.Anhhùng NGUYỄN HUỆ



            




Tóm tắt biên niên tiểu sử Vua Quang Trung
26.09.2008

Quang Trung – Nguyễn Huệ là một thiên tài quân sự, một vị anh hùng dân tộc kiệt xuất. Hình ảnh vua Quang Trung tiêu biểu cho tinh thần quật cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Chỉ với 39 tuổi xuân, Quang Trung đã có 22 năm đánh Nam dẹp Bắc – tạo cơ sở cho quá trình thống nhất đất nước; đuổi Xiêm diệt Thanh – góp phần bảo vệ vững chắc nền độc lập nước nhà. Mỗi chiến công trong cuộc đời Quang Trung đánh dấu một mốc son trong lịch sử hào hùng của cả dân tộc.

Những sự kiện chính trong cuộc đời và sự nghiệp vua Quang Trung:

 Năm 1753

– Sinh ra tại thôn Kiên Mỹ, ấp Kiên Thành, huyện Hoài Nhơn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Thân sinh Quang Trung là ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng.

 Năm 1771

–  Dựng cờ khởi nghĩa, trở thành một trong ba lãnh tụ cao nhất của phong trào Tây Sơn.

 Năm 1775

– Tổng chỉ huy xuất sắc trận đánh Phú Yên, tạo ra bước ngoặt quan trọng cho toàn bộ quá trình phát triển mạnh mẽ sau đó của phong trào.

 Năm 1777

– Tổng chỉ huy cuộc tấn công vào Gia Định lần thứ hai, lật đổ cơ đồ thống trị của họ Nguyễn.

 Năm 1782

– Chỉ huy cuộc tấn công vào Gia Định lần thứ tư, đánh cho Nguyễn ánh đại bại.

 Năm 1783

– Tổng chỉ huy cuộc tấn công vào Gia Định lần thứ năm, đuổi tập đoàn Nguyễn ánh ra khỏi bờ cõi.

 Năm 1785

– Tổng chỉ huy trận Rạch Gầm – Xoài Mút, đánh tan 5 vạn quân Xiêm xâm lược.

 Năm 1786

– Tổng chỉ huy các đợt tấn công tiêu diệt chính quyền họ Trịnh.

 Ngày 22/12/1788

– Lên ngôi Hoàng đế tại Núi Bân (Phú Xuân – Huế). Niên hiệu Quang Trung bắt đầu xuất hiện từ đây.


 Từ 1789 đến 1792

– Ban bố Chiếu khuyến nông, Chiếu lập học, tiến hành những cải cách tích cực và táo bạo.

 Ngày 15/9/1792

– Quang Trung đột ngột qua đời, để lại niềm thương tiếc khôn nguôi cho lớp lớp những thế hệ người Việt Nam yêu nước.


PHIM TRONG LỄ 1000 NĂM THĂNG LONG

NHÂN TẾT  NHỚ LẠI CHIẾN THẮNG KỶ DẬU

CỦA VUA QUANG TRUNG

Tình hình bắc hà trước và khi quân thanh xâm chiếm nước ta.

            Năm Mậu Tuất, niên hiệu Chiêu Thống thứ 2 (1778), sau khi Nguyễn Hữu Chỉnh, một danh tướng Bắc Hà, lợi dụng sự tin dùng của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, khi Huệ rút quân về Nam sau khi đã diệt xong họ Trịnh, tái lập vương quyền cho vua Lê Chiêu Thống, để Chỉnh ở lại giúp vua Lê, Chỉnh muốn thay thế họ Trịnh nắm toàn quyền ở Bắc hà hống hách lạm quyền.

            Vũ Văn Nhậm con rể của vua Thái Đức (tức Nguyễn Nhạc anh của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ) lúc đó đóng quân ở Thanh Hoá, được lệnh của Bắc Bình Vương đem quân ra Bắc dẹp Nguyễn Hữu Chỉnh.

            Chỉnh bị thua ở trận Mục Sơn (thuộc xã Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang ngày nay), bị tướng Nguyễn Văn Hòa dưới quyền Vũ Văn Nhậm bắt sống giải về Thăng Long. Nhậm cho xử xé xác Chỉnh ở cửa thành để răn chúng.

            Sau khi giết Chỉnh Nhậm trở nên kiêu căng, tự đúc ấn, chuyên quyền trong mọi việc cắt đặt sắp xếp. Trước đó khi sai Nhâm đem quân ra Bắc diệt Chỉnh, Bắc Bình Vương vốn đã nghi ngờ Nhậm, nên đã sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân làm tham tán (tức như sĩ quan tham mưu ngày nay) để một mặt chia bớt quyền của Nhậm, một mặt ngầm theo dõi hành vi của Nhậm và mật báo cho Nguyễn Huệ mỗi khi Nhậm có ý khác.

            Ngay khi được mật báo của Ngô Văn Sở, Nguyễn Huệ lập tức đem quân ra Thăng Long, bắt Nhậm giết đi, cho Ngô Văn Sở thay thế chỉ huy toàn quân và trấn thủ Thăng Long. Lúc đó các quan lại nhà Lê nhiều người muốn tôn Nguyễn Huệ lên làm vua, nhưng Nguyễn Huệ e lòng dân chưa hoàn toàn thần phục nên không chịu, cử hoàng thân Sùng Nhượng Công Lê Duy Kỳ làm giám quốc và cho Ngô Thì Nhậm làm Lại bộ Tả Thị Lang, Phan Huy Ích làm Hình bộ Tả thị lang để giúp sức, lại dùng bọn Nguyễn Thế Lịch, Ninh Tốn, Nguyễn Du (xin đừng nhầm Nguyễn Du này ngưới làng Văn Xá huyện Thanh Oai, Hà Đông với Nguyễn Du tác gỉa Truyện Kiều), Nguyễn Bá Lan làm Hàn Lâm Học Sĩ cùng với Ngô Văn Sở giúp Sùng Nhượng Công rồi rút quân về Nam.

