TRANG CHỦ‎ > ‎

Tiểu sử Thầy Chu Văn An


In

 

Chu Văn An (1292 - 1370)

Chu Văn An - Nhà giáo dục đầu tiên của Việt Nam


Chu Văn An (còn gọi là Chu An) người thôn Văn, Xã Quang Liệt, nay là Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội (quê mẹ). Theo Đăng khoa học bổ dị, từ 14, ông thi đậu Thái học sinh (như tiến sĩ) nhưng không ra làm quan. Ông mở trường dạy học trên một cánh đồng tại làng Huỳnh Cung, giáp với thôn Văn. Học trò của ông rất đông, nhiều người thành đạt như Phạm Sư Mạnh, tể tướng đời Trần Dụ Tông, Lê Bá Quát làm thượng thư.

Ông dạy học rất nghiêm, lấy mình làm gương mẫu cho học trò noi theo. Tể tướng Phạm Sư Mạnh, Thượng thư Lê Bá Quát, những khi về trường thăm thầy, được thầy khuyên bảo, khen chê đều rất phấn khởi.

Tài đức của Chu Văn An đến tai nhà vua. Trần Minh Tông (1300 - 1357) mời ông ra làm tư nghiệp trường Quốc Tử Giám (như phó giám đốc trường đại học) và dạy thái tử học. Thái tử Vượng lúc đó mới khoảng 5 - 6 tuổi. Cho nên ông giảng dạy ở Quốc Tử Giám là chính. 10 tuổi, thái tử Vượng lên ngôi (Trần Hiếu Tông). Vượng mất, Dụ Tông (1336 - 1369) lên nối ngôi khi mới 8 tuổi. Minh Tông vẫn làm Thượng hoàng đến năm 1457 thì mất, chính sự từ đó đổ nát. Dụ Tông trở nên hư đốn, suốt ngày cờ bạc rượu chè. Ông ta thường gọi bọn nhà giàu vào cung đánh bạc; bắt các quan thi uống rượu, ai uống được 100 thăng (chén to) thì thưởng cho hai trật; bắt các công chúa, vương hầu phải hát tuồng trong cung v.v... Chu Văn An nhiều lần khuyên can nhưng không được. Ông dâng sớ xin chém 7 tên nịnh thần. Dụ Tông không nghe. Ông bèn trả lại áo mũ, từ quan về quê.

Chu Văn An ở nhà ít lâu, rồi đi chơi đây đó. Đến vùng Chí Linh, Hải Dương thấy thắng cảnh đẹp, ông liền dựng nhà ở núi Phượng Hoàng, thuộc làng Kiệt Đắc. Ông lấy hiệu là Tiều Âấn và mở trường dạy học, sống một cuộc đời thanh đạm.

Sau đó, Dương Nhật Lễ cướp ngôi nhà Trần. Hoàng tử Phủ con Trần Minh Tông đánh tan được bọn Nhật Lễ, lên ngôi (Nghệ Tông). Chu Văn An từ Chí Linh chống gậy ra mừng vua. Trần Nghệ Tông (1320 - 1394) muốn mời ông ra tham dự việc triều chính nhưng ông từ chối. Bà hiến Từ hoàng thái hậu đã nói một câu chí lí: "Người ấy là bậc cao sĩ, thanh thiết, nhà vua không thể bắt làm bầy tôi được đâu...". Vua thưởng cho mũ áo, ông nhận và lạy tạ nhưng đem về cho người khác. Ông vui sống với học trò ở núi Phượng Hoàng, rồi mất vào khoảng cuối tháng 11-1370, thọ 78 tuổi (theo Đại Việt sử ký toàn thư).

Trong quá trình dạy học, Chu Văn An đã soạn ra bộ Tứ thư thuyết ước. Theo tên sách ta có thể biết đây là tập giáo trình đầu tiên bàn về bốn quyển sách qui định trong chương trình giảng dạy: Đạ học, Trung Dung, Luật Ngữ và Mạnh Tử. Tiếc thay tập giáo trình này đã bị nhà Minh lấy mất. Nếu còn bộ sách, chúng ta sẽ hiểu cụ thể quan điểm của ông. Ơở miếu thờ Chu Văn An ở làng Huỳnh Cung còn ghi lời của Bùi Huy Bích (1744 - 1802) có đoạn, tạm dịch: Kính nghĩ phu tử, tinh thông về lý học, khi ra đời (xuất thế) cũng vì Lễ, khi ở ẩn (thoái ẩn) cũng vì nghĩa. Những học trò của ngài đã đem bày tỏ rõ ràng được đạo Nho, chống lại tà thuyết, gạt bỏ mê tín. Phong thái và ảnh hưởng của ngài dù đến trăm năm sau cũng cảm thấy như chính mình đang ở gần ngài. Trong Kinh thi, chẳng đã có câu: Núi cao, ngửa trông thấy càng cao, đường lớn càng đi càng thấy xa...

Chu Văn An là chủ xướng 4 quan điểm sau:

  • Cùng lý: bàn cãi cho biết lý lẽ của sự vật.
  • Chính tâm: luôn luôn giữ lòng mình cho chính, không làm điều gì trái với lương tâm.
  • Tịch tà: chống lại tà thuyết, những điều nhảm nhí.
  • Cự bí: đấu tranh vượt mọi khó khăn, chống lại những sự việc làm hại đến nhân tâm.

Ơở bốn quan điểm này, chúng ta thấy Chu Văn An quan tâm đầy đủ cả hai mặt trí dục và đức dục, học và hành.

Chu Văn An là một nhà giáo tài đức trọn vẹn, có đóng góp to lớn với đất nước và đạo học. Có thể coi ông là nhà giáo dục học đầu tiên của Việt Nam vì có nhiều trò giỏi và những công trình biên soạn lớn. Bốn câu thơ sau đây của Đặng Minh Khiêm (nhà vịnh sử đời Lê) có lẽ đã tóm tắt được một phần cuộc đời và con người của ông. Tạm dịch như sau:

Sớ thất trảm xong rồi, treo mũ từ quan
Trên núi Chí Linh tiên sinh đã vẹn tiết của mình rất thong thả,
Phong thái trong sạch và tiết tháo cứng rắn của tiên sinh từ nghìn xưa cũng hiếm có
Lòng ngưỡng mộ tiên sinh của các sĩ phu ngun ngút như đỉnh núi Thái Sơn.

