu hăng hái phấn đấu vào Đoàn, nhiều đoàn viên bỏ hoặc không sinh hoạt Đoàn thì hiện nay thanh niên rất mong muốn được đứng trong các tổ chức chính trị để được cống hiến và trưởng thành; trung bình mỗi năm có trên 3.000  thanh niên vào Đoàn và trên 4.000 thanh niên vào Hội. Điều tra ở chỉ tiêu 26 cho thấy có 69,54% thanh niên thích tham gia sinh hoạt đoàn thể, có 30% không tham gia sinh hoạt thì lý do chủ yếu của họ là không có thời gian (45,38%) và cơ sở không tổ chức (32,31%) chỉ có 6,15% trả lời không quan tâm và 16,15% vì lý do khác.

Số thanh niên có chí hướng rèn luyện, phấn đấu để được đứng trong hàng ngũ của Đảng ngày càng cao. Điều tra ở chỉ tiêu 44 có 88% thanh niên có nguyện vọng phấn đấu vào Đảng, những năm qua mỗi năm Đoàn giới thiệu từ 1.000 đến 1.200 đoàn viên ưu tú cho Đảng, được Đảng kết nạp gần 50% số giới thiệu và số đảng viên trẻ thường chiếm tỷ lệ 50% so với số đảng viên mới kết nạp.

Tuy nhiên cũng còn một bộ phận thanh niên thiếu ý chí rèn luyện, non kém về tư tưởng chính trị, sống buông thả, coi thường các giá trị đạo đức-nhân văn, kỷ cương pháp luật, mắc nhiều tệ nạn xã hội, ít tham gia sinh hoạt đoàn thể, xã hội.

 

- Về định hướng giá trị và nhu cầu của thanh niên

Các nhà nghiên cứu khoa học điều thống nhất đánh giá trong thập kỷ 90 là thập kỷ đầy biến động trên tòan cầu và trên đất nước ta đã diễn ra những biến đổi sâu sắc về mọi mặt trong tiến trình đổi mới, phát triển. Những sự kiện đó đã ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của các tầng lớp xã hội, đặc biệt là thanh niên và được biểu hiện rõ trong định hướng giá trị. Qua kết quả khảo sát ở chỉ tiêu 45 về những yếu tố giá trị được thanh niên cho là quan trọng thì thứ tự xếp như sau:

+ Có việc làm ổn định                                            70,8%

+ Có cuộc sống gia đình hạnh phúc                       69,47%

+ Có sức khỏe tốt                                                 67,83%

+ Có trình độ học vấn cao                                     61,17%

+ Có thu nhập cao, giàu có                                    48,46%

+ Có nhiều bạn bè tốt                                            41,80%

+ Có điều kiện vui chơi giải trí, du lịch                   38,93%

+ Có tài năng được nhiều người biết đến                 32,58%

+ Có tự do công bằng                                           30,84%

+ Có trị trí trong xã hội                                          27,05%

 

Việc lựa chọn giá trị trên cho thấy nhóm giá trị về việc làm, gia đình, sức khỏe học vấn được đánh giá cao nhất, tiếp đến là yếu tố vật chất và cuối cùng là yếu tố xã hội. Hiện nay nhiều ý kiến cho rằng thanh niên sống thực dụng, coi yếu tố vật chất lên hàng đầu, xem nhẹ các yếu tố tinh thần. Điều đó chỉ đúng một phần cho một nhóm đối tượng thanh niên hoặc nhất thời không phải là vấn đề có tính phổ biến, còn đa số định hướng giá trị của thanh niên coi trọng hơn các yếu tố giá trị nhân bản có xu hướng thiết thực, cụ thể và gần với đời sống hằng ngày. Khi nhu cầu vật chất đã tạm đủ, các yếu tố về đạo đức, văn hóa-tinh thần càng được đề cao và coi đó là giá trị bền vững. Nhóm các yếu tố xã hội như trở thành người nổi tiếng, có địa vị lại ít được lựa chọn. Có lẽ đây không phải là yếu tố không được thanh niên đề cao mà là khả năng lựa chọn những yếu tố hợp lý với năng lực phẩm chất của mình.

Từ những giá trị định hướng mà thanh niên lựa chọn, nhu cầu nguyện vọng trong nhận thức và biểu hiện cũng tương tự để đáp ứng giá trị đó. Những nhu cầu cấp bách và cần thiết nhất vẫn là việc làm, thu nhập, vay vốn sản xuất để tạo cuộc sống ổn định ban đầu, thứ hai là nhu cầu học tập có nghề nghiệp chuyên môn, nâng cao tay nghề, phát triển tài năng; thứ ba là nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật, vui chơi, giải trí thể thao; thứ tư về tình bạn, tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc gia đình; thứ năm là về nhu cầu tự do, dân chủ và tham gia các hoạt động xã hội. Sự lựa chọn những nhu cầu trên phản ánh sự nhận thức đúng đắn của thanh niên và những vấn đề thanh niên quan tâm tại thời điểm hiện nay. Tuy nhiên giới hạn nhận thức và từng đối tượng có mức chênh lệch khác nhau nhưng chung quy những nhu cầu thiết thực, chính đáng dựa trên chính sức lực, trí lực, khả năng của thanh niên đều được ưu tiên lựa chọn.

 

II- TỔNG KẾT CÁC HOẠT ĐỘNG VÀ MÔ HÌNH VỀ CÔNG TÁC ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THANH THIẾU NIÊN TỈNH CÀ MAU 5 NĂM QUA

 

1- Công tác giáo dục chính trị tư tưởng

Với chức năng quan trọng là giáo dục chính trị tư tưởng cho đoàn viên, thanh niên, những năm qua Đoàn thanh niên đã tổ chức học tập, tuyên truyền, phổ biến các nghị quyết và chủ trương quan trọng của Đảng như: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, lần thứ VIII, Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ IX, thứ X; Nghị quyết 25 Bộ Chính trị, Nghị quyết 4 của BCH TW Đảng (khoá VII) và các nghị quyết chuyên đề khác của Đảng cũng như Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VI và các nghị quyết khác của Đoàn ở các cấp đến đông đảo đoàn viên, thanh niên. Từ đó nhận thức chính trị của đoàn viên thanh niên luôn được nâng lên đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ từng thời kỳ, làm nòng cốt trong phong trào thanh niên dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” trên đất nước ta.

Công tác giáo dục truyền thống được quan tâm, những ngày kỷ niệm lịch sử đều được các cấp bộ Đoàn tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục, với những nội dung và hình thức phong phú như: mít tinh, họp mặt truyền thống, thi tìm hiểu, hái hoa dân chủ, hội trại, hội diễn...  rất có ý nghĩa và được gắn liền với công tác xã hội, về nguồn ... đã thể hiện rõ sắc thái thanh niên, đạt hiệu quả tự giáo dục khá cao, thu hút hàng trăm nghìn lượt ĐVTN tham gia.

Công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương chính sách, pháp luật được chú trọng. Đoàn đã kết hợp với các ngành liên quan mở nhiều lớp tập huấn cho cán bộ chủ chốt của Đoàn về pháp luật, đồng thời tổ chức các cuộc tuyên truyền rộng rãi trong ĐVTN và nhân dân. Tuyên truyền về 2 phong trào lớn của Đoàn: “Thanh niên lập nghiệp” và “Tuổi trẻ giữ nước”. Tuyên truyền về lối sống, nếp sống văn hoá được tập trung với nhiều hình thức mới: tuyên truyền về “Năm chống (chống xì ke - ma tuý, mại dâm, cờ bạc, văn hoá phẩm phản động đồi trụy, mê tín dị đoan); thông qua “8 nội dung xây dựng nếp sống văn hoá trong thanh niên”, gắn với “Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”, “xây dựng gia đình văn hoá, ấp, khóm, vùng văn hoá. Tuyên truyền thực hiện 3 mục tiêu : “Dân số - sức khoẻ - môi trường; phòng chống các tệ nạn xã hội và phòng chống AIDS; các chỉ thị 200/TTg, Nghị định 36/CP, Nghị định 40/CP, Nghị định 87/CP... được triển khai thực hiện khá tốt thông qua các chiến dịch truyền thông, các đợt tuyền truyền gây ấn tượng mạnh, sinh hoạt tổ - đội - nhóm - CLB thanh niên, các đội thanh niên tình nguyện. Trong các hoạt động trên, việc phối hợp với các ngành liên quan như: Hội Cựu chiến binh, Hội nhà Báo, ngành Tư pháp, ngành Văn hoá thông tin, Công an, Quận sự, Bộ đội Biên phòng, ủy ban Dân số - KHHGĐ, ủy ban phòng chống AIDS... được củng cố và nâng lên, mang lại hiệu quả khá tốt, thu hút hơn 2,3 triệu lượt đoàn viên thanh thiếu niên và nhân dân tham gia.

Nhằm góp phần định hướng các giá trị tinh thần và hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động của thanh niên, Đoàn đã phối hợp tổ chức các loại hình: thi viết với chủ đề “Tuổi trẻ Minh Hải với những năm tháng không quên”, thi viết và thi ảnh thời sự nghệ thuật về đề tài thanh thiếu niên trên Báo Minh Hải, biên soạn lịch sử Đoàn bộ (thời kỳ chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và 20 năm xây dựng XHCN); tổ chức các cuộc thi vẽ tranh, làm thơ cho thiếu nhi; xây dựng các đặc san, chuyên mục tuyên truyền về thanh niên trên báo; duy trì  định kỳ tờ “Thông tin trong Đoàn”, vận động đoàn viên thanh niên đọc và cộng tác với Báo Cà Mau,  đem lại hiệu quả thiết thực.

Từ thực tế công giáo dục chính trị - tư tưởng cho thanh thiếu niên, đã xuất hiện nhiều điển hình tốt, mô hình hay, tiêu biểu như các mô hình hội quân - hội trại truyền thống của thanh niên huyện Ngọc Hiển, thi tìm hiểu Nghị quyết, thi hùng biện của TX Cà Mau, hoạt động dã ngoại của Đoàn khối lực lượng vũ trang, hoạt động về nguồn của khối Đoàn ngành, tổ chức diễn đàn thanh niên của các Đoàn trường phổ thông trung học.

Hơn 5 năm qua, với nỗ lực của các cấp bộ Đoàn, công tác giáo dục chính trị - tư tưởng đã được đổi mới về nội dung, hình thức và phù hợp hơn, có tác động tích cực đến nhận thức lý tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh thiếu niên, góp phần định hướng và khơi dậy lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, thực tế vẫn còn thiếu các mô hình hoạt động mới có chiều sâu và hiệu quả cao nhằm đáp ứng yêu cầu sinh hoạt, giáo dục, rèn luyện thanh niên trong tình hình mới. Việc tuyên truyền trong thanh niên dân tộc, thanh niên tôn giáo, giáo dục TTN chậm tiến chưa nhiều và thiếu nội dung, hình thức phù hợp. Vẫn còn một bộ phận thanh thiếu niên lệch lạc trong nhận thức nên có những hành vi lối sống thực dụng, xem nhẹ các giá trị đạo đức, giá trị tinh thần, xem thường pháp luật.