            Trong khi đó vua Chiêu Thống có tướng là Nguyễn Viết Tuyển thắng được tướng Nguyễn Quỳnh bộ tướng của Ngô Văn Sở ở sông Vị Hoàng, vua Lê lúc đó đang trốn ở vùng Kinh Bắc bèn dời xa gía về Thủy Đường (nay là huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng), rồi từ đây vượt biển đi Chân Định (nay là Huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình) để đến hội với Nguyễn Việt Tuyển tại Vị Hoàng.

            Ngô Văn Sở đem quân đi đánh Nguyễn Việt Tuyển ở Vị Hoàng, Tuyển thua nặng, vua Chiêu Thống cùng Tuyển rút về Quần Anh ở huyện Nam Chân (nay là Nam Trực tỉnh Nam Định). Đêm bị bão lớn, thuyền vua Chiêu Thống bị trôi vào tận  Thiết Giáp (tức xã Thiết Giáp huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá), còn thuyền của Việt Tuyển giạt vào đến tận cửa Cần hải (tức xã Hải Thuận huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An), lúc đó quân của Nguyễn Huệ đã làm chủ tình hình ở trấn Thanh Nghệ nên Tuyển ra Thăng Long hàng Ngô Văn Sở nhưng sau bị giết. Vua Chiêu Thống theo đường bộ từ Thanh Hoá ra Kim Bảng thuộc Sơn Nam (nay là Hà Nam) rồi lên Kinh Bắc đóng ở Lạng Giang.

            Tháng 7 mùa thu năm Mậu Tuất (1778) Hoàng Thái Hậu nhà Lê được bọn Đốc đồng Nguyễn Huy Túc, Địch quận công Hoàng Ích Khiêm, Tụng thần Lê Quýnh và Nguyễn Quốc Đống bảo vệ do cửa ải Thủy khẩu chạy sang Long Châu cầu viện với nhà Thanh. Quan Châu nhà Thanh là Trần Tốt báo lên Tổng Đốc lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị và Tuần Phủ Quảng tây là Tôn Vĩnh Thanh. Bọn Sĩ Nghị tâu lên vua Càn Long nhà Thanh, trong sớ tâu có đoạn như sau :"Tự Hoàng nhà Lê đang phải bôn ba, đối với đại nghĩa ta nên cứu viện vả lại An Nam vốn là đất cũ của Trung Quốc, ta nhân giúp khôi phục nhà Lê rồi ở lại đóng giữ luôn, tức vừa làm cho nhà Lê được tồn tại, vừa chiếm được An Nam, thật là nhất cử lưỡng tiện."

            Vua Càn Long nghe theo, bèn giao cho Tôn Sĩ Nghi toàn quyền lo toan mọi việc.

            Sĩ Nghị điều động quân 4 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Qúy Châu cả thẩy hơn 20 vạn, chia làm 3 đường tiến vào nước ta với danh hiệu giúp vua Lê khôi phục đất nước.

            Tháng 10, nùa Đông Sĩ Nghị cho quân tiến vào nước ta.

Đạo thứ nhất do Tổng Đốc Vân Nam và Qúy Châu chỉ huy tiến vào theo ngả Tuyên Quang.

Đạo thứ hai do Tri Phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống tiến vào theo ngả Cao Bằng.

Đạo thứ 3 do chính Tôn Sĩ Nghị và Đề Đốc Hứa Thế Hanh chỉ huy tiến vào qua ải Nam Quan (nay là Mục Nam Quan vừa bị nhà cầm quyền trong nước dâng cho Tầu).

Khi quân Sĩ Nghị tiến đến Kinh Bắc (Tức Bắc Giang Và Bắc Ninh ngày nay), Ngô Văn Sở sai Nội hầu Phan Văn Lân đem 1 vạn quân tinh nhuệ lên đóng ở Thi Càu. Quân Thanh tiến chiếm núi Tam Tầng rồi bất ngờ xua quân đánh úp quân của Lân ở Thị Càu. Quân Thanh dùng sung hóa sang và cung tên tập trung bắn quân của Lân từ hai phía khiến Lân thua to phải rút về Thăng Long. Sĩ Ngjị xua quân đuổui theo đến đóng ở bờ Bắc sông Nhị.

Ngô Văn Sở bàn với Ngô Thì Nhậm là Thăng Long trống trải khó giữ, bèn rút quân về Thanh Hóa, đóng Thủy quân ở hải phận Biện Sơn, bộ quân thì đóng chẹn ở đèo Ba Đội (tức núi Tam Điệp) rối cho phi mã báo vế với Bình Định Vương.

Trong lúc đó vua Chiêu Thống đang ở Phượng Nhãn (nay là Phượng Nhãn , Bắc Giang)bèn đem trâu bò rượu thịt về khao thưởng quân Thanh rồi vào Thăng Long.

Tôn Sĩ Nghị làm cầu phao cho quân di chuyển qua song Nhị ở bến Bồ Đề và đặt bộ chỉ huy ở cung Tây Long bên bờ song. Doanh trại quân Thanh đóng san sát rất là hùng dũng.

