THAM LUẬN VỀ ĐỔI MỚI PPDH VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN THCS

    đăng 11:28 13-03-2010 bởi Hồ Sỹ Tuân   [ đã cập nhật 12:35 13-03-2010 ]

    THAM LUẬN

    VỀ ĐỔI MỚI PPDH VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN THCS

     


                                                     Người viết: Lê Xuân Tráng

                                                     Đơn vị: Trường THCS Văn Nho

     

    I/ NHẬN THỨC CHUNG:

     1/ Việc đổi mới PPDH và kiểm tra ở các bộ môn nói chung  môn ngữ văn nói riêng đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai trong toàn ngành nhiều năm nay (từ năm 2002 - 2003) đã thực sự tạo ra những chuyển biến khá tích cực và đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động dạy và ở các nhà trường.

    2/ Đổi mới PPDH trong dạy học môn ngữ văn là hết sức cần thiết và cấp bách. Nhưng đổi mới PPDH không có nghĩa là người GV phải từ bỏ đi PPDH truyền thống, hoặc độc tôn một phương pháp nào đó. Đổi mới PPDH chính là vận dụng các PPDH đó một cách phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ, nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập ngữ văn ở tất cả các đối tượng.

     3/ Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học. Đổi mới chương trình đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ các khâu trong đó có đổi mới đánh giá. Kiểm tra là hình thức và phương tiện của hoạt động đánh giá, bởi vậy trong quá trình đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh trước tiên cần phải đổi mới việc kiểm tra.

      II/ THỰC TẾ THỰC HIỆN ĐỔI MỚI PPDH VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG GIẢNG DẠY BỘ MÔN NGỮ VĂN Ở NHÀ TRƯỜNG THCS VĂN NHO CÁC NĂM GẦN ĐÂY:

     Nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa và đặc biệt là bản chất việc đổi mới PPDH và kiểm tra, đánh giá trong giảng dạy bộ môn ngữ văn, BGH nhà trường đã chỉ đạo các giáo viên ngữ văn trong quá trình dạy học tập trung vào thực hiện theo các định hướng sau:

    A/ VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

     Nhà trường đã tổ chức chỉ đạo GVBM ngữ văn thực hiện:

       1/ Vận dụng các PPDH theo hướng phát huy các yếu tố tích cực và những ưu điểm của các PPDH truyền thống và các PPDH hiện đại nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh trong học tập, từ đó GV tạo điều kiện tối ưu để học sinh suy nghĩ, tìm tòi nhiều hơn, thực hành nhe, nói, đọc, viết nhiều hơn.

      2/ Chú trọng vận dụng triệt để và hiệu quả các PPDH đặc thù của bộ môn như:

        - PPDH  văn: PP đọc sáng tạo; PP dùng lời có nghệ thuật; PP vấn đáp gợi tìm.

        - PPDH tiếng Việt và tập làm văn: PP giao tiếp; PP rèn luyện theo mẫu; PP phân tích ngôn ngữ.

      3/ Hướng dẫn học sinh rèn luyện phương pháp tự học và tính tích cực học tập môn ngữ văn: giúp HS biết sử dụng SGK, SBT và các tư liệu tham khảo một cách có ý thức và hiệu quả…

      4/ Vận dụng các hình thức tổ chức học tập kết hợp giữa học tập cá nhân với học tập hợp tác; giữa hình thức học cá nhân với hình thức dạy theo nhóm tạo dựng không khí học tập thích hợp để HS có thể tranh  luận với nhau, với GV và tự đánh giá kết quả học tập của bản thân, của bạn.

      5/ Tăng cường sử dụng ĐDDH theo phương châm thiết thực nhất như: Bảng phụ, tranh ảnh, phiếu học tập….chống trình trạng dạy chay, đọc chép.

       6/ Không áp đặt, gò bó giờ học theo qui trình cứng nhắc. Cho phép GVBM chủ động, sáng tạo trong thiết kế giờ dạy học trên cơ sở căn cứ vào mục tiêu cụ thể của bài học. Cho phép GVBM chủ động về thời lượng mỗi tiết bài trên cơ sở thời lượng của từng tuần miến sao phải đảm bảo mục tiêu bài học.

      7/ Tăng cường cải tiến kiểm tra, đánh giá bằng nhiều hình thức theo chuẩn kiến thức, kĩ năng (như trình bày ở phần B), coi đó là một biện pháp để kích thích học tập môn ngữ văn.