(Giáo dục - Thời đại 20/11/1998)

Một số hình ảnh về đền thờ Chu Văn An - thầy giáo của muôn đời

 

     Khu di tích gồm  những hạng mục chính: Đền thờ, 2 dãy nhà giải vũ, điện Lưu Quang, Tháp bút, Giếng Son, Miết trì và phần mộ vị thầy “Vạn thế sư biểu” Chu Văn An. Theo những lời kể còn lưu lại, xưa kia núi Phượng Hoàng có cảnh sắc thanh bình thơ mộng, thông reo trên núi, nước chảy dưới khe. Dãy Phượng Hoàng bạt ngàn thông bao gồm 72 ngọn núi nhỏ. Cảnh sắc thanh bình và tĩnh mịch ấy đã khiến ông chọn nơi này để sống ẩn mình với cái tên Tiều Ẩn, giữ đời thanh sạch cho đến khi tạ thế.
Trong 8 di tích nổi tiếng của đất Chí Linh xưa ( Chí Linh bát cổ) thì ở riêng ở đất Kiệt Đặc này (nay đổi tên thành xã Văn An) có tới 4: Huyền Thiên cổ tự (chùa Huyền Thiên), Thượng tể cố trạch (nhà cũ của quan Tể tướng Trần Quốc Chấn), Tinh Phi cổ tháp (mộ bà chúa Sao Sa Nguyễn Thị Duệ) và Tiều Ẩn cổ bích (nhà ở ẩn của Chu Văn An). Nhắc như thế, để thấy hết cái linh khí của dãy núi Phượng Hoàng. 700 năm đã trôi qua, vậy mà khi đứng ở điện Lưu Quang hay men theo những lối mòn lát đá xanh dẫn lên khu lăng mộ, vẫn như thấy lưu dấu người thầy mẫu mực muôn đời đang ngồi dạy học. Dọc lối đi, người ta vẫn nhặt được những viên gạch son tương truyền ông vẫn dùng nước giếng Son để mài thành mực. Ngôi đền cổ đơn sơ vẫn được giữ lại, nhà bia cũ vẫn còn... Thấp thoáng đâu đây tà áo xanh thanh khiết của một con người “học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng...Tìm trong làng Nho nước Việt ta, từ trước đến nay chỉ có mình ông” – (lời đánh giá của Phan Huy Chú).
Chu Văn An đọc sách thánh hiền, chuyên làm nghề dạy học mà lay động cả hồn phách giao long thủy quái. Từng giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám chuyên dạy thái tử, rồi vì dâng Thất trảm sớ lên người học trò cũ là vua Trần Dụ Tông không thành, ông cáo quan nhưng không về quê ở làng Thanh Liệt (Thanh Trì) mà chọn núi Phượng Hoàng.
Đứng ở núi Phượng Hoàng nhìn ra xa. 700 năm trước, quan Tư nghiệp Chu Văn An lui về đây ở ẩn. Và hơn 600 năm trước, một góc của lịch sử số phận danh nhân nước Việt - Quan Hành Khiển Nguyễn Trãi cáo quan, cũng chọn miền đất Chí Linh ẩn dật, rồi vấp phải án oan “tru di tam tộc” để mấy trăm năm sau, người đời còn xót thương nhỏ lệ.

 Cổng đền

\

Khung cảnh núi Phượng Hoàng

đôi nét về thầy Chu Văn An

hotinhtam | 26 November, 2009 10:04

 VẠN THẾ SƯ BIỂU CHU VĂN AN



Để chuẩn bị cho Lễ Hội An vị tượng thầy Chu văn An, tại trường tiểu học Chu Văn An ở phường 8 thành phố Vĩnh Long, vào hai ngày 27, 28 tháng 11 năm 2009, tôi tranh thủ post lại một bài viết trên báo Bình Dương, ngõ hầu giúp thầy cô và học sinh trường tiểu học Chu Văn An, có thể tham khảo để hiểu  hơn về công đức của người thầy vĩ đại này.
 
 

Chu Văn An



Hoàng Kim
(Tuyển chọn, biên soạn)

Chu Văn An (1292 -1370) là nhà giáo, nhà văn hoá, nhà thơ văn lớn ở đời Trần. Ông là người thuần nhã, hiền hoà, chính trực, kiên định, được tôn vinh là người Thầy đứng đầu các nhà giáo Việt Nam từ xưa đến nay.

TIỂU SỬ

Chu Văn An tên thật là Chu An, tên thụy là Văn Trinh, tên hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ là Linh Triệt. Ông sinh năm Nhâm Thìn (1292) đời vua Trần Nhân Tông, tại làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, nay là huyện Thanh Trì - Hà Nội.

Ông thi đỗ Thái học sinh (tức tiến sĩ) nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học ở quê nhà. Ông nổi tiếng chính trực, tính tình nghiêm nghị, học vấn sâu rộng, tư cách thanh cao, sửa mình trong sạch, giữ gìn tiết tháo, không cầu danh lợi, danh tiếng lan xa, học trò theo học rất đông. Trong số đó có nhiều người thành đạt, làm quan to trong triều như Nhập nội Hành khiển Phạm Sư Mạnh, Trạng nguyên Lê Quát, ...

Chu Văn An được vua Trần Minh Tông (1314 -1329) vời ra làm đại quan Tư nghiệp Quốc Tử Giám để dạy Thái tử học. Ông có công lớn trong việc truyền bá, giáo dục tư tưởng đạo đức Khổng giáo vào Việt Nam. Ông đã cùng Mạc Đỉnh Chi, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn tham gia vào việc củng cố triều Trần lúc đó đã bắt đầu đi vào suy thoái. Trần Minh Tông làm vua đến năm 1329 thì lui về làm Thái thượng hoàng và nhường ngôi cho thái tử Vượng mới 10 tuổi lên làm vua, tức là vua Trần Hiến Tông. Hiến Tông làm vua được 13 năm thì mất không có con nối dõi. Trần Minh Tông lập em trai tên là Hạo lên làm vua, tức là vua Trần Dụ Tông (1341-1369). Vua Minh Tông mất, triều thần những người giỏi cũng lần lượt mất cả, việc chính trị bỏ trể nải. Kẻ gian thần đắc chí làm nhiều điều vô đạo. Chu Văn An đã nhiều lần can ngăn Dụ Tông nhưng không được, bèn dâng sớ xin chém bảy kẻ nịnh thần nhưng vua không nghe. Ông đã từ quan về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, lấy hiệu là Tiều Ẩn. Ông mất tại đó năm Canh Tuất (1370), hưởng thọ 79 tuổi.

Theo Phan Huy Chú thì Chu Văn An đã để lại cho đời các tác phẩm Quốc ngữ thi tập bằng chữ Nôm và Tiều Ẩn thi tập bằng chữ Hán và bộ sách Tứ Thư thuyết ước (chú giải Tứ Thư). Phan Huy Chú nhận xét thơ ông “lời thơ trong sáng, u nhàn”. Đào Trung Kiên đã giới thiệu sáu tuyệt phẩm của ông trên “Thi Viện”. Theo Đặng Kim Ngọc (1959) thì Chu Văn An còn là một thầy thuốc Đông y, ông đã soạn quyển Y học yếu giản tập chú di biên.