Sau đó Nghị lấy sách văn và ấn chưởng của vua Thanh ban sẵn ra phong cho vua Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương.

Sau khi thụ phong vua Chiêu Thống thăng chức cho một số quan theo hầu hộ gía như bọn Phan Trích Dữ, Lê Huy Đản, Vũ Trinh, Nguyễn Đình Giản, Nguyễn Duy Hiệp, Chu Doãn Lệ, Trần Danh Án, Lê Quýnh. Lại ban lệnh phế Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích xuống hàng thứ dân. Giáng chức bọn Nguyễn Hoãn, Phan Lê Phiên, Mai Thế Uông. Giết bọn Phạm Như Tụy và Dương Bành. Thậm chí còn giết cả một người đàn bà thuộc tôn thất đã lấy một viên tướng của Nguyễn Huệ, lúc đó đang có bầu, vua sai mổ bụng cho chết, rồi lại sai chặt chân một vị hoàng thúc và vứt ra chợ. Sau đó bắt nhân dân khắp nơi phải đóng góp quân lương rất nặng nề nhưng lại đem dâng cho quân Thanh vì việc tiếp tế của quân Thanh từ qúa xa có nhiều trở ngại.

Nhân dân khắp nơi ai cũng oán than, thậm chí chính hoàng Thái Hậu khi từ bên Tàu về đến Thăng Long thấy vua Chiêu Thống ra oai tác phúc như thế cũng phải khóc và than rằng :"Trải bao cay đắng, ta mới cầu xin được quân cứu viện sang đây, nước nhà phỏng chịu được bao phen phá hoại bằng cách đền ơn báo oán thế này ? Thôi diệt vong đến nơi rồi !"

Bình định vương lên ngôi hoàng đế và đem quân ra bắc đại phá quân thanh.

Tin của Ngô Văn Sở về đến Phú Xuân, đọc báo cáo của Sở nói thế quân Thanh qúa ghê gớm, Bình Định Vương cười mà rằng :"Việc gì mà cuống quýt lên vậy? Chúng nó chỉ tự đến để tìm chỗ chết mà thôi. Ta trước hết hãy lên ngôi để danh nghĩa được quang minh chính đại, ràng buộc lấy lòng người trong Nam ngoài Bắc rồi sẽ ra bắt sống chúng nó cũng chưa muộn nào !"

Bình Định Vương liền đó chọn ngày lành tháng tốt, 25 tháng Một (tức là tháng mười một năm Mău Thân) (1788) làm lễ tế trời ở Bàn Sơn (thuộc địa phận An Cựu quận Hương Trà ngày nay) xưng là Quang Trung Hoàng Đế. Ngay ngày hôm sau vua Quang Trung đem hết quân vưỡt sông ra Bắc. Đến Nghệ An và Thanh Hóa dừng lại nghỉ 10 ngày tuyển thêm quân sĩ  được 8 vạn tất cả tổng cộng thành 10 vạn quân và hơn 100 thớt voi, bèn đóng quân ở Thọ Hạc (nay thuộc huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa), trước hết để quân Thanh không đề phòng, sai người ruổi ngựa đưa thư đến Sĩ Nghị xin đầu hàng. Lời lẽ trong thư rất nhũn nhặn khiêm tốn.

Sĩ Nghị từ khi đến được Thăng Long, tự cho là việc đã xong, có ý khinh địch, nay nhận được thư xin hàng của Nguyễn Huệ lại càng khinh thường.

Trong khi đó quân của Quang Trung tiến đến đèo ba đội, nhập với quân của Ngô văn Sở. Vua Quang Trung điểm duyệt quân sĩ, truyền dụ cho mọi người phải gắng sức diệt giặc cứu nước. Hôm đó là ngày 20 tháng chap năm Mậu Thân (1789).

Bọn Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm đều ra tạ tội kể chuyện quân Tàu thế mạnh đánh không nổi nên phải lui quân về giữ chỗ hiểm yếu.

Vua Quang Trung cười nói rằng :" Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này than coi việc quân. Đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 nước ta. Sau khi thua trận tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều ta sao nỡ thế. Văy đánh xong trận này ta phải nhờ Thì Nhậm dung lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta đâu cần phải sợ chúng nữa."

Vua Quang Trung truyền cho tướng sĩ ăn Tết Nguyên Đán trước, để đến hôm trừ tịch (tức là 30 tết) thì xuất quân. Vua cũng định ngày mùng 7 tháng giêng năm Kỷ Dău thì sẽ mở tiệc ăn mừng chiến thắng trong thành Thăng Long.

Liền đó truyền cho tướng sĩ dưới quyền đến nghe lệnh điều khiển :

Đại Tư Mã Ngô Văn Sở, Nội hầu Phan Văn Lân đem tiền quân đi tiên phong, Hô Hổ Hàu đem hậu quân đi đốc chiến.

Đại Đô Đốc Lộc, Đô Đốc Tuyết, đem hữu quân và thủy quân vượt biển vào sông Lục đầu, sau đó Tuyết kinh lược mặt Hải dương, tiếp ứng đường mé Đông, Lộc thì kéo quân về vùng Lạng Giang, Phượng Nhỡn, Yên Thế, để chặn đường quân Tàu rút chạy về Tầu.

Đại Đô Đốc Bảo, Đô Đốc Mưu, đem tả quân cùng quân tượng mã, đi đường thượng lộ (đường núi) ra đánh phía Tây. Mưu thì xuyên qua huyện Chương Đức (nay là Chương Mỹ), kéo thẳng đến làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì đánh quân Điền Châu. Bảo thì thống xuất quân tượng mã, theo đường huyện Sơn Lãng ra làng Đại Áng huyện Thanh Trì tiếp ứng cho mặt tả.