 

2- Công tác xây dựng tổ chức Đoàn, Đoàn tham gia xây dựng Đảng

BCH Tỉnh đoàn đã đề ra nhiều chủ trương và giải pháp trong công tác xây dựng tổ chức Đoàn như: kế hoạch “kiện toàn và nâng cao chất lượng đoàn viên, cơ sở Đoàn” (gọi tắt là “KT - 92”), kế hoạch “KT1 - 93”, kế hoạch “KT - 94”, chương trình “đoàn kết, tập hợp thanh niên và xây dựng Đoàn giai đoạn 1994 - 1996”, chỉ thị về việc “củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng đoàn viên và tổ chức cơ sở Đoàn, tiến tới triển khai thực hiện chương trình rèn luyện đoàn viên và phát thẻ đoàn viên”. Quán triệt chủ trương của TW Đoàn, các cấp bộ Đoàn đã tập trung chỉ đạo cơ sở, kịp thời củng cố BCH đoàn các cấp, từng bước chuẩn hoá đội ngũ cán bộ chuyên trách. Đoàn các cấp đã tiến hành nhiều đợt khảo sát, đánh giá, phân loại đoàn viên và cơ sở Đoàn, tập trung củng cố và phát triển Đoàn... từ đó đã hạn chế được sự giảm sút, từng bước nâng dần lên về số lượng, về chất lượng đoàn viên và sinh hoạt Đoàn ở cơ sở. Hiện nay số đoàn viên của tỉnh hiện có 15.600 chiếm 5,5% so với tổng số thanh niên, trong đó có 79,7% xếp loại xuất sắc và khá; đã triển khai được 9.140 sổ chương trình rèn luyện đoàn viên và cấp 6.623 thẻ đoàn.

- Công tác tuyên truyền giáo dục, bồi dưỡng cho thanh thiếu niên tìm hiểu về Đoàn được triển khai thực hiện tốt, chất lượng ngày càng được nâng lên. Trung bình mỗi năm Đoàn bộ tỉnh Cà Mau kết nạp hơn 3.000 đoàn viên mới.

- Công tác xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở của Đoàn, khắc phục ấp, khóm trắng đoàn viên và trắng chi đoàn được các cấp bộ Đoàn tập trung chỉ đạo theo hướng vừa củng cố tổ chức vừa đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt Đoàn. Từ năm 1992 đến 1997 đã khắc phục 572 ấp trắng chi đoàn, đoàn viên. Có 78% Chi đoàn và đoàn cơ sở được xếp loại khá và mạnh; chất lượng hoạt động của các huyện, thị Đoàn, các Đoàn trường, Đoàn lực lượng vũ trang và của Đoàn ngành cũng được nâng lên rõ rệt.

- Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ Đoàn được quan tâm cả về số lượng và chất lượng theo hướng tiếp cận với nhu cầu hoạt động thực tiễn ở cơ sở. Trường Đoàn và các ban chuyên môn Tỉnh đoàn đã biên soạn và cải tiến nhiều tài liệu tập huấn cán bộ Đoàn phù hợp với tình hình, nhiệm vụ mới. Nhiệm kỳ qua, đã có 5.109 cán bộ Đoàn - Hội - Đội được bồi dưỡng nghiệp vụ, trong đó Trường Đoàn tỉnh tập huấn cho 2.654 đồng chí.

- Công tác kiểm tra của Đoàn đã bám sát hơn các trọng tâm công tác của BCH Đoàn các cấp, góp phần phát hiện và ngăn chặn những thiếu sót trong quá trình tổ chức triển khai các mặt công tác của Đoàn và thực hiện điều lệ Đoàn. Thường xuyên giữ vững công tác kiểm tra định kỳ, kịp thời giải quyết những khiếu nại, tố cáo của đoàn viên thanh niên, xử lý nghiêm khắc những trường hợp vi phạm. Năm năm qua đã  áp dụng các hình thức kỷ luật 3.087 cán bộ, đoàn viên góp phần giữ  nghiêm kỷ luật Đoàn . Hoạt động của ủy ban kiểm tra các cấp đã góp phần vào việc củng cố, xây dựng tổ chức Đoàn, tăng cường các biện pháp chỉ đạo của BCH Đoàn các cấp.

- Công tác Đoàn tham gia xây dựng Đảng và chính quyền được đẩy mạnh hơn, nhất là sau khi có nghị quyết IV BCH TW Đảng về “công tác thanh niên trong tình hình mới” và cuộc vận động “Đoàn viên thanh niên phấn đấu rèn luyện trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam của Trung ương Đoàn, các cấp bộ Đoàn trong tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về Đảng cho đoàn viên thanh niên. Hơn 5 năm qua, Đoàn đã giới thiệu 5.686 đoàn viên ưu tú cho Đảng, được Đảng kết nạp 2.407 đ/c, tỷ lệ đoàn viên thường chiếm 50% trong số đảng viên kết nạp mới. Có 446 cán bộ Đoàn chuyển công tác theo yêu cầu của Đảng, đa số đều phát huy tốt ở các cương vị công tác mới. Đoàn tích cực tham mưu với cấp ủy đề ra những chủ trương kịp thời như; đề án thực hiện các nghị quyết của Đảng, tổng kết nghị quyết 8B, sơ kết thực hiện nghị quyết  4 BCH TW Đảng, đồng thời tổ chức lấy ý kiến đóng góp dự thảo văn kiện Đại hội  Đảng  các cấp. Vận động đoàn viên thanh niên tích cực tham gia bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp; thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước, phối hợp với các ngành tổ chức triển khai tốt các chương trình, dự án.

Nhìn chung, công tác xây dựng tổ chức Đoàn có bước phát triển, khắc phục được tình trạng giảm sút về số lượng và chất lượng đoàn viên, tổ chức Đoàn được củng cố và phát triển, thu hút ngày càng nhiều  thanh niên tham gia vào các hoạt động của Đoàn, của Hội; tình trạng đoàn viên bỏ sinh hoạt giảm dần, ngày càng có nhiều thanh niên phấn đấu để được đứng trong hàng ngũ của Đoàn. Nhiều cơ sở Đoàn đã làm tốt hơn công tác Đoàn tham gia xây dựng Đảng và chính quyền, cung cấp cho Đảng nhiều cán bộ ưu tú. Vị thế và uy tín của tổ chức Đoàn được củng cố tạo niềm tin đối với xã hội và tuổi trẻ. Từ những kết quả vững chắc trong công tác tổ chức đã làm tiền đề cho Đoàn thực hiện đạt nhiều kết quả trên các mặt công tác và phong trào 5 năm qua.

Tuy nhiên, công tác xây dựng tổ chức Đoàn vẫn còn những khó khăn cần khắc phục: cán bộ Đoàn còn thiếu về số lượng và hạn chế về nghiệp vụ; chưa quy hoạch trong việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ đoàn, tỷ lệ cán bộ Đoàn nữ còn thấp. Một số cơ sở Đoàn chưa quan tâm cải tiến nội dung và hình thức sinh hoạt để gia tăng sức hấp dẫn, lôi cuốn thanh niên; chưa có kế hoạch và giải pháp đồng bộ trong việc tập hợp, mở rộng các loại hình tổ chức và hoạt động của thanh niên; tỷ lệ đoàn viên còn thấp so với tổng số thanh niên. Còn chậm trong việc xây dựng tổ chức Đoàn ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

 

3- Công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên và xây dựng Hội Liên hiệp thanh niên

- Năm năm qua Đoàn đã phát huy vai trò nòng cốt trong phong trào thanh niên; thông qua Hội Liên hiệp thanh niên, Đoàn đã từng bước thâm nhập vào đời sống xã hội của tuổi trẻ, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển các hình thức tập hợp thanh niên theo nghề nghiệp, sở thích, theo nhu cầu đời sống.v.v... trên các lĩnh vực. Vì vậy công tác đoàn kết tập hợp thanh niên của Hội Liên hiệp thanh niên trong 5 năm qua đã có bước tiến đáng kể. Với 5 chương trình của Hội “Lập thân, lập nghiệp xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh”; “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng tài năng trẻ, phát triển văn hoá TDTT”; “Bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội”; “Công tác xã hội và bảo vệ môi trường”; “xây dựng, phát triển tổ chức Hội” và 3 cuộc vận động “tiết kiệm và tích luỹ”; “Hiến máu nhân đạo”; “chống mù chữ, chống thất học”, đã thể hiện rõ nét tính chất tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên của tổ chức Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, góp phần cùng với tổ chức Đoàn tham gia thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của địa phương. Tổ chức Hội đã được mở rộng hơn trong thanh niên dân tộc, thanh niên tôn giáo, thanh niên trường học, thanh niên vùng sâu, vùng xa. Nhiều mô hình Chi hội mới xuất hiện như: Chi hội theo sở thích trong các trường học, Chi hội  nuôi tôm, nuôi cua, làm vườn... trong thanh niên nông thôn; chi hội, đội, tổ công tác xã hội, hiến máu nhân đạo... trong thanh niên đường phố, câu lạc bộ  kỹ năng thanh niên.v.v... Hơn 5 năm qua, Hội đã kết nạp 10.727 hội viên, nâng tổng số hội viên toàn tỉnh lên 18.639 hội viên (chiếm 6,53%) trong tổng số thanh niên. Số chi hội và ủy ban Hội cơ sở tăng nhanh; chất lượng hoạt động của Hội được nâng lên rõ hơn, thu hút ngày càng đông thanh niên vào các loại hình hoạt động của Hội. Từ hoạt động của Hội đã xuất hiện các đơn vị có nhiều điển hình tốt như  Chi hội ấp Bến Dựa xã Tam Giang (Ngọc Hiển), Chi hội thanh niên dân tộc Khơmer phường 1 (TX Cà Mau)...

Tuy nhiên, công tác Hội vẫn còn những hạn chế như việc phát triển tổ chức chưa đồng đều, năng lực cuả đội ngũ cán bộ còn yếu. Các mô hình tập hợp thanh niên còn rời rạc, gượng ép, tỷ lệ hội viên trong tổng số thanh niên còn thấp; những tác động của Hội đến với thanh niên chưa sâu rộng.