Khi ông mất, vua Trần đã đặt cho ông tên thụy là Văn Trinh, truy tặng tước Công (tước lớn nhất trong năm tước mà người ngoài hoàng tộc có thể được phong), ban hiệu là Khang Tiết tiên sinh và được đem vào thờ trong Văn Miếu.



Sự nghiệp của ông được ghi lại trong câu đối thờ ở Văn Miếu: “Trần vãn thử hà thời, dục vịnh đại phi hiền giả lạc/ Phượng sơn tồn ẩn xứ, trĩ lưu trường ngưỡng triết nhân phong”. (Cuối đời Trần là thời nào, ngâm vịnh rong chơi há chẳng phải là cái thú vui của bậc hiền giả? Núi Phượng vẫn còn dấu vết ở ẩn, đỉnh non vẫn mãi mãi ngưỡng mộ phong thái của kẻ triết nhân).

Ngô Thế Vinh trong bài văn bia ở đền Phương Sơn đã giải thích: “Văn, đức chi biểu dã. Trinh, đức chi chính cố dã” (Văn là cái vẻ đẹp bên ngoài của đức. Trinh là sự bền vững bên trong của đức).Văn Trinh nhằm biểu dương một người đã kết hợp được hai mặt của đạo đức “bên ngoài thuần nhã, hiền hoà với bên trong chính trực, kiên định”.

Phan Huy Chú đã ca ngợi ông: “Học nghiệp thuần túy, tiết tháo cương thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được.”

TÁC PHẨM CHỌN LỌC

Linh sơn tạp hứng

Vạn điệp thanh sơn thốc họa bình
Tà dương đảo quải bán khê minh
Thúy la kính lý vô nhân đáo
Sơn thước đề yên thời nhất thanh

Vịnh cảnh núi Chí Linh

Núi non trùng điệp như che
Tà dương hắt ánh bờ khe sáng ngời
Đường quanh cỏ biếc vắng người
Tiếng chim khách núi đôi hồi kêu mây

(Nguyễn Tấn Hưng dịch)
Nguồn:Đào Trung Kiên, 2006. Thi Viện trực tuyến

Miết trì

Thủy nguyệt kiều biên lộng tịch huy
Hà hoa hà diệp tịch tương y.
Ngư du cổ chiểu long hà tại
Vân mãn không sơn hạc bất quy
Lão quế tùy phong hương thạch lộ
Nộn đài trước thủy một tùng phi
Thốn tâm thù vị như hôi thổ
Văn thuyết tiên hoàng lệ ám huy

Ao rùa

Bên cầu trăng nước tịch dương
Lá hoa sen lặng tựa nương giữa hồ.
Rồng đâu? Ao cũ cá đùa
Mây đầy núi vắng hạc chưa trở về
Quế thơm đường đá gồ ghề
Nước đầm rêu biếc như che cổng tùng
Phải đâu tro đất lạnh lùng
Nhắc đời vua trước lệ lòng thầm rơi.

(Nguyễn Tấn Hưng dịch)
Nguồn:Đào Trung Kiên, 2006. Thi Viện trực tuyến

Xuân đán

Tịch mịch sơn gia trấn nhật nhàn
Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn
Bích mê thảo sắc thiên như túy
Hồng thấp hoa sao lộ vị can
Thân dữ cô vân trường luyến tụ
Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan
Bách huân bán lãnh trà yên yết
Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.

Xuân sớm

Nhà trên núi vắng, thảnh thơi,
Cửa phên, nghiên chắn , làn hơi lạnh về
Trời xanh, cỏ biếc, lê thê
Đầu cành hoa đỏ, đầm đìa hạt sương
Thân cùng mây trắng vấn vương
Lòng như giếng cổ chẳng thường gợn tăm
Hương tàn, trà nguội, mấy tuần
Chim khe, lãnh lót, kêu xuân, mộng tàn.

(Nguyễn Tấn Hưng dịch)
Nguồn:Đào Trung Kiên, 2006. Thi Viện trực tuyến

Giang đình tác

Giang đình độc lập sổ quy châu
Phong cấp than tiền nhất địch thu
Tà nhật ngâm tàn hồng đạm đạm
Mộ thiên vọng đoạn bích du du
Công danh dĩ lạc hoang đường mộng
Hồ hải lưu vi hãn mạn du
Tự khứ, tự lai hồn bất quản
Thương ba vạn khoảnh tiện phi âu.

Cảm tác ở đình bên sông

Đếm thuyền về lại bến bên sông
Gió lộng vào bờ tiêng sáo trong
Ngày xế mỏi ca hồng nhạt nhạt
Trời chiều vời vợi xanh mênh mông
Công danh quá khứ như là mộng
Hồ hải chu du một tang bồng
Tự tại đi về không bó buộc
Nhìn âu tung cánh lướt trời không.

(Người dịch: Sieng@viethoc.org

Nguồn:
1) Nguyễn Duy Chính. Chu Văn An (1292 – 1370) con người và thời đại.
2)Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí
3) Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên soạn thảo (1272-1697) Đại Việt sử ký toàn thư, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam dịch ( 1985-1992) Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội (Hà NộI) ấn hành 1993.
4) Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên) và ctv. 2006. Ngữ văn lớp 10, tập 1, Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội, trang 172-173.
5)Đào Trung Kiên, 2006. Thi Viện trực tuyến
6)Trần Trọng Kim 1999. Việt Nam sử lược. Nhà xuất bản văn hoá thông tin, trang 176.
7)Đặng Kim Ngọc, 1959. Văn hoá Việt Nam, Nhà Xuất bản Văn hoá Văn nghệ Trung ương Hà Nội (Trích dẫn bởi Phan Trọng Luận và ctv. 2006).
8)Nguyễn Thị Châu Quỳnh. Đạo Nho - Văn Miếu http://chimviet.free.fr/vanhoc/chquynh/thihuong/...
9)Wikipedia tiếng Việt. Chu Văn An

 

hotinhtam | 26/11/2009, 11:02

hotinhtam

Chu Văn An: Người thầy mẫu mực thời Trần
Ngày cập nhật: 23/11/2007 10:06

Văn An, sinh năm Nhâm Thìn 1292, người thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Trì (Hà Nội). Ông thi đỗ thái học sĩ, nhưng không chịu làm quan mà mở trường dạy học tại làng quê. Ngôi trường do ông tạo dựng tại thôn Huỳnh Cung.

Ông vốn là người có học vấn uyên thâm nên từ khi ông mở trường đã thu hút nhiều học trò. Phần vì ông là người thầy nổi tiếng về chuẩn mực đạo đức và tài năng.

Chu Văn An rất nghiêm khắc trong việc rèn dạy môn sinh. Bên cạnh việc truyền dạy kiến thức, ông còn chú trọng dạy bảo học sinh về cả đạo lý làm người cùng trách nhiệm với dân với nước.