Năm đạo quân sau khi nghe lệnh đều thu xếp để đúng đêm trừ tịch thì Bắc tiến. Vua Quang Trung vì muốn tốc chiến đã đặt ra cách hành quân như sau, chia quân thành từng tổ 3 người một, cứ hai người khiêng võng cho một người nằm nghỉ, thay nhau khiêng và nghỉ nên quân lính ai cũng khỏe hành quân như gió.

Khi quân sang sông Giản Thủy (tức là bến đò Giản giáp ranh giới Ninh Bình và Hà Nam bây giờ) phá tan cánh quân của nhà Lê ở đây. Vua Quang Trung đích thân đốc quân truy duổi đến huyện Phú Xuyên bắt được trọn đám quân Tầu đóng ở đãy, không một tên nào chạy thoát, vì thế quân Tầu đóng ở làng Hà Hồi và Ngọc Hồi không hề hay biết gì hết.

Nửa đêm ngày mồng 3 Tết Kỷ Dău, quân ta vây làng Hà Hồi, thuộc huyện Thượng Phúc (nay là xã Hà Hồi huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây) vua Quang Trung cho bắc loa gọi lính, lính dạ ran, tiếng dạ của hàng vạn người vang lên như sấm khiến quân Tầu trong đồn hoảng sợ vội xin hàng Quân ta thu được toàn bộ khí giới và quân lương.

Khi tiến đến làng Ngọc Hồi, thuộc huyện Thanh Trì (nay là thôn Ngọc Hồi xã Ngọc Hồi huyện Thanh Trì Hà Nội), quân Tầu ở đây bắn súng ra  như mưa, vua Quang Trung sai lính lấy ván ghép lại, cứ 3 mảnh ghép làm một, lại cho quấn rơm tẩm nước ướt  ở ngoài rồi sai quân kiêu dũng cứ 20 người khiêng một tấm ván, mỗi người đều có giắt dao nhọn, theo sau lại có 20 người cầm khí giới. Vua Quang Trung cưỡi voi đi sau đích thân dốc chiến. Quân ta tiến sát đồn giặc, bỏ ván xuống lấp rào và chà cản rồi xông vào rút dao chém quân Tàu; quân đi sau cũng sấn lên tiến công. Quân Tàu địch không nổi, xôn xao, tán loan xéo lên nhau mà chạy. Quân ta thừa thế đánh tràn lên chiếm các đồn, giết quân Thanh thây nằm chật đất, máu chẩy thành sông. Các tướng Thanh như đề đốc Hứa Thế Hanh, Tiên Phong Trương Sĩ Long, Tả dực Thượng Duy Thăng đều tử trận. Quan Phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống, viên chỉ huy đạo quân thứ 2 của Thanh binh, đóng ở Loa Sơn (tục gọi là Đống Đa), bị quân ta vây ngặt qúa phải tự thắt cổ chết.

(sau này bọn thương buôn người Tàu cư ngụ ở Thăng Long làm đền thờ Sầm Nghi Đống ở ngõ Sầm Công sau phố hàng Buồm Hà nội, bà Hồ Xuân Hương có làm bài thơ vịnh như sau :

            Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,

            Kìa đền thái thú đứng cheo leo.

            Ví đây đổi phận làm trai được,

            Thì sự anh hùng há bấy nhiêu

Tôn Sĩ Nghị nửa đêm được báo tin hoảng hốt không kịp thắng yên ngựa, cùng vài tên tùy tùng vội vượt sônt bỏ chạy lên phía Bắc. Quân lính nghe tin chủ tướng đã bỏ chai, tan rã cũng chạy theo, tranh nhau qua cầu, cầu bị qúa tải xập gẫy, quân Tâu sa cả xuống song, xác quân Tàu chết đuối làm nghẽn cả dòng sông.

Vua Chiêu Thống cũng vội cùng bà Hoàng Thái Hậu và mấy người cận thần chạy theo Tôn Sĩ Nghị sang Tàu.

Ngày hôm ấy vua Quang Trung đốc quân diệt giặc, áo ngự bào bị thuốc sung bắn vào khiến đen như mực. Đến trưa thì vào thành Thăng Long. Vua sai tướng đem quân đuổi theo Tôn Sĩ Nghị đến tận cửa Nam quan. Dân  Tàu ở bên kia biên giới Lạng Sơn nghe tin quân ta đuổi đánh sợ qúa bồng bế nhau bỏ nhà cửa chạy lên phía Bắc cả mấy trăm dặm. Suốt dọc biên giới Hoa Việt lúc đó về mặt Bắc hang mấy trăm dặm, tịnh không đâu có tiếng người nào nữa.