 

4- Công tác xây dựng Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh và bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em

- Những năm qua Đoàn Thanh niên đã thực hiện tốt nhiệm vụ trực tiếp phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh đã tổ chức nhiều hoạt động chăm lo, giáo dục thế hệ mầm non; công tác Đội và phong trào thiếu nhi tiếp tục được duy trì và có những tiến bộ. Nét mới trong giai đoạn này là Đoàn đã chủ động đề xuất và phối hợp với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế - xã hội đẩy mạnh các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng.

Phong trào hoạt động của Đội trong 5 năm qua với 5 chương trình hành động : “Uống nước nhớ nguồn”; “Vượt khó học tốt, yêu khoa học”; “Những tấm lòng vàng tuổi thơ”; “Thiếu nhi vui khoẻ”; “Vì quê hương  xanh tươi, sạch đẹp” đã được các liên đội tổ chức thực hiện đạt nhiều kết quả, khơi dậy trong thiếu nhi tình cảm ý thức trách nhiệm đối với tương lai. Nhiều liên đội, chi đội đã có kế hoạch cụ thể hoá thành các loại hình hoạt động phù hợp như “Đội tuyên truyền măng non”, “đôi bạn cùng tiến”, “đôi bạn điểm 10”... “Giúp nhau vượt khó”, “bảo vệ cây xanh”; “Vệ sinh môi trường” v.v.. đã thu hút đông đảo thiếu nhi tham gia.

- Chương trình rèn luyện đội viên đượùc triển khai ở hầu hết các liên đội đã góp phần rèn luyện, nâng cao chất lượng đội viên. Hơn năm năm qua có 85.444 em đạt danh hiệu cháu ngoan Bác Hồ ở các cấp. Tỷ lệ cháu ngoan Bác Hồ từ 33,2% năm 1992 tăng lên 42,3% năm 1996, tỷ lệ đội viên xếp loại học tập khá và giỏi, hàng năm đạt trên 30%; hạnh kiểm tốt đạt 43,5%.  5 năm qua kết nạp 16.182 đội viên mới, nâng tổng số đội viên toàn tỉnh lên 98.204 em. Tỷ lệ đội viên so với thiếu nhi trong độ tuổi là 75,81%. Có 5.403 đội viên lớn tuổi được kết nạp vào Đoàn (chiếm 37, 26% so với đoàn viên được kết nạp trong 5 năm qua). Bước đầu đã duy trì và tổ chức được mô hình hoạt động Đội ở địa bàn dân cư ngoài nhà trường, đến nay có 8 Chi đội với tổng số 274 đội viên. Nhiều mô hình hoạt động Đội ở thị xã Cà Mau, huyện Ngọc Hiển, Cái Nước như CLB phụ trách, thi thiết kế trò chơi, hoạt động giao lưu, dã ngoại là những mô hình tốt cần được nhân rộng.

Trong mối quan hệ phối hợp với các ngành liên quan, Đoàn đã thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong việc tổ chức các hoạt động và vận động các lực lượng xã hội, chăm sóc thiếu niên nhi đồng như: Lập quỹ học bổng, tổ chức các lớp học tình thương, tăng cường các hoạt động chăm sóc trẻ em bệnh tật, bất hạnh, lang thang, cơ nhỡ, đề xuất nhiều biện pháp góp phần tạo môi trường văn hoá xã hội lành mạnh cho thiếu nhi.

 

5- Thực hiện hai phong trào lớn của Đoàn "Thanh niên lập nghiệp" và "Tuổi trẻ giữ nước"

Hơn 5 năm qua, phong trào tuổi trẻ Cà Mau với 3 chương trình lớn: “xây dựng nông thôn mới”, “Tài năng và việc làm”, “Tuổi trẻ bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn trật tự an toàn xã hội” được gắn liền với việc thực hiện hai phong trào lớn do TW Đoàn phát động:“Thanh niên lập nghiệp” và “Tuổi trẻ giữ nước”.

5.1- Phong trào "Thanh niên lập nghiệp"

- Phong trào “Học tập, rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp” của Đoàn thanh niên khối trường học, tập trung vào việc thi đua giúp đỡ nhau trong học tập đã đi dần vào chiều sâu, góp phần tạo nên động lực thúc đẩy việc học tập, rèn luyện phát triển tài năng, khơi dậy ý chí, hoài bão trong học sinh; nhiều mô hình hoạt động có hiệu quả như : “câu lạc bộ học tập” (theo sở thích), thi “tin học trẻ”, thi “hùng biện”, thi “học sinh thanh lịch”; các hoạt động giáo dục truyền thống như  giao lưu - về  nguồn, hội trại, thăm và tặng quà chiến sĩ  ở hải đảo; xây dựng các bản tin, báo tường, đặc san học đường, tham gia chiến dịch “ánh sáng văn hoá” .v.v... đã có hàng chục nghìn đoàn viên thanh niên tham gia. Những Đoàn trường nhiều năm liền có phong trào thi đua xuất sắc như Trường PTTH Hồ Thị Kỷ (Cà Mau), Trường PTTH huyện Đầm Dơi, huyện Cái Nước, Trường Bán công Cà Mau. Đồng thời, để động viên sinh viên, học sinh vượt khó, học tốt, khuyến khích những tài năng trẻ, đa số các trường đều lập các loại quỹ khuyến học, vận động các cơ quan ban ngành, các doanh nghiệp và mạnh thường quân trao học bổng... Trong thời gian qua riêng quỹ “Tài năng trẻ” của tỉnh đã trao  254 xuất, trị giá  63 triệu đồng.

- Phong trào “Thanh niên nông thôn sản xuất - kinh doanh giỏi” hướng vào các hoạt động trợ vốn, tập huấn kỹ thuật, tay nghề cho thanh niên, phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong việc chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất hợp lý, phát triển ngành nghề, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và xây dựng nông thôn mới. Đoàn các cấp đã phối hợp tập huấn cho 43.928 lượt cán bộ, đoàn viên, hội viên và thanh niên, cung cấp 214.900 bộ tài liệu, thành lập 1.040 câu lạc bộ và các tổ, đội, nhóm khuyến nông và kỹ thuật viên trẻ; xây dựng 339 điểm trình diễn giống luá mới và 49 cánh đồng thanh niên, tổ chức hội thi IPM luá và chăn nuôi thú y cấp tỉnh; tham gia Hội thi bảo vệ thực vật khu vực đồng bằng sông Cửu Long và toàn quốc; trồng hơn 70 triệu cây phân tán và 1.400 ha rừng tập trung (tràm, đước), xây dựng cầu, lộ giao thông, làm thủy nông nội đồng, làm đất, diệt trừ ốc bươu vàng, xây dựng cầu tiêu hợp vệ sinh với hàng chục triệu ngày công lao động.

Đi đôi với các hoạt động trên, Đoàn các cấp đã tích cực và chủ động khai thác các nguồn vốn cho thanh niên vay thông qua các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm với 124 dự án, được vay 5,374 tỷ đồng, góp phần giải quyết việc làm và giúp cho 7.115 hộ thanh niên có vốn sản xuất, từ nghèo lên đủ ăn và từ đủ ăn lên khá. Phong trào “Tự giúp nhau” trong thanh niên mang lại hiệu quả khá bằng việc giúp vốn, giống, ngày công, kinh nghiệm sản xuất.v.v... trị giá hơn 2 tỷ đồng. Việc đầu tư chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và trợ vốn sản xuất cho thanh niên nông thôn thực sự có bước phát triển rõ nét vào các  năm 1995, 1996, 1997 và bước đầu đã tạo ra hiệu quả tốt, khuyến khích đông đảo đoàn viên thanh niên hăng hái lao động sản xuất.

- Đoàn thanh niên tham gia thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội thuộc đầu mối kế hoạch Nhà nước: Trong hai năm 1994 - 1995, Đoàn thanh niên được UBND tỉnh giao thực hiện 7 chương trình kinh tế - xã hội, triển khai thực hiện ở 11 xã điểm, với mục tiêu góp phần cùng với chính quyền địa phương đẩy nhanh tiến độ hoàn thành nhiệm vụ kinh tế xã hội của tỉnh, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập trong thanh niên gồm : chương trình “Kinh tế khuyến nông”; chương trình “Xoá đói giảm nghèo”; chương trình “Dự án giải quyết việc làm”; chương trình “vay  vốn từ Ngân hàng Nông nghiệp và ngân hàng Công thương”; chương trình “Truyền thông dân số - KHHGĐ”; chương trình “Chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và phát triển văn hoá, giáo dục trong thanh niên dân tộc Khơmer”. Qua triển khai thực hiện, bước đầu đã tạo ra sự chuyển biến tích cực về khả năng của thanh niên tham gia thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, qua đó củng cố, xây dựng và phát triển tổ chức Đoàn - Hội- Đội ở 11 xã điểm, mở ra phương thức mới trong công tác vận động thanh niên gắn với các chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Từ tiền đề ấy, năm 1996, Đoàn thanh niên tiếp tục nhận thực hiện 4 chương trình kinh tế - xã hội ở 7 xã điểm gồm: Chương trình “Xoá đói giảm nghèo”, chương trình  “ánh sáng văn hoá”, chương trình “Phát triển giao thông nông thôn” và chương trình “Xây dựng nếp sống văn hoá”. Qua việc thực hiện các chương trình trên vai trò của Đoàn thanh niên đã đóng góp cơ bản vào việc hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ phát triển KT-XH ở cơ sở; rút ra được mô hình và bài học kinh nghiệm để chỉ đạo và tổ chức thực hiện trong toàn tỉnh vào các năm tiếp theo. Việc triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình kinh tế - xã hội của Đoàn thanh niên, tiếp tục khẳng định vai trò xung kích và tính năng động của tuôỷi trẻ trong việc tham gia  thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh nhà.

- Phong trào “Tuổi trẻ Lao động sáng tạo” trong thanh niên công nhân đã tập trung vào việc phát huy tính năng động, sáng tạo, ý chí vươn lên của tuổi trẻ trong công tác, lao động và sản xuất kinh doanh. Từ phong trào “CKT” (Chất lượng - Kiểu dáng - Tiết kiệm) do Trung ương Đoàn phát động, tỉnh đã chuyển hoá thành phong trào “CNT” (Chất lượng - Năng suất - Tiết kiệm) cho phù hợp với tình hình sản xuất, kinh doanh ở tỉnh nhà. Kết quả đã có hàng nghìn đoàn viên thanh niên đăng ký thực hiện phong trào, hàng trăm sáng kiến được áp dụng đóng góp cơ bản vào việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả công tác, sản xuất kinh doanh. Nhiều cơ sở Đoàn như Ngân hàng, Bưu điện, Cty chế biến thủy sản và XNK Cà Mau đã tổ chức các cuộc thi “tin học”, “giao dịch viên giỏi”, “Bàn tay vàng”, tìm hiểu về ngành nghề .v.v... đã giúp cho tuổi trẻ vươn lên tự khẳng định mình, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác và sản xuất kinh doanh. Từ sáng kiến và mô hình hoạt động của Đoàn TN Cty Chế biến và XNK Cà Mau đã được phổ biến cho các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu thông qua việc tổ chức, sắp xếp hợp lý hoá các dây chuyền sản xuất và tiết kiệm theo sáng kiến của Đoàn, hàng năm đã tiết kiệm và làm lợi cho các doanh nghiệp hàng trăm triệu đồng.

