Một vài kinh nghiệm khi thiết kế giáo án điện tử

Trong những năm gần đây khi điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy trong các trường học phổ thông ngày một đầy đủ hơn từ thiết bị giảng dạy hệ thống các phòng học chuyên dụng cũng được xây dựng ngày một nhiều có thể nói về điều kiện dạy học đã được thay đổi đáng kể. Trong số các thiết bị dạy học mới thiết bị có thể xem là khá hiện đại trong điều kiện của giáo dục Việt Nam hiện tại đó là máy tính, màn hình LCD cỡ lớn, máy chiếu Projecter, Bảng điện tử, camera quay vật thể ... Trong đó máy chiếu Projecter ( ta vẫn quen gọi là máy chiếu đa năng) là loại thiết bị mà đa số các trường học ưu tiên sắp trước bởi tính ưu việt của nó khi thiết kế bài giảng có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin. Tính năng cơ bản của nó là phóng to bản chiếu điện tử được thiết kế trên máy tính. Nó có khả năng kết nối với một số thiết bị điện tử khác như máy tính; đầu phát đĩa các loại, đầu thu phát sóng truyền hình qua rất nhiều các cổng khác nhau... Kích thước phóng to tối đa, độ sắc nét phụ thuộc vào thông số kỹ thuật của máy thể hiện ở hai thông số kỹ thuật cơ bản đó là độ phân giải, cường độ sáng. Thông số càng lớn độ sắc nét độ mịn càng cao. Giá thành hiện tại cũng khá dễ chịu máy dùng tạm chấp nhận được tức là cũng có thể nhìn khá rõ trong điều kiện phòng học không quá sáng giá giao động trong khoảng 15 đến 20 triệu. (cường độ sáng 2000; độ phân giải 1024x768 theo tiêu chuẩn SD). Hiện tại có khá nhiều hãng sản xuất máy chiếu, một số hãng có tên tuổi như SONY, PANASONIC, HITACHI ... Một số máy chiếu hiện đại có độ phân giải cao theo chuẩn HD ( chuẩn hình rộng tỉ lệ 16:9 ) có tích hợp camera quay vật thể và tính năng điều khiển chuột máy tính từ xa.

            Có thể nói tính năng và hiệu quả của bài giảng có ứng dụng công nghệ thông tin là rất lớn trong công tác giáo dục nó góp phần làm tăng hiệu quả giờ giảng một cách rõ rệt và giảm rất nhiều chi phí cho công tác thiết kế bài giảng. Nó cho phép đưa văn bản, tranh ảnh, âm thanh, các đoạn video minh họa cho bài giảng, các bài tập trắc nghiệm, các mô hình động ... Ứng dụng ở góc độ đơn giản nhất thì nó cũng có tác dụng như một hệ thống bảng phụ trước đây giáo viên vẫn phải chuẩn bị bằng bản in hoặc viết trên giấy nhưng nó lại có tính linh hoạt hơn động hơn nhiều màu sắc hơn và dễ làm ít tốn kém về kinh tế. Đặc biệt hữu dụng hơn rất nhiều khi giáo viên hiểu biết khai khác thông tin qua mạng Internet để đưa vào bài giảng hiện nay trên mạng internet có rất nhiều nguồn tư liệu phong phú cho công tác giáo dục nếu biết khai thác triệt để nguồn thông tin này sẽ góp phần làm cho bài giảng sinh động rất nhiều đặc biệt các môn gắn liền với thực tế đời sống: Ví dụ khi học cấu tạo nguyên lí hoạt động các cơ quan bên trong của người và động vật thì các thước phim siêu âm về hoạt động giải phẫu có thể minh họa một cách trực quan nhất mà ngay cả việc giải phẫu thực tiễn cũng không thể tốt hơn vì nó có thể mô tả đầy đủ một cách sống động, các phim xây dựng từ các tác phẩm văn học, các phim khoa học về tự nhiên,  các phần mềm dạy học chuyên biệt cho các môn Toán, Lí, Hóa,  tranh ảnh, hệ thống bài giảng thiết kế sẵn trên các thư viện điện tử....