Vua Quang Trung vào Thành Thăng Long hôm đó là ngày mồng năm Tết Kỷ Dău, sớm hơn dự trù hai ngày, ban lệnh chiêu an bá tánh, phàm người Tàu trốn tránh ra đầu thú đều cấp cho áo mặc và lương ăn. Lại bắt được cả ấn tín và đồ văn phòng tứ bảo của Tôn Sĩ Nghị bỏ lại. Trong đống văn thư của họ Tôn có một mật chiếu của vua Thanh đại ý ra lệnh cho Sĩ Nghị phải xem xét nếu quân dân còn tưởng nhớ nhà Lê thì kêu gọi quân dân phò tá vua Lê dể diệt Nguyễn Huệ. Nhân đó sai tự quân đánh Nguyễn Huệ, quân Thanh chỉ kéo theo sau hỗ trợ, như vậy không tốn sức mà được việc. Nếu lòng dân nửa nọ nửa kia thì tìm cách giảng hòa với Huệ rồi đợi cho thủy quân ở Mân, Quảng đi đường biển vào đánh Thuận Hóa và Quảng Nam, lúc đó bộ binh sẽ tiến lên hai mặt giáp công thế nào cũng thắng. Nhân đó làm ơn cho cả hai bên, chia đất từ Thuận Hóa trở vào Nam thì cho Nguyễn Huệ, từ các châu Hoan, Ái trở ra Bắc thì phong cho tự quân nhà Lê. Quân Tàu đóng đại quân lại kiềm chế cả đôi bên rồi sẽ xử trí về sau.

Vua Quang Trung xem tờ mật chiếu của vua Thanh bảo với Ngô Thì Nhậm rằng :

Ta xem ra vua Thanh chỉ mượn cớ giúp nhà Lê để lấy nước ta mà thôi. Nay đã bị ta đánh thua tất sẽ xấu hổ, chắc không chịu ở yên. Hai nước cứ tiếp tục đánh nhau thì chỉ làm khổ dân. Văy nên dùng lời nói khéo để cho khỏi sự đao binh. Việc ấy nhờ nhà ngươi chủ trương mới được.

Sau đó vua Quang Trung sai Ngô Thì Nhậm viết thư lời lẽ mềm mỏng đổ cho tại Tôn Sĩ Nghị, xin tạ tội và xin giảng hòa. Lại sai người đút lót cho bọn Hòa Khôn ở trong triều nhà Thanh và Phúc Khang An tân Tổng Đốc lưỡng Quảng vừa được vua Càn Long cử thay thế Tôn Sĩ Nghị để mưu phục thù, nhưng An nghe tin quân của Quang Trung qúa mạnh đã sợ không muốn xuất quân. Nay nhận được của hối lộ bèn hợp cùng bọn Hòa Khôn tâu lên Thanh Đế cho giảng hòa. Vua Thanh y theo cho thông hiếu và cho xứ sang phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam Quốc Vương.

Vua Quang Trung với chiến thuật thần sầu tốc chiến tốc thắng chỉ với quân số bằng một nửa quân Tàu và chỉ trong vòng chưa tới 10 ngày đã đánh tan đạo quân xâm lược nhà Thanh hơn 20 vạn quân tan tành không còn mảnh giáp. Chiến tích đó thật là thiên niên tiền hậu bất sánh

                                                                                              THANH VĂN

 



Vinh Danh Anh Hùng Dân Tộc

Người Pháp tự hào về Napoléon Bonaparte. Ông là một thiên tài quân sự, đã chinh phục một phần lớn lãnh thổ Âu Châu, nhưng cuối cùng thất bại trận Waterloo tại nước Bỉ.
Vào thời gian này, tại Mỹ Quốc cũng có cuộc cách mạng Hoa Kỳ. Chính George Washington, một chính trị gia lỗi lạc, một anh hùng dân tộc, đã đưa đất nước Hoa Kỳ đến chỗ vinh quang.
Việt Nam chúng ta có vua Quang Trung Nguyễn Huệ là kết hợp hai đặc điểm Thiên Tài Quân Sự của ông Napoléon Bonaparte và chính trị gia lỗi lạc của ông George Washington. Vua Quang Trung hành quân tốc chiến tốc thắng, biến hóa như thần, hiệu lệnh nghiêm minh, kỷ luật sắt thép. Từ khi làm Tướng, giữa lúc nước nhà ly loạn khắp nơi, đến khi ông mất, xông pha trăm trận bách chiến bách thắng, ông chưa hề biết chiến bại.
Chỉ trong 5 ngày chiến đấu ào ạt, Vua Quang Trung đã tiêu diệt 20 vạn quân Thanh, chiến thắng vẻ vang trong những trận đánh thần tốc oai hùng.
Cuộc Cách Mạng Dân Tộc
Vào thế kỷ thứ 18, tại Việt Nam thời bây giờ, loạn lạc nổi lên khắp nơi như vụ loạn Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Hoàng Công Chất, quan quân địa phương dẹp không nổi.
Trong Nam, năm 1782 Nguyễn Phúc Ánh Nhà Nguyễn bị Nhà Tây Sơn đánh bại tại Ngả Bảy Thất Kỳ Giang không còn manh giáp, Nguyễn Phúc Ánh chạy thoát thân ra đảo Phú Quốc. Trong trận nầy, Nguyễn Phúc Ánh cầu cứu một người Pháp tên là Manuel đem thủy quân đến giúp, nhưng không chống nổi, Manuel phải đốt tàu mà chết. Về sau, Nguyễn Phúc Ánh nhờ Giám Mục Bá Đa Lộc (Alexandre de Rhodes), đem con là Hoàng tử Cảnh đi cầu cứu nước Pháp, nhờ đem quân sang giúp, chống lại nhà Tây Sơn, khơi mào cho sự dòm ngó tìm thị trường và thuộc địa của Đế quốc phương tây. Năm 1784, Nguyễn Phúc Ánh rước quân Xiêm La do hai tướng Xiêm là Chiêu Tăng và Chiêu Sương, đem 2 vạn quân và 300 chiến thuyền chiến Rạch Giá, Ba Thắt, Trà Ôn và Mân Thít. Đi đến đâu quân Xiêm cướp bóc và quấy nhiễu đến đó.
Ở miền Bắc Trịnh Giang chuyên quyền, giết vua Lê, tàn sát các công thần. Họ Trịnh ăn chơi xa xỉ khiến công quỹ hao hụt, sưu thuế nặng nề. Cuộc tranh bá đồ vương Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài trên một trăm năm (1620-1775) làm dân chúng chết chóc, điêu linh khổ sở.