 

5.2- Phong trào "Tuổi trẻ giữ nước"

Bằng các loại hình hoạt động của Đoàn thanh niên: tuyên truyền Luật Nghĩa vụ quân sự, vận động thanh niên đăng ký và tình nguyện nhập ngũ, tổ chức họp mặt, đưa tân binh và tiếp đón thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về; giúp đỡ các gia đình liệt sĩ, gia đình thương binh, gia đình có thanh niên tại ngũ gặp hoàn cảnh khó khăn, ưu tiên trợ vốn và giúp đỡ thanh niên xuất ngũ.v.v... đã giúp cho thanh niên tự giác và yên tâm lên đường nhập ngũ. Thực tế ngày càng có nhiều thanh niên tình nguyện lên đường nhập ngũ. Hơn năm năm qua, đã có hơn 9.000 đoàn viên thanh niên nhập ngũ, hàng năm luôn đạt và vượt chỉ tiêu pháp lệnh, tỷ lệ đoàn viên nhập ngũ từ 30 đến 50%. ở các xã, phường hầu hết đoàn viên, thanh niên tham gia hoạt động tích cực trong lực lượng dân quân tự vệ, đội dân phố, dân phòng, hăng hái luyện tập sẵn sàng chiến đấu.

- Hoạt động của Đoàn thanh niên trong lực lượng vũ trang luôn được duy trì và đã góp phần rất lớn trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ  chính trị của các đơn vị như phong trào“Xứng danh anh Bộ đội Cụ Hồ”, cuộc vận động “Đẹp người, đẹp doanh trại, đẹp tình quân dân” trong thanh niên quân đội; phong trào “Thực hiện 6 điều Bác dạy” trong thanh niên công an; các hoạt động phối hợp, kết nghĩa giữa các Đồn Biên phòng với Đoàn thanh niên địa phương; kết nghĩa giữa các huyện - thị đoàn với Tiểu đoàn U Minh II, Đồn Biên phòng Hòn Khoai, Hòn Chuối, các trạm  Ra đa thuộc tiểu đoàn 551 Hải quân vùng 5... đã thật sự đi vào chiều sâu với các hoạt động giao lưu thăm hỏi, sinh hoạt văn hoá văn nghệ, TDTT, luyện tập quân sự; xây dựng và củng cố các đội thanh niên  xung kích an ninh, xây dựng các công trình ở địa phương, các hoạt động  xã hội từ thiện...

- Hoạt động phối hợp giữa Đoàn thanh niên và Công an ở các cấp được duy trì và phát triển thêm một bước mới thông qua chương trình phối hợp: “Phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh thiếu niên” theo nghị quyết liên tịch số 01 giữa Bộ Công an và Trung ương Đoàn; kế hoạch liên tịch giữa Đoàn thanh niên - Công an - Quân sự tỉnh triển khai thực hiện quy định của UBND tỉnh về tổ chức và hoạt động của Đội thanh niên xung kích an ninh ở cơ sở. Hiện tại đã củng cố và thành lập 406 đội thanh niên xung kích an ninh ở các địa bàn xung yếu với 3.959 đội viên, trong đó có hơn 80% đoàn viên thanh niên tham gia. Các đội thanh niên xung kích đã tổ chức nhiều đợt ra quân truy quét, tuyên truyền, vận động, thuyết phục cảm hoá 2.446 đối tượng thanh thiếu niên hư hỏng, phạm pháp hoàn lương, trong đó đã tham gia giải quyết việc làm cho 252 đối tượng. Việc tham gia xử lý những điểm nóng ở Bãi Bồi, Trảng Sáo, Lâm ngư trường U Minh III v.v.. bảo vệ tốt các hoạt động quan trọng của Đảng và chính quyền các cấp, giữ gìn tốt tình hình an ninh  chính trị,  trật tự an toàn xã hội ở địa phương đã thể hiện vai trò xung kích của tuổi trẻ trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng.

- Hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” ngày càng phát triển mạnh ở hầu hết các cơ sở Đoàn, nhất là việc thăm viếng, giúp đỡ, nhận phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng và chăm sóc, giúp đỡ, thường xuyên các bà mẹ gia đình chính sách đơn côi; tổng số quà tặng cho các Bà mẹ trong thời gian qua trị giá 195 triệu đồng; bên cạnh đó, Đoàn các cấp đã tham gia xây dựng 45 ngôi nhà tình nghĩa với số tiền đóng góp là 229 triệu đồng; quyên góp, tặng quà cho các gia đình chính sách trị giá gần 1 tỷ đồng. Rất nhiều đơn vị làm tốt việc hướng dẫn cho các chi đoàn, Chi hội, Liên hội, Chi đội nhận chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ, quyên góp xây dựng các cụm, bia tưởng niệm, quyên góp xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa.

- Tham gia phát triển và góp phần làm lành mạnh hoá môi trường xã hội là một trong những trọng tâm hoạt động mới của thanh niên trong giai đoạn hiện nay. Đoàn thanh niên đã triển khai thực hiện “8 nội dung thực hiện nếp sống văn hoá trong thanh niên”, phối hợp tổ chức các đợt ra quân tuyên truyền thực hiện 3 mục tiêu  “Dân số - Sức khoẻ - Môi trường”, ngăn ngừa phòng chống các tệ nạn xã hội, tích cực vận động thanh niên xung kích đi đầu trong các cuộc vận động thực hiện chỉ thị 200/TTg, chỉ thị 317/TTg, chỉ thị 406/TTg, chỉ thị 814/TTg ... với các chiến dịch truyền thông gây ấn tượng mạnh, các đội thanh niên tình nguyện giúp đỡ gia đình chính sách, gia đình nghèo neo đơn hoặc tháo dỡ, xây cất.v.v... giúp các hộ trong các đợt thực hiện di dời giải toả. Vừa qua sau cơn bão số 5 (Linda) các đội thanh niên tình nguyện ở cơ sở tiếp tục tham gia tích cực trong việc khắc phục hậu quả của cơn bão, giúp dân dọn dẹp dựng lợp lại nhà, sửa chữa lại phòng học, trạm y tế, cầu đường, đê bị sạt lở...

Hoạt động văn hoá văn nghệ, TDTT những năm qua được Đoàn thanh niên tổ chức thực hiện sâu rộng trong phong trào tuổi trẻ nhất là ở cơ sở, thực sự trở thành hoạt động sôi nổi của tuổi trẻ, tiêu biểu như Hội xuân, Hội diễn văn nghệ, thi người đẹp Đất Mũi, thi học sinh - sinh viên thanh lịch, thi giọng hát hay, thi tiếng hát hoa phượng đỏ; các hoạt động hưởng ứng phong trào “Thanh niên khoẻ để lập nghiệp và giữ nước” đã phát triển thành phong trào trong thanh thiếu niên, đồng thời Đoàn thanh niên  tích cực tham gia các giải phong trào như  chạy việt dã, bơi lội truyền thống, Hội khoẻ Phù Đổng.

Nhìn chung, hai phong trào lớn "Thanh niên lập nghiệp” và “Tuổi trẻ giữ nước” được các cấp bộ Đoàn, Hội thực hiện tốt và phù hợp với thực tế ở cơ sở đã lan toả và thu hút đông thanh niên tham gia. Những mô hình phong phú, những điển hình mới, cách làm sáng tạo đã thể hiện và tiếp tục tỏ rõ vai trò nòng cốt và tính xung kích của thanh niên trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng ở địa phương. Việc thực hiện có hiệu quả hai phong trào đã khẳng định hướng đi đúng đắn trong việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Đoàn thanh niên trong tình hình mới.

 

6- Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

6.1- Nguyên nhân của những kết quả đạt được

- Thắng lợi bước đầu của công cuộc đổi mới cùng với những chuyển biến trong cách nhìn nhận, đánh giá vai trò công tác thanh niên và sự quan tâm lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự phối hợp của các cơ quan Nhà nước và xã hội đã tạo những thuận lợi cơ bản cho công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu niên.

- Các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan trực tiếp đến thanh niên và công tác thanh niên từng bước được thể chế hoá thành chương trình, mục tiêu, dự án, được đặt trong kế hoạch của Nhà nước để triển khai thực hiện.

- BCH TW Đoàn có những định hướng lớn cho công tác Đoàn và phong trào TTN theo hướng đổi mới nội dung, hình thức hoạt động tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương, cơ sở trong việc xây dựng các nghị quyết, chương trình công tác sát hợp với thực tế, vừa đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng, vừa tạo điều kiện cho tuổi trẻ cống hiến và trưởng thành.

- Phát huy được tính sáng tạo, năng động và nhiệt tình của cán bộ, đoàn viên, hội viên, đội viên có sức lôi cuốn đông đảo TTN tham gia các hoạt động của Đoàn, Hội, Đội.

- Sự quyết tâm, sáng tạo của các cấp bộ Đoàn trong việc thực hiện nghị quyết, chủ trương của Đảng, của Nhà nước, của Đoàn thông qua vận dụng những cách làm hay, mô hình mới, đồng thời duy trì, phát triển những mô hình hoạt động có hiệu quả.

 

6.2- Nguyên nhân của những tồn tại yếu kém

- Mặt trái của cơ chế thị trường đã tác động và làm cho không ít thanh niên nhận thức lệch lạc về những chuẩn mực giá trị, nên có những cách nghĩ, cách nhìn nhận khác nhau về định hướng lý tưởng, về lối sống, nếp sống, nhưng tổ chức Đoàn, Hội chưa kịp thời động viên giúp đỡ và có những hoạt động phù hợp để tập hợp các đối tượng thanh niên tham gia vào các chương trình hành động của Đoàn.

- Còn thiếu những chính sách nhất quán để Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất cho các hoạt động của thanh niên, cũng như tăng cường công tác quản lý Nhà nước về thanh niên trong tình hình hiện nay. Một số cấp ủy Đảng và chính quyền chưa thực sự quan tâm, còn xem nhẹ vai trò công tác thanh niên.