Ông tự lấy mình làm gương trong việc học tập và tu dưỡng đạo đức. Qua đó, ông xem đây là nguyên tắc để cảm hóa học trò, khiến cho môn sinh hết sức nể phục thầy. Ngay cả Lê Quát, Phạm Sư Mạnh đã làm quan to trong triều nhưng vẫn “giữ lễ học trò, khi đến, thăm hỏi thầy thì lạy, được tiếp chuyện với thầy là điều lấy làm mừng lắm” (Đại Việt Sử ký toàn thư).

Suốt đời, ông đã dành hết tâm trí và sức lực cho việc dạy học. Thời gian được vua triệu ra kinh đô dạy ở trường Quốc Tử Giám ông đã dốc lòng phụng sự cho sự nghiệp giáo dục. Chính ông là người đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước thời Trần, trong đó có Phạm Sư Mạnh, Lê Quát là những danh sĩ nổi tiếng về tài thơ văn, tư cách trung thực, liêm chính suốt đời.

Ông được vua Trần Minh Tông tôn vinh là bậc thánh hiền, là người được vua giao trọng trách trông coi việc đào tạo nhân tài cho đất nước và dạy học cho cả Thái tử Vượng tức vua Trần Hiến Tông và Hoàng tử Hạo tức vua Trần Dụ Tông. Tiếc rằng, vua Trần Dụ Tông sau khi lên ngôi đã chuyển biến tâm tính. Vua chỉ lo ăn chơi sa đọa tạo cơ hội cho bọn gian thần thao túng triều chính, gây nỗi oán than trong dân chúng.

Trong hoàn cảnh ấy, Chu Văn An cảm xót vận mệnh nước nhà nên đã nhiều lần can ngăn vua cả việc dâng sớ xin chém 7 tên nịnh thần nhưng đều không được vua chấp thuận. Đau lòng vì cảnh vận nước suy vong, lòng dân không thuận nên ông đã cáo quan về Chí Linh viết sách, dạy học cùng nghiên cứu y học. Theo ông, là người làm quan phải mạnh dạn nói lên sự thật, cốt sao cho nhân dân được no ấm, thiên hạ thái bình, triều đình vững mạnh. Hãy đem hết lòng trung nghĩa để phụng sự nhân dân. Cái quan trọng của người làm quan không phải là chức tước mà là ở phẩm cách. Giữ một chức quan nhỏ mà có ích cho đời thì đáng quý còn hơn chức tước cao trọng mà không làm gì có lợi được cho dân, cho nước thì chức tước ấy có nghĩa lý gì.

Sau khi Trần Dụ Tông qua đời, Trần Nghệ Tông nối ngôi. Ông xiết bao vui mừng vì hiểu rõ vua Nghệ Tông là vị vua biết lo cho dân, cho nước. Nhà vua phong chức tước cao sang cho ông, nhưng ông nhất mực từ chối. Về sau ông trở lại quê hương và mất vào năm Canh Tuất (năm 1370).

Chu Văn An là người thầy mẫu mực bậc nhất trong lịch sử nước nhà thời phong kiến.

Muôn đời sau còn khắc ghi nhân cách cao đẹp của một người thầy.
HOA CÚC VÀNG

Re: đôi nét về thầy Chu Văn An

hotinhtam | 26/11/2009, 11:03

hotinhtam

Chu Văn An (1292 - 1370)

Trần vãn thử hà thời, dục vịnh đại phi hiền giả lạc Phượng sơn tồn ẩn xứ, trĩ lưu trường ngưỡng triết nhân phong.

(Cuối Trần đó là thời nào, ngâm vịnh rong chơi đâu phải thú vui hiền giả.

Non phượng còn dấu nơi ẩn, núi sông mãi mãi ngắm nhìn phong cách triết nhân).

Đó là đôi câu đối mà người đời mãi mãi còn truyền tụng để tỏ lòng mến phục đối với Chu Văn An - nhà Nho, nhà hiền triết, nhà sư phạm mẫu mực cuối thời Trần.

Chu Văn An tên hiệu là Tiều ẩn, tên chữ là Linh Triệt, người làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là huyện Thanh Trì - Hà Nội). Theo thần tích đình làng Thanh Liệt, nơi thờ ông làm thành hoàng, thì ông sinh năm Nhâm Thìn (1292) và mất năm Canh Tuất (1370).

Chu Văn An ngay từ hồi còn trẻ đã nổi tiếng là một người cương trực, sửa mình trong sạch, giữ tiết tháo, không cầu danh lợi, chỉ ở nhà đọc sách. Khi thi đỗ Thái học sinh, ông không ra làm quan, mà trở về mở trường dạy học ở quê nhà. Học trò nhiều nơi tìm đến theo học rất đông. Trong số môn đệ ông có nhiều người thành đạt, thi đỗ ra làm quan to trong triều như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát khi về thăm thầy vẫn giữ lễ, được thầy nói chuyện ít lời thì rất lấy làm mừng. Có những học trò cũ không tốt, ông thẳng thắn quở trách, thậm chí quát mắng không cho gặp. Tính nghiêm nghị, tư cách thanh cao và học vấn sâu rộng làm cho tiếng tăm ông ngày càng lan xa. Đức độ và uy tín của ông như vậy, khiến cho học trò đến theo học càng nhiều và có đủ các loại.

Một huyền thoại vẫn được lưu truyền nói về ngôi trường và nhân cách, đạo đức của ông như sau: "Tương truyền khi Chu Văn An mở trường dạy học ở quê nhà, có nhiều học trò tìm đến theo học. Trong số này có một người sáng nào cũng đến thật sớm nghe giảng. Thầy dạy khen là chăm chỉ nhưng không rõ tông tích ở đâu. ông bèn cho người dò xem thì cứ đến khu đầm Đại (khu đầm lớn hình vành khuyên, nằm giữa các làng Đại Từ , Tứ Kỳ, Huỳnh Cung) thì biến mất. Ông biết là thần nước. Gặp lúc đại hạn kéo dài, giảng bài xong ông tụ tập các trò lại hỏi xem ai có tài thì làm mưa giúp dân, giúp thầy. Người học trò kỳ lạ trước có vẻ ngần ngại, sau đứng ra xin nhận và nói với thầy: "Con vâng lời thầy là trái lệnh Thiên đình, nhưng con cứ làm để giúp dân. Mai kia nếu có chuyện gì không hay, mong thầy chu toàn cho". Sau đó người này ra giữa sân lấy nghiên mài mực, ngửa mặt lên trời khấn và lấy bút thấm mực vẩy ra khắp nơi. Vẩy gần hết mực, lại tung cả nghiên lẫn bút lên trời. Lập tức mây đen kéo đến, trời đổ mưa một trận rất lớn. Đêm hôm ấy có tiếng sét và đến sáng thấy có thây thuồng luồng nổi lên ở đầm. Chu Văn An được tin khóc thương luyến tiếc rồi sai học trò làm lễ an táng, nhân dân các làng lân cận cũng đến giúp sức và sau nhớ công ơn bèn lập đền thờ. Nay vẫn còn dấu vết mộ thần. Theo truyền thuyết, chỗ nghiên mực bị ném rơi xuống đã biến thành đầm nước lúc nào cũng đen, nên thành tên là Đầm Mực. Quản bút rơi xuống làng Tả Thanh Oai biến làng này thành một làng văn học quê hương của Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, v.v... Trong đền thờ thần còn đôi câu đối khá tiêu biểu ghi lại sự tích này.