            Có lẽ tính năng và hiệu quả tôi không muốn bàn thêm nữa phần tiếp theo tôi muốn bàn thêm với các đồng chí về một vài những lưu ý khi thiết kế bài giảng để có thể phát huy tối đa thế mạnh của bản trình chiếu và khắc phục một vài nhược điểm của nó.

            Trong một vài năm gần đây tôi có được một vinh dự là được phòng giáo dục gọi đi tham gia dự giờ đánh giá ở một số hội thi như hội thi thiết kế bài giảng điện tử, hội giảng cấp cụm, huyện tư vấn thiết kế bài giảng cho một vài đồng chí đi thi cấp tỉnh. Thông qua các hoạt động này có thể nói tôi học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm từ các đồng chí giáo viên và cũng qua đó tôi cũng thấy được một số hạn chế của bản trình chiếu. Có lẽ thời gian áp dụng thực tế chưa nhiều kinh nghiệm còn hạn chế song tôi rất muốn chia sẻ và mong được các đồng chí bàn thêm để góp phần nâng cao hiệu quả của giờ dạy khi ứng dụng công nghệ thông tin.

            Sau đây tôi xin được nêu ra một số những lưu ý khi thiết kế bản trình chiếu rất mong các đồng nghiệp cho ý kiến bàn thêm.

            Lưu ý 1: Về cách phối màu nền và màu chữ

            Trong một số bản chiếu để bắt mắt hơn đôi khi chúng ta hay lạm dụng những hình ảnh quá sặc sỡ quá nhiều chi tiết vẽ cầu kỳ, hoặc phối màu nền và màu chữ không bảo đảm quy tắc tương phản nên khi chiếu nên rất khó quan sát nội dung.

            * Khắc phục:

Hầu hết các bài giảng đều được thiết kế trên phần mềm PowerPoint phần mền này vốn đã có sẵn rất nhiều mẫu thiết kế với rất nhiều các hình nền bắt mắt và nó còn cho phép sử dụng tranh ảnh làm hình nền cho bản chiếu một cách khá đơn giản tuy nhiên cần phải cân nhắc giữa việc phối màu nền và màu chữ bảo đảm đúng quy tắc tương phản (contrast), chỉ nên sử dụng chữ màu đậm (đen, xanh đậm, đỏ đậm…) trên nền trắng hay nền màu sáng. Ngược lại, khi dùng màu nền đậm thì chỉ nên sử dụng chữ có màu trắng hay vàng. Nền nên sử dụng màu đơn sắc không nên sử dụng các bức tranh có quá màu thuộc các gam màu khác nhau hoặc có quá nhiều chi tiết vẽ quá cầu kỳ để làm nền dễ dẫn đến khó phối màu chữ phù hợp cho tất cả chi tiết bức tranh và gây ra phân tán cho đối tượng học sinh. Việc phối màu cần được kiểm thử trên máy chiếu vì chiếu độ nét của hình ảnh ít nhiều sẽ bị giảm đi điều này cũng còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như phòng học quá sáng không có rèm che, máy chiếu độ phân giải và cường độ sáng thấp. Trong trường hợp này chọn màu nền sáng trắng tự nhiên và màu chữ xanh đậm, đen, đỏ đậm sẽ đạt hiệu quả cao nhất.

Lưu ý  2: Về font và cỡ (size) chữ:

Chỉ nên dùng các font chữ đậm, rõ và gọn hạn chế dùng các font chữ mảnh dễ mất nét khi trình chiếu. Giáo viên thường muốn chứa thật nhiều thông tin trên một slide nên hay có khuynh hướng dùng cỡ chữ nhỏ. Căn cứ theo tiêu chuẩn học sinh ngồi xa nhất thì cỡ chữ phù hợp là cỡ 28 trở lên mới đọc rõ được. ( nếu là chữ đậm có thể nhỏ hơn)

                     Lưu ý 3: Về hiệu ứng: 