- Trình độ nghiệp vụ thanh vận của cán bộ Đoàn, cán bộ Hội chưa theo kịp yêu cầu phát triển chung của xã hội và xu hướng vận động, phát triển của thanh niên. Vẫn còn một bộ phận cán bộ Đoàn làm việc theo kiểu hành chính, thiếu sự gắn bó với phong trào thanh niên ... Nhiều nội dung hoạt động còn hình thức chưa sát thực tế đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của tuổi trẻ, vì vậy sức hấp dẫn của Đoàn, Hội, Đội đối với TTN chưa thường xuyên, dễ tan lắng.

- Trong công tác chỉ đạo chưa quan tâm đến việc xây dựng mô hình, tổng kết, nhân điển hình, thiếu kiểm tra sâu sát và hướng dẫn cụ thể trong hoạt động ở cơ sở; chưa chăm lo đúng mức đến nhu cầu sinh hoạt văn hoá, tinh thần.

 

6.3- Bài học kinh nghiệm

- Hoạt động của Đoàn phải xuất phát từ nhu cầu và lợi ích chính đáng của tuổi trẻ, từ những vấn đề thiết thực và bức xúc trong cuộc sống của thanh niên đang đặt ra, luôn tạo điều kiện để thanh niên vươn lên tự khẳng định mình, đóng góp và cống hiến theo mục tiêu định hướng của Đoàn.

- Thường xuyên làm tốt công tác xây dựng củng cố tổ chức Đoàn, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động cho phù hợp với từng giai đoạn, từng địa phương, đơn vị và đối tượng tác động; phát huy tính năng động, sáng tạo, tính công khai, dân chủ và sự đoàn kết nhất trí trong đoàn viên thanh niên.

- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý và đầu tư của Nhà nước, chủ động phối kết hợp và tranh thủ các nguồn lực xã hội, chú trọng việc mở rộng và nâng cao uy tín của tổ chức Đoàn tổ chức Hội để tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của tuổi trẻ, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương đơn vị.

- Coi trọng vấn đề quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội, Đội, phân công cán bộ một cách hợp lý, đảm bảo tính liên tục và kế thừa, từng bước đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ.

Tóm lại hơn 5 năm qua với nhiều khó khăn thử thách, mặc dù vẫn còn những yếu kém cần phải khắc phục, nhưng Đoàn thanh niên đã tập trung xây dựng và phát triển tổ chức, giáo dục tuổi trẻ tỉnh nhà kiên định mục tiêu, lý tưởng; tổ chức các phong trào hành động thiết thực, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế-xã hội của tỉnh; tiếp tục tỏ rõ vai trò xung kích, sáng tạo, thể hiện SỨC SỐNG - CÔNG TRÌNH - TÀI NĂNG của tuổi trẻ... là tiền đề vững chắc cho việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển phong trào thanh niên trong tình hình mới.

 

III. D BÁO VỀ TÌNH HÌNH THANH NIÊN VÀ CÔNG TÁC THANH NIÊN ĐẾN NĂM 2010

 

Theo kết quả nghiên cứu về thanh niên của Trung ương Đoàn: “Những vấn đề của thanh niên không tách rời những vấn đề của quốc gia, dân tộc và bao giờ cũng gắn liền với sự phát triển của xã hội, đất nước. Dự báo về thanh niên của một quốc gia, dân tộc là dự báo về thế hệ trẻ của quốc gia, dân tộc đó, họ lớn lên trong lòng quốc gia, mang theo trong mình những truyền thống, bản sắc dân tộc. Đồng thời trong xu hướng phát triển mối quan hệ giữa các quốc gia, mở rộng giao lưu quốc tế, thế hệ trẻ có nhiều cơ hội để tiếp thu những tinh hoa và hội nhập với cộng đồng nhân loại[10].

Qua kết quả nghiên cứu tình hình ở các phần trên, cộng với sự tham khảo ý kiến của các đồng chí cán bộ Đoàn qua các thời kỳ, các nhà nghiên cứu về thanh niên, có thể đưa ra một số dự báo về tình hình và phong trào thanh niên tỉnh Cà Mau những năm tới như sau:

 

1- Về tổng thể, thanh niên vẫn là lực lượng xã hội to lớn, có vai trò xung kích trong sự phát triển nhanh và lâu dài của đất nước, là đội ngũ kế thừa sự nghiệp cách mạng của dân tộc, là nhân tố quyết định thắng lợi của qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên quê hương Cà Mau.

Do lịch sử và dân số tỉnh Cà Mau được xếp vào loại trẻ nên cơ cấu thanh niên trong dân số và trong lao động chiếm tỷ lệ cao, bằng 30% dân số và bằng 50% lao động từ nay đến trong vòng 20 năm nữa, sau đó có xu hướng giảm dần và đi tới ổn định vào năm 2020. Về phương diện nguồn nhân lực trẻ từ nay đến 10 năm tới, Cà Mau vẫn dư thừa lao động trẻ, nhất là lao động trong nông nghiệp nông thôn. Sự chuyển dịch lao động trẻ từ nông nghiệp sang thủy sản và ra đô thị tăng. Cơ cấu lực lượng lao động trẻ vẫn mất cân đối. Lao động trẻ có trình độ khoa học kỹ thuật, tay nghề cao vẫn thiếu, do sự phát triển ngày càng nhanh của các khu công nghiệp, doanh nghiệp, trang trại ở nông thôn. Đội ngũ công nhân lao động có xu huớng tăng nhanh, nhất là người lao động trong các thành phần kinh tế. Dòng chảy của chất xám và lao động có kỹ thuật di chuyển tự phát từ nông thôn - địa bàn dân cư ra tỉnh rồi về thành phố và các doanh nghiệp có thu nhập cao.

Trong thế giới ngày nay, công nghệ và nguồn nhân lực có trình độ cao ngày càng tỏ rõ ưu thế của mỗi quốc gia, là tài sản vô gía có ý nghĩa hàng đầu so với tài nguyên thiên nhiên sẵn có. Nguồn nhân lực đang trở thành yếu tố chủ đạo đối với tăng trưởng kinh tế một cách nhanh chóng và bền vững. Đầu tư phát triển nhân lực là sự lựa chọn thông minh đúng đắn khi bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong vòng 10 đến 20 năm tới nguồn nhân lực được đào tạo của Cà Mau muốn có điều kiện phát triển mạnh phải nhờ hệ quả của sự quan tâm đầu tư cho giáo dục ngay từ ngày nay. Chính lớp thế hệ trẻ sẽ là người tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên quê hương Cà Mau, góp phần đưa đất nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp trong vòng vài thập niên tới.

 

2- Được Đảng giáo dục, rèn luyện, nhận thức chính trị của thanh niên ngày càng được củng cố và nâng cao, thanh niên tin tưởng vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân ta lựa chọn; trung thành với với Tổ quốc, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của các thế hệ cha anh. Cứ mỗi thế hệ qua đi thanh niên như được tiếp nguồn, tiến bộ trưởng thành về mọi mặt: về bản lĩnh chính trị, lý tưởng, hoài bão, trình độ văn hóa, khoa học công nghệ, lối sống, đạo đức, thể lực… số thanh niên phấn đấu vào Đoàn, số đoàn viên phấn đấu vào Đảng tăng lên. Vị trí của tổ chức Đoàn và các tổ chức của thanh niên được đề cao.

Từ nhận thức, hành động của thanh niên cũng thể hiện rõ hơn sự tự nguyện, tự giác, tự rèn luyện và phấn đấu, đặc biệt sự tôn trọng và chấp hành pháp luật cao. Điều đó sẽ được thể hiện qua sự chủ động trong học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ, nắm bắt khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, hăng hái tham gia vào các hoạt động xã hội, từ thiện.

 

3- Sự biến đổi sâu sắc trong đời sống của thanh niên về mọi mặt. Đó là kết quả từ sự phát triển của nền kinh tế và ảnh hưởng của mở rộng thông tin, giao lưu trong nước, khu vực và quốc tế. Cơ cấu xã hội nghề nghiệp có thay đổi do tác động của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng lên của khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, nhất là đối với các thị trấn tuyến ven biển; khu vực nông nghiệp, nông thôn cũng được đổi mới và phát triển theo qui mô của các trang trại vừa và nhỏ. Địa vị kinh tế, vị trí xã hội của thanh niên được tôn trọng và phát triển. Chân dung của lớp thanh niên mới theo hướng tự do cá nhân, cá tính phát triển mạnh. Nhiều thanh niên lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo chủ yếu để đánh giá mọi việc; nhận thức về giá trị cũng theo hướng tiện lợi. Phong cách lao động của thanh niên tiếp cận hơn với tác phong hiện đại; họ nhận thức được giá trị lao động nhất là giá trị của lao động trí tuệ, nghệ thuật, năng khiếu; họ biết qúy trọng thời gian, làm việc nhanh, gọn, chính xác, hiệu quả. Sự tài năng, năng khiếu có điều kiện bộc lộ và được đề cao; tính năng động, sáng tạo được khuyến khích phát triển theo thiên hướng cá nhân. Nhưng cũng xuất hiện thái độ thờ ơ, tư tưởng làm giàu vì sự thành đạt của cá nhân mà coi nhẹ đạo lý, thuần phòng mỹ tục có nguy cơ nảy nở.

Sự phân hóa xã hội kéo theo sự phân hóa mạnh trong quá trình phát triển của thanh niên trong nhận thức, trong trình độ văn hóa, mức thu nhập, mức tiêu thụ và đặc biệt biến đổi về định hướng giá trị, lối sống. Sẽ luôn luôn xuất hiện và tồn tại một bộ phận thanh niên ưu tú vượt hẳn lên về mọi mặt, tiêu biểu cho thế hệ trẻ. Đó là những đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh chiếm từ 10 đến 13% tổng số thanh niên, có nhận thức và bản lĩnh chính trị vững vàng, có hoài bão lớn và ý chí vươn lên. Số thanh niên này như một đầu tàu vận hành làm nòng cốt trong các phong trào của thanh niên, học sinh. Sẽ còn nhiều thanh niên ở nông thôn không có điều kiện để học cao, một bộ phận vẫn còn gặp nhiều khó khăn trên con đường mưu sinh lập nghiệp, mặc dù Nhà nước có chính sách giúp đỡ cho thanh niên có hoàn cảnh kinh tế, hoàn cảnh gia đình khó khăn.  Trong xã hội vẫn tồn tại một bộ phận thanh niên do những điều kiện chủ quan, khách quan ít được giáo dục, tu dưỡng nên chây lười, ỷ lại, sống dựa vào người khác, dễ sa vào tệ nạn và tội phạm sẽ là gánh nặng cho gia đình cho xã hội.