Mặc nghiễn khởi tường vân, nhất bút lực hồi thiên tự thuận.

Chu đình lưu hóa vũ, thiên trù vọng thiếp địa phồn khô.

( Mây lành từ nghiên mực bay lên, một ngọn bút ra công trời thuận theo lẽ phải.

Mưa tốt giữa sân son đổ xuống, nghìn cánh đồng đội nước, đất nẻ trổ mùa hoa).

(Chu đình có hai nghĩa: sân son và sân họ Chu, chỉ Chu Văn An).

Câu chuyện trên đây chỉ là một giai thoại về Chu Văn An để nói rằng tài đức của họ Chu có sức mạnh cảm hóa được cả quỷ thần. Tuy nhiên, qua đó cũng thấy được đức độ của Chu Văn An lúc đương thời là rất lớn.

Đến đời vua Trần Minh Tông, ông được mời vào làm Tư nghiệp ở Quốc Tử Giám để dạy Thái tử học. Ông đã cùng với Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn tham gia vào công việc củng cố triều đình lúc đó đang đi dần vào con đường khủng hoảng, suy thoái. Đến đời Dụ Tông, chính sự càng thối nát, bọn gian thần nổi lên khắp nơi. Chu Văn An nhiều lần can ngăn Dụ Tông không được, bèn dâng sớ xin chém bảy kẻ nịnh thần, đều là người quyền thế được vua yêu. Đó là Thất trảm sớ nổi tiếng trong lịch sử. Nhà vua không nghe, ông bèn "treo mũ ở cửa Huyền Vũ" rồi bỏ quan về ở ẩn tại núi Phương Sơn thuộc làng Kiệt Đắc, huyện Chí Linh (Hải Hưng) lấy hiệu là Tiều ẩn (người đi ẩn hái củi). Sau ông mất tại đó.

Theo thư tịch cũ thì Chu Văn An viết nhiều sách, ông đã để lại cho đời sau những tác phẩm: hai tập thơ Quốc ngữ thi tập bằng chữ Nôm và Tiều ẩn thi tập bằng chữ Hán. Ông còn viết một cuốn sách biện luận giản ước về Tứ thư nhan đề Tứ thư thuyết ước. Theo một tài liệu nghiên cứu gần đây thì Chu Văn An còn là một nhà đông y đã biên soạn quyển Y học yếu giải tập chu di biên gồm những lý luận cơ bản về chữa trị bệnh bằng Đông y. Khi ông mất, vua Trần đã dành cho ông một vinh dự lớn bậc nhất đối với một trí thức là được thờ ở Văn Miếu. Vua còn ban tặng tên thụy cho ông là Văn Trinh. Ngô Thế Vinh, nhà văn học nổi tiếng thế kỷ 19 trong bài văn bia ở đền Phương Sơn đã thích nghĩa hai chữ "Văn Trinh" như sau: (Văn, đức chi biểu dã; Trinh, đức chỉ chính cổ dã. Văn là sự bên ngoài (thuần nhất )của đức; Trinh là tính chính trực, kiên địch của đức). Tên thụy như vậy nhằm biểu dương một người đã kết hợp được hai mặt của đạo đức: bên ngoài thuần nhã, hiền hòa với bên trong chính trực, kiên định. Trong lịch sử giáo dục nước nhà, ông cũng đã giành được địa vị cao quí bậc nhất, xứng đáng đứng đầu các nhà giáo từ xưa tới nay. Ông đã vượt qua ngưỡng cửa: làm thầy giáo giỏi của một đời để đạt tới làm thầy giáo giỏi của muôn đời như Phan Huy Chú đã ngợi ca ông: "học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được".

Chu Văn An - Nhà giáo dục đầu tiên của Việt Nam

hotinhtam | 26/11/2009, 11:05

hotinhtam

Chu Văn An (còn gọi là Chu An) người thôn Văn, Xã Quang Liệt, nay là Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội (quê mẹ). Theo Đăng khoa học bổ dị, từ 14, ông thi đậu Thái học sinh (như tiến sĩ) nhưng không ra làm quan. Ông mở trường dạy học trên một cánh đồng tại làng Huỳnh Cung, giáp với thôn Văn. Học trò của ông rất đông, nhiều người thành đạt như Phạm Sư Mạnh, tể tướng đời Trần Dụ Tông, Lê Bá Quát làm thượng thư.

Ông dạy học rất nghiêm, lấy mình làm gương mẫu cho học trò noi theo. Tể tướng Phạm Sư Mạnh, Thượng thư Lê Bá Quát, những khi về trường thăm thầy, được thầy khuyên bảo, khen chê đều rất phấn khởi.

Tài đức của Chu Văn An đến tai nhà vua. Trần Minh Tông (1300 - 1357) mời ông ra làm tư nghiệp trường Quốc Tử Giám (như phó giám đốc trường đại học) và dạy thái tử học. Thái tử Vượng lúc đó mới khoảng 5 - 6 tuổi. Cho nên ông giảng dạy ở Quốc Tử Giám là chính. 10 tuổi, thái tử Vượng lên ngôi (Trần Hiếu Tông). Vượng mất, Dụ Tông (1336 - 1369) lên nối ngôi khi mới 8 tuổi. Minh Tông vẫn làm Thượng hoàng đến năm 1457 thì mất, chính sự từ đó đổ nát. Dụ Tông trở nên hư đốn, suốt ngày cờ bạc rượu chè. Ông ta thường gọi bọn nhà giàu vào cung đánh bạc; bắt các quan thi uống rượu, ai uống được 100 thăng (chén to) thì thưởng cho hai trật; bắt các công chúa, vương hầu phải hát tuồng trong cung v.v... Chu Văn An nhiều lần khuyên can nhưng không được. Ông dâng sớ xin chém 7 tên nịnh thần. Dụ Tông không nghe. Ông bèn trả lại áo mũ, từ quan về quê.

Chu Văn An ở nhà ít lâu, rồi đi chơi đây đó. Đến vùng Chí Linh, Hải Dương thấy thắng cảnh đẹp, ông liền dựng nhà ở núi Phượng Hoàng, thuộc làng Kiệt Đắc. Ông lấy hiệu là Tiều Âấn và mở trường dạy học, sống một cuộc đời thanh đạm.