Năm 1788, Lê Chiêu Thống rước quân Tàu do Tôn Sĩ Nghị, Tổng Đốc Lưỡng Quảng, đem quân xâm chiếm Việt Nam, thiếu chút nữa nước ta bị quân Tàu đô hộ một lần nữa.
Giáo sĩ Diego de Jumilla viết: “Để đáp ứng nguyện vọng của toàn dân, Nhà Tây Sơn đã đứng lên làm cuộc Cách Mạng Dân Tộc, lật đổ chế độ thối nát, đem công bằng và cơm no áo ấm cho dân chúng”.
Buttinger, nhà nghiên cứu lịch sử chính trị đã nói: “Những lực lượng xã hội thời bấy giờ, như khách trú người Hoa, người Chiêm Thành, các giới nhà chùa Phật Giáo, Lão Giáo, Các Sắc Tộc thiểu số đều nhiệt liệt hưởng ứng và giúp đỡ, đưa phong trào Tây Sơn đến chỗ thành công”.
Jean Chisneaux, giáo sư sử học Pháp viết: “Sự kiện lớn nhất đối với Nhà Tây Sơn là việc khôi phục, thống nhất đất nước, xóa bỏ việc chia cắt đất nước thành hai vương quốc Trịnh-Nguyễn đối địch”.
Trong cuốn Việt Sử Cương Mục Tiết Yếu của ông Đặng Xuân Bảng, có đoạn viết: “Trận chiến lúc bấy giờ giống như cái thế Tam Quốc bên Tàu: Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô. Ở Việt Nam Nhà Tây Sơn đã đánh Chúa Nguyễn, diệt chúa Trịnh, thống nhất đất nước”.
Binh Pháp Nguyễn Huệ
Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, xông pha trận mạc khắp các chiến trường, đánh vào phía nam, bốn lần bạt thành Gia Định, đánh ra phía Bắc, ba lần vào Thăng Long, thắng Chúa Nguyễn, diệt Chúa Trịnh, đánh bại quân Xiêm La, phá tan quân Mãn Thanh, Vua Quang Trung tổ chức một đội binh dũng mạnh. Ông thường nói: “Binh lính cốt hòa thuận chứ không cốt đông, cốt tinh nhuệ chứ không cốt nhiều”. Theo lời các nhà truyền giáo Tây Phương, quân đội của ông có tinh thần chiến đấu cao, kỷ luật sắt thép, không xâm phạm tài sản của dân chúng. Người lính được huấn luyện gan dạ, một chống nổi ba bốn nên đánh đâu thắng đấy. “Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”, nói lên tính cách quan trọng của tình báo. Vua Quang Trung có một đội ngũ tình báo tài giỏi, tháo vát, lại có thêm hai thủ lãnh người Hoa là Lý Tài và Tập Đình về giúp, tình báo viên len lỏi, xâm nhập vào lòng đất địch để lấy tin tức chính xác, biết quân địch muốn gì và đang làm gì. Kế hoạch hành quân, tấn công chớp nhoáng vào địch quân là một chiến thuật thần tốc kỳ tài của Vua Quang Trung, thiên biến vạn hóa, áp dụng như thần trên các chiến trường Nam Bắc.
Quân Xiêm La được Nguyễn Phúc Ánh rước về Nam Việt Nam và làm chủ tình hình Gia Định từ tháng 8 năm 1784. Nguyễn Huệ đem quân vào Rạch Gầm - Xoài Mút thuộc tỉnh Định Tường, áp dụng chiến thuật lùi để nhử địch vào các điểm chiến lược. Quân Xiêm đến, quân của Nguyễn Huệ tràn ra đánh cả hai mặt thủy bộ, quân Xiêm xoay trở không kịp, chết rất nhiều, chỉ còn vài ngàn người, tìm đường thoát thân chạy về nước.
Quân Tàu được Lê Chiêu Thống rước về Bắc Việt Nam qua ba ngả Nam Quan, Tuyên Quang, Cao Bằng và làm chủ tình hình Thăng Long từ tháng 11 năm 1788. Quân ta ít, quân Tàu đông, quân ta ở xa tới, quân Tàu đã xây đồn lũy, làm chủ tình thế. Sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí viết, Vua Quang Trung tuyên bố: “Lần nầy ta ra trận hành quân, phương lược tiến đánh đã có sẵn, chẳng qua 10 ngày là đuổi được quân Thanh”. Ông chia quân làm 3 đạo, với binh pháp Nguyễn Huệ, mẹo mực như thần, hành quân tốc chiến tốc thắng và chưa đầy một tuần lễ, đã phá tan đoàn quân xâm lược Mãn Thanh, quân ta chiến thắng vẻ vang, chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại.
Một điểm khác, Vua Quang Trung điều binh rất nhanh. Ông chuyển quân vào Miền Nam, ra Miền Bắc quân thủy bộ đi rập với nhau, ăn khớp trong việc lập thế trận. Trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Trần Công Xán phát biểu: “Người Tây Sơn hành quân như bay tiến quân rất gấp, xem họ đi lại vùn vụt mau chóng như thần, chống không thể được, đuổi không thể kịp”.
Cái Trí và Cái Dũng
Ông là người có một bộ óc thông minh lỗi lạc, một nhãn quan đặc biệt, một uy vũ khác thường. Sách Đại Nam Chính Biên Lược Truyện có đoạn tả chân dung của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ: “Ông ta tiếng nói như chuông, mắt lập lòe như ánh điện, là người thông minh kiên quyết, giỏi chiến đấu, người người đều kính nể”. Ngoài cái dũng của vị anh hùng tài trí, tiên phong nơi chiến trận, ông có nhiều mưu lược tùy cơ ứng biến trong các trận đánh khác nhau, từ đồi núi đến đồn lũy, từ bộ chiến đến thủy chiến, biến hóa không lường, chiến thuật điều binh chớp nhoáng, đem lại chiến thắng vẻ vang.
Vua Quang Trung có nhiều sáng kiến đặc biệt, phát sinh từ một tinh thần Quốc Gia cấp tiến và sáng suốt về việc sử dụng chữ Nôm, một ý niệm Cách Mạng Tự chủ Độc Lập. Ông nghe ai tài giỏi hiền đức, lấy lễ Tân Sư, tức vừa coi là khách vừa coi là Thầy, mời tham gia việc nước Các bậc tài danh như La San Phu Tử Nguyễn Thiếp, Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, Trần Văn Kỷ, Ninh Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn, Trần Bá Lâm, Võ Huy Tấn đều được mời tham chính. Ông chỉnh đốn triều chính, cải cách ruộng đất, cải tổ thuế khóa. Ông nghĩ ngay đến việc đúc tiền để độc lập về mọi mặt và đồng tiền “Quang Trung Thông Bảo” được thay đồng tiền Cảnh Hưng khắp chợ cùng quê.
Niềm Tự Hào Dân Tộc
Dân Tộc Việt Nam tự hào về vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Ông là bậc kỳ tài dũng mãnh, với một thời gian ngắn kỷ lục, ông đã tiêu diệt 200 ngàn quân Thanh mau như chớp nhoáng, đến nỗi Vua Càn Long phải nể vì, mời Vua Quang Trung tham dự lễ Khánh Thọ Bát Tuần của mình được tổ chức tại Nhiệt Hà bên Tàu, để nhìn mặt thật sự và chiêm ngưỡng người đã chiến thắng vẻ vang Thiên Triều phương Bắc. Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện có đoạn nói Vua Càn Long Nhà Thanh rất vui mừng và phê ngay vào góc tờ biểu: “Ta sắp được gặp nhau là điều mong ước lớn”.
Từ những chiến thắng vinh quang ấy, khi Vua Quang Trung tại vị, bãi việc cống người vàng thế mạng Liễu Thăng, mà nước Tàu đã áp đặt các vị vua Việt Nam, hàng năm phải triều cống từ năm Đinh Mùi 1427.
Vua Quang Trung đề cao tinh thần Quốc Gia Dân Tộc, dùng chữ Nôm thay thế chữ Hán trong các chiếu, biểu, sắc, dụ, thi phú. Những vần thơ trữ tình của Nữ Sĩ Hồ Xuân Hương, thiên trường ca Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu, bản dịch Chinh Phục Ngâm của Đoàn Thị Điểm là những áng văn chữ Nôm tuyệt tác, với sự đóng góp cơ bản thuần túy Dân Tộc vào nền Văn Hóa bắt đầu mang tích cách Độc lập, Tự chủ của Dân Tộc Việt Nam.
Hơn thế nữa, Vua Quang Trung còn chuẩn bị kế hoạch đòi lại 6 châu thuộc Hưng Hóa, 3 động thuộc Tuyên Quang, đã bị nước Tàu xâm chiếm trước kia, sát nhập vào Lưỡng Quảng. Công việc đóng tàu, đúc vũ khí, rèn luyện binh sĩ đã sắp đặt từ lâu. Sứ giả sang Tàu năm Nhâm Tý 1792, cầu hôn cưới Công Chúa Thanh Triều và đòi đất đai, là cái cớ đánh lấy lại đất, nếu Thanh Triều từ chối. Nhưng tiếc thay, khi phái bộ Sứ giả Việt Nam sang Trung Quốc thì được tin Vua Quang Trung thăng hà, sứ giả phải quay về.