 

4- Hệ thống các nhu cầu gắn liền với lợi ích, lối sống của thanh niên, biến đổi và phát triển theo hướng nâng cao giá trị nhân bản của TN. Những nhu cầu chính vẫn là: việc làm và thu nhập; học tập nâng cao trình độ văn hóa, nghề nghiệp; sinh họat văn hóa, tinh thần, vui chơi, giải trí; nhu cầu về giao tiếp tình bạn, tình yêu, hôn nhân gia đình… đáng lưu ý là nhu cầu về đời sống tâm linh có xu hướng tăng.

Vấn đề tình yêu, hôn nhân, xây dựng hạnh phúc gia đình của thanh niên phát triển mạnh mẽ theo xu hướng ngày càng “thoáng hơn”. Số thanh niên yêu trước tuổi tăng lên, ngược lại tuổi kết hôn chậm lại. Mô hình gia đình phát triển theo hướng 1 đến 2 thế hệ, ít con, kinh tế khá.

Về sức khỏe, thể lực của thanh niên, do kết quả của đời sống kinh tế được nâng cao, đời sống tinh thần thỏai mái hơn, hệ thống y tế phát triển; sự tăng cường của xã hội, gia đình đối với việc chăm sóc bảo vệ trẻ em. Vì vậy thể lực, tầm vóc của thanh thiếu niên được nâng lên so với hiện nay từ 7 đến 10%. Thanh niên ý thức hơn trong việc rèn luyện bảo vệ sức khỏe nâng cao thể lực và tầm vóc; đặc biệt về chiều cao, vóc dáng được nhiều thanh niên chú ý.

 

5- Các phong trào của Đoàn TN, Hội liên hiệp TN tiếp tục được quan tâm chỉ đạo và phát triển rộng trong các đối tượng, các tầng lớp thanh niên. Ngày càng có nhiều thanh niên, học sinh tự nguyện tham gia vào các hoạt động do Đoàn và Hội liên hiệp TN tổ chức. Sự quan tâm của xã hội, của gia đình cũng được mở rộng theo hướng vừa hỗ trợ về vật chất vừa tư vấn về phong trào. Nhưng cũng không qúa lạc quan cho rằng xu hướng ấy sẽ tới mà do sự nỗ lực không ngừng vươn lên của các cấp bộ Đoàn, của Hội liên hiệp thanh niên, của Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh. Nội dung, phương thức hoạt động của Đoàn thanh niên trong giai đoạn mới phát triển theo hướng tiếp cận với các định hướng giá trị của thanh niên. Trước mắt 2 phong trào lớn của Đoàn TN là “thanh niên lập nghiệp” và “tuổi trẻ giữ nước” vẫn có sức thu hút đối với thanh thiếu niên; đồng thời nó sẽ tiếp tục được bổ sung hoàn thiện để đáp ứng ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như những đòi hỏi của chính thanh niên. Xu hướng cốt lõi của tư tưởng hành động vẫn là gieo vào lòng tuổi trẻ khát vọng về ước mơ thực hiệõn hòai bão lớn của dân tộc, khơi dậy tinh thần hăng hái, ý chí quyết tâm của thanh niên xung kích, sáng tạo trong lao động sản xuất, học tập, công tác và chiến đấu bảo vệ an ninh Tổ quốc. Công tác giáo dục, rèn luyện thanh niên phát triển theo hướng coi trọng giá trị nhân cách và lối sống, tính cộng đồng và lợi ích quốc gia; những truyền thống, bản sắc văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc được tôn trọng phát huy, kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Các mô hình về phong trào thanh niên chuyển dần từ hình thức điển hình sang hình thức chương trình dự án thiết thực và hiệu quả. Tính định hình của các mô hình sẽ được chọn lọc ổn định dần để tồn tại và phát triển.

 

6- Các văn bản luật quy định về chế độ, chính sách được ban hành ngày càng đầy đủ và hoàn thiện hơn giúp cho thanh niên có điều kiện phát triển toàn diện. Sẽ không đơn phương chỉ có Đoàn, Hội làm công tác thanh niên, mà công tác quản lý Nhà nước về thanh niên được chú trọng và phát triển. Công tác giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan, đơn vị, các tổ chức kinh tế, xã hội được thực hiện thường xuyên hơn. Việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng thanh niên được thể hiện đầy đủ hơn trong chương trình, kế hoạch công tác của các cấp các ngành như một nguồn lực quan trọng đặc biệt cho sự phát triển. Vai trò của thanh niên được tôn trọng, phát huy và có hàng loạt cơ hội phát triển, nhưng không đồng nghĩa với sự nâng lên về uy tín của các tổ chức thanh niên trong xã hội nếu như Đoàn và Hội không ngừng đổi mới và tích cực hoạt động để thu hút thanh niên tham gia vào tổ chức của mình. ở đây sẽ xuất hiện sự chuyển dịch từ trạng thái phối hợp của cơ quan Nhà nước đối với công tác thanh niên sang trạng thái trách nhiệm trên từng lĩnh vực liên quan đến nghĩa vụ, quyền lợi và sự phát triển của thanh niên thuộc chức năng nhiệm vụ quản lý của ngành. Đối với các tổ chức của thanh niên như tổ chức Đoàn, tổ chức Hội có điều kiện tập trung vào chức năng tuyên truyền, tổ chức, tập hợp thanh niên vào các hoạt động liên kết theo định hướng của Đoàn. Nhưng cũng lưu ý ngăn chặn sự xuất hiện “những công chức thanh niên” làm việc nặng theo lối hành chính, xa rời phong trào thanh niên, thiếu đi các hoạt động đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của thanh niên. Mặt khác cũng phải tránh “Nhà nước hóa công tác thanh niên”, việc gì cũng đòi hỏi và phải ban hành chính sách, qui định chế độ mà bỏ qua tính xung kích, năng động, sáng tạo của tổ chức Đoàn và lòng nhiệt tình của thanh niên sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc và nhân dân kêu gọi.

                               

                                          

PHẦN IV

GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THANH NIÊN TỈNH CÀ MAU TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010

 

1- Phương hướng chủ yếu trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên những năm tới là

- Tăng cường giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng, truyền thống dân tộc; xây dựng lối sống, nếp sống văn minh lành mạnh; khơi dậy trong thanh niên hoài bão lớn của dân tộc không cam chịu đói nghèo, lạc hậu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, ý chí tự lực, tự cường, xung phong, tình nguyện đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc - vì tương lai tươi sáng của dân tộc và của thế hệ trẻ.

- Chăm lo bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp, thể lực của thanh niên; động viên và tổ chức thanh thiếu niên tiến quân vào lĩnh vực giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ; rèn luyện tác phong làm việc kỷ luật, hiện đại, góp phần nhanh chóng phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ. Bồi dưỡng hình thành một lớp thanh niên ưu tú tiêu biểu cho thế hệ trẻ, vững vàng về chính trị, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, trở thành những nhà lãnh đạo, quản lý, kinh doanh giỏi, những chuyên gia xuất sắc, những người lao động lành nghề trên các lĩnh vực. Phát huy lực lượng và tiềm năng của thanh niên thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Xây dựng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng, là hạt nhân đoàn kết mọi tầng lớp thanh niên xung quanh Đảng, là nòng cốt của phong trào thanh niên; góp phần xây dựng Đảng và chính quyền nhân dân vững mạnh. Làm tốt công tác chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng và xây dựng Đội TNTP Hồ Chí Minh.

 

2- Những giải pháp tổ chức thực hiện

2.1- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định thắng lợi của công tác thanh niên

Trong giai đoạn mới sẽ là thời cơ thuận lợi để các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, các đoàn thể nhân dân và toàn xã hội tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác thanh niên. Từ trong thực tiễn thấy rằng phong trào thanh niên luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng, qua đó để phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành; Đoàn đã làm tốt chức năng tập hợp quần chúng thanh niên, bổ sung lực lượng và sức chiến đấu của Đảng. Đây không chỉ là một nhu cầu tồn tại có tính nguyên lý về mặt lý luận mà còn là giải pháp thực tiễn cực kỳ quan trọng để đẩy mạnh công tác Đoàn và phong trào thanh niên. Trong điều kiện mới, trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình kinh tế-xã hội, cần có cách nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, khoa học về thanh niên. Tiếp tục khắc phục lối nhìn nhận phiến diện, từ những tiêu cực, hạn chế của thanh niên mà đi đến chê bại, hạ thấp vai trò của thanh niên. Thanh niên hiện nay tuy có điều kiện thuận lợi hơn các thế hệ trước và còn những mặt non yếu hạn chế, nhưng thời kỳ nào thanh niên cũng đứng trước những khó khăn nhiều hơn thuận lợi. Thanh niên vừa là người chủ tương lai, đồng thời cũng là một bộ phận trong nhân dân có vai trò làm chủ trong hiện tại. Cần tin tưởng vào bản chất tốt đẹp của thanh niên, tạo ra môi trường thuận lợi để giao nhiệm vụ và giúp cho thanh niên vượt qua khó khăn vươn lên trong cuộc sống. Trong chương trình công tác của mỗi cấp ủy Đảng xác định rõ hơn trách nhiệm lãnh đạo và xây dựng Đoàn thanh niên vững mạnh gắn liền với công tác xây dựng Đảng; lãnh đạo Đảng - Đoàn các cấp chính quyền, các ngành, đoàn thể cộng đồng trách nhiệm làm tốt công tác thanh niên. Các đảng viên trẻ phải tham gia sinh họat và gắn liền với nhiệm vụ công tác thanh niên và là tấm gương sáng cho đoàn viên thanh niên noi theo.

 

2.2- Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, đẩy mạnh quá trình xã hội hóa công tác thanh niên

Dưới sự lãnh đạo của Đảng là một thuận lợi để chỉ đạo cả hệ thống chính trị đẩy mạnh công tác thanh niên như lời đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười: “Công tác thanh niên không chỉ là việc của Đảng, của Đoàn, còn là việc của Nhà nước, của mọi tổ chức, của xã hội và từng gia đình”. Để xã hội hóa công tác thanh niên cần phải có sự phối hợp đồng bộ chặt chẽ giữa các tổ chức thanh niên với chính quyền, các ngành ở mỗi cấp; với gia đình, nhà trường và xã hội cùng chăm lo giáo dục thanh niên thể hiện trên các phương diện và nguồn lực của xã hội. Đó là:

- Chăm lo cho sự nghiệp Giáo dục - đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Trung ương II khóa VIII để tạo nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hoàn thành công tác phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ, tiến tới phổ cập trung học cơ sở. Nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô giáo dục đào tạo; tăng cường đào tạo công nhân kỹ thuật, hướng nghiệp dạy nghề, phổ cập nghề cho thanh niên. Bồi dưỡng, tạo điều kiện cho các năng khiếu tài năng trẻ phát triển. Quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ trẻ tạo nguồn cán bộ để kế tục và bổ sung cho Đảng, chính quyền các cấp.