Các hiệu ứng hình ảnh, màu sắc, âm thanh, chuyển động được sử dụng có mức độ, hợp lý, không bị lạm dụng, không gây nhiễu loạn làm mất tập trung vào bài học. Các hiệu ứng và âm thanh sử lí theo nguyên tắc giảm dần theo độ tuổi của học sinh,  độ tuổi mầm non cần màu sắc sặc sỡ, âm thanh vui nhộn vì tuổi này cần sự hướng tập trung hơn là chú ý tư duy vì kiến thức còn ít và không có kiến thức tư duy, tuổi tiểu học giảm dần đôi chút so với mầm non, tuổi THCS có thể nhất quán một dạng hiệu ứng trong một đơn vị kiến thức chỉ nên thay đổi khi sang một đơn vị kiến thức mới, đặc biệt hiệu ứng về âm thanh trong khi hiện các nội dung có thể cắt bỏ hoàn toàn chỉ nên để hiệu ứng âm thanh khi thiết kế bài toán trắc nghiệm trong phần hiện đáp án thông thường là hiệu ứng vỗ tay khi đúng và một âm thanh khác khi đáp án sai. Việc hiệu ứng quá nhiều sẽ làm HS phân tán chú ý, mất tập trung đến kiến thức chính trong bài học dẫn  đến ảnh hưởng bất lợi VD: Cho con chữ xuất hiện lẻ tẻ, rời rạc, chuyển động bay bướm, vòng vèo, chậm chạp - các dòng chữ chuyển động quá cầu kỳ hoặc rời rạc, lừ đừ. Màu sắc sặc sỡ, loè loẹt; âm thanh ồn ào chối tai khi chuyển slide.

            Lưu ý 4: Về trình bày nội dung trên nền hình: 

Giáo viên không nên trình bày nội dung tràn lấp đầy nền hình từ trên xuống từ trái qua phải, mà cần chừa ra khoảng trống đều hai bên và trên dưới theo tỷ lệ thích hợp (thường là 1/6), để đảm bảo tính mỹ thuật, sự sắc nét và không mất chi tiết khi chiếu lên màn. Ngoài ra, những tranh, ảnh hay đoạn phim minh họa dù hay nhưng mờ nhạt, không rõ ràng thì cũng không nên sử dụng vì không có tác dụng cung cấp thông tin chính xác như ta mong muốn.

            Lưu ý 5: Hướng dẫn học sinh nhận biết nội dung cần ghi trên bản chiếu.

           Một trong những nhược điểm khá lớn mà khi mới bước đầu áp dụng bài giảng điện tử là việc ghi chép của học sinh bị rối loại không biết ghi cái gì và không ghi cái gì. Ghi ở bảng chiếu hay chỉ ghi bảng phấn. Sở dĩ có sự rối loạn đó là do học sinh vốn đã có thói quen ghi chép khi thầy  vừa đọc vừa ghi trên phần bảng phấn mà thầy đã quy ước ngay từ đầu năm học đó là phần bảng chính. Sang đến dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin có những giáo viên thiết kế kiểu “nửa lạc nửa mỡ” tức là kiến thức cần ghi chép khi thì ở bảng phấn lúc thì ở bảng chiếu, thậm trí có bài thì thiết kế song song hai bảng như nhau bảng phấn vẫn viết bản chiếu cũng có dẫn đến học sinh không biết đường nào mà ghi chép. Cũng có giáo viên thiết kế bản chiếu như một bảng phụ dùng để minh họa tìm tòi kiến thức chính những đôi khi cũng có những kết luận cần phải ghi chép hoặc kết quả hay lời giải của một bài toán nào đó cần được ghi chép lại, có những giáo viên thì thiết kế hoàn toàn trên bảng chiếu bỏ hẳn bảng phấn thông thường.

Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để học sinh có thể biết cách ghi chép những nội dung cơ bản của bài học. Theo tôi dù làm bất kỳ điều gì khác lạ so với quy tắc đã quen thì ta đều phải có quy ước như kiểu hướng dẫn sử dụng vậy. Ta có thể quy ước thêm khi viết trên bảng phấn các em đã biết cách ghi chép theo quy tắc cũ còn trên bản chiếu cần thông báo cho học ký hiệu để học biết cách ghi chép. VD có thể dùng màu chữ để phân biệt nội dung cơ bản cần ghi chép với nội dung minh hoạ mở rộng kiến thức, câu hỏi. Cũng có thể dùng một ký hiệu nào đó đứng trước câu cần ghi chép. Với những kiến thức căn bản nhưng khá dài, nếu chép hết sẽ ảnh hưởng đến tiến độ của tiết học, sau khi giảng xong giáo viên hướng dẫn học sinh đánh dấu trong sách giáo khoa để về nhà chép.