Những trang sử Việt Nam viết bằng máu và nước mắt. Nhiều vị anh hùng đã đẩy lui quân xâm lược phương Bắc như Lê Lợi, Trần Quốc Tuấn, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Huệ, nhưng chiến thắng Đống Đa của Vua Quang Trung là trận đánh kiêu hùng nhất, vẻ vang nhất, trong thời gian kỷ lục 5 ngày đã tiêu diệt 20 vạn quân Thanh, nhanh chưa từng thấy, làm quân Tàu hãi hùng khiếp sợ, làm rạng danh trang sử Việt Nam.
Câu nói nổi tiếng của ông là đoạn kết tốt nhất khi nói về ý chí tự cường dân tộc của ông:
"Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ
"

(Sưu tầm)

QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH

(25 / 01 – 01 /2 / 1789)

 

 

  Ngày 16/12/1788, gần 30 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy xâm lược nước ta và chiếm đóng Thăng Long. Ngày 15/01/1789, sau khi làm lễ đăng quang ở Phú Xuân, Vua Quang Trung cùng đại quân, lúc này quân số tăng lên 10 vạn, thần tốc tiến quân ra Bắc. Mồng 5 Tết Kỉ Dậu, sau khi tiêu diệt toàn bộ quân Thanh ở đồn Gián Khẩu và đồn Hà Hồi, hơn 100 voi chiến và bộ binh do Vua Quang Trung chỉ huy tấn công đồn Ngọc Hồi, là đồn quan trọng nhất với khoảng 3 vạn quân tinh nhuệ . Quân Thanh chống cự không nổi, giày xéo lên nhau mà chết. Cùng lúc, quân của Đô đốc Lê Văn Long (Quê Trường Xuân–Tam Kỳ) tiến công đồn Đống Đa. Quân ta thiêu cháy doanh trại giặc, tiêu diệt hàng vạn tên. Chủ tướng Sầm Nghi Đống khiếp sợ thắt cổ tự tử. Tôn Sĩ Nghị tháo chạy khỏi Thăng Long.