- Chỉ đạo hệ thống thông tin đại chúng, nhà trường, gia đình, xã hội và các đoàn thể coi trọng giáo dục truyền thống, đạo lý, phát huy và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, am hiểu pháp luật, trau dồi phẩm chất đạo đức, lối sống, khơi dậy lòng tự cường dân tộc và hoài bão của tuổi trẻ, không để cho ý chí thanh niên chùng xuống và thiếu lửa nhiệt tình.

- Tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách đối với thanh niên như học tập, việc làm, dạy nghề, vay vốn sản xuất, thực hiện các chương trình dự án phát triển kinh tế-xã hội thu hút lao động thanh niên như giao thông, thủy lợi, trồng rừng, xây dựng vùng kinh tế mới… đồng thời tạo môi trường xã hội lành mạnh cho thanh niên có điều kiện phấn đấu, trưởng thành; bảo đảm an toàn cho thanh thiếu niên về chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống, lập lại trật tự, kỷ cương xã hội. Hình thành hệ thống các trung tâm văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí ở các cụm dân cư, khu công nghiệp tập trung để tạo mô hình hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, góp phần phòng chống và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, mại dâm, ma túy và tội phạm trong thanh thiếu niên.

- Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên; tăng cường giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan, đơn vị, các tổ chức kinh tế-xã hội có liên quan đến nghĩa vụ, quyền lợi thanh niên. Tăng cường trách nhiệm pháp lý của gia đình trong việc chăm sóc giáo dục thanh niên; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; động viên sự quan tâm của cộng đồng dân cư, xóm ấp, mời gọi các bậc lão thành cách mạng, các cựu chiến binh, các nhà họat động chính trị-xã hội, các văn nghệ sĩ, trí thức có nhiệt tâm với tuổi trẻ, bảo đảm xã hội hóa công tác thanh niên.

- Xây dựng các chương trình phối hợp hành động cụ thể giữa Đoàn thanh niên với các ngành, đoàn thể cùng cấp; với các đơn vị lực lượng vũ trang, với các tổ chức kinh tế - xã hội để tổ chức các phong trào phát huy vai trò của thanh niên tham gia thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội. Không ngừng đổi mới nội dung và phương thức họat động của Đoàn thanh niên để phù hợp với tình hình trong từng giai đoạn cách mạng. Tăng cường thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể và các lực lượng xã hội hiểu rõ hơn về phong trào thanh niên và công tác thanh niên.

 

2.3- Xây dựng và ban hành các chủ trương, chính sách đối với thanh niên và công tác thanh niên để bồi dưỡng, giáo dục, phát huy vai trò thanh niên trong việc tạo nguồn nhân lực trẻ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Từ các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về thanh niên công tác thanh niên cần được thể chế hóa bằng pháp luật và hệ thống các văn bản pháp quy của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền… để từ đó có cơ sở xây dựng các chương trình, dự án, kế hoạch và đặt nhiệm vụ thanh niên vào kế hoạch của Nhà nước để đầu tư phát triển. Phát biểu tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười nhấn mạnh: “Đảng và Nhà nước ta phải hoàn thiện các chính sách đối với thanh niên, nhằm vừa phát huy tiềm năng sáng tạo của tuổi trẻ, vừa tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để thanh niên cống hiến tốt nhất, nhiều nhất và trưởng thành nhanh nhất... những chính sách đó bao gồm các vấn đề sử dụng tốt nguồn lực trẻ, tạo việc làm, giao trách nhiệm xứng đáng, bồi dưỡng các mặt trí, đức, thể, mỹ, phát huy tài năng trẻ, chăm lo đến các vấn đề xã hội của thanh niên.

 

2.4- Đổi mới và tăng cường các hoạt động của Đoàn và phong trào thanh niên trong tình hình mới

- Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Đoàn và công tác vận động thanh niên là yếu tố quan trọng để thúc đẩy và tăng thêm hiệu quả công tác thanh niên. Trước hết xác định trong những năm tới tập trung củng cố, xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh, tổ chức Hội rộng khắp; đẩy mạnh hai phong trào “Thanh niên lập nghiệp” và “tuổi trẻ giữ nước”. Đổi mới theo phương thức nào phải được xuất phát từ tính hợp lý của mỗi công việc, mỗi đối tượng, mỗi phong trào phù hợp với tình hình, năng lực nội tại nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Đối tượng công tác và vận động là thanh niên, yêu cầu đặt ra làm thế nào đổi mới hoạt động sao cho đoàn viên thanh niên thực sự trở thành nhân vật trung tâm của các hoạt động đó; đáp ứng nhu cầu và phục vụ lợi ích thanh niên, làm cho thanh niên gắn bó với tổ chức của mình. Đổi mới còn là tập trung vào việc chăm lo bồi dưỡng năng lực cống hiến của thanh niên, khơi dậy từ thanh niên lòng nhiệt tình tự nguyện tự giác vươn lên hoàn thành nhiệm vụ. Từ các phong trào phát động đến các buổi sinh hoạt phải tính đến tính đặc thù có sức hấp dẫn phù hợp với yếu tố tâm lý của tuổi trẻ; mặt khác đổi mới không được thoát ly tính chất, chức năng của tổ chức Đoàn và định hướng chính trị đối với phong trào TN.

- Chỉ đạo tiến hành tổng kết các phong trào và mô hình hoạt động của Đoàn, của Hội để không ngừng bổ sung làm phong phú nội dung, hình thức các phong trào thanh niên, xây dựng nhanh và nhân rộng các mô hình tiên tiến. Tiếp tục xây dựng chương trình nghiên cứu khoa học về thanh niên, ưu tiên cho các hướng nghiên cứu tình hình các đối tượng thanh niên như tội phạm thanh niên, thanh niên tôn giáo, dân tộc, nữ thanh niên. Tiến hành tổng kết việc thực hiện chủ trương Nghị quyết, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có liên quan đến các đối tượng thanh niên ở từng lĩnh vực. Có biện pháp thông tin để nắm bắt kịp thời diễn biến tư tưởng, nhận thức của thanh niên; nghiên cứu các luận cứ để tìm ra các giải pháp đối với những vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với thanh niên. Tiến hành triển khai các kết quả đã nghiên cứu để tham mưu cho Nhà nước ban hành các quy định và hoạch định chương trình hành động, kế hoạch công tác thanh niên đồng thời áp dụng vào thực tiễn phong trào thanh niên trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cán bộ Đoàn, cán bộ Hội, anh chị phụ trách thiếu nhi để hình thành được đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, đủ sức chỉ đạo phong trào, đồng thời tạo nguồn cung cấp cán bộ trẻ cho Đảng và chính quyền. Chúng ta vẫn nói: “Cán bộ nào phong trào ấy”, mặt khác tính đặc thù của cán bộ Đoàn thanh niên là chu chuyển rất nhanh, vì vậy cần chủ động tiến hành quy hoạch đội ngũ cán bộ để đào tạo theo hướng dựa trên nền kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn đã có của cán bộ tập trung bồi dưỡng nâng cao về nghiệp vụ thanh vận là chính, giảm bớt tình trạng đưa cán bộ đi học nghiệp vụ khác ít liên quan đến công tác thanh thiếu niên. Việc trẻ hóa và quy hoạch đào tạo cán bộ phải coi trọng và xem xét cán bộ trưởng thành từ cơ sở, trải qua thực tiễn phong trào thanh thiếu niên để lựa chọn đào tạo và đề bạt.

- Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện cho công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu niên. Trước hết đưa vào quy hoạch, đầu tư xây dựng và nâng cấp các cơ sở, các trung tâm họat động phục vụ thanh thiếu niên đã có như nhà văn hóa, nhà thiếu nhi, trung tâm dạy nghề, khu vui chơi, thể dục thể thao, các tụ điểm văn hóa, bảo tàng, thư viện, công viên. Đặc  biệt là trong quy hoạch xây dựng trường học có quy hoạch sân chơi, bãi tập, cây xanh, thư viện, phòng truyền thống và xây dựng cơ sở vật chất, điều kiện phục vụ cho hoạt động Đoàn - Đội. ở đây cần xác định rõ giữa cơ sở do Đoàn thanh niên quản lý với cơ sở do các ngành, nhà trường và nhân dân quản lý có hoạt động phục vụ đối tượng thanh thiếu nhi đều được ưu tiên khuyến khích nhằm mục đích khai thác tiềm năng, nguồn lực xã hội đáp ứng yêu cầu đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ.

 

 

 

 

 

 

 

 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

 

ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG VĂN BẢN CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH CẦN THIẾT, CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THANH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

 

1- Cơ sở pháp lý trong vấn đề quản lý Nhà nước về thanh niên

- Ngày 13/02/1998 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 36/1998/QĐ-TTg thành lập Uỷ ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam. Trong quyết định nêu rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban Thanh niên.

Như vậy về thẩm quyền (Quốc Hội và Chính phủ) sẽ ban hành Luật, văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách về thanh niên và có liên quan đến thanh niên. ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng chương trình - kế hoạch, đề án có liên quan đến nghĩa vụ, quyền lợi của thanh niên.

- Đối với cấp tỉnh là cấp tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật, vận dụng các chủ trương chính sách đó vào tình hình thực tế ở địa phương; chỉ đạo, kiểm tra, giám sát các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế thực hiện pháp luật và chính sách đối với thanh niên; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng chương trình đề án công tác quản lý Nhà nước về thanh niên.

 

2- Ban hành các chính sách cần thiết đối với thanh niên

Hiện nay Nhà nước ta đã ban hành những bộ Luật và nhiều văn bản pháp quy mà đối tượng phục vụ là con người; nhưng những chính sách ấy vẫn chưa đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong tình hình mới. Vì vậy cần phải sớm ban hành và hoàn thiện các chính sách xã hội nhằm chăm lo, bồi dưỡng và phát huy nhân tố nguồn lực con người - một động lực quan trọng nhất của sự phát triển, trong đó đối tượng là thế hệ trẻ có vị trí quan trọng.

 Phạm vi đề tài nghiên cứu này do giới hạn ở cấp tỉnh nên chúng tôi đề xuất lên cấp trên phương hướng xây dựng chính sách cần thiết đối với thanh niên theo quan điểm:

- Về lâu dài cần ban hành Luật thanh niên; ở một số nước trên thế giới đã ban hành luật về thanh niên và thành lập Bộ hoặc Uỷ ban quốc gia về thanh niên, được tổ chức theo hệ thống. Nước ta chưa có văn bản Luật về thanh niên. Trong Quyết định số 36/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thành lập Uỷ ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam giới hạn ở vấn đề có tính lồng ghép xử lý liên ngành, bộ máy là cán bộ kiêm nhiệm; chưa nói rõ chức năng nhiệm vụ của cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương đối với công tác thanh niên. Vì vậy cũng cần bổ sung chức năng nhiệm vụ này để các địa phương nâng cao trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác quản lý Nhà nước về thanh niên.