Khi giáo viên trình chiếu Power Point, để học sinh có thể ghi chép kịp thì nội dung trong mỗi slide không nên xuất hiện dày đặc cùng lúc. Ta nên phân dòng hay phân đoạn thích hợp, cho xuất hiện theo hiệu ứng thời gian tương ứng. Trường hợp có nội dung dài mà nhất thiết phải xuất hiện trọn vẹn cùng lúc, ta trích xuất từng phần thích hợp để giảng, sau đó đưa về lại trang có nội dung tổng thể, học sinh sẽ dễ hiểu và dễ chép hơn.

            Lưu ý 6: Không nên chèn ảnh động chỉ mang tính trang trí trong bản trình chiếu

            Việc chèn các ảnh động hoặc sử dụng hiệu ứng cho một đoạn hay một dòng văn bản luôn chuyển động trong suốt thời gian trình chiếu sẽ gây nên sự phân tán cho học sinh bởi tính mới lạ của nó thay vì tập trung vào nội dung bài giảng học sinh sẽ cố quan sát chuyển động để tìm ra quy luật chuyển động của bức ảnh hoặc của dòng chữ đó như vậy ta đã vô tình hướng học sinh tìm hiểu một quy luật thật vô ích.

            Lưu ý 7: Cần có bản thiết kế linh hoạt khi giải quyết các tình huống có nhiều hướng:

            Trong bản trình chiếu khi giải quyết các vấn đề có nhiều hướng hay nhiều con đường đi đến một đích chung ta cần chuẩn bị đầy đủ các phương án và chủ động với bất kỳ hướng nào theo phát hiện của học sinh không nên gò ép học sinh bắt buộc phải đi theo một hướng đã định trước. Trong PowerPoint ta sử dụng kiểu tác động “ Triggers ” có trong hộp thoại hiệu ứng. Chức năng này cho phép chia hiệu ứng thành nhiều con đường tác động hoàn toàn phụ thuộc vào người sử dụng chọn điều khiển.

            Khi thiết kế bài giảng điện tử để bảo đảm tính cơ động ta cũng nên thiết kế thêm một số các phương án phụ có thể giải quyết khi còn thời gian hoặc khi áp dụng bài giảng cho các đối tượng có lực học khác nhau. Trong  PowerPoint ta có thể tạo các nút “link slide” khi cần. Hoặc thiết kế sau slide kết thúc bài nhưng người thiết kế phải nhớ được số thự tự của slide đó khi muốn kích hoạt nó trong chế độ trình chiếu bạn chỉ cần gõ số thứ tự của nó rồi Enter lập tức bản trình chiếu sẽ chuyển sang slide đó và khi quay về ta cũng làm tương tự.

            Lưu ý 8: Cần loại bỏ bớt tính kịch trong bản thiết kế

            Thông qua một số giờ dự đâu đó tôi vẫn nhận ra đằng sau bản chiếu là một màn kịch mà thầy trò đã thống nhất nhau cùng diễn một các lộ liễu:

            Ví dụ:

            + Khi giảng một bài toán có nhiều cách giải quyết giáo viên gọi nhiều học sinh mỗi học sinh giải quyết một hướng nhưng lạ thay bản chiếu và ý tưởng của học trò luôn luôn là một. (cái này ta có cách khắc phục như đã nói ở lưu ý 7)

            + Rõ hơn nữa trong tình huống khi giải quyết song bài toán giáo viên gọi học sinh mở rộng thêm ( hướng mở rộng là rất nhiều và khó định trước ) nhưng cứ học sinh mở ở đâu lập tức bản chiếu có ngay phương án y hệt. Tình huống này theo tôi không nên thiết kế trên bản chiếu giáo viên nên tranh thủ ghi bảng phấn thì khách quan hơn.