    B/ VỀ ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ

               Nhà trường đã tổ chức chỉ đạo GVBM ngữ văn thực hiện các yêu cầu:

     1/ Đảm bảo tốt các nguyên tắc đổi mới kiểm tra là:

      - Bám sát mục tiêu môn học.

      - Đảm bảo tính vừa sức và phân hoá học sinh (HS trung bình chăm chỉ phải làm được điểm TB trở lên)

      - Đảm bảo tỷ lệ các mức độ kiến thức kỹ năng:ghi nhớ- nhận biết- thông hiểu- vân dụng sáng tạo.

      - Coi trọng đánh giá toàn diện về các mặt: kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, kết quả vận dụng các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh.

      - Đảm bảo nội dung kiểm tra gần gũi, sát với đặc điểm thực tế của địa phương.

    2/ GV phải xây dựng được ma trận trước khi xây dựng hệ thống câu hỏi đối với đề kiểm tra 45 phút trở lên (trừ đề tập làm văn).

    3/ Thực hiện cụ thể của nhà trường trong kiểm tra môn ngữ văn như sau:

      3.1/ Đối với kiểm tra vấn đáp (kiểm tra miệng):

       - Không nhất thiết chỉ kiểm tra vấn đáp trong 10-15 phút đầu giờ và chỉ kiểm tra kiến thức của bài vừa học (như  ta quen gọi là kiểm tra bài cũ).

       - Hình thức kiểm tra vấn đáp, giáo viên có thể sử dụng ở mọi thời điểm trong tiết học ngữ văn, cho mọi đối tượng học sinh với nhiều yêu cầu và mục đích khác nhau.

       - Trong khi kiểm tra vấn đáp giáo viên có thể hỏi về kiến thức cũ hoặc những kiến thức khác có liên quan đến bài mới đang học.

       - Kiểm tra vấn đáp GV phải xác định rõ: nội dung, yêu cầu, mục đích hỏi, xác định rõ từng đối tượng nhằm đến của mỗi câu hỏi, có loại yêu cầu thấp (tái hiện, nhắc lại kiến thức đã học) cho học sinh yếu, TBình; có loại đòi hỏi yêu cầu cao (thông hiểu, giải thích, phân tích, vận dụng) cho học sinh khá, giỏi.

       - Trong việc kiểm tra vấn đáp, không chỉ chú trọng đến kiến thức, mà đòi hỏi phải rèn luyện năng lực nói và kỹ năng trình bày lưu loát, diễn cảm cho học sinh. Đặc biệt phải chú trọng sửa cho học sinh những lỗi về: chính âm, chính tả, cách diễn đạt…

       - Cần tận dụng tối câu hỏi trong SGK, SGV và có thể xây dựng thêm các câu hỏi khác cho phù hợp.

     

     

      3.2/ Kiểm tra viết:

       - Phải thông báo trước để học sinh chuẩn bị. Thời gian dành cho kiểm tra viết có thể là: 10,15,20 phút hoặc lâu hơn là 45 hoặc 120 phút. Có thể áp dụng các kiểu đề kiểm tra sau đây:

    *Kiểu đề là câu hỏi  luận đề(tự luận)

      - Nhất thiết GV phải đảm bảo:

              + Xác định mục đích và nội dung kiến thức kiểm tra.(làm rõ về yêu cầu thể loại, kiến thức, kỹ năng, thái độ sẽ kiểm tra)

    + Xác định hình thức và thời gian kiểm tra.

    + Xây dựng đề kiểm tra cụ thể .

    + Lập biểu điểm, hướng dẫn thực hiện và cho điểm.

    *Kiểu đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan

      - Nhất thiết GV phải đảm bảo:

    + Đảm bảo một cách khoa học về số lượng câu hỏi, trên cơ sở thời gian dành cho việc kiểm tra. Nhận thức rõ nếu càng nhiều câu hỏi trắc nghiệm thì độ tin cậy trong đánh giá kết quả học tập của học sinh càng cao.

    + Đảm bảo về độ khó vừa phải để học sinh chăm chỉ học tập có thể đạt điểm khá trở lên và có câu phân hoá để phân loại được học sinh khá, giỏi.