Sau đó, Dương Nhật Lễ cướp ngôi nhà Trần. Hoàng tử Phủ con Trần Minh Tông đánh tan được bọn Nhật Lễ, lên ngôi (Nghệ Tông). Chu Văn An từ Chí Linh chống gậy ra mừng vua. Trần Nghệ Tông (1320 - 1394) muốn mời ông ra tham dự việc triều chính nhưng ông từ chối. Bà hiến Từ hoàng thái hậu đã nói một câu chí lí: "Người ấy là bậc cao sĩ, thanh thiết, nhà vua không thể bắt làm bầy tôi được đâu...". Vua thưởng cho mũ áo, ông nhận và lạy tạ nhưng đem về cho người khác. Ông vui sống với học trò ở núi Phượng Hoàng, rồi mất vào khoảng cuối tháng 11-1370, thọ 78 tuổi (theo Đại Việt sử ký toàn thư).

Trong quá trình dạy học, Chu Văn An đã soạn ra bộ Tứ thư thuyết ước. Theo tên sách ta có thể biết đây là tập giáo trình đầu tiên bàn về bốn quyển sách qui định trong chương trình giảng dạy: Đạ học, Trung Dung, Luật Ngữ và Mạnh Tử. Tiếc thay tập giáo trình này đã bị nhà Minh lấy mất. Nếu còn bộ sách, chúng ta sẽ hiểu cụ thể quan điểm của ông. Ơở miếu thờ Chu Văn An ở làng Huỳnh Cung còn ghi lời của Bùi Huy Bích (1744 - 1802) có đoạn, tạm dịch: Kính nghĩ phu tử, tinh thông về lý học, khi ra đời (xuất thế) cũng vì Lễ, khi ở ẩn (thoái ẩn) cũng vì nghĩa. Những học trò của ngài đã đem bày tỏ rõ ràng được đạo Nho, chống lại tà thuyết, gạt bỏ mê tín. Phong thái và ảnh hưởng của ngài dù đến trăm năm sau cũng cảm thấy như chính mình đang ở gần ngài. Trong Kinh thi, chẳng đã có câu: Núi cao, ngửa trông thấy càng cao, đường lớn càng đi càng thấy xa...

Chu Văn An là chủ xướng 4 quan điểm sau:

* Cùng lý: bàn cãi cho biết lý lẽ của sự vật.
* Chính tâm: luôn luôn giữ lòng mình cho chính, không làm điều gì trái với lương tâm.
* Tịch tà: chống lại tà thuyết, những điều nhảm nhí.
* Cự bí: đấu tranh vượt mọi khó khăn, chống lại những sự việc làm hại đến nhân tâm.

Ơở bốn quan điểm này, chúng ta thấy Chu Văn An quan tâm đầy đủ cả hai mặt trí dục và đức dục, học và hành.

Chu Văn An là một nhà giáo tài đức trọn vẹn, có đóng góp to lớn với đất nước và đạo học. Có thể coi ông là nhà giáo dục học đầu tiên của Việt Nam vì có nhiều trò giỏi và những công trình biên soạn lớn. Bốn câu thơ sau đây của Đặng Minh Khiêm (nhà vịnh sử đời Lê) có lẽ đã tóm tắt được một phần cuộc đời và con người của ông. Tạm dịch như sau:

Sớ thất trảm xong rồi, treo mũ từ quan
Trên núi Chí Linh tiên sinh đã vẹn tiết của mình rất thong thả,
Phong thái trong sạch và tiết tháo cứng rắn của tiên sinh từ nghìn xưa cũng hiếm có
Lòng ngưỡng mộ tiên sinh của các sĩ phu ngun ngút như đỉnh núi Thái Sơn.

(Giáo dục - Thời đại 20/11/1998)

Nhớ cụ Chu Văn An

hotinhtam | 26/11/2009, 11:09

hotinhtam

Cụ Chu Văn An quê ở huyện Thanh Trì, Hà Nội ngày nay. Cụ sinh ra năm nào không rõ, nhưng cụ mất vào năm Canh Tuất 1370, thời vua Trần Nghệ Tông.

Sự nghiệp văn chương của cụ Chu Văn An để lại không nhiều, chỉ còn 12 bài thơ của cụ nằm rải rác ở nhiều bộ sách khác của đời sau. Những tác phẩm của cụ viết như Tứ thư thuyết ước, Tiều ẩn thi tập, Quốc ngữ thi văn thì đều đã thất lạc, không còn. Người đời sau chỉ còn biết đến tên các tác phẩm đó, chứ nội dung ra sao thì không biết. Nhưng tại sao người đời vẫn luôn luôn nhớ đến tên cụ, với lòng kính trọng sâu sắc?

Chính bởi vì cụ Chu Văn An là tác giả của bản Thất Trảm Sớ, tờ sớ xin chém 7 tên gian thần thời vua Trần Dụ Tông. Bản Thất Trảm Sớ đó ngày nay cũng không còn, người đời không biết nội dung của tờ Sớ ra sao. Nhưng người đời biết được tên của bản Thất Trảm Sớ đó, và chỉ riêng cái tên đó thôi, với nội dung xin chém 7 tên gian thần, cũng đủ để nhân dân nhớ mãi đến tên cụ Chu Văn An.

Nhà Trần trải qua 12 đời vua, từ vua đầu tiên Trần Thái Tông năm 1225, đến vua cuối cùng là Trần Thiếu Đế năm 1400. Như vậy nhà Trần kéo dài được 175 năm. Sau đó vào năm 1400 bị Hồ Quý Ly cướp ngôi. Cụ Chu Văn An sinh ra vào thời vua thứ 6 của nhà Trần, tức vua Trần Minh Tông, trải qua đời vua Trần Dụ Tông, và mất vào đời vua thứ 8 của nhà Trần, tức vua Trần Nghệ Tông, năm 1370.

Thời vua Trần Dụ Tông là thời kỳ bắt đầu suy sụp của nhà Trần, và cũng là khi cụ Chu Văn An dâng Sớ xin vua Trần Dụ Tông chém 7 tên gian thần, để mong cứu vãn nhà Trần. Nhà Trần đã lập được chiến công lừng lẫy 3 lần đánh tan quân Nguyên, với các tên tuổi vua quan, tướng lĩnh Việt Nam tài ba, đức độ, anh hùng như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Trần Bình Trọng…

Thế nhưng những con cháu nhà Trần, những người nối nghiệp Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo… đã dần dần phá hoại sự nghiệp cha ông để lại. Vua quan bắt đầu ăn chơi, tham nhũng, đục khoét của dân, dân thì nghèo lầm than, vua quan thì sung sướng, sa đọa. Vua Trần Dụ Tông lúc đầu lên nối ngôi vua, cũng tỏ vẻ là vị vua hiền, nói điều hay, chăm lo cho dân. Đại việt sử ký toàn thư viết rằng vua Trần Dụ Tông lúc đầu biết “chăm lo việc võ, sửa sang việc văn, các di đều thần phục… Nhưng về sau, chơi bời quá độ, cơ nghiệp nhà Trần suy yếu từ đó”.