   Vua Quang Trung cùng đoàn quân chiến thắng tiến vào Thăng Long giữa tiếng reo hò của muôn dân. Sau 5 ngày đêm tác chiến, từ đây đất nước ta đã được giải phóng hoàn toàn.


"Thành Hoàng Đế

Bảo tàng Bình Định và Viện Khảo cổ VN đang khai quật thành Hoàng Đế tại xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Kết quả của đợt khai quật này giúp cho các nhà khảo cổ và những người nghiên cứu lịch sử có cái nhìn toàn diện hơn về một cung điện thời Tây Sơn bị vùi trong lòng đất cách nay hơn 200 năm.

Một kinh đô bị chôn vùi

Theo sử liệu, thành Hoàng Đế do vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) bắt đầu xây dựng từ năm 1776. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi (1802), những gì liên quan đến nhà Tây Sơn đều bị xóa sạch dấu vết. Thành đã bị nhà Nguyễn san phẳng.

Trên mặt bằng của điện Bát Giác - nơi vua Thái Đức thiết triều - hiện nay là ngôi mộ của Võ Tánh - một viên tướng của Nguyễn Ánh đã tử trận trong cuộc huyết chiến giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn ngay tại thành Bình Định năm 1801.

Nơi chôn Võ Tánh (lăng Ông) và thành Hoàng Đế của nhà Tây Sơn đã bị chôn vùi trong quên lãng. Cả một công trình kiến trúc khá quy mô bị đổ nát hoàn toàn không phải do mưa nắng của thời gian mà là kết quả phủ định của vương triều sau đối với vương triều trước đó. Đây là nét khác biệt về sự tồn tại giữa thành Hoàng Đế của nhà Tây Sơn với các kinh đô khác của chế độ phong kiến VN.

Công trình kiến trúc quy mô

Năm 2004, Bảo tàng Bình Định tiến hành khai quật lần đầu tiên trong khuôn viên của Tử Cấm Thành và bất ngờ phát hiện bên phải của điện Bát Giác có một hồ bán nguyệt còn nguyên vẹn. Năm nay, các nhà khảo cổ tiếp tục khai quật ở ba hố đào thám sát.

Tại hố đào sát cạnh điện Bát Giác, cả một mái hiên của cung điện này đã hiện ra. Ngoài phần đá móng và gạch lát nền còn có một hàng cột trước mái hiên mà dấu vết còn lại chỉ là những lỗ rỗng. Ơ gần đó, người ta cũng phát hiện một công trình kiến trúc khác với những đường nét xây dựng khá tinh tế.

Cách chừng 200 mét phía trước cung điện là một thủy hồ. Trong lòng hồ, người ta đã tìm thấy một hiện vật hình chiếc bát được chạm khắc rất công phu, vẫn chưa xác định được công dụng của hiện vật này.

Những gì thu được từ các hố đào sẽ giúp cho các nhà sử học hình dung được phần nào bố cục của cả thành Hoàng Đế. Theo "Đồ Bàn thành ký" của Nguyễn Văn Hiển - đốc học Bình Định năm 1856 thì trong Tử Cấm Thành của thành Hoàng Đế, ngoài điện Bát Giác còn có toà chính điện, nhà thờ tổ, hai bên có dãy hành lang - nơi chầu của các quan văn, võ...

Những gì thu được từ đợt khai quật đã góp phần khẳng định những sử liệu đã ghi lại về thành Hoàng Đế là hoàn toàn chính xác. Theo đánh giá của tiến sĩ Lê Đình Phụng (Viện Khảo cổ) thì đây là công trình kiến trúc thời Tây Sơn duy nhất còn lại ở nước ta, quy mô cũng lớn hơn một số công trình liên quan đến kiến trúc cung đình thời phong kiến được khai quật trước đây.

Trong tiến trình trùng tu các di tích tại Bình Định, ngành văn hóa thông tin tỉnh này đã có kế hoạch phục dựng lại một phần của thành Hoàng Đế. Ông Văn Trọng Hùng - Giám đốc Sở VHTT Bình Định cho biết: "Dựa trên số liệu báo cáo của các nhà khảo cổ học và các nhà nghiên cứu lịch sử từ đợt khai quật này cũng như các tài liệu liên quan, chúng tôi sẽ tổ chức một cuộc hội thảo khoa học để lấy ý kiến từ các nhà nghiên cứu trước khi quyết định phục dựng một số công trình kiến trúc trong thành Hoàng Đế".

Còn tiến sĩ Lê Đình Phụng thì tỏ ra cẩn thận: "Thành Hoàng Đế mang đặc thù là các di tích lại chồng lên nhau, cần phải bóc tách ra để có cái nhìn toàn diện hơn. Dẫu sao thì những gì phát hiện tại thành Hoàng Đế đã giúp cho chúng ta có một bộ sưu tập về kiến trúc cung đình khá toàn diện về các vương triều phong kiến VN".

Comments