            Lưu ý 9: Tăng cường thêm tính tương tác giữa người học và bản trình chiếu

            Đa số  các bản trình chiếu có một hạn chế khá lớn so với bảng viết ở chỗ tính tương tác yếu học sinh thường không thể trực tiếp đưa dữ liệu vào trong khi đang trình chiếu. Sau một đơn vị kiến thức lĩnh hội ta thường có phần rèn kỹ năng thông thường giáo viên thường thiết kế ở dạng bài trắc nghiệm, điền khuyết. Nhưng nhược điểm là ở chỗ các bài tập chỉ dừng lại ở chỗ bằng mọi giá giáo viên phải vấn đáp cho học sinh trả lời đúng đáp án rồi cho hiện kết quả đúng. Trong PowerPoint cũng có chức năng tạo cho bản chiếu có tính tương tác cao hơn đó là những tính năng trong bộ công cụ “control Toolbok”. Nó cho phép ta có thể nhập được dữ liệu vào bản chiếu trong chế độ trình chiếu cao hơn nếu bạn có hiểu biết sơ đẳng về lập trình nó còn cho phép viết lệnh sử lí dữ liệu nhập vào và đưa ra các thông báo, kết luận.

            VD: Trong PowerPoint  tôi có thể thiết kế bài trắc nghiệm rồi cho học sinh nhập trực tiếp trên máy đáp án theo ý mình sau đó bấm nút “chấm điểm” bản chiếu sẽ đưa ra thông báo điểm của học sinh vừa làm hoặc bấm nút “làm lại” nếu học sinh làm chưa đúng, cũng có thể thiết kế để bản chiếu đưa ra những lời khen, động viên sau khi học sinh làm bài hoặc nhũng nhận định về kết quả bài làm của học sinh. Nếu đồng nghiệp nào muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này xin hãy liên hệ với tôi qua thư điện tử tôi sẽ nói cụ thể hơn.

Cùng bàn luận:

1. Phần tiếp theo tôi muốn các đồng nghiệp cùng tôi bàn thêm một phương án thiết kế bản trình chiếu đó là: Có nên  thiết kế bản chiếu thoát li hoàn toàn bảng phấn hay không?

            Tôi cũng đã từng thiết kế một vài giáo án như vậy và cũng tìm hiểu rất nhiều các bài viết về phương án thiết kế này thì đại đa số người dự đều có lời khuyên là không nên làm vậy nhưng không có bài viết nào nói cụ thể tại sao không nên làm như vậy hay chỉ ra nhược điểm của nó một cách cụ thể chi tiết mà chỉ nói chung chung là giờ học trầm và không làm nổi bật được trọng tâm. Mặc dù không có một quy định nào cấm không được làm theo cách thiết kế này song  Tôi cũng đồng tình với quan điểm không nên bỏ qua bảng phấn vốn là cái đã rất quen rất gần gũi với cả thầy và trò mặc dù bảng chiếu cũng có thể làm được những điều khá giống với bảng phấn như việc ta cũng chia bảng chiếu làm hai phần: phần nội dung cơ bản phần dẫn dắt ( bảng nháp ) có thể xóa đi trong suốt quá  trình dạy phần nội dung chính vẫn được lưu giữ trên bảng chiếu kết thúc bài toàn bộ nội dung cơ bản được giữ lại toàn bộ. Vẫn làm được mọi thứ như việc dạy bình thường nhưng người ngồi dự vẫn thấy bài học không hay học sinh làm việc không sôi nổi không nổi bật và giường như người dạy quá nhàn hạ và mất hết tính năng động của cả thầy và trò. Nguyên nhân ở đâu theo tôi có thể nằm  ở một số nguyên nhân cơ bản sau:

+ Thiết kế toàn bộ trên bản chiếu có một yếu điểm là bài giảng thiếu đi tính linh hoạt buộc phải dập khuôn theo một kịch bản đã định trước dẫn đến giáo viên không phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh và thường phải lái học sinh theo hướng đã định của thầy những học sinh đi không đúng hướng sẽ không được phân tích tỉ mỉ việc định hướng không đúng của mình vì nó thường không được chuẩn bị trước trong bản chiếu.