    + Khi soạn đề GV phải sử dụng phong phú các hình thức câu hỏi trắc nghiệm thông dụng như: Câu TN đúng-sai, Câu TN nhiều lực chọn, Câu TN đối chiếu cặp đôi, Câu TN điền khuyết, Câu TN trả lời ngắn… Không được đơn thuần sử dụng 1 loại duy nhất.

    *Đề kiểu kiểm tra kết hợp cả câu trắc nghiệm và câu tự luận:

      - Nhất thiết GV phải đảm bảo:

    + Tỷ lệ điểm cho phần trắc nghiệm là 40 - 50% . Tỷ lệ điểm cho phần tự luận  50 - 60%.

    + Yêu cầu về các mặt cho hệ thống câu hỏi kiểm tra phải tuân thủ như đã đặt ra cho mỗi kiểu đề bài tự  luận và trắc nghiệm khách quan đã nêu trên.

    4/ Xác định rõ từng kiểu đề, hình thức ra đề cho từng loại bài kiểm tra:

      - Loại bài kiểm tra 10, 15 phút có thể áp dụng tất cả các kiểu đề, hình thức đề: đề tự luận, đề kết hợp cả trắc nghiệm + tự luận; đề vấn đáp, đề viết . Chỉ yêu cầu GV lựa chọn sao cho phù hợp với điều kiện của nhà trường, học sinh và yêu cầu, mục đích đặt ra trong đánh giá học sinh.

      - Loại bài kiểm tra 45 phút cho phân môn văn, tiếng việt: là hình thức đề viết với kiểu đề  kết hợp cả trắc nghiệm + tự luận. (Riêng phân môn tập làm văn là đề tự luận theo định hướng của chương trình và sách giáo khoa).

      - Loại bài kiểm tra học kỳ: là hình thức đề viết - kiểu đề tự luận với nội dung kiểm tra tổng hợp của tất cả các phân môn.

    5/ Khâu chấm, trả bài kiểm tra:

      - Chấm bài GVBM bám sát thang điểm, để hạn chế tối đa yếu tố chủ quan, cảm tính. Đặc biệt trong mỗi bài kiểm tra GV phải ghi rõ lời phê (lời nhận xét) về ưu điểm, khuyết điểm và thái độ làm bài kiểm tra của mỗi học sinh.

      - Trả bài và sửa bài theo đúng qui định, qui chế.

      - Bài kiểm tra phải được lưu giữ thường xuyên ở cả học sinh lẫn giáo viên (giáo viên lưu ở mỗi mức độ 1 bài/ lớp)

    III/ NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỔI MỚI PPDH VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TẠI NHÀ TRƯỜNG

     1/ Những thuận lợi:

      1.1/ CBGV đã được tập huấn khá kỹ lưỡng về đổi mới PPDH và KTĐG trước khi thực hiện.

      1.2/ Các tài liệu hướng dẫn, các tài liệu mẫu được trang bị tương đối đầy đủ.

      1.3/ Chỉ đạo của BGH, chuyên môn nhà trường luôn sát sao và chặt chẽ về công tác đổi mới PPDH, thường xuyên tổ chức dự giờ, góp ý, xây dựng giờ dạy chuẩn để GV học tập rút kinh nghiệm. Đặc biệt trong KTĐG, đã phân cấp việc quản lý đề kiểm tra đến từng cá nhân, bộ phận để đảm bảo đề ra đủ độ chuẩn: đề kiểm tra miệng thường xuyên GVBM ra và tự chịu trách nhiệm, đề 10,15, 45 phút tổ chuyên môn quản lý và chịu trách nhiệm, đề kiểm tra học kì do chuyên môn ra và chịu trách nhiệm.

      1.4/ GVBM nhà trường đa số tiếp cận nhanh nhậy về PPDH, hình thức dạy học tích cực, cũng như cách thức mới trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS.

    2/ Những khó khăn, vướng mắc tại nhà trường:

     2.1/ Về đổi mới PPDH:

       2.1.1/ Cơ sở vật chất (phòng học, bàn nghế…) chưa phù hợp cho việc áp dụng một số hình thức học tập tích cực như: hoạt động thảo luận nhóm.

       2.1.2/ Học sinh trên địa bàn nhà trường là con em các dân tộc ít người độ nhanh nhậy trong học tập chưa cao. Từ học tập thụ động chuyển sang tiếp cận với phương pháp và hình thức học tập tích cực, chủ động còn nhiều hạn chế, bỡ ngỡ, vướng mắc. Các em không quen hình thức học tập hợp tác, tư duy suy luận, phân tích, liên tưởng còn chậm, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu yếu. Đó là một tác nhân hạn chế sự đổi mới của GV.