- Trước mắt cần ban hành ngay một số chính sách riêng cho thanh niên như về chế độ hoạt động phí cho cơ sở Đoàn, nhất là trong các trường học và ở xã phường; chính sách dạy nghề, phổ cập nghề cho thanh niên; chế độ đào tạo cán bộ thanh thiếu niên, chế độ phụ cấp cho cán bộ kiêm nhiệm công tác Đoàn. Điều chỉnh cơ cấu đầu tư và nguồn vốn cho giải quyết việc làm, nhất là đối với địa bàn nông thôn, vùng sâu-xa.

- Ban hành các chính sách kinh tế-xã hội lồng ghép trên mọi lĩnh vực có liên quan đến đối tượng thanh niên; tổ chức nghiên cứu rà soát để chỉnh sửa bổ sung các chính sách đã ban hành, nhất là về lĩnh vực gíao dục đào tạo, lao động việc làm, phân công tuyển dụng lao động, phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút, đầu tư vay vốn (vốn giải quyết việc làm, vốn tín dụng học tập) v.v.. và thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật như Nghĩa vụ quân sự, dân quân tự vệ, lao động công ích... mà chúng tôi đã liệt kê 30 văn bản qui phạm pháp luật của cấp trung ương có lên quan đến thanh niên. Nghiên cứu soạn thảo một số văn bản mới đồng thời với việc chỉ đạo các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở các cấp trong qúa trình xây dựng những chính sách, chương trình, đề án của Nhà nước cần có sự lồng ghép đến đối tượng thanh niên, tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng thanh niên phát triển toàn diện, tạo điều kiện cho thanh niên cống hiến, trưởng thành.

 

         3- Xây dựng văn bản chiến lược về phát triển thanh niên trong giai đoạn mới

Bước vào thời kỳ mới của đất nước, đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười chỉ rõ “Việc quan trọng hàng đầu là phải xây dựng một chiến lược thanh niên trong thời kỳ mới. Mục tiêu mà chiến lược đó cần đạt tới là: một mặt phải đào tạo, bồi dưỡng, hình thành một thế hệ con người mới có ý thức trách nhiệm công dân, có tri thức, có sức khỏe và lao động giỏi, sống có văn hóa và tình nghĩa, giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính; trong đó xuất hiện một lớp thanh niên ưu tú có giác ngộ chính trị cao, có tài năng, đi đầu mở đường cho đất nước ta bước vào thời kỳ mới; mặt khác phải đạt tới sự đổi mới thật sự công tác thanh niên của Đảng, của Nhà nước và toàn xã hội, để thanh niên thực hiện trách nhiệm lịch sử của mình.

Từ mục tiêu tổng quát nêu trên, trong chiến lược quốc gia phát triển thanh niên và trong hệ thống các chính sách về thanh niên cần xác lập hệ thống các mục tiêu từng mặt cùng với những giải pháp đồng bộ gắn liền với nhau. Đó là:

+ Mục tiêu và giải pháp về giáo dục-đào tạo, phổ cập giáo dục, phổ cập nghề, nâng cao dân trí, phát triển tài năng trẻ.

+ Mục tiêu và giải pháp về dân số, lao động, giải quyết việc làm và sử dụng nguồn nhân lực trẻ.

+ Mục tiêu và giải pháp về chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực, tầm vóc cho thanh niên.

+ Mục tiêu và giải pháp về bồi dưỡng lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên, hình thành lớp thanh niên ưu tú phát triển toàn diện, đi đầu mở đường cho đất nước ta bước vào thời kỳ mới.

+ Mục tiêu và giải pháp phát triển các họat động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, bảo vệ môi trường cho sự phát triển bền vững của thanh niên.

+ Mục tiêu và giải pháp đẩy mạnh công tác phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, ma túy, mại dâm trong thanh niên, học sinh.

+ Mục tiêu và giải pháp về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ và xây dựng lực lượng chính trị vững mạnh từ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

+ Mục tiêu và giải pháp về phát huy lực lượng thanh niên trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

+ Tăng cường đoàn kết hữu nghị với thanh niên các nước trên thế giới góp phần củng cố xây dựng hòa bình.

+ Nâng cao năng lực hoạt động quản lý Nhà nước về thanh niên ở các cấp, các ngành.

Những nội dung trên là định hướng cho việc hoạch định chiến lược Quốc gia về thanh niên Việt Nam chúng tôi sẽ trình bày ở một văn bản tham mưu khác.

 

        4- Đề xuất phương hướng xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình hành động và công tác quản lý Nhà nước về thanh niên ở tỉnh Cà Mau.

- Trên cơ sở các văn bản Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết, Nghị định, Chỉ thị, Quyết định, Thông tư của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương; đối với cấp tỉnh sẽ vận dụng ban hành quyết định, chỉ thị nhằm phát huy vai trò thanh niên và thực hiện công tác quản lý Nhà nước về thanh niên; trước mắt đối với tỉnh Cà Mau cần có chương trình hành động và các văn bản đó là:

3.1- Nghiên cứu ban hành Quyết định của UBND tỉnh về Đoàn TN tham gia thực hiện các chương trình kinh tế-xã hội; xác định Đoàn TN là một đầu mối của kế hoạch Nhà nước, được gắn kết trong quá trình xây dựng các chương trình, đề án phát triển kinh tế-xã hội, được phân bổ vốn để thực hiện và quản lý các dự án do cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong đó cần tập trung và tham gia vào các chương trình sau:

- Chương trình kinh tế khuyến nông (gồm khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm, chương trình IPM) nhằm tập huấn và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho thanh niên nông thôn, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nuôi trồng cây con hợp lý có hiệu quả kinh tế, thâm canh tăng vụ, tăng sản phẩm cho chế biến xuất khẩu.

- Chương trình tư vấn và chuyển giao công nghệ mới, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học cho thanh niên nhằm tạo ra một phương thức sản xuất kinh doanh mới đạt chất lượng cao, tiếp cận được trình độ lao động hiện đại.

- Chương trình vay vốn từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm cho TN. Tập huấn cho TN làm quen với hạch toán kinh doanh, sử dụng và quản lý đồng vốn, biết cách lập dự án sản xuất để vay vốn sản xuất tạo công ăn việc làm, thu hút lao động và nâng cao thu nhập cho TN.

- Chương trình truyền thông dân số-sức khoẻ-môi trường, nhằm tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của thanh niên. Trước hết thực hiện tốt sinh đẻ có kế hoạch, tuyên truyền phòng chống AIDS và các dịch bệnh lây lan, tham gia trồng cây xanh, làm vệ sinh, bảo vệ môi trường; tham gia thực hiện chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường.

- Chương trình tham gia xây dựng hạ tầng cơ sở, chủ yếu vận động thanh niên trực tiếp làm các công trình cầu, lộ giao thông nông thôn, làm thuỷ lợi, san lấp mặt bằng các công trình văn hoá xã hội như sân chơi, bãi tập, khu di tích văn hoá, trường học, bệnh viện.

- Chương trình phát triển văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, xây dựng nếp sống văn hoá trong thanh niên, nhằm tạo ra sinh khí vui chơi lành mạnh, bổ ích cho thanh niên; vừa giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc vừa thực hiện nếp sống văn minh, hiện đại.

- Chương trình phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, ma tuý, mại dâm trong thanh thiếu niên, nhằm hạ thấp tỷ lệ thanh thiếu niên phạm pháp, ngăn chặn có hiệu quả nạn ma tuý đang phát triển trong thanh niên học sinh, giáo dục những thanh niên lầm lỡ trở về làm ăn lương thiện.

- Chương trình dạy nghề và phát triển doanh nghiệp trẻ, nhằm từng bước phổ cập nghề cho thanh niên theo phương châm “cần gì học nấy”. Đa dạng hoá các loại hình đào tạo dạy nghề; hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trẻ phát triển.

3.2- Rà soát và tiếp tục thực hiện tốt các quy định, chế độ, chính sách đã ban hành về thanh niên và có liên quan đến nghĩa vụ quyền lợi thanh niên. Nghiên cứu để ban hành chế độ phụ cấp đối với Bí thư Đoàn cơ sở kiêm nhiệm trong các cơ quan, doanh nghiệp, trường học; về chế độ phụ cấp cho giáo viên, y bác sĩ khi nhận nhiệm vụ công tác ở các xã vùng nông thôn xa; về tiếp nhận phân công lao động đối với trí thức (sinh viên) mới ra trường tình nguyện về công tác làm việc tại tỉnh; về chế độ luân chuyển vùng công tác; về khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng trí thức, về thi tuyển công chức. Thành lập các trung tâm hướng nghiệp, dạy nghề cho thanh niên. Thành lập quỹ trợ giúp thanh niên lập nghiệp, thanh niên bất hạnh, củng cố tổ chức và hoạt động cuả Qũy hỗ trợ tài năng trẻ.v.v.

Những nội dung trên là định hướng cho việc ban hành chính sách, hoạch định kế hoạch, chiến lược phát huy, phát triển TN ở tầm vĩ mô cần được các cấp các ngành ghi nhận để vận dụng. Phạm vi nghiên cứu để đề xuất, kiến nghị những vấn đề ở đề tài này, mặc dù ban chủ nhiệm đã hết sức cố gắng song vẫn chưa đầy đủ và thỏa mãn những yêu cầu đặt ra. Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong tỉnh và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh sớm có kế hoạch triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn công tác./.

 

 

 



[1] C.Mác và F.ăng-ghen về thanh niên, bản tiếng Nga, Mátxcơva’ 972tr.110

[2] Sách đã dẫn tr.110

[3] V.I.Lênin, toàn tập, tập 4, trang 195 (bản tiếng Nga)

[4] Lê Duẩn : Ta nhất định thắng, địch nhất định thua. Sự thật. Hà Nội 1970. tr.48

[5] Hồ Chí Minh : Vì độc lập tự do, vì CNXH. Sự thật. Hà Nội 1970. Tập 6 tr.18

[6] Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Sự thật. Hà Nội 1982.Tập 6.tr. 276

[7] Hồ Chí Minh : Về giáo dục thanh niên, Thanh niên. Hà Nội 1980.tr. 129

[8] Sách đã dẫn. tr. 853

[9] Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

[10] Tổng quan tình hình thanh niên, công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi – Nhà xuất bản thanh niên Hà Nội – 1997.


Comments