+ Học sinh thường gặp khó khăn khi ghi nội dung bài học mặc dù đã biết quy ước những nội dung nào cần ghi trên bản chiếu song học sinh vốn đã quen với việc sau khi cùng nhau tìm được kiến thức mới thầy vừa ghi vừa đọc trên bảng học sinh nghe thầy đọc để ghi vào vở làm như vậy việc ghi chép giữa thầy và trò có sự phối hợp rất nhịp nhàng. Khi dạy trên bản chiếu một thao tác kích chuột của thầy có thể cho ra năm đến bảy dòng văn bản hoặc nhiều hơn nữa khi đó học sinh  vừa nhìn lên bảng vừa phải cúi xuống ghi vào vở của mình như vậy việc ghi chép sẽ kéo dài hơn cách dạy thông thường vì thêm hẳn một công đoạn nhìn lên đọc trên bản chiếu trong khi đó thời gian để ghi chép thường bị giáo viên cắt ngắn hơn cách dạy thông thường. Nếu trường hợp thầy để đủ thời gian cho học trò ghi trong khi đó thầy ngồi chết lặng trên bàn giáo viên hoặc đi lại một cách lặng thầm hay làm vài động tác giả một cach vô duyên là ngó ngiêng việc ghi chép của học sinh thì không khí tiết học vô tình bị trầm hẳn xuống  vì cả một khoảng thời gian dài chết lặng không một âm thanh phát ra trong lớp học. Hoặc như để học sinh không phải mất thời gian nhìn đọc và cũng để có công ăn việc làm cho mình thầy ngồi đọc lại bản chiếu cho học sinh chép thì giờ học lại dễ bị hiểu sang phương pháp thầy đọc trò chép.

+ Học sinh ít  được tham gia vào quá trình học, quá trình xây dựng kiến thức bài giảng không có tính tương tác qua lại, học sinh không được luyện vì không thể vác bút lên để viết vào bảng chiếu được. Khi thiết kết theo cách này giáo viên bị trói buộc trong hai phương pháp dạy học cho cả tiết dạy đó là thuyết trình và vấn đáp giáo viên xây dựng kiến thức trên cơ sở cung cấp trực tiếp hoặc thông qua hỏi đáp với vài học sinh khá giỏi rồi công nhận cho trình chiếu kiến thức mới hoặc kết quả của một bài học việc làm như vậy khó có thể đọng lại được trong đầu những học sinh có lực học trung bình chứ chưa nói đến đối tượng học sinh yếu.

 Trên đây là một vài những điều tôi biết được thông qua các đồng nghiệp rất mong các đồng nghiệp cho ý kiến đóng góp thêm. Những ý kiến đóng của đồng nghiệp nếu có giá trị tôi xin phép đăng tiếp tại các kỳ cập nhật tiếp theo.  Thư góp ý xin gửi về địa chỉ tuankiet307@gmail.com

Lưu ý: Tiêu đề bài viết này tôi lấy tên " Một vài kinh nghiệm khi thiết kế giáo án điện tử " nó không thật chính xác với khái niệm về giáo án điện tử thực tế nó chỉ bó hẹp trong khuôn khổ một bản chiếu điện tử hay nói đúng hơn là thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT nhưng đại đa số chúng ta vẫn ngộ nhận và gọi tên nó là " giáo án điện tử " vì vậy tôi vẫn quyết định như vậy chỉ với một mục đích rất nhỏ đó là muốn bài viết này đến được với nhiều độc giả trong cả nước mà thôi. Bởi vì có cách hiểu chưa thật chính xác như trên mà đa số các giáo viên chúng ta thường gõ lệnh tìm kiếm thông tin trên mạng là " giáo án điện tử " nên tôi cũng buộc mình phải uốn theo cái chưa thật chính xác của đa số mà thôi. Mong các bạn hết sức thông cảm. 

                                                                        Nguyễn Tuấn Kiệt – THCS Thi Sơn.

 

Comments