       2.1.3/ Một số GV do hạn chế về năng  lực nên còn chậm đổi mới, hoặc hiểu chưa thật đúng bản chất của PPDH tích cực, nên khi đi vào vận dụng trong dạy học còn nhiều lúng túng,  máy móc, mang tính hình thức, hiệu quả thấp. Ví như: cứ cho là tổ chức dạy học nhóm, cho HS làm phiếu học tập mới là vận dụng phương pháp mới. Vì vậy sa vào thực hiện tuỳ tiện, hình thức và khô cứng.

     2.2/ Về đổi mới kiểm tra, đánh giá:

        2.2.1/ Một số giáo viên bộ môn do hạn chế về năng  lực nên:

        - Việc xác định các mức độ về kiến thức, kỹ năng trong khâu lập ma trận còn nhiều lúng túng.

        - Kỹ thuật xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chưa thành thạo.

        - Ngại sử dụng đề trắc nghiệm vì: khó soạn, đề quá dài cơ sở vật chất không đáp ứng được kiểu ra đề này.

         2.2.2/ Giai đoạn những năm đầu thực hiện đổi mới, phương tiện, thiết bị để in ấn(máy vi tính, máy in, pho to) đề kiểm tra dạng trắc nghiệm khách quan ở nhà trường chưa có nên giáo viên gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong khâu chuẩn bị đề kiểm tra.

        2.2.3/ Ra đề kiểm tra theo hướng đổi mới đòi hỏi GVBM phải đầu tư nhiều thời gian, công sức, trí tuệ trong khi thời gian làm việc 2 buổi/ ngày của giáo viên đã tác động không nhỏ đến chất lượng của đề.

        2.2.4/ Ở địa bàn nhà trường, đối tượng con em nhà nghèo chiếm trên 80% tổng số học sinh, do đó việc huy động kinh phí để làm đề kiểm tra trắc nghiệm trên giấy in sẵn cũng gặp không ít những khó khăn.

    IV/ NHỮNG ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ:

      1/ Đối với học sinh miền núi, để áp dụng PPDH tích cực có hiệu quả, tránh hình thức, Bộ GD&ĐT cần có sự nghiên cứu tăng thời lượng cho những tiết bài có dung lượng kiến thức, kỹ năng lớn, nặng để GV và HS không bị gò bó, áp lực vì sợ cháy giáo án.

      2/ Tăng cường trang bị về cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị có tác dụng hỗ trợ hiệu quả, thiết thực cho thực hiện đổi mới PPDH ngữ văn ở nhà trường như: máy tính, máy chiếu, tranh ảnh gắn với nội dung các văn bản trong SGK ngữ văn THCS….Hỗ trợ cho HS về SGK và các tài liệu tham khảo gắn với chương trình học tập,

       3/ Cần tiếp tục có chương trình tập huấn về PPDH tích cực, kỹ năng xây dựng ma trận và kỹ thuật ra đề kiểm tra cho GVBM ngữ văn một cách thiết thực, hiệu quả. Đặc biệt là kỹ thuật xây dựng câu hỏi kiểm tra trắc nghiệm khách quan.

      4/ Đối với đề kiểm tra học kì, cần xây dựng theo hướng kết hợp cả trắc nghiệm khách quan và tự luận để đảm bảo tính bao quát được nội dung kiến thức ở phạm vi rộng là chương trình của cả 1 học kì (lâu nay vẫn áp dụng kiểu đề tự luận là chưa đảm bảo tính bao quát và toàn diện trong kiểm tra).

      5/ Ngành Giáo dục cần trang bị đầy đủ cho các nhà trường các thiết bị, phương tiện phục vụ khâu làm đề, in ấn, phô tô đề kiểm tra (vì kiểu đề trắc nghiệm, trắc nghiêm kết hợp tự luận thường có dung lượng câu hỏi nhiều, dài, đòi hỏi phải cho phép học sinh làm ngay trên giấy kiểm tra in sẵn mới đảm bảo về thời gian làm bài, đảm bảo về tính đa dạng của đề kiểm tra.)

                                                                       Văn Nho, ngày 20 tháng 11 năm 2009

                                                                                          NGƯỜI VIẾT

     

     

     

                                                                                         Lê Xuân Tráng

     

     

    Comments