Cụ Chu Văn An khi đó là Tư nghiệp Quốc tử giám, tức là Hiệu trưởng Trường Đại học Quốc Tử Giám như cách nói ngày nay. Trường Đại học Quốc Tử Giám là nơi dạy dỗ các con vua, nên chức Tư nghiệp rất có uy tín và uy thế trong triều. Cụ Chu Văn An, cũng như các đại thần liêm khiết, tài giỏi thời đó như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh… đều cảm thấy sót xa trước cơ nghiệp lừng lẫy của nhà Trần đang có nguy cơ ngày càng lụn bại bởi vua ham chơi, bởi bọn tham quan, nịnh thần. Nhiều người muốn lên tiếng khuyên can vua để cứu vãn cơ nghiệp ông cha để lại, một cơ nghiệp đã phải đổi bằng xương máu của biết bao nhiêu người trong 3 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xưa. Nhưng ai cũng sợ mất ghế, sợ bị chụp mũ là phản động, chống lại triều đình. Nên không có ai dám nói gì, chỉ hèn nhát ấm ức trong lòng.

Chỉ có cụ Chu Văn An dám nói. Cụ không sợ mất ghế, không sợ bị chụp mũ là phản động, chống lại triều đình. Cụ viết Thất Trảm Sớ, gửi lên vua Trần Dụ Tông. Vua Trần Dụ Tông xem tờ sớ xong, rồi ỉm đi. Cho đến tận bây giờ, đã hơn 600 năm trôi qua, không ai biết nội dung cụ thể tờ Sớ khủng khiếp đó nói gì, chỉ biết rằng tờ Sớ đó xin chém những kẻ tham nhũng, nịnh thần trong triều, những kẻ sẽ làm sụp đổ cơ nghiệp đã hơn 100 năm của nhà Trần.

Re: đôi nét về thầy Chu Văn An

hotinhtam | 26/11/2009, 11:09

hotinhtam

Tờ Sớ đó liệt tên những kẻ gian thần nào, không ai biết, nhưng nhân dân thì biết thời đó, có những tên tham quan, nịnh thần nổi tiếng như Trâu Canh, Bùi Khoan, Trần Ngô Lang… Thật ra kẻ đáng phải chém, phải lật đổ để cứu dân đen khỏi lầm than, cứu sự nghiệp của nhà Trần, chính là Trần Dụ Tông, vì ông vua này về cuối đời vô cùng ăn chơi sa đọa.

Tên Trâu Canh khuyên ông vua đó uống mật trẻ con, và thông dâm với chị gái của ông ta, để chữa bệnh liệt dương. Và ông vua Trần Dụ Tông đã làm như thế. Nhưng ông vua này là biểu tượng của nhà Trần, biểu tượng của 3 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên anh hùng xưa. Hơn nữa ông ta lại là kẻ đang có quyền lực trong tay. Chưa thể đụng vào ông vua sa đọa ấy được. Có lẽ vì thế mà cụ Chu Văn An chỉ xin ông vua đó chém những tên vây cánh gian tham của vua, để mong vua tỉnh ngộ.

Vua Trần Dụ Tông đã ỉm tờ Sớ đi, và im lặng đáng sợ, không trả lời gì cụ Chu Văn An, vốn là thầy giáo của nhiều vị vua nhà Trần.

“Ông không thèm chơi với chúng mày nữa”, cụ Chu Văn An khảng khái tuyên bố, và cụ treo mũ, từ quan, trả lại chức Tế tửu đầy quyền lực, bổng lộc. Cụ về núi Chí Linh, Hải Dương, làm nhà giữa hai ngọn núi Kỳ Lân và Phượng Hoàng để ở ẩn.

Nhưng thời đó vẫn còn nhiều “lễ, nghĩa, trí, tín”, nên vua Trần Dụ Tông mặc dù là ông vua chơi bời, sa đọa, nhưng không chụp mũ cho cụ Chu Văn An là bất mãn, làm loạn, chống lại triều đình. Có lần vua còn định mời cụ ra làm quan lại. Vợ vua cũng là người biết lẽ cương thường, nên đã khuyên vua: “Ông ấy là người không thể bắt làm tôi được, ta sai bảo thế nào được ông ấy”. Thỉnh thoảng vua Trần Dụ Tông còn về núi Chí Linh thăm cụ Chu Văn An. Các học trò của cụ như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát làm Hành khiển, giống như Bộ trưởng bây giờ, vẫn hàng năm lặn lội về thăm cụ, khi nói chuyện vẫn giữ đạo thầy trò, quỳ nghe cụ răn dạy.

Nhưng thời đó không có Sổ hộ khẩu như bây giờ, quyền tư hữu ruộng đất cũng vẫn có, không bị tước đoạt. Nên cụ Chu Văn An treo mũ, từ quan về làm nhà ở ẩn ở núi Chí Linh cũng không có ai hoạnh họe gì về giấy tờ nhà đất, về hộ khẩu gì… cả. Giả sử nếu bây giờ có vị quan chức cao cấp nào từ quan vì “không muốn chơi với bọn tham nhũng”, về núi Chí Linh ở ẩn, thì chắc cũng khó vì các thứ giấy tờ đủ loại. Đó là chưa kể còn có thể bị chụp mũ này nọ.

Có thể có người sẽ chê cụ Chu Văn An là sao lại tiêu cực, hèn nhát về ở ẩn, mà không ở lại tiếp tục chiến đấu với bọn tham quan?

Đừng nên anh hùng rơm như thế. Dám treo mũ từ quan, dám không màng danh lợi, dám từ bỏ cái ghế đầy bổng lộc, quyền thế, dám không sợ bị vùi dập, để tỏ rõ cái khí tiết của người có đạo đức trong sạch, đó là rất dũng cảm đấy.

Nhớ đến cụ Chu Văn An, để thấy rằng ngày nay, những người dũng cảm và trong sạch như cụ Chu Văn An còn hiếm lắm.

Minh Tuấn
(Từ Tokyo)
Nguồn:DanTri

CHU VĂN AN (1292 – 1370)

hotinhtam | 26/11/2009, 11:11

hotinhtam

Người ở Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (ngày nay là làng Quang, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Ông đậu Thái học sinh và giữ chức Tư nghiệp trường Quốc tử giám dưới triều Trần Minh Tông (1324). Đến đời Trần Dụ Tông, vì triều chính thối nát, nhiều quan lộng quyền, ông can gián không được nên ông làm sớ xin chém 7 nịnh thần (1341) rồi từ quan về dạy học và nghiên cứu y học ở huyện Chí Linh, Hải Dương.

Ông đã để lại một số tư liệu, bệnh án về kinh nghiệm trị bệnh. đặc biệt là kinh nghiệm trị các bệnh dịch mà sau này con cháu ông là Chu Doãn Văn, Chu Xuân Lương đã ghi lại thành quyển ‘Y Học Yếu Giải Tập Chú Di Biên’ năm 1466 và bổ sung năm 1856.

Đối với thương hàn ngoại cảm, Chu Văn An cho rằng một phần do sự thiên thắng của thời khí, một phần do sự suy yếu của cơ thể. Tuy bệnh lý chuyển biến âm dương biểu lý khác nhau nhưng cách trị không ngoài việc điều hòa âm dương và công tà bổ chính. Vì vậy ông chỉ quy nạp bệnh về hai loại là Dương chứng (Nhiệt) và Â chứng (Hàn), tùy chứng mà gia giảm để điều hòa cơ thể, bồi bổ chính khí phối hợp với việc đẩy bệnh tà ra một cách nhẹ nhàng. Tuè đó ông chế ra hai bài thuốc Đăng Khấu Thang [Sinh địa, Huyền sâm, Sài hồ, Mộc thông, Hoàng cầm, Chi tư, Gừng, Hành, Cam thảo] (trị nhiệt) và Cố Nguyên Thang [DDangr sâm, Đương quy, Can khương, Trần bì, Chích thảo, Nhục quế, Phụ tử chế, Táo] (trị hàn). Chu Văn An đã vận dụng linh hoạt hai bài thuốc trên trị cho hơn 700 trường hợp và đã phổ biến cho người đương thời biết và sử dụng. Đối với bệnh ôn dịch năm 1358-1359, ông đã chế ra bài Thần Tiên Cứu Khổ Đơn cứu sống được rất nhiều người. Đối với bệnh ôn nhiệt, ông chế ra bài Tuấn Lưu Ẩm (Sinh địa, Thục địa, Huyền minh phấn, Mộc thông, Chi tử, Thạch hộc, Cam thảo, Lá tre, Đăng tâm thảo). Sau khi uống 1 thang, bớt sốt nhưng còn tiêu chảy, ông cho uống Bạch Long Tán, dùng độc vị Thạch cao sống, tán bột, hòa với nước nóng, uống lúc còn hơi âm ấm thì ngưng tiêu chảy ngay. Để điều bổ thủy hỏa, ông chế ra bài (Tư Khảm Đơn (Thục địa, Hoài sơn, Phục linh, Lộc giác giao, Mạch môn) và Dưỡng Ly Đơn (Thục địa, Sơn thù (sao rượu), Hoài sơn (sao), Phục linh, Phụ tử (chế), Nhục quế, Ngũ vị (sao mật), Trầm hương (một ít).

Bài học Chu Văn An (1292 – 1370)

hotinhtam | 26/11/2009, 11:13

hotinhtam

Hơn bảy trăm năm trước, bên sông Tô Lịch, thời đó chắc chắn chưa trở thành dòng sông đen như hôm nay, trong bối cảnh triều Mạt Trần, có một con người ra đời như bao người khác.

Đứa trẻ làng Thịnh Liệt đất Thăng Long ấy cũng như những đứa trẻ cùng làng, lớn lên, đi học, đỗ đến Thái Học Sinh ( tiến sĩ), mở trường dạy học tại nhà và danh tiếng nổi lên khắp vùng. Như bao ông tiến sĩ khác, ông cũng được vua mời ( hay bắt?) ra làm quan và nhận một chức quan vừa phải nhưng sang trọng là chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Là hiệu trưởng trường học cao cấp nhất thời đó, ông được học trò bốn phương ngưỡng mộ, tôn vinh là “đại sư biểu”, danh hiệu người ta vẫn dùng để gọi Đức Khổng Tử.

Bức tường vây cổ kính của Văn Miếu vẫn còn đến hôm nay không ngăn được cuộc đời bên ngoài tràn vào nhà Thái Học. Xã hội triều vua Trần Dụ Tông, vượng khí Đông A thời nguyên phong đã nhạt nhòa theo quy luật thoái hóa của quyền lực và năm tháng, đất nước chìm trong cảnh gieo neo ngặt nghèo. Phía Nam là vương quốc của Chế Bồng Nga đang sung sức, phía Bắc là Chu Nguyên Chương nhà Minh mới dẹp yên thiên hạ, đang muốn dòm ngó đất đai láng giềng như quy luật của những triều vua mới lên hoặc đang làm ăn khấm khá. Trong nước thì “người tử tế” chưa nói đến người tài, vắng như lá mùa thu, các cựu thần, kỷ niệm của một triều đại sáng chói ba lần đánh thắng quân Nguyên như Trương Hán Siêu, Nguyến Trung Ngạn, thọ mấy rồi cũng phải chết. Bọn nịnh thần bất tài vô tướng mọc lên như cỏ. Vua Dụ Tông thì suốt ngày cờ bạc, tửu sắc…

Trong nhà Thái Học thâm nghiêm, luôn đối mặt với những đứa học trò được mình truyền dạy những điều tử tế, Chu Văn An có thể có hai thái độ. Hoặc im lặng, rao giảng những đạo lý chật ních trong sách vở nhưng vắng bóng ngoài đời, an phận tận hưởng bổng lộc ( bẩn thỉu) của một ông vua ( bẩn thỉu). Hoặc cất lên tiếng nói của một đại sư. Ông không im lặng và đã nói. Không ai được biết trong sớ “thất trảm” ông xin chém những ai, ông còn “góp ý” với ông vua không chịu nghe ai những điều gan ruột gì. Chỉ biết sau khi ông nói thì mọi sự vẫn như cũ còn ông thì được (hay bắt phải) về vườn. Ông chỉ còn biết than vãn ở chân núi Phượng Hoàng câu thơ hoài cổ “Phải đâu tro đất lạnh lùng, Nhắc đời vua trước lệ lòng thầm rơi”.(Miết Trì – ao rùa) Những người lính già đầu bạc ngồi kể chuyện nguyên phong, quan đại thần chỉ còn biết thở dài “nhắc đời vua trước”.

Nhưng nhắc mãi hào quang của “đời vua trước” phỏng có ích gì nếu không nói và không làm cái gì đó. Và ba mươi bảy năm sau ( 1407) vó ngựa Trương Phụ vang rền ngoài biên ải, Nam Quốc Sơn Hà mất vào tay quân Ngô ( Minh) hai mươi mốt năm.

Bài học Chu Văn An không chỉ là khí tiết. Còn một bài học lớn hơn: bịt tai nhắm mắt không nghe người hiền khuyên bảo thì đó chính là họa mất nước gần kề.

Nguyễn Quang Thân

Phần mộ thầy giáo Chu Văn An


 
Trang con (1): Thư ngỏ
ċ
NgocAnh-ChuVanAn.mp3
(4884k)
Nguyễn Ngọc Giêng,
21:11 11-12-2009